Thứ Ba, 5 tháng 3, 2024

Một số vấn đề về đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng hiện nay

 TCCS - Các tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, cầu nối giữa Ðảng với nhân dân, có vị trí rất quan trọng trong hệ thống tổ chức của Đảng. Đây là nơi quản lý, giáo dục, rèn luyện, phát triển và sàng lọc đảng viên; nơi thể hiện toàn diện, đầy đủ, phong phú, cụ thể, sinh động nhất quyền làm chủ của nhân dân và mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai thăm, chúc tết cán bộ, chiến sĩ và nhân dân vùng biên giới tỉnh Quảng Bình_Ảnh: VGP

Một số vấn đề chung về tổ chức cơ sở đảng

Trong những năm gần đây, thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng về đổi mới, kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, các loại hình tổ chức cơ sở đảng cũng được kiện toàn, sắp xếp lại cho phù hợp, bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất với tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Các loại hình tổ chức cơ sở đảng có sự biến động, thay đổi tương đối lớn về số lượng(1), quy mô, hình thức tổ chức cũng như nội dung, phương thức hoạt động. Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ chính trị, quy mô và tính chất hoạt động, nội dung và phương thức lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng, Ban Bí thư Trung ương Đảng các khóa đã ban hành các quy định về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của đảng bộ, chi bộ cơ sở để thực hiện, trong đó có một số loại hình tổ chức cơ sở đảng cơ bản và chủ yếu sau đây:

Một là, tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn: Đây là các tổ chức cơ sở đảng được thành lập theo địa bàn, lãnh thổ, gắn với đơn vị hành chính nhà nước ở cấp xã; có chức năng lãnh đạo toàn diện trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Đây là nơi tập trung đông đảng viên và gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân (số lượng tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường, thị trấn chỉ chiếm khoảng 20% nhưng chiếm gần 70% tổng số đảng viên của toàn Đảng). Vì vậy, đây là nơi thể hiện toàn diện, đầy đủ, cụ thể, phong phú, sâu sắc nhất quyền làm chủ của nhân dân và mối quan hệ gắn bó mật thiết, máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, góp phần quan trọng trong việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước.

Hai là, tổ chức cơ sở đảng trong cơ quan hành chính nhà nước: Là các tổ chức cơ sở đảng được thành lập ở các cơ quan hành chính của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội từ cấp huyện đến cấp trung ương; có chức năng lãnh đạo cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan nghiên cứu, tham mưu để xây dựng, thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan (nghiên cứu, tham mưu, đề xuất với lãnh đạo cơ quan trong việc ban hành các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, hướng dẫn... trên các lĩnh vực); đồng thời, lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ quan trong sạch, vững mạnh.

Ba là, tổ chức cơ sở đảng trong đơn vị sự nghiệp công lập: Là các tổ chức cơ sở đảng được thành lập ở các trường học, bệnh viện, viện nghiên cứu,... của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp; có chức năng lãnh đạo toàn diện các mặt công tác của đơn vị, trong đó tập trung lãnh đạo xây dựng và thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác tổ chức cán bộ của đơn vị; lãnh đạo thực hiện công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ở đơn vị trong sạch, vững mạnh. Nơi tập trung đông đội ngũ trí thức, cán bộ khoa học - kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao trên các lĩnh vực và có học hàm, học vị, góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Bốn là, tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp nhà nước: Là các tổ chức cơ sở đảng được thành lập trong các doanh nghiệp nhà nước (doanh nghiệp nhà nước nắm giữ 100% vốn và doanh nghiệp cổ phần mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ); có chức năng lãnh đạo toàn diện các mặt hoạt động của doanh nghiệp, trong đó tập trung lãnh đạo xây dựng và thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, hoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước, bảo toàn và phát triển vốn của Nhà nước; bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người lao động; xây dựng, chỉnh đốn Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị ở doanh nghiệp trong sạch, vững mạnh; không ngừng nâng cao đời sống của người lao động; giữ vững và phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Năm là, tổ chức cơ sở đảng trong lực lượng vũ trang: Là các tổ chức cơ sở đảng được thành lập tại các đơn vị cơ sở trong quân đội nhân dân và công an nhân dân; có chức năng lãnh đạo toàn diện, trực tiếp mọi mặt công tác của đơn vị; lãnh đạo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và các tổ chức trong đơn vị trong sạch, vững mạnh gắn với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện; xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại; xây dựng công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ chính trị được giao, thực sự là công cụ mạnh mẽ, sắc bén để bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Sáu là, tổ chức cơ sở đảng ở doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước: Đây là các tổ chức cơ sở đảng được thành lập ở các doanh nghiệp cổ phần có vốn của Nhà nước (Nhà nước nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ), doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp cổ phần tư nhân, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài và trong các trường học, bệnh viện ngoài công lập...; có chức năng lãnh đạo cán bộ, đảng viên, người lao động Việt Nam và tuyên truyền, vận động, thuyết phục chủ doanh nghiệp, các thành viên trong doanh nghiệp thực hiện đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực xây dựng tổ chức đảng và các tổ chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước trong sạch, vững mạnh, góp phần xây dựng doanh nghiệp ngày càng phát triển, hoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người lao động.

