Thứ Hai, 1 tháng 1, 2024

Vạch trần luận điệu xuyên tạc sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động gia tăng nhiều hoạt động tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước ta trên tất cả lĩnh vực, trong đó có nội dung xuyên tạc hoạt động quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia (BGQG).

Âm mưu tinh vi, thủ đoạn thâm độc

Chủ quyền lãnh thổ, BGQG trong tâm thức mỗi người dân là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, liên quan đến hòa bình, an ninh và phát triển của đất nước, quan hệ giữa Việt Nam và các nước láng giềng nên việc xuyên tạc chống phá dễ gây ra tâm lý bất bình, dễ kích động trong một bộ phận quần chúng nhân dân nhẹ dạ, cả tin.

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động sử dụng nhiều hình thức và thủ đoạn rất tinh vi, giảo hoạt, tung ra những thông tin và tư liệu lịch sử, kỹ thuật không có tính pháp lý để đánh lừa dư luận. Trước hết, chúng xuyên tạc kết quả phân giới cắm mốc giữa Việt Nam với các nước có chung đường biên giới, chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng, từ đó tạo nên môi trường xã hội, chính trị bất ổn để dễ bề thực hiện mưu đồ chính trị của mình.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>

Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Cha Lo, BĐBP tỉnh Quảng Bình thực hiện nghi thức chào cột mốc chủ quyền trong quá trình tuần tra, bảo vệ biên giới. Ảnh minh họa: bienphong.com.vn

Ngay từ những ngày đầu khi Việt Nam tham gia giải quyết vấn đề biên giới với các nước cho đến nay, các thế lực thù địch vẫn xuyên tạc kết quả đạt được giữa các bên, đặc biệt đối với những vấn đề về biên giới chưa được giải quyết dứt điểm, chúng thường tập trung tuyên truyền theo hai hướng, đó là xuyên tạc Việt Nam nhu nhược nên nhượng đất cho nước láng giềng nhằm kích động tâm lý bất bình trong nhân dân; bịa đặt Việt Nam xâm chiếm đất của nước láng giềng nhằm phá hoại tiến trình phân giới cắm mốc của nước ta với các nước Trung Quốc, Lào và Campuchia.

Cùng với những luận điệu xuyên tạc về công tác bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh BGQG trên đất liền, các thế lực thù địch, phản động còn rêu rao rằng, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội nhân dân Việt Nam nhu nhược, hèn yếu nên không có những động thái kiên quyết để bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia; thậm chí chúng còn trắng trợn bịa đặt rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước im lặng vì đã thỏa hiệp với nước ngoài thao túng chủ quyền biển, đảo của nước ta (!).

Tinh vi hơn, núp dưới chiêu bài “hiến kế, góp ý”, chúng đã đưa ra luận điệu cho rằng: Do sức mạnh của Hải quân nhân dân Việt Nam hiện nay là “quá yếu”, “lạc hậu”... nên “chỉ có liên minh quân sự với các cường quốc quân sự thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền biển, đảo, bảo vệ được lợi ích quốc gia-dân tộc” (!). Từ đó, chúng đòi hỏi Việt Nam cần từ bỏ chính sách “4 không” và liên minh quân sự với các nước lớn có tiềm lực quân sự, quốc phòng mạnh thì mới bảo vệ được chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo quốc gia (!).

Trên khu vực biên giới, các thế lực thù địch, phản động ra sức xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước, xuyên tạc lịch sử tộc người, quan hệ tộc người, bôi nhọ chủ trương phát triển kinh tế-xã hội. Chúng cho rằng việc phát triển các dự án kinh tế là nguyên nhân “đẩy” đồng bào các dân tộc lâm vào tình cảnh khốn khó, mất nguồn sinh kế, vì thế, đời sống bà con luôn thiếu thốn, khó khăn. Chúng còn kích động mâu thuẫn giữa các dân tộc và xuyên tạc người Kinh đã lấy đất, phá rừng, gây khó khăn cho đồng bào các dân tộc trong phát triển kinh tế-xã hội, qua đó nhằm phá hoại khối đoàn kết dân tộc, làm suy yếu sức mạnh của quân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Để tán phát những thông tin sai lệch, xuyên tạc, chúng tận dụng tối đa các phương tiện truyền thông xã hội, các diễn đàn, nhất là triệt để lợi dụng một số văn nghệ sĩ, trí thức bất mãn, có quan điểm chính trị lệch lạc để ngấm ngầm cài cắm, tán phát những quan điểm sai trái, phản động về chủ quyền lãnh thổ, BGQG; lợi dụng các hoạt động nhân đạo, từ thiện, tổ chức truyền đạo, lập đạo trái phép để tuyên truyền, lôi kéo những người thiếu hiểu biết, nhẹ dạ cả tin, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ở biên giới, vùng sâu, vùng xa.

Kiên trì, kiên quyết bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia

Trước tình hình chống phá đó, việc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc về quản lý bảo vệ BGQG hiện nay là nhiệm vụ quan trọng, cơ bản, lâu dài đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; là nhiệm vụ quan trọng của công tác đấu tranh tư tưởng, lý luận nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Để đấu tranh có hiệu quả với các luận điệu xuyên tạc về quản lý, bảo vệ BGQG hiện nay, chúng ta cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau.

Một là, nâng cao nhận thức cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân về tầm quan trọng của việc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc về bảo vệ BGQG hiện nay.

Tập trung tuyên truyền, giáo dục cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức rõ việc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc về quản lý, bảo vệ BGQG hiện nay là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị. Trong đó, tăng cường giáo dục, tuyên truyền cho cán bộ, đảng viên và nhân dân những quy định pháp lý về BGQG, chủ quyền biển, đảo của Việt Nam; về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền, an ninh BGQG. Tích cực tuyên truyền, giáo dục cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ nhận rõ mục đích, âm mưu, thủ đoạn và các luận điệu sai trái, thù địch mà các thế lực thù địch, phản động sử dụng để xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ BGQG hiện nay, nhằm nâng cao sức đề kháng của các tầng lớp nhân dân trước những thông tin xấu độc, xuyên tạc về quản lý, bảo vệ BGQG.

Hai là, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân trong chủ động đấu tranh làm thất bại các luận điệu xuyên tạc về quản lý bảo vệ BGQG.

Quản lý, bảo vệ BGQG là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó cần phải dựa vào dân, lấy dân làm gốc, nhân dân là trung tâm, là chủ thể trong sự nghiệp bảo vệ BGQG. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và nhân dân trong đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, đối tượng phản động, nhất là ở vùng dân tộc thiểu số, khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng biển, đảo; ngăn chặn kịp thời hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc để chống phá, lôi kéo di dân tự do; tích cực đấu tranh ngăn chặn kịp thời âm mưu, thủ đoạn kích động, chia rẽ nhân dân với cấp ủy, chính quyền địa phương, chia rẽ đồng bào các dân tộc và khối đại đoàn kết toàn dân.

Cùng với đó, đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn đồng bào khu vực biên giới thực hiện nếp sống văn minh gắn với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Thực hiện hiệu quả các dự án bảo tồn và phát triển bền vững một số dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn; đẩy lùi, xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan. Quan tâm, chăm lo phát triển kinh tế-xã hội, giảm nghèo, bảo đảm cuộc sống, lao động sản xuất ổn định cho đồng bào các dân tộc trên khu vực biên giới, hải đảo.

Ba là, đẩy mạnh tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quản lý, bảo vệ BGQG; kiên quyết xử lý các đối tượng có hành vi sai trái, xuyên tạc về BGQG và quản lý, bảo vệ BGQG.

Đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, tích cực đăng tải các bài viết trên những phương tiện thông tin đại chúng, trên hệ thống internet thể hiện rõ lập trường, quan điểm của Việt Nam đối với những vấn đề liên quan đến chủ quyền, an ninh BGQG trên bộ và trên biển. Tổ chức đưa phóng viên, nhà báo, đại diện các tầng lớp nhân dân trong nước và kiều bào tham quan thực địa biên giới, biển, đảo để tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách về BGQG đến người dân trong nước và người Việt Nam ở ngoài nước.

Kịp thời cập nhật thông tin, đưa tin chính xác và cụ thể về những diễn biến phức tạp trên biên giới, trên Biển Đông để định hướng dư luận, không để những thông tin thật-giả lẫn lộn, mập mờ làm ảnh hưởng đến việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng về quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh BGQG.

Áp dụng các giải pháp kỹ thuật tăng cường rà quét, bóc gỡ, ngăn chặn những thông tin xấu độc về tình hình Biển Đông nói chung và chủ quyền biển, đảo của Việt Nam nói riêng. Tăng cường xử lý các đối tượng đăng tải, chia sẻ các bài viết, video, hình ảnh có nội dung tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề chủ quyền biển, đảo. Thiết lập các trang mạng, tài khoản chính thống để huy động cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch trên internet và mạng xã hội để tạo thành thế trận liên hoàn, rộng khắp.

Bốn là, thường xuyên tiến hành công tác tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển và hoàn thiện lý luận về quản lý, bảo vệ BGQG.