Tựu chung lại, các quy định của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ của các loại hình tổ chức cơ sở đảng đều xác định: “Tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, hạt nhân chính trị, cầu nối giữa Ðảng với nhân dân, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng ở cơ sở”(2); đồng thời, cụ thể hóa nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng được quy định trong Điều lệ Đảng thành 5 nhiệm vụ: (i) Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ sở; (ii) Lãnh đạo công tác chính trị tư tưởng; (iii) Lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ; (iv) Lãnh đạo xây dựng các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở; (v) Thực hiện công tác xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh.

Trước yêu cầu ngày càng cao của công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng, trong một số quy định mới ban hành gần đây, Ban Bí thư đã tách công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng (vốn nằm trong nhiệm vụ xây dựng đảng bộ, chi bộ) thành nhiệm vụ riêng, nên tổ chức cơ sở đảng có 6 nhiệm vụ(3).

Về đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng

Đảng ta là Đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Để thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội, các tổ chức cơ sở đảng được thành lập ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, bảo đảm các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước được triển khai, tổ chức thực hiện nghiêm túc ở cơ sở và đi vào cuộc sống.

Các tổ chức cơ sở đảng cũng là một tổ chức đảng và nằm trong hệ thống tổ chức của Đảng, nên phương thức lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng cũng có 5 phương thức, đó là: (i) Đảng bộ, chi bộ lãnh đạo bằng việc ban hành nghị quyết để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện (nghị quyết đại hội đảng bộ, chi bộ cơ sở; nghị quyết của đảng ủy; nghị quyết của chi bộ); (ii) Đảng bộ, chi bộ lãnh đạo bằng công tác chính trị, tư tưởng (phổ biến, quán triệt các chủ trương, nghị quyết của cấp ủy cấp trên và cấp mình; nắm và giải quyết tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng); (iii) Đảng bộ, chi bộ lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ theo chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền được phân cấp theo quy định; (iv) Đảng bộ, chi bộ lãnh đạo bằng công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức đảng, đảng viên của đảng bộ, chi bộ trong việc thực hiện Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; (v) Đảng bộ, chi bộ lãnh đạo thông qua việc nêu gương và phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ đảng viên. Tuy nhiên, phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng chỉ thực hiện trong phạm vi lãnh đạo của đảng bộ, chi bộ và được cụ thể hóa cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, tính chất đặc thù của mỗi loại hình tổ chức cơ sở đảng.

Từ phương thức lãnh đạo chung của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, do chức năng, nhiệm vụ, phạm vi và tính chất hoạt động của mỗi loại hình tổ chức cơ sở đảng có điểm khác nhau, nên phương thức lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng về cơ bản là giống nhau, nhưng cũng có một số điểm khác nhau. Cụ thể đối với một số loại hình cơ sở sau:

(1) Đối với tổ chức cơ sở đảng ở khu vực xã, phường, thị trấn: Đây là một trong những loại hình tổ chức cơ sở đảng cơ bản của Đảng, có vị trí quan trọng trong hệ thống tổ chức của Đảng. Do vậy, phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng cần đặc biệt chú ý một số nội dung sau:

Thứ nhất, việc xây dựng, ban hành các chủ trương, nghị quyết của đảng bộ, chi bộ phải bám sát và vận dụng sáng tạo các chủ trương, nghị quyết của cấp trên vào tình hình cụ thể của địa phương; phản ánh đúng tâm tư, nguyện vọng và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc trên địa bàn, nhất là những vấn đề liên quan đến đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, không để xảy ra các “điểm nóng”.