Quan tâm tổng kết thực tiễn sự nghiệp quản lý, bảo vệ BGQG để tiếp tục làm rõ nhận thức, quan niệm về quản lý, bảo vệ BGQG ở nước ta, tập trung vào các vấn đề: Mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc, phương châm, nhiệm vụ, giải pháp về quản lý, bảo vệ BGQG... Đây là những vấn đề lớn, đòi hỏi công sức, trí tuệ, tâm huyết của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, trước hết là của đội ngũ cán bộ chuyên làm công tác tư tưởng, lý luận và lực lượng chuyên trách quản lý, bảo vệ BGQG. Tích cực khai thác tiềm năng sáng tạo trong nghiên cứu lý luận về quản lý, bảo vệ BGQG để phục vụ sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa nói chung và quản lý, bảo vệ BGQG nói riêng.

Quản lý, bảo vệ BGQG là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị và cả nước; là vấn đề hết sức thiêng liêng, nhưng cũng không ít khó khăn, phức tạp. Các luận điệu xuyên tạc về quản lý, bảo vệ BGQG thực chất là những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch, phản động nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, tiến tới từng bước làm thay đổi chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cần hết sức cảnh giác, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi luận điệu sai trái, thù địch xuyên tạc về quản lý, bảo vệ BGQG, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tình hình hiện nay.

Thiếu tướng, PGS, TS NGUYỄN THÁI SINH, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Học viện Biên phòng

                                                                                                                            BÁO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN

Nhà lãnh đạo chiến lược, người chỉ huy xuất sắc của Quân đội

Với tư duy nhạy bén, sáng tạo, sự nhạy cảm, tinh thông về chính trị và phương pháp, tác phong dân chủ, sâu sát, tỉ mỉ, quyết đoán, dám chịu trách nhiệm... Đại tướng Nguyễn Chí Thanh luôn được Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng giao phó trọng trách ở những giai đoạn, thời điểm có tính bước ngoặt đến quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội đã nói lên phẩm chất, năng lực của nhà lãnh đạo chiến lược, người chỉ huy xuất sắc của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Kế thừa truyền thống quê hương, gia đình, người thanh niên Nguyễn Vịnh đã sớm giác ngộ lẽ sống, lý tưởng và trách nhiệm của mình đối với đất nước là phải đi theo con đường đấu tranh cho độc lập dân tộc và tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đây là cội nguồn sức mạnh nội sinh, động lực to lớn để người thanh niên Nguyễn Vịnh trở thành người cộng sản kiên trung, nhà chính trị quân sự xuất sắc, vị tướng tài năng, đức độ, người chỉ huy xuất sắc được toàn quân, toàn dân tin tưởng, yêu mến, kính trọng.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh trao đổi với Thiếu tướng Chu Huy Mân trước khi vào chiến trường miền Nam năm 1964. Ảnh: bqllang.gov.vn

Vào cuối năm 1946, đầu năm 1947, dưới sự cường áp, khủng bố dã man của thực dân Pháp và tay sai, phong trào cách mạng ở Thừa Thiên và Phân khu Bình-Trị-Thiên gặp muôn vàn khó khăn, nguy kịch, đứng trước nguy cơ tan rã; Trung ương Đảng và Bác Hồ đã tin tưởng giao đồng chí Nguyễn Chí Thanh đảm nhiệm Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên, tiếp sau là Bí thư Phân Khu ủy Bình-Trị-Thiên và Bí thư Liên khu ủy khu 4.

Trên cơ sở nắm bắt, phân tích, đánh giá tình hình, nghiêm khắc tự phê bình và phê bình, rút ra bài học sâu sắc: Bộ đội ta rất anh dũng, tinh thần cách mạng của đồng bào ta rất cao nhưng đáng tiếc, cán bộ, đảng viên không biết cách tổ chức huấn luyện và chỉ huy nhân dân đánh giặc; từ đó, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã đưa ra nhận định nổi tiếng: “Mất đất, chưa phải là mất nước, chúng ta chỉ sợ mất lòng tin của dân; có lòng tin của dân là có tất cả” đã cổ vũ, động viên cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đứng lên xây dựng, củng cố, mở rộng phong trào đấu tranh cách mạng; đưa “Bình-Trị-Thiên khói lửa”, “Bình-Trị-Thiên đau thương” phát triển, hòa chung vào phong trào đấu tranh của cả nước; góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Để đáp ứng yêu cầu phát triển Quân đội nhân dân và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội; ngày 11-7-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 122/SL bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; được Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy giao phụ trách và chịu trách nhiệm về công tác chính trị của Đảng trong Quân đội. 

Với tư duy nhạy bén, sáng tạo, phương pháp, tác phong công tác khoa học, cụ thể, luôn bám sát thực tiễn hoạt động của đơn vị cơ sở và bộ đội, đồng chí đã luận giải rõ vị trí, vai trò, bản chất, nội dung, tầm quan trọng, hiệu lực, hiệu quả của công tác Đảng, công tác chính trị: Là “linh hồn và mạch sống” của Quân đội; là vấn đề có tính nguyên tắc để xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc; là cội nguồn sức mạnh chiến đấu, bảo đảm Quân đội luôn sẵn sàng nhận, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào.

Đồng thời, chỉ đạo xây dựng, kiện toàn hệ thống cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị các cấp cả về số lượng và chất lượng, gắn với xây dựng hệ thống tổ chức đảng “vững mạnh, chặt chẽ và đều khắp”; bảo đảm hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ; trước hết là xây dựng Cơ quan Tổng cục Chính trị vững mạnh về mọi mặt, xứng đáng là cơ quan tham mưu chiến lược, giúp Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy, Tổng Tư lệnh xác định chủ trương, nội dung, giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội. Đồng chí đã dành cả tâm huyết, dày công nghiên cứu, xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống nguyên tắc và chế độ hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội, góp phần để “Quân đội ta thực sự trở thành một Quân đội của dân tộc, của giai cấp, một đội quân tất thắng”.

Vào nửa cuối năm 1964, trước nguy cơ phá sản của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ và đồng minh ồ ạt đưa đội quân viễn chinh, nhà nghề, thiện chiến vào miền Nam để triển khai chiến lược “Chiến tranh cục bộ” và leo thang đánh phá miền Bắc bằng không quân, hải quân... tác động đến tinh thần, tư tưởng, ý chí chiến đấu của quân và dân cả nước; Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã điều động Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đảm nhiệm Bí thư Trung ương Cục, Chính ủy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, trực tiếp chỉ đạo chiến trường miền Nam với trọng trách là tìm cách đánh Mỹ và thắng Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Bằng nhãn quan chiến lược sâu sắc và tinh thần “dám đánh Mỹ ta sẽ tìm ra cách đánh Mỹ và nhất định thắng Mỹ”, Đại tướng đã trực tiếp nghiên cứu thực tiễn chiến trường, nắm chắc, đánh giá chính xác tình hình, tương quan lực lượng địch-ta, tìm ra cách đánh sáng tạo, nhằm phát huy sở trường, cách đánh, sức mạnh của ta, hạn chế tối đa, triệt tiêu ưu thế về vũ khí, trang bị hiện đại của địch và khái quát thành phương châm chỉ đạo trên chiến trường miền Nam: “Nắm thắt lưng địch mà đánh”... góp phần quyết định đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, tạo bước ngoặt phát triển mới cho cách mạng miền Nam.

Bằng đức độ, tài năng xuất chúng, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã đóng góp công lao to lớn vào sự nghiệp xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của Quân đội ta. Đồng thời, là niềm cổ vũ, động viên; là tấm gương mẫu mực cho cán bộ, chiến sĩ toàn quân học tập, noi theo trong thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch... của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh, gọn, mạnh, cách mạng, chính quy, hiện đại; góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Đại tá, TS THÁI DOÃN TƯỚC 

                                                                                                                             BÁO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN

 ĐẠI TƯỚNG NGUYỄN CHÍ THANH - NGƯỜI CỘNG SẢN KIÊN TRUNG, MẪU MỰC, NHÀ LÃNH ĐẠO TÀI NĂNG

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tên khai sinh là Nguyễn Vịnh, sinh ngày 1.1.1914 trong một gia đình nông dân tại thôn Niêm Phò, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên (nay là Thừa Thiên Huế).

Đồng chí Nguyễn Chí Thanh trở thành linh hồn của cuộc kháng chiến Bình - Trị - Thiên khói lửa, xứng đáng với danh hiệu “vị tướng du kích” mà Bác Hồ trao tặng.

Ở tuổi 17, được các lớp đàn anh giác ngộ cách mạng, người thanh niên Nguyễn Vịnh đã tham gia đấu tranh chống lại cường hào ở địa phương và sau đó tham gia phong trào đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ những năm 1936-1939, được kết nạp và trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1937.

Trên cương vị Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên ở tuổi 24, thực hiện Chỉ thị của Xứ ủy Trung Kỳ, tháng 9.1938, đồng chí đã lãnh đạo quần chúng cách mạng đấu tranh làm thất bại dự án tăng thuế của thực dân Pháp và chính quyền Nam triều. Sau cuộc đấu tranh đó, cuối năm 1938, đồng chí bị bắt lần đầu và được thả, tiếp tục hoạt động, lãnh đạo, chỉ đạo nhiều cuộc mít tinh, biểu tình của Nhân dân đấu tranh ngăn chặn những cuộc đàn áp, khủng bố của thực dân Pháp.

Giữa năm 1939, đồng chí bị thực dân Pháp bắt và kết án khổ sai, giam ở các nhà lao Thừa Phủ, Lao Bảo, Buôn Ma Thuột. Trong thời gian tù đày, dù bị tra tấn bằng nhiều cực hình dã man nhưng đồng chí luôn kiên cường, thể hiện tinh thần bất khuất, gan dạ, giữ vững khí tiết của một người cộng sản. Đồng chí cùng các đảng viên cộng sản đã biến tòa án Nam triều thành diễn đàn tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản và lên án tội ác của thực dân Pháp và bọn tay sai phản động. Trên cương vị Bí thư Chi bộ trong nhà tù, đồng chí thể hiện là một chiến sĩ cộng sản kiên trung, một nhà lãnh đạo mẫu mực trong việc tổ chức đấu tranh chống khủng bố, chống tra tấn, chống đánh đập tù nhân, cải thiện đời sống nhà tù, đồng thời hết sức quan tâm đến công tác giáo dục lý luận chính trị cho các đảng viên trong chi bộ và những người tù chính trị. Ở nhà tù Lao Bảo, đồng chí lập ra “Tổ chức bí mật” nhằm tập hợp lực lượng, thống nhất hành động, thúc đẩy phong trào cách mạng, bắt liên lạc với tổ chức đảng từ bên ngoài. Cuối năm 1940, tổ chức này đã lãnh đạo thắng lợi cuộc đấu tranh tuyệt thực, tuyệt ẩm của tù nhân chính trị trong nhà tù Lao Bảo.

Tại nhà đày Buôn Ma Thuột, đồng chí tham gia “Lực lượng trung kiên”, một tổ chức bí mật trong tù đóng vai trò như một chi bộ cộng sản và tiếp tục đấu tranh quyết liệt, ngoan cường. Mặc dù 3 lần bị đế quốc bắt giam nhưng mỗi lần vượt ngục hay được thả, đồng chí lại trở về với cách mạng, với Nhân dân, tiếp tục hoạt động, góp phần xây dựng cơ sở đảng, đẩy mạnh phong trào cách mạng ở tỉnh Thừa Thiên thời kỳ đó.

Trên cương vị Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên, Bí thư Phân khu Bình - Trị - Thiên, Bí thư Liên khu ủy IV, đồng chí đã vận dụng sáng tạo đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng vào thực tiễn chiến trường Thừa Thiên; bình tĩnh, sáng suốt trong đánh giá tình hình, đưa ra những giải pháp về công tác tư tưởng, chiến tranh nhân dân, chỉ đạo nhiều vấn đề cụ thể về lực lượng vũ trang bám đất, bám dân, phát triển chiến tranh du kích. Với nhãn quan chính trị, quân sự sắc bén, kiên trì quan điểm “dân là gốc”, đồng chí đã góp phần đưa ra những quyết định táo bạo có ý nghĩa chuyển hướng lãnh đạo, xoay chuyển lại tình thế, tạo ra các bước ngoặt cách mạng, đưa cuộc kháng chiến ở mặt trận Huế dần khôi phục và mở ra một cục diện mới. Nhờ đó, phong trào cách mạng Bình - Trị - Thiên đã vươn lên hòa nhập cùng với phong trào cả nước, góp phần chặn đứng âm mưu chia cắt chiến lược của thực dân Pháp. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh trở thành linh hồn của cuộc kháng chiến Bình - Trị - Thiên khói lửa, xứng đáng với danh hiệu “vị tướng du kích” mà Bác Hồ trao tặng.

Dấu ấn sâu sắc về cả tư duy lãnh đạo và tổ chức thực hiện

Ở những bước chuyển của cách mạng, với phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực lãnh đạo, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh luôn được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng trao nhiều trọng trách. Nhận nhiệm vụ Trưởng ban Công tác nông thôn Trung ương - lãnh đạo, chỉ đạo một ngành kinh tế trọng yếu của đất nước, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã thể hiện tư duy của một nhà lãnh đạo trên lĩnh vực kinh tế thông qua tổ chức thực tiễn, bám sát cơ sở, lắng nghe ý kiến các nhà khoa học, dựa vào Nhân dân. Để giải quyết vấn đề hợp tác hóa nông nghiệp, đồng chí đã đi sâu nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng và xác định phải xây dựng hợp tác xã trên 3 mặt: Cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật và nâng cao đời sống xã viên. Đồng thời, củng cố vai trò chiến lược của hợp tác xã nông nghiệp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, động viên và tổ chức được hàng vạn thanh niên ra tiền tuyến. Mặt trận nông nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh không chỉ bảo đảm một phần quan trọng về lương thực, thực phẩm cung cấp cho Nhân dân, góp phần xây dựng miền Bắc thành hậu phương vững chắc, bước đầu chi viện cho cách mạng miền Nam, góp phần vào thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh “Thi đua là yêu nước”, đồng chí đã lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức hiệu quả nhiều phong trào thi đua; luôn coi thi đua là phương pháp vận động cách mạng, nghệ thuật lãnh đạo, thực hiện nhiệm vụ chính trị. Trên thực tế, những phong trào thi đua như “Cờ Ba nhất” trong lực lượng vũ trang, “Gió Đại phong” trong nông nghiệp đã mang đậm dấu ấn của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, cùng với các phong trào thi đua “Sóng Duyên hải” trong công nghiệp, “Trống Bắc lý” trong giáo dục đã trở thành điển hình tiêu biểu cho phong trào thi đua XHCN lúc bấy giờ, động viên được sức mạnh của hàng triệu con người vào sự nghiệp cách mạng.

Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta bước vào giai đoạn quyết liệt, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được cử vào miền Nam. Trên cương vị Bí thư Trung ương Cục kiêm Chính ủy quân giải phóng miền Nam, Đồng chí đã góp phần xác định đúng việc chuyển hướng chiến lược của Mỹ từ “Chiến tranh đặc biệt” sang “Chiến tranh cục bộ” (1965 - 1968), đưa ra những đánh giá, phân tích khoa học và biện chứng về thực chất sức mạnh của Mỹ, so sánh lực lượng giữa ta và địch, tìm ra những mâu thuẫn, chỗ yếu của đối phương, từ đó khẳng định quyết tâm đánh Mỹ và niềm tin đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Những quan điểm của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh về chủ nghĩa anh hùng cách mạng được coi như khâu đột phá về tư tưởng cho quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; thể hiện tầm tư duy quân sự của một nhà lãnh đạo tài năng, có uy tín lớn của Đảng. Đại tướng khẳng định: “Chủ nghĩa anh hùng cách mạng của chúng ta mang trong mình nó một tư tưởng lớn của thời đại là không sợ Mỹ, dám đánh Mỹ, quyết đánh Mỹ, đấu tranh vì độc lập, dân chủ, hòa bình và tiến bộ xã hội”.

Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng và dân tộc ta mãi mãi khắc ghi tư tưởng chỉ đạo tác chiến mang đậm dấu ấn Đại tướng Nguyễn Chí Thanh như “nắm thắt lưng Mỹ mà đánh”, “cứ đánh Mỹ khắc tìm ra cách đánh hay” lập các “vành đai diệt Mỹ”... Những phân tích, nhận định, đánh giá tình hình chiến trường miền Nam của Đại tướng đã góp phần cùng Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đánh giá đúng sức mạnh thật sự của đế quốc Mỹ, sự phát triển của cách mạng miền Nam, từ đó hoạch định đường lối kháng chiến. Nhiều quan điểm, tư tưởng của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh thể hiện chiến lược tiến công với niềm tin nhất định thắng Mỹ, cùng với những phương châm chỉ đạo tác chiến độc đáo được Ban Chấp hành Trung ương Đảng nghiên cứu, chắt lọc đưa vào các nghị quyết Trung ương như Nghị quyết Trung ương 11 và 12 khóa III, kế hoạch cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng nhân dân lao động, giải phóng con người. Đại tướng luôn chăm lo, xây dựng mối quan hệ đoàn kết, thống nhất các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc khác trên thế giới; tăng cường đoàn kết quân dân, củng cố khối liên minh công - nông - trí thức. Nhận thức rõ tầm quan trọng của xây dựng con người mới XHCN, Đại tướng khẳng định: “Nhiệm vụ trọng đại của chúng ta là đào tạo nên hàng vạn, hàng triệu con người mới” và chỉ rõ con người mới phải gắn liền với cuộc đấu tranh giai cấp, với hiện thực cách mạng Việt Nam, phải có lập trường, tư tưởng kiên định, đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội với những phẩm chất cao đẹp.

Với tác phong sâu sát thực tiễn, gắn bó máu thịt với Nhân dân, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh thường xuống cơ sở nghiên cứu tình hình, tìm những hình thức và biện pháp thích hợp thực hiện đường lối của Đảng. Đại tướng đặc biệt coi trọng việc chỉnh đốn các tổ chức của Đảng và phát triển các đoàn thể quần chúng. Từ sáng kiến của Đại tướng, các cơ sở đảng và đoàn thể được sắp xếp lại gọn nhẹ, tăng cường hiệu lực. Các cuộc hội nghị được chuẩn bị và rút ngắn thời gian nhưng hiệu quả. Cán bộ, đảng viên được nâng cao về nhận thức đường lối, sửa đổi lề lối làm việc.