Thứ hai, thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội làm tốt công tác chính trị, tư tưởng, coi trọng việc tuyên truyền, vận động, thuyết phục các tầng lớp nhân dân, để nhân dân nắm vững, tích cực tham gia và tự giác thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, biến chủ trương, đường lối của Đảng thành phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân ở cơ sở; phát huy vai trò của nhân dân trong việc tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và xây dựng đội ngũ cán bộ.

Thứ ba, thường xuyên xây dựng, chỉnh đốn Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng ở cơ sở; kiện toàn tổ chức các loại hình chi bộ cho phù hợp với tình hình mới; chăm lo xây dựng đội ngũ cấp ủy viên, nhất là bí thư cấp ủy đủ phẩm chất, năng lực, uy tín lãnh đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị của tổ chức cơ sở đảng; được nhân dân tín nhiệm.

Thứ tư, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của các chi bộ và cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện các chủ trương, nghị quyết của cấp ủy cấp trên và cấp mình, nhất là quy định về những điều đảng viên không được làm; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tôn trọng và lắng nghe ý kiến góp ý của cán bộ, đảng viên và nhân dân; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý kịp thời, nghiêm minh, dứt điểm những cán bộ, đảng viên vi phạm.

Thứ năm, đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cấp ủy, người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị; chi bộ cần phân công đảng viên phụ trách, theo dõi, giúp đỡ các hộ gia đình và phải thực sự gần dân, sát dân, hiểu dân, gắn bó mật thiết với nhân dân; qua đó nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân để kịp thời báo cáo với chi bộ, cấp ủy cấp trên xem xét, giải quyết, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

(2) Đối với tổ chức cơ sở đảng trong cơ quan hành chính nhà nước: Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong cơ quan hành chính nhà nước cần chú ý một số nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, tiếp tục kiện toàn, sắp xếp tổ chức cơ sở đảng trong các cơ quan hành chính cho đồng bộ, thống nhất với việc đổi mới, kiện toàn, sắp xếp tổ chức của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Bổ sung, sửa đổi quy định về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng trong cơ quan; thực hiện thống nhất chủ trương đồng chí bí thư cấp ủy đồng thời là thủ trưởng cơ quan, đơn vị, bảo đảm tổ chức cơ sở đảng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác tổ chức, cán bộ; gắn công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng với xây dựng, chỉnh đốn các tổ chức trong hệ thống chính trị.

Thứ hai, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu, tham mưu, giúp việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức của hệ thống chính trị ở cơ sở có bản lĩnh chính trị vững vàng; tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng, đường lối đổi mới và các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng. Nắm vững Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và vận dụng sáng tạo vào tình hình thực tiễn của ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị.

Thứ ba, mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong cơ quan nhà nước phải làm tốt công tác tuyên truyền, vận động quần chúng và gương mẫu, tự giác trong thực hiện chủ trương, đường lối, các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định, quy chế của cơ quan; có phẩm chất đạo đức cách mạng và lối sống trong sạch; không tham nhũng, tiêu cực và hăng hái đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thực sự là tấm gương để quần chúng học tập, noi theo.

(3) Đối với tổ chức cơ sở đảng trong lực lượng vũ trang: Phải bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng để quân đội, công an là lực lượng nòng cốt bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Vì vậy, phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong lực lượng vũ trang cần đặc biệt coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và phát huy bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của quân đội, công an; thường xuyên đẩy mạnh việc thực hiện những điều Bác Hồ dạy quân đội nhân dân và công an nhân dân; tuyệt đối trung thành, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì hạnh phúc của nhân dân; tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng, xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh và đơn vị vững mạnh toàn diện, xứng đáng với lòng tin yêu của nhân dân.

(4) Đối với tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp nhà nước: Tiếp tục kiện toàn, sắp xếp mô hình tổ chức cơ sở đảng phù hợp với quá trình phát triển, đổi mới, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tổ chức cơ sở đảng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh và công tác tổ chức, cán bộ của doanh nghiệp. Chú trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức tổ chức kỷ luật, các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng và nâng cao tính đảng cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp, nhất là người đứng đầu; chăm lo bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ công tác đảng cho cán bộ làm công tác đảng, công tác quần chúng trong doanh nghiệp. Thực hiện thống nhất chủ trương bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch hội đồng thành viên, hội đồng quản trị hoặc tổng giám đốc, giám đốc và thực hiện nguyên tắc: Khi một trong hai chức danh không đáp ứng yêu cầu thì phải thay đổi chức danh kia. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp trên đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp, xử lý kịp thời, nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.