Quá trình hoạt động cách mạng của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cho thấy, đồng chí liên tục có mặt ở những mặt trận khó khăn nhất, trong những thời điểm đầy thử thách, quyết liệt. Vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, một lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, Đại tướng nêu cao tinh thần trách nhiệm, cống hiến hết mình cho dân tộc và Tổ quốc. Trên mỗi cương vị và trọng trách của mình, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh để lại dấu ấn sâu sắc về cả tư duy lãnh đạo và tổ chức thực hiện, tạo ra bước phát triển mới cho phong trào cách mạng trong cả thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội./.

 VẬN DỤNG TRIẾT LÝ “DĨ BẤT BIẾN, ỨNG VẠN BIẾN” TRONG ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG 

Không chỉ là lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là Nhà ngoại giao thiên tài. Tư tưởng ngoại giao của Người được kết tinh từ các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, mang giá trị phổ quát, bền vững.

Tháng 5/1946, trước khi lên đường sang Pháp cứu vãn hòa bình cho dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói với cụ Huỳnh Thúc Kháng - khi đó là Bộ trưởng Bộ Nội vụ, rằng: “Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở Cụ cùng với anh em giải quyết. Mong cụ dĩ bất biến ứng vạn biến”.

Lời căn dặn của Người đối với Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng trước khi Người sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau, trong điều kiện chính quyền cách mạng Việt Nam còn non trẻ và đang ở tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, cũng là lần đầu tiên triết lý "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" trong công tác đối ngoại được mọi người biết đến.

Hơn 70 năm trôi qua, vận dụng tư tưởng của Người trong xây dựng đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế đã góp phần giúp đất nước có được "cơ đồ, tiềm lực" như ngày nay. Trong bối cảnh tình hình mới, đường lối đối ngoại phù hợp sẽ tạo nên sức mạnh to lớn để xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa đất nước ngày phát triển. Đây là yêu cầu quan trọng trong chiến lược phát triển đối ngoại và hội nhập quốc tế nói chung, đối ngoại quốc phòng không nằm ngoài yêu cầu đó.

Kim chỉ nam trong công tác đối ngoại

Triết lý "Dĩ bất biến ứng vạn biến" có nghĩa là lấy cái bất biến (cái không thay đổi) ứng phó với cái vạn biến (cái thay đổi); ứng phó với cái vạn biến nhưng không xa rời, vứt bỏ, đánh mất cái bất biến; tuyệt đối không thể đem cái bất biến ấy ra mua bán, đổi chác.

Tiếp nối lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh và truyền thống ngoại giao ngàn năm lịch sử của cha ông, “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” tiếp tục là bản sắc ngoại giao tiêu biểu của Việt Nam. Tính bất biến của bản sắc ngoại giao Việt Nam được thể hiện đậm nét trong đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng, kiên trì lập trường, nguyên tắc về thúc đẩy hòa bình, độc lập dân tộc, chống chiến tranh, tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác cùng có lợi giữa các nước. “Đảm bảo cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc” luôn là mục tiêu bất biến, kim chỉ nam, tiêu chí cao nhất trong triển khai hoạt động đối ngoại và cần được phát huy, thực hiện hiệu quả hơn nữa trong bối cảnh mới.

Từ nhận thức đúng đắn về cái “bất biến” và cái “vạn biến”, Đảng, Nhà nước ta đã xây dựng và triển khai nhiều chủ trương, chính sách đối ngoại linh hoạt, phù hợp: Từ chủ trương “muốn là bạn” đến “sẵn sàng là bạn”, “là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm” của cộng đồng quốc tế; từ quan niệm “địch”, “ta”, chuyển sang cách nhìn nhận về đối tác, đối tượng. Theo đó, đến nay, Việt Nam đã trở thành thành viên của nhiều tổ chức thế giới và khu vực; tham gia nhiều hiệp ước quan trọng vì sự phát triển, tiến bộ chung trong khu vực và thế giới. Qua đó tranh thủ cơ hội thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, từng bước củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, quân sự để bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Những thay đổi, điều chỉnh đó đã tạo cho Việt Nam một sức mạnh đối ngoại mềm dẻo, được các nước trên thế giới đánh giá cao.

Vận dụng linh hoạt trong đối ngoại quốc phòng

Trong công tác đối ngoại nói chung, đối ngoại quốc phòng luôn là một điểm sáng với nhiều hoạt động phong phú trên bình diện song phương và đa phương. Về tổng thể, chính sách quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, thực hiện phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược.

Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 nêu rõ: Việt Nam kiên định chính sách quốc phòng “bốn không”, chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Đồng thời, Việt Nam tăng cường hợp tác quốc phòng với các nước để nâng cao khả năng bảo vệ đất nước và giải quyết các thách thức an ninh chung. Thực hiện Chiến lược Hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng theo đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng, là kế sách giữ nước từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình; tạo lập, củng cố niềm tin bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo đảm bình đẳng cùng có lợi; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo sức mạnh tổng hợp, tăng cường vị thế quốc tế và độc lập, tự chủ của đất nước. Việt Nam chủ trương phát triển quan hệ hợp tác quốc phòng với tất cả các nước, nhất là các nước láng giềng, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện...

Như vậy, cái “bất biến” của Chiến lược Quốc phòng Việt Nam là chiến lược phòng thủ quốc gia, bảo vệ đất nước, giữ nước từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược; mang tính hòa bình, tự vệ bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; dựa trên nền tảng đường lối chính trị đúng đắn là nhân tố quyết định, sức mạnh quốc phòng là then chốt, sức mạnh quân sự là đặc trưng, trực tiếp là sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang, nòng cốt là Quân đội nhân dân; xây dựng, củng cố quan hệ, lòng tin chiến lược với các nước, nhất là các đối tác chiến lược, tạo thế để bảo vệ Tổ quốc; sẵn sàng đánh thắng mọi hình thái chiến tranh xâm lược nếu xảy ra.

Tuy nhiên, để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế sẽ đòi hỏi những biện pháp “ứng vạn biến”. Giữ vững độc lập, tự chủ không chỉ bao gồm giảm sự lệ thuộc, chống sự áp đặt, lôi kéo, chi phối, mà còn là nêu cao, phát huy tính chủ động trong tham gia vào công việc chung của khu vực và quốc tế.

Là quốc gia có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, Việt Nam thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ, đồng thời tích cực hợp tác cùng các quốc gia khác giải quyết các vấn đề an ninh đang nổi lên, góp phần bảo vệ hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới. Việt Nam đánh giá cao vai trò của Liên hợp quốc trong các hoạt động gìn giữ hòa bình, ngăn ngừa xung đột, chiến tranh; thực thi những chuẩn mực cốt lõi của quan hệ quốc tế trong Hiến chương Liên hợp quốc.

Quyết định cử lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc của Việt Nam có ý nghĩa chính trị quan trọng đối với thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng theo chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng, Nhà nước, Quân đội.

Sau gần 10 năm triển khai lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, Việt Nam đã cử 786 lượt cán bộ, nhân viên đi thực hiện nhiệm vụ tại các phái bộ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc ở cả hình thức cá nhân và đơn vị. Các lực lượng của Việt Nam được triển khai luôn phát huy tốt vai trò, trách nhiệm trên cương vị, chức trách được giao, được Liên hợp quốc và bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

Tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc đã thể hiện bước phát triển mới về trình độ hội nhập quốc tế của Quân đội ta khi Quân đội được Bộ Chính trị, Trung ương Đảng tin tưởng giao nhiệm vụ làm lực lượng tiên phong, đi đầu trong lĩnh vực mới đầy nhạy cảm chính trị, khó khăn và thách thức này.

Đây cũng là công cụ hữu hiệu để chúng ta thực hiện kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, bằng biện pháp hòa bình. Qua đó, khẳng định rõ quan điểm của Đảng là gắn hòa bình, ổn định của quốc gia với giải quyết các vấn đề an ninh, hòa bình đang nổi lên trong khu vực và trên thế giới; tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc tăng cường hội nhập và hợp tác quốc tế về quốc phòng, thúc đẩy quan hệ hợp tác với các nước, nâng cao năng lực cán bộ, góp phần nâng cao tiềm lực quốc phòng, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Bên cạnh đó, Việt Nam tăng cường hợp tác quốc phòng đa phương nhằm góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia; chủ động, tích cực cùng các nước ASEAN xây dựng cộng đồng ASEAN vững mạnh. Đồng thời, Việt Nam tiếp tục đóng góp thực chất và mở rộng quy mô, phạm vi tham gia huấn luyện, diễn tập chung về hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa, tìm kiếm cứu nạn; hợp tác quốc tế khắc phục hậu quả chiến tranh; tích cực tham gia nỗ lực chống phổ biến vũ khí hạt nhân và vũ khí hủy diệt hàng loạt; hợp tác bảo vệ và giao lưu hữu nghị biên giới./.


 KINH TẾ VIỆT NAM CÓ NĂNG LỰC “NHẢY VỌT”, ĐẦY CƠ HỘI VÀO NHÓM 25 NỀN KINH TẾ HÀNG ĐẦU THẾ GIỚI 

Trung tâm nghiên cứu Anh dự báo Việt Nam lọt top 25 nền kinh tế thế giới vào năm 2038.

Trung tâm tư vấn CEBR (Anh) đánh giá Việt Nam và Philippines là 2 nền kinh tế Đông Nam Á có năng lực “nhảy vọt” trong bảng xếp hạng World Economic League Table (WELT) trong giai đoạn từ nay đến năm 2038.

Theo CEBR, Việt Nam hiện ở vị trí 34 trên WELT, năm 2024 Việt Nam sẽ tăng 1 hạng lên thứ hạng 33 và sau đó sẽ tiếp tục lên nhanh, lên vị trí 24 vào năm 2033, trước khi trở thành nền kinh tế thứ 21 thế giới vào năm 2038. Trong khi đó, Philippines cũng có sức tăng trưởng đáng nể để đạt vị trí 23 vào năm 2038.

Đặc biệt, trong mục giới thiệu bảng xếp hạng vừa công bố, CERB đánh giá Việt Nam và Philippines là minh họa nổi bật cho nhóm những quốc gia được mong chờ sẽ cải thiện thứ hạng nhờ định vị lại vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu, áp dụng cải cách nội bộ, tăng năng suất của lực lượng lao động, những điều có thể đạt được qua cách tích lũy hiệu quả vốn công và tư.

CERB nhấn mạnh hai nước đều đã thể hiện sự tiến bộ đáng kể và được trông đợi sẽ leo thêm 10 và 13 bậc vào năm 2038, với "đầy cơ hội" lọt vào nhóm 25 nền kinh tế hàng đầu thế giới.

Nhận định của CEBR đề cập tỷ trọng nền kinh tế, chứ không đề cập đến thu nhập bình quân trong một nước, phân chia giàu nghèo hay các vấn đề khác.

Theo CEBR, Việt Nam đứng trước viễn cảnh 15 năm tiếp theo rất khả quan. Với ưu thế dân số có sẵn, nhiều khả năng Việt Nam có thể đạt được mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045. Với dân số đông và còn tương đối trẻ, Việt Nam có cơ hội vượt qua gần hết các quốc gia “đàn anh” hiện nay trong ASEAN về kinh tế, như Singapore, Thái Lan, Malaysia, để đến 2038 chỉ đứng sau Indonesia trong số Top 25 nền kinh tế thế giới./.


 THÀNH PHỐ SÁNG TẠO ĐƯA HÌNH ẢNH ĐẤT NƯỚC, VĂN HÓA VIỆT NAM LAN TỎA MẠNH MẼ

Năm 2023, Việt Nam có thêm hai thành phố được ghi danh vào Mạng lưới Thành phố sáng tạo toàn cầu của UNESCO. Đó là Đà Lạt (Lâm Đồng) ở lĩnh vực âm nhạc và Hội An (Quảng Nam) trong lĩnh vực thủ công và nghệ thuật dân gian.

Sau Hà Nội, đến nay, nước ta đã có ba thành phố sáng tạo, tạo động lực cho công nghiệp văn hóa và sáng tạo phát triển mạnh mẽ, bền vững. Hình ảnh đất nước, văn hóa của người Việt Nam ngày càng lan tỏa mạnh mẽ ra quốc tế.

Phát triển bền vững từ đặc trưng riêng

Đà Lạt và Hội An là hai địa phương nằm trong Đề án phát triển hệ thống các thành phố sáng tạo Việt Nam thuộc Mạng lưới các thành phố sáng tạo toàn cầu UNESCO (UCCN) được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì xây dựng, thực hiện. Cục Hợp tác quốc tế (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) là cơ quan chủ trì triển khai Đề án. Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam tư vấn chuyên môn, phối hợp với các địa phương xây dựng hồ sơ, thực hiện cam kết gia nhập Mạng lưới… 

Trở thành thành viên Mạng lưới các thành phố sáng tạo toàn cầu của UNESCO vào ngày 31/10/2023 là sự kiện đặc biệt quan trọng với người dân Đà Lạt. Sự kiện càng trở nên ý nghĩa hơn khi thành phố này kỷ niệm 130 năm hình thành và phát triển (1893 - 2023). Đà Lạt mong muốn bên cạnh du lịch, tiềm năng của các ngành công nghiệp văn hóa, đặc biệt là âm nhạc sẽ đóng vai trò cốt lõi để thúc đẩy hội nhập quốc tế, phát triển đô thị bền vững, gắn kết nhiều nhóm xã hội, dân tộc và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.

Chủ tịch UBND thành phố Đà Lạt Đặng Quang Tú chia sẻ, có được danh hiệu này đã khó nhưng giữ được còn khó hơn. Thành phố cam kết thực hiện trách nhiệm khi gia nhập Mạng lưới này, tạo điều kiện phát triển âm nhạc cộng đồng; củng cố hệ thống mạng lưới không gian sáng tạo âm nhạc, nghệ thuật; nâng cao năng lực, kỹ năng mềm cho cộng đồng; thử nghiệm sáng tạo về âm nhạc; bảo tồn phát huy giá trị âm nhạc truyền thống… 

Thành phố đề xuất 3 sáng kiến tổ chức các hoạt động văn hóa nghệ thuật đặc sắc. Đó là Liên hoan Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên hàng năm và biểu diễn nghệ thuật truyền thống tại các địa điểm công cộng. Việc này sẽ tạo thêm các không gian để du khách trải nghiệm, người dân địa phương biểu diễn trên đường phố và địa điểm công cộng. Cùng với đó, Đà Lạt tổ chức Festival Hoa - Âm nhạc 2 năm một lần. 

Gần nhất, Đà Lạt sẽ tổ chức chương trình chào đón năm mới 2024 với chuỗi hoạt động văn hóa - giải trí - nghệ thuật đặc sắc, chào mừng kỷ niệm 130 năm hình thành và phát triển. Chương trình nghệ thuật có sự kết hợp giữa âm nhạc, ánh sáng, trình diễn đa dạng của các nghệ sỹ. Cộng đồng sẽ cùng nhau đếm ngược những giây cuối cùng của năm cũ, chào đón năm mới 2024 đầy triển vọng phát triển.

Với Hội An, thủ công và nghệ thuật dân gian là thế mạnh nổi trội, được bảo tồn, phát huy hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Nơi đây có 5 làng nghề truyền thống, gần 50 ngành nghề thủ công như mộc, gốm, làm đèn lồng, làm tre dừa, may mặc, đồ da... Đặc biệt, thành phố có ba làng nghề và một nghề truyền thống được công nhận Di sản phi vật thể quốc gia. Hai làng nghề khác đang làm hồ sơ đề nghị công nhận.

Các tập quán, sinh hoạt, tín ngưỡng lâu đời của cư dân địa phương đã góp phần truyền cảm hứng, hình thành và nuôi dưỡng sự phong phú, đa dạng của nhiều loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo. Hát bả trạo, hò khoan, hô hát bài chòi, thơ ca, hò vè, nghệ thuật hát bội, múa nghi lễ, tạo hình dân gian…, phản ánh chân thực, sinh động những đặc điểm văn hóa - xã hội và trở thành một phần thiết yếu trong đời sống tinh thần của người dân Hội An. Nghệ thuật Bài Chòi đã được công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào năm 2017.

Phó Chủ tịch UBND thành phố Hội An Nguyễn Văn Lanh thông tin, đông đảo người dân nơi đây tham gia hoạt động thủ công và nghệ thuật dân gian. Họ có thể là lao động tự do và sản xuất, kinh doanh thủ công; nhóm các nghệ sỹ, nghệ nhân, cá nhân trong hiệp hội nghề nghiệp, điều hành xưởng thủ công sáng tạo; doanh nghiệp, người kinh doanh thủ công và nghệ thuật dân gian. Hội An có 658 doanh nghiệp nhỏ và 1.710 hộ kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực thủ công và nghệ thuật dân gian. Ước tính, khoảng 4.000 người lao động trực tiếp, thu nhập trung bình 3.500 - 4.000 USD mỗi năm từ thủ công và nghệ thuật dân gian.

Trong 4 năm sau khi gia nhập Mạng lưới, Hội An sẽ thúc đẩy phát triển các tổ chức xã hội nghề nghiệp, huy động sự tham gia sáng tạo của cộng đồng. Thành phố mở rộng chương trình khởi nghiệp, khuyến khích giới trẻ phát triển kỹ năng, sáng tạo, kêu gọi sáng kiến hỗ trợ sản xuất thủ công, kết hợp bảo tồn, phát triển, đổi mới theo hướng xanh, chất lượng, đa dạng hóa và tăng giá trị cho sản phẩm, bắt kịp xu hướng sáng tạo tiên tiến. Hội An sẽ phát huy các nguồn lực, thúc đẩy, thiết kế các dự án, mô hình, không gian sáng tạo nhằm bảo tồn, phát triển nghề thủ công và nghệ thuật dân gian để phát triển bền vững.