(5) Đối với tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước: Cần tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, phát triển tổ chức cơ sở đảng trong khu vực ngoài nhà nước, nhất là trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập. Cần đặc biệt chú trọng việc tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước cho người lao động, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu. Qua đó, các thành viên lãnh đạo, quản lý và người lao động trong đơn vị nắm vững, tự giác chấp hành đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cấp ủy cấp trên quan tâm, chăm lo xây dựng, phát triển tổ chức đảng; chú trọng bồi dưỡng, tạo nguồn phát triển đảng viên, nhất là trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của đơn vị; đồng thời, rà soát, chuyển những đảng viên đang làm việc trong đơn vị, nhưng vẫn sinh hoạt Đảng ở nơi cư trú để góp phần xây dựng tổ chức đảng và phát huy vai trò, trách nhiệm của người đảng viên; kịp thời động viên, khen thưởng đối với những đơn vị làm tốt công tác xây dựng Đảng và những cán bộ, đảng viên gương mẫu.

Đảng viên Công ty TNHH NMS Việt Nam (vốn đầu tư của Nhật Bản) tại Khu công nghiệp Đồng Văn II (tỉnh Hà Nam) trao đổi nghiệp vụ trong một buổi sinh hoạt chi bộ_Ảnh: TTXVN

Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong thời gian tới

Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng; nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ là một trong những nhiệm vụ, giải pháp trong nhóm nhiệm vụ, giải pháp về củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng đã đề ra trong Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16-6-2022, của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, về “Tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới”. Nghị quyết chỉ rõ: “Đổi mới nội dung, phương thức, phong cách lãnh đạo, lề lối làm việc, nâng cao tinh thần trách nhiệm, năng lực của cấp ủy, bí thư cấp ủy ở cơ sở, bảo đảm vai trò hạt nhân và lãnh đạo toàn diện của Đảng ở cơ sở; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, đoàn kết trong Đảng. Kịp thời cụ thể hóa chủ trương của cấp trên phù hợp với thực tiễn và nhiệm vụ chính trị của tổ chức cơ sở đảng, giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh”(4).

Để góp phần đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong tình hình hiện nay, cần chú ý thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, tiếp tục kiện toàn, sắp xếp mô hình tổ chức cơ sở đảng trong các loại hình cơ sở cho đồng bộ, thống nhất với các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của tổ chức đảng. Kết hợp chặt chẽ công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng với xây dựng, chỉnh đốn cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở. Khắc phục tình trạng tổ chức đảng và tổ chức chính quyền trực thuộc các cấp trên khác nhau, thiếu thống nhất trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác tổ chức, cán bộ; hoặc tổ chức đảng và các tổ chức chính trị - xã hội trực thuộc các cấp trên khác nhau.

Hai là, tiếp tục bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện các quy định của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Đảng trong thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác tổ chức, cán bộ. Hiện nay, trong 5 loại hình tổ chức cơ sở cơ bản của Đảng là: xã, phường, thị trấn; cơ quan hành chính nhà nước; đơn vị sự nghiệp công lập; doanh nghiệp nhà nước và trong lực lượng vũ trang, trong đó 4 loại hình cơ sở quy định tổ chức đảng lãnh đạo xây dựng, thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác cán bộ. Riêng loại hình tổ chức cơ sở đảng ở cơ quan hành chính nhà nước chưa quy định, trong khi Điều lệ Đảng quy định và đã thực hiện thống nhất chủ trương đồng chí bí thư cấp ủy đồng thời là thủ trưởng cơ quan, đơn vị. Do đó, tổ chức cơ sở đảng ở cơ quan hành chính nhà nước cần được quy định rõ trách nhiệm lãnh đạo xây dựng, thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác tổ chức, cán bộ. Mặt khác, trong 28 quy định của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng, có nhiều quy định có nội dung giống nhau, chỉ có một số nội dung khác nhau do tính đặc thù của từng loại hình cơ sở, nhất là trong lực lượng vũ trang, vì vậy, cần nghiên cứu, ban hành một quy định chung cho các loại hình cơ sở này, bảo đảm vừa thể hiện được những vấn đề chung, vừa thể hiện được những nét đặc thù của mỗi loại hình cơ sở. Đồng thời, giao cho các cấp ủy trực thuộc Trung ương ban hành quy định về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng cho sát với thực tiễn và chủ động, kịp thời bổ sung, sửa đổi khi cần thiết; mặt khác, bảo đảm sự đồng bộ trong việc ban hành các quy định về chức năng, nhiệm vụ đối với các cấp ủy.