Văn hóa, sáng tạo - trung tâm của sự phát triển

Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO (UCCN) được khởi xướng từ năm 2004 nhằm thúc đẩy hợp tác giữa những thành phố coi sáng tạo là yếu tố chiến lược cho sự phát triển bền vững, công nghiệp văn hóa là trọng tâm. Đến nay, Mạng lưới này gồm 350 thành phố từ hơn 100 quốc gia, phát triển dựa trên sự sáng tạo ở 7 lĩnh vực là thủ công và nghệ thuật dân gian, thiết kế, điện ảnh, ẩm thực, văn học, nghệ thuật truyền thông và âm nhạc.

Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) Nguyễn Phương Hòa chia sẻ: Với những thành phố sáng tạo UNESCO như Hà Nội, Đà Lạt và Hội An, các ngành công nghiệp văn hóa, sáng tạo Việt Nam được kỳ vọng sẽ phát triển mạnh mẽ, đóng góp nhiều hơn nữa vào phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Các thành phố mới được UNESCO công nhận sẽ nỗ lực thực hiện cam kết theo hồ sơ gia nhập, hợp tác với những thành viên khác để thúc đẩy biện pháp đối phó với thách thức toàn cầu như biến đổi khí hậu, bất bình đẳng gia tăng, tốc độ đô thị hóa quá nhanh…

Tham gia Mạng lưới, các thành phố cam kết chia sẻ, tạo điều kiện tốt nhất để thực hành, đổi mới sáng tạo; xây dựng ý thức gắn liền với trách nhiệm, tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ, phát triển hợp tác giữa khu vực công - tư, tổ chức xã hội nghề nghiệp. Việc này sẽ góp phần tăng cường sáng tạo, sản xuất, phân phối và truyền bá về các hoạt động, hàng hóa và dịch vụ văn hóa; phát triển không gian sáng tạo và đổi mới, mở rộng cơ hội cho người sáng tạo, chuyên gia; nâng cao việc tiếp cận, tham gia vào đời sống văn hóa, đặc biệt đối với nhóm, cá nhân yếu thế, dễ bị tổn thương; lồng ghép văn hóa và sáng tạo vào kế hoạch phát triển bền vững.

Bà Nguyễn Phương Hòa nêu rõ, không chỉ là thương hiệu, danh hiệu, điều quan trọng là khi tham gia vào Mạng lưới, các thành phố đã đặt văn hóa và sự sáng tạo vào trung tâm của sự phát triển, chìa khóa của quy hoạch phát triển đô thị. Từ đó, các thành phố khẳng định vị thế, sự an toàn, có khả năng phục hồi, hòa nhập, bền vững, người dân hạnh phúc và phát triển phù hợp với tương lai. Các thành phố trên khắp thế giới trong Mạng lưới này cùng đặt sự sáng tạo và công nghiệp văn hóa vào trung tâm của kế hoạch phát triển ở cấp địa phương, hợp tác tích cực ở cấp quốc tế.

Đại sứ, Trưởng đại diện phái đoàn Việt Nam bên cạnh UNESCO Lê Thị Hồng Vân cho biết: Việt Nam là một trong số ít quốc gia có cùng lúc hai thành phố được ghi danh trong năm 2023. Điều này thể hiện sự ghi nhận, đánh giá cao của quốc tế với nỗ lực, cam kết của nước ta trong phát huy sáng tạo, phát triển nguồn lực văn hóa, tạo động lực cho quá trình phát triển bền vững của cộng đồng, địa phương và đất nước. 

Đây là một đóng góp tích cực của Việt Nam cho hợp tác UNESCO trong lĩnh vực văn hóa sáng tạo, nhất là khi nước ta đang đảm nhiệm là Phó Chủ tịch Ủy ban liên chính phủ Công ước về bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa (Công ước 2005). Các địa phương sẽ có điều kiện học hỏi kinh nghiệm, lồng ghép văn hóa và sáng tạo vào chiến lược, kế hoạch hành động phát triển đô thị, đem lại sinh kế bền vững cho người dân. Việt Nam có thêm cơ hội tốt quảng bá đất nước, con người, văn hóa ra thế giới - một đất nước phát triển năng động, hội nhập sâu rộng, đổi mới sáng tạo, đậm đà bản sắc văn hóa.

Năm 2022, Cục Hợp tác quốc tế và Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia (VICAS) đã soạn thảo Đề án phát triển mạng lưới thành phố sáng tạo Việt Nam tham gia vào Mạng lưới thành phố sáng tạo toàn cầu của UNESCO. Đề án có nêu một số thành phố khả thi trong việc gia nhập Mạng lưới toàn cầu như Thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng, Hạ Long, Hội An, Đà Lạt và Vũng Tàu. Năm 2023, Hội An, Đà Lạt đã được ghi danh.Theo lộ trình, từ nay đến năm 2030, cứ 2 năm sẽ có tối đa hai thành phố Việt Nam xây dựng và nộp hồ sơ ứng cử gia nhập Mạng lưới với mục tiêu sẽ có từ 4 - 6 thành phố của nước ta được ghi danh vào Mạng lưới các Thành phố sáng tạo toàn cầu của UNESCO./. 


 BẠN BÈ QUỐC TẾ CHUNG TAY XOA DỊU NỖI ĐAU DA CAM VIỆT NAM 

Ra nghị quyết hỗ trợ nạn nhân da cam Việt Nam; lập quỹ cấp học bổng... "Tấm lòng vàng "của bạn bè quốc tế đã góp phần chăm sóc, giúp đỡ nạn nhân da cam, đồng thời động viên, khích lệ họ vươn lên trong cuộc sống.

Quốc hội đầu tiên trên thế giới phê chuẩn nghị quyết ủng hộ nạn dân da cam

Đầu tháng 10/2023, Hạ viện Bỉ đã thông qua Nghị quyết hỗ trợ nạn nhân chất độc da cam Việt Nam với tỷ lệ phiếu ủng hộ tuyệt đối.

Theo nghị sĩ liên bang André Flahaut, người đã đệ trình nghị quyết lên Quốc hội Bỉ, phải có hành động cụ thể để triển khai nghị quyết, trước mắt phía Bỉ đóng góp công nghệ tẩy độc đất nhiễm dioxin ở Việt Nam. Nghị quyết cũng sẽ góp phần thúc đẩy các đảng phái chính trị trên thế giới cùng tham gia đấu tranh chống lại việc sử dụng chất hóa học trong chiến tranh.

Chủ tịch Hạ viện Éliane Tillieux cũng cho rằng, nghị quyết thể hiện ý chí của Bỉ, nhưng cần phải có hành động cụ thể. Đó là các phương án hỗ trợ tài chính, triển khai các nghiên cứu học thuật giữa các trường đại học Bỉ và Việt Nam để đạt được các giải pháp lâu dài.

Nghị quyết kêu gọi hỗ trợ nạn nhân da cam Việt Nam của Hạ viện Bỉ là khởi đầu mới cho hành trình giúp Việt Nam khắc phục hậu quả chiến tranh mà đông đảo tầng lớp nhân dân Bỉ đã thực hiện trong nhiều năm qua. Đó là giải golf thường niên gây quỹ ủng hộ các nạn nhân chất độc da cam ở Hội An (Quảng Nam) do các bạn bè Bỉ tổ chức; đêm hội đoàn kết với nạn nhân da cam Việt Nam của Hội hữu nghị Bỉ - Việt nhằm giúp người dân Bỉ có cái nhìn thực tế về hậu quả mà Việt Nam phải gánh chịu sau chiến tranh...

Gieo hạt giống hy vọng

Khi chồng là một quân nhân Mỹ tham chiến ở Việt Nam qua đời do bị nhiễmchất độc da cam, nhà làm phim Nhật Bản Masako Sakata đã đi tìm hiểu thực tế để làm bộ phim về nỗi đau da cam.

Bà đến Việt Nam và thật sự kinh ngạc vì số người bị nhiễm dioxin ở đây quá lớn, cuộc sống của họ vô cùng khó khăn. Thời điểm đó bà quyết tâm làm tất cả mọi việc có thể để giúp đỡ những nạn nhân này. Những gì bà Masako Sakata tận mắt khám phá sau nhiều lần đến Việt Nam đã được chuyển tải vào 2 bộ phim đầu tiên của bà là Agent Orange: A Personal Requiem (2007) và Living the Silent Spring (2011). Hai bộ phim này giành được nhiều giải thưởng danh giá của Nhật Bản cũng như quốc tế, bao gồm Giải phim tài liệu Mainichi, Giải đặc biệt của Liên hoan phim môi trường quốc tế Paris và Giải đặc biệt của Ban giám khảo Earth Vision. Năm 2011, bà Masako Sakata lập dự án Hạt giống hy vọng, cấp học bổng cho các em học sinh, sinh viên Việt Nam là nạn nhân chất độc da cam.

Từ khi thành lập đến nay, quỹ đã trao học bổng cho gần 200 em với tổng số tiền học bổng và ủng hộ Làng Cam trên 3 tỷ đồng, mỗi em được nhận học bổng 18 triệu đồng/3 năm.