Ba là, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ và cấp ủy viên cơ sở, trước hết là bí thư đảng ủy cơ sở và bí thư các chi bộ có phẩm chất, năng lực, uy tín, thực sự gương mẫu và thành thạo nghiệp vụ công tác xây dựng Đảng. Thực tiễn chứng minh rằng, muốn nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, trước hết phải nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của từng tổ chức cơ sở đảng. Muốn nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, trước hết phải nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các chi bộ. Muốn nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của chi bộ thì phải nâng cao chất lượng hoạt động của các cấp ủy viên, mà trước hết là bí thư chi bộ. Vì vậy, phải đặc biệt coi trọng giáo dục, nâng cao bản lĩnh chính trị và phẩm chất, đạo đức cách mạng, phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền cơ sở. Thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới về lý luận chính trị và nghiệp vụ công tác đảng cho đội ngũ cấp ủy viên cơ sở, nhất là bí thư các chi bộ và người đứng đầu cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội.

Bốn là, tiếp tục thực hiện mô hình đảng bộ cơ sở khối ở cấp huyện (khối đảng, đoàn thể và khối chính quyền). Cần “nghiên cứu, xây dựng mô hình tổ chức cơ sở đảng đặc thù về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy để bảo đảm phù hợp với nguyên tắc chung và thực tiễn của lĩnh vực hoạt động, địa phương, cơ quan, đơn vị”(5). Việc thành lập đảng bộ cơ sở khối dân - đảng và khối cơ quan chính quyền ở cấp huyện được xem là phù hợp và cần thiết, nhất là trong tình hình hiện nay. Việc thành lập đảng bộ cơ sở theo các khối sẽ tạo sự gắn bó chặt chẽ trong phối hợp thực hiện nhiệm vụ chính trị; khắc phục tình trạng các chi bộ cơ sở có quá ít đảng viên, chưa dành sự quan tâm, coi trọng công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.../.

---------------------

CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ - “MỐC CHÓI LỌI BẰNG VÀNG CỦA LỊCH SỬ”

 


Những ngày đầu tháng 3, cùng với Lễ ra quân huấn luyện năm 2024 các đơn vị trong toàn quân đã phát động đợt thi đua cao điểm chào mừng kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954/7-5-2024) với chủ đề “Tiếp bước chiến sĩ Điện Biên-Tiến lên giành 3 nhất”, đợt thi đua được triển khai từ ngày 1-3 đến 7-5, cùng với đó tổ chức các hoạt động giáo dục nhằm tuyên truyền cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc về lòng yêu nước, tự hào dân tộc, lịch sử đấu tranh cách mạng, truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam; ý nghĩa, tầm vóc, giá trị lịch sử của Chiến thắng Điện Biên Phủ.

Ngược lại dòng lịch sử, những ngày cuối năm 1946, thực dân Pháp được sự hỗ trợ của các thế lực đế quốc đã quay trở lại xâm lược nước ta. Thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, với vũ khí thô sơ và tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược quân sự của thực dân Pháp. Để cứu vãn tình thế, bước vào Thu - Đông năm 1953, thực dân Pháp với sự can thiệp của Mỹ đã cho ra đời Kế hoạch Nava với mưu toan trong vòng 18 tháng sẽ tiêu diệt phần lớn bộ đội chủ lực của ta, kiểm soát lãnh thổ Việt Nam và bình định cả Nam Đông Dương.

Điện Biên Phủ là cứ điểm có ý nghĩa chiến lược khống chế cả một vùng rộng lớn của Tây Bắc và Thượng Lào. Tuy kế hoạch nằm ngoài dự kiến ban đầu của Kế hoạch Nava của Pháp và Mỹ, nhưng các tướng lĩnh Pháp và Mỹ đã liên tiếp cho tăng cường lực lượng, xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương. Lúc bấy giờ. Nava coi Điện Biên Phủ như “ một pháo đài không thể công phá”, là nơi thu hút để tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta. Điện Biên Phủ đã trở thành quyết chiến điểm của Kế hoạch Nava.