Đầu tháng 10 vừa qua, trở lại Việt Nam, bà Masako Sakata đã trao 5.000 USD học bổng thuộc dự án Hạt giống hy vọng để tiếp tục các hoạt động hỗ trợ các nạn nhân chất độc da cam khắc phục khó khăn vươn lên trong cuộc sống.

Ghi nhận những đóng góp của bà cho phong trào Hành động vì nạn nhân chất độc màu da cam Việt Nam, góp phần tích cực vào sự phát triển quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam - Nhật Bản, năm 2017 thừa ủy quyền của Chủ tịch nước, Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản đã trao Huân chương Hữu nghị cho bà.

Tấm lòng bè bạn

Theo thông tin từ Hội nạn nhân chất độc da cam/dioxin thành phố Đà Nẵng, năm 2023 Hội đã vận động kêu gọi được sự hỗ trợ từ các tổ chức, cá nhân quốc tế với số tiền hơn 2,2 tỷ đồng. Trong đó, dự án của tổ chức Chữ Thập xanh (Thụy Sĩ) giúp đỡ nạn nhân chất độc da cam và nhân viên tại Trung tâm Bảo trợ nạn nhân chất độc da cam và Trẻ em bất hạnh thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2023-2024 có tổng số tiền hơn 1 tỷ đồng; Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) hỗ trợ dự án thân thiện với trẻ em giai đoạn 2023-2026 là 50.000 USD.

Ngoài ra, Hội đã đón tiếp và làm việc với gần 60 tổ chức, hơn 300 lượt cá nhân người nước ngoài như: Đại học Kyoto Sangyo và Đại học Meiji (Nhật Bản); Đoàn Miss Universe Autralia Charity; Tổ chức Jica (Nhật Bản); Đoàn Y - Bác sĩ Tổ chức MOA (Hoa Kỳ); Tổ chức Cựu chiến binh vì hòa bình; Phái đoàn bang Thuringia (Đức); Đoàn người Khuyết tật (Thái Lan)...

Ngoài Đà Nẵng, các tổ chức phi chính phủ nước ngoài còn hỗ trợ khắc phục hậu quả chiến tranh nói chung, hậu quả chất độc da cam/dioxin nói riêng tại nhiều tỉnh thành khác như: Quảng Nam, Quảng Trị, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Bình Định, Thái Bình, Thành phố Hồ Chí Minh... Các chương trình, dự án tập trung vào các lĩnh vực: chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, giáo dục hòa nhập cộng đồng, dạy nghề, tạo việc làm, phát triển sinh kế cho nạn nhân chất độc da cam.

Sự hỗ trợ cả vật chất và tinh thần của các tổ chức và nhà hảo tâm quốc tế đã góp phần cải thiện đời sống, khích lệ tinh thần vươn lên trong cuộc sống của các nạn nhân chất độc da cam và người thân trong gia đình./.


KÝ ỨC NGÀY HOÀ BÌNH CỦA NỮ BIỆT ĐỘNG ......

 "Lúc bấy giờ, cảm giác trong người tôi nhẹ nhàng như đi trên mây" - cựu chiến sĩ Biệt động Sài Gòn đến giờ vẫn nhớ như in về thời khắc thiêng liêng của lịch sử dân tộc, ngày mà đất nước thống nhất, liền một cõi.

Những ngày cuối tháng 4 lịch sử, những người lính trong CLB truyền thống kháng chiến khối vũ trang Biệt động Sài Gòn - Gia Định lại có dịp giao lưu. Những hồi ức một thời hào hùng lại được khơi dậy.
Ghi lại hồi ức của người lính biệt động trong thời khắc thiêng liêng của lịch sử dân tộc.
Bà Vũ Thị Minh Nghĩa (Chính Nghĩa) là cựu chiến sĩ Biệt động Sài Gòn cùng Đội 5 Biệt động tham gia trận tấn công Dinh Độc Lập trong chiến dịch Mậu Thân 1968. Sau trận ấy, bà cùng 6 đồng đội khác bị bắt và đày đi Côn Đảo. Năm 1973, bà được trao trả tại Lộc Ninh, tiếp tục tìm về, tham gia đơn vị A34 tình báo Miền.
Hòa cùng khí thế chiến thắng từ khắp nơi báo về như thác chảy, trưa 29/4/1975, đoàn A34 tình báo Miền nhập cùng đoàn xe tăng từ Đồng Dù tiến về Hóc Môn. Vượt qua cầu Sáng, lực lượng ta quyết định đánh sập cầu để địch không thể tiếp viện cho Sài Gòn. Bà Nghĩa cùng đoàn xe tăng vượt sông, đóng quân tại chợ Hóc Môn mà không gặp trở ngại gì.
Sáng 30/4 đoàn tiếp tục hành quân tiến về Sài Gòn. Chiếc radio là vật bất ly thân của đoàn quân giải phóng.
“Khoảng 9 giờ sáng 30/4, chúng tôi đi tới Trường huấn luyện Quang Trung, nghe đài phát thanh thông tin tình hình các nơi đã chiến thắng như chẻ tre. Lúc bấy giờ, cảm giác trong người tôi nhẹ nhàng như đi trên mây. Nghĩ để đi đến chiến thắng nhất định có tiếng súng, có đổ máu, nhưng cuối cùng mọi sự đều thuận lợi” - bà Minh Nghĩa hồi tưởng.
Lúc 9 giờ 30 phút, ông Dương Văn Minh, Tổng thống chính quyền Sài Gòn, kêu gọi Quân lực Việt Nam Cộng hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Trong bối cảnh đó, quân Việt Nam Cộng hòa lột đồ lính, tất cả giơ hai tay lên đầu hàng.
“Các anh cứ hạ tay xuống, về nhà bình thường không có gì đâu” - bà Nghĩa kể về tâm thế của quân giải phóng khi trấn an những người ở bên kia chiến tuyến.
Cứ như thế, họ tiến về giải phóng Sài Gòn mà không vấp phải sự phản kháng nào. Không những vậy, đồng bào đứng dọc hai bên đường nô nức chào mừng.
Ở tuổi 76, bà Nghĩa vẫn nhớ mãi cảm xúc của những ngày tháng đó: “Không khí của hòa bình, không còn chiến tranh không thể diễn tả hết bằng lời. Suốt mấy chục năm chiến tranh triền miên ác liệt, tôi luôn nghĩ nhất định sẽ có ngày giải phóng, nhưng không ngờ cuộc giải phóng êm xuôi đến vậy. Tôi được gặp lại người cậu sau bao năm chia cách, tù đày. Tôi không còn mẹ nhưng khi thấy bóng dáng người thân trong gia đình mới cảm nhận được không khí hòa bình đã hiển hiện chứ không phải lén lút gặp gỡ trong lo sợ như trước đây. Trong niềm vui và hạnh phúc, tâm trí tôi là giữ vững được tinh thần, khí thế của ngày giải phóng và không khí hòa bình mãi mãi đối với dân tộc Việt Nam”.
Hai người “má” luôn đóng chặt cửa trong nhà
Không còn chập chờn lo sợ bị lính xét nhà, không còn nghe tiếng bom pháo ầm ầm, đêm được ngủ một giấc ngon đến sáng là niềm vui sướng và mơ ước thành hiện thực của bà Đặng Thị Thiệp, cựu cán bộ đảm bảo chiến đấu và giao liên của Biệt động Sài Gòn trong ngày 30/4/1975 lịch sử.
Bà Thiệp kể, giải phóng xong, bộ đội ồ ạt vào đóng quân tại Bộ tổng tham mưu địch.
"Sau bao nhiêu năm cửa đóng then cài, bắt gặp bộ đội ta, tôi mở toang cửa đón họ vào. Lúc đó, quá phấn khởi vui sướng, không còn nghĩ đến cái chết thường trực như trước đây nữa” - bà Thiệp kể lại.
Suốt 8 năm trời kể từ sau chiến dịch Mậu Thân 1968, bà Thiệp nuôi giấu chồng là ông Trần Văn Lai (bí danh Mai Hồng Quế, cài cắm làm nhà thầu khoán Dinh Độc Lập) khi ông bị lộ và bị chính quyền địch truy nã gắt gao. Ông Lai là người đào hầm, giấu vũ khí cho đội 5 Biệt động tấn công Dinh Độc Lập trong chiến dịch Mậu Thân 1968. Gây dựng lại cơ sở không thành khi phần lớn đồng chí, đồng đội đã hy sinh hoặc bị bắt, ông thoát ly ra chiến khu. Bị nhiễm độc nặng, tưởng chết nhưng ông được bà Thiệp chạy chữa, thuốc thang qua khỏi. Ông tìm đường ra Bắc nhưng hai lần bị bắt giam ở Quảng Ngãi. Ông Lai nay đây mai đó, rồi được bà Thiệp che giấu suốt nhiều năm dưới hầm nhà tại đường Võ Di Nguy (nay là đường Nguyễn Kiệm, quận Phú Nhuận).
Bao nhiêu tài sản, nhà cửa của nhà thầu khoán Mai Hồng Quế bị tịch thu hết, bà Thiệp vừa nuôi con, vừa lo buôn bán kiếm sống. Đó cũng là bao nhiêu năm bà sống trong lo sợ, nhiều lần bị địch bố ráp, kiểm tra bất ngờ. Nhờ khả năng cải trang và xử lý các tình huống nhanh trí, nên có lần quân địch đã giương súng lên đạn mà ông Lai thoát nạn.
Dù vậy, bà Thiệp vẫn thay chồng ra chiến khu tiếp tế tiền, vàng, vật dụng của gia đình và của các cơ sở khác đóng góp cho cách mạng gây dựng lại lực lượng.
“Tôi nghĩ cứ sống vậy, nếu có bị bắt thì phải chịu. Mỗi lần ra chiến khu thì đem con đi gửi cho người quen, đóng khóa cửa ngoài nhốt ông ở trong để cho người ta không biết. Cho đến năm 1975, hình truy nã ông Lai vẫn dán đầy ở những con đường tại Sài Gòn” - người nữ cán bộ nay đã 80 tuổi nhớ về những ngày tháng chiến tranh cơ cực.
Suốt 8 năm đó, gia đình ông bà không biết đến cái Tết là gì. Đặc biệt, ông Lai dạy các con kêu mình bằng “má” để không bao giờ có tiếng gọi “ba” trong nhà, để không ai phát hiện trong gia đình có người đàn ông. Dù vậy, ông bà vẫn sắp xếp cho các con đi học đầy đủ.
Khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông Lai về công tác tại Đơn vị tiền phương B.12 Bộ Tư lệnh Thành đội Sài Gòn - Gia Định, được giao nhiệm vụ truy quét tàn quân địch, tiếp quản nhà các sĩ quan và lính Việt Nam Cộng hòa bỏ chạy./.
ST

THỦ PHỦ BƯỞI DIỄN NHỘN NHỊP MÙA THU HOẠCH

 Thủ phủ bưởi Diễn (phường Phú Diễn, Bắc Từ Liêm, Hà Nội) bắt đầu vào vụ thu hoạch phục vụ cho dịp Tết Nguyên Đán 2024. Năm nay, thời tiết thuận lợi nên bưởi đều quả, vị thanh mát và bán rất chạy.

Từ giữa tháng 11 âm lịch, người dân trồng bưởi tại phường Phúc Diễn bắt đầu tất bật bước vào vụ thu hoạch bưởi lớn nhất trong năm.
Từ lâu, bưởi Diễn được coi là đặc sản của Hà Nội. Đây cũng là một trong những món quà được nhiều người quan tâm, tìm mua nhiều nhất mỗi dịp Tết Nguyên đán.
Bưởi năm nay rất đều quả, quả nào cũng tròn, đẹp, căng, mọng nước. Người trồng bưởi cho biết, bưởi Diễn càng để lâu càng ngon, vị ngọt đậm mà không hề gắt.
Còn hơn 1 tháng nữa mới đến Tết Nguyên đán nhưng nhiều khách thập phương đã tìm đến đặt mua để ăn dịp Tết và làm quà biếu.
Chị Trần Thị Mai (quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) cho biết, năm nào cũng vậy, vào thời điểm trước Tết 1 tháng, vợ chồng chị lại đến vườn bưởi ở Phúc Diễn và tự tay chọn mua bưởi, vừa làm quà biếu người thân, vừa bán cho khách đã đặt hàng từ trước. “Bưởi ở đây mẫu mã đẹp, chất lượng quả khá ngon, ngọt mát nên gia đình tôi và khách hàng đều rất ưa chuộng. Mùa bưởi năm nay, tôi mua 500 quả vừa để ăn, vừa làm quà biếu”.
Theo người dân, năm nay thời tiết khá thuận lợi, nên hầu hết các gốc bưởi Diễn đều được mùa, sai trĩu quả. Bưởi thu hoạch đến đâu, bán hết đến đó.
Một cây tại vườn có thể cho thu hoạch từ 100 - 300 quả. Khách có thể chọn mua tại vườn hoặc mua cả cây.
Do diện tích trồng bưởi rộng, nên các nhà vườn phải thuê nhân công hái bưởi. Nhiều người lao động trong làng có thêm thu nhập từ nghề hái bưởi thuê, trung bình từ 270.000-300.000 đồng/người/ngày.
Từ sáng sớm đến chiều muộn, các nhà vườn tất bật, khẩn trương thu hoạch bưởi nhằm cung ứng ra thị trường dịp Tết.
Ngày nay, giống bưởi Diễn được trồng ở khắp nơi, nhưng không nơi nào cho bưởi ngon, mùi vị đặc trưng như trồng trên đất Phú Diễn.
Giống bưởi Diễn vừa có thể dùng để thờ vừa có thể dùng để ăn được lâu nên được nhiều người chuộng, được coi là một đặc sản của thủ đô Hà Nội. Nhờ đặc tính thanh mát, dễ ăn và vị ngọt mà bưởi Diễn luôn là mặt hàng được nhiều người săn đón mỗi dịp tết đến, Xuân về./.
ST

 

Các bộ trưởng ngoại giao ASEAN ra tuyên bố bày tỏ quan ngại tình hình Biển Đông

TPO - Ngày 30/12, các bộ trưởng ngoại giao ASEAN ra tuyên bố về duy trì và thúc đẩy ổn định không gian biển ở Đông Nam Á, trong đó bày tỏ quan ngại về những diễn biến gần đây ở Biển Đông.
Các bộ trưởng ngoại giao ASEAN ra tuyên bố bày tỏ quan ngại tình hình Biển Đông ảnh 1

Các bộ trưởng ngoại giao ASEAN trong kỳ họp ở Jakarta vào tháng 2 năm nay. (Ảnh: VNA)

Văn kiện này một lần nữa khẳng định quan điểm chung của ASEAN về hợp tác biển trong khu vực. Đó chính là các nguyên tắc căn bản trong ứng xử của các nước trên các vùng biển ở Đông Nam Á, trong đó có Biển Đông.

Các bộ trưởng nhắc lại và tái khẳng định cam kết chung về duy trì và thúc đẩy hòa bình, an ninh và ổn định ở khu vực, cũng như giải quyết hòa bình các tranh chấp, bao gồm tôn trọng đầy đủ các tiến trình pháp lý và ngoại giao, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, tuân thủ các nguyên tắc được thừa nhận rộng rãi của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS).

Các bộ trưởng cũng nhắc lại Thông cáo chung của Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (AMM) lần thứ 56, trong đó khẳng định cần duy trì và thúc đẩy ổn định trên không gian biển ở khu vực, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của tăng cường hợp tác biển và nghiên cứu phù hợp các sáng kiến mới hướng tới mục tiêu trên.

“Chúng tôi theo dõi sát sao và quan ngại về những diễn biến gần đây ở Biển Đông, có nguy cơ phương hại tới hòa bình, an ninh và ổn định khu vực. Chúng tôi tái khẳng định tầm quan trọng của duy trì và thúc đẩy hòa bình, an toàn, an ninh, ổn định, tự do hàng hải và hàng không trong không gian biển tại Đông Nam Á, đặc biệt là Biển Đông”, tuyên bố nêu rõ.

Các bộ trưởng cũng tái khẳng định tính cấp thiết của việc khôi phục và tăng cường lòng tin và tin cậy; tự kiềm chế khi tiến hành các hoạt động có thể làm phức tạp hoặc leo thang tranh chấp và ảnh hưởng tới hòa bình, ổn định; tránh các hành động có thể làm phức tạp thêm tình hình và giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc được thừa nhận rộng rãi của luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982.

Các bộ trưởng hoan nghênh các nỗ lực quản lý tình hình và bảo đảm hòa bình và ổn định; khẳng định lợi ích của việc duy trì Biển Đông là vùng biển hòa bình, ổn định, hợp tác và thịnh vượng. Các bộ trưởng nhấn mạnh tầm quan trọng của thực hiện đầy đủ và hiệu quả toàn bộ Tuyên bố về ứng xử của các Bên ở Biển Đông (DOC) và cam kết hợp tác chặt chẽ để sớm đạt được Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) hiệu quả, thực chất, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982.

Tuyên bố tái khẳng định tầm quan trọng của đối thoại hòa bình nhằm đóng góp xây dựng cho thúc đẩy ổn định và hợp tác khu vực trong không gian biển. Các bộ trưởng hoan nghênh việc tổ chức đối thoại biển gần đây giữa Trung Quốc và Mỹ tại Bắc Kinh cũng như cuộc gặp giữa Tổng thống Mỹ Biden và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình bên lề Hội nghị các nhà Lãnh đạo APEC tại California.

“Chúng tôi hy vọng những đối thoại như vậy sẽ tiếp tục thúc đẩy nỗ lực của ASEAN nhằm tăng cường ổn định và hợp tác trong không gian biển ở khu vực”, tuyên bố nhấn mạnh.

Các bộ trưởng tái khẳng định sự thống nhất, đoàn kết và cam kết chung trong duy trì và tăng cường hơn nữa ổn định trong không gian biển nhằm mang lại hòa bình, an ninh, ổn định và thịnh vượng chung trong khu vực.

Đây là lần thứ 5 ASEAN ra Tuyên bố riêng về các vấn đề trên biển kể từ 1995. Lần gần đây nhất ASEAN ra tuyên bố riêng về Biển Đông là vào năm 2014.