Sau khi phân tích thấu đáo tình hình chiến trường, ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Bộ Chỉ huy mặt trận do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm chỉ huy trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy mặt trận. Chính phủ thành lập Hội đồng hậu cần Trung ương cho mặt trận do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm chủ tịch. Với tinh thần cả nước cho Điện Biên Phủ chiến thắng, từ các vùng tự do đến các vùng địch hậu, căn cứ du kích đều dồn sức cho chiến trường Điện Biên Phủ. Điểm mở màn chính của chiến dịch Điện Biên Phủ là đồi Him Lam.

Với phương châm “đánh chắc, tiến chắc”, quân ta càng đánh càng hăng. Ngay ở trận đầu ngày 13/3 địch mất Him Lam, ngày 15/3 mất Độc Lập và ngày 17/3 mất tiếp Bản Kéo. Như vậy, cả một phòng tuyến vòng ngoài của địch suốt từ Tây Bắc sang Đông Bắc lòng chảo Mường Thanh, đã bị đập tan... Trải qua 56 ngày đêm chiến đấu anh dũng với 3 đợt tấn công “máu trộn bùn non”, chiều ngày 7/5/1954 cứ điểm Điện Biên Phủ bị tiêu diệt, buộc Tướng Đờ cát và toàn bộ Bộ Chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ phải đầu hàng vô điều kiện.

Chiến thắng Điện Biên Phủ là một trong những đỉnh cao của chiến tranh giữ nước trong thời đại Hồ Chí Minh đã giáng đòn quyết định, tạo bước ngoặt làm thay đổi cục diện chiến tranh trực tiếp đưa đến việc ký kết Hiệp định Giơnevơ chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, đồng thời, phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn”. “Đó là thắng lợi vĩ đại của Nhân dân ta mà cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới”.

Gần 70 năm trôi qua kể từ ngày quân và dân ta làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, cùng năm tháng, ý nghĩa và tầm vóc của sự kiện lịch sử trọng đại này vẫn giữ nguyên giá trị trong lòng mỗi người dân đất Việt và của bạn bè toàn thế giới; đặc biệt trong cảm nhận của thế hệ trẻ hôm nay chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là niềm tự hào và niềm tin sâu sắc về ý chí quyết tâm và sức mạnh của dân tộc. Để làm nên chiến thắng ấy, cả dân tộc đã phải chiến đấu anh dũng, gian khổ, hy sinh bao máu xương. Thế hệ chúng ta được sinh ra và lớn lên trong thời kỳ hòa bình, thống nhất đất nước, song qua những bài học, trang sách, những nhân chứng lịch sử, thế hệ trẻ hôm nay phải luôn coi những chiến thắng hào hùng của dân tộc là một phần quan trọng trong hành trang để xác định rõ tránh nhiệm của mình đối với Tổ quốc, với dân tộc. Vì vậy, mỗi quân nhân phải cố gắng, nỗ lực trong học tập, rèn luyện, có nhận thức, động cơ, quyết tâm thi đua đúng đắn, kiên quyết chống lại các quan điểm xuyên tạc lịch sử và phản động của thế lực thù địch, “Tiến lên giành 3 nhất” phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

NHỮNG KẺ PHẢN BỘI TỔ QUỐC, PHẢN BỘI LỊCH SỬ DÂN TỘC THẤY SỢ HÃI KHI NHÂN DÂN NHẤT LÀ THẾ HỆ TRẺ YÊU LỊCH SỬ, YÊU TỔ QUỐC.

 



Vì sao người Phương Tây không khoái và ko ưa gì việc nhắc lại lịch sử, nhất là những lịch sử ko phải do họ "biên tập"!?

Vì sao người phương Tây phải phịa ra mấy cái kiểu như mối đe doạ từ người ngoài hành tinh, zombie (xác sống) để làm phim hành động mà thoả sức bắn g.iết; rồi thì đám người sắt người nhện để làm siêu anh hùng!?

Đơn giản là bởi lịch sử của họ chả có gì vẻ vang ngoài những cuộc thập tự chinh vô nghĩa; những cuộc xâm lược, can thiệp lật đổ và cướp bóc đê hèn nhắm vào các quốc gia yếu hơn.

Nhưng khi phải đối đầu với kẻ mạnh ngang và mạnh hơn thì .... 🤣🤣🤣

""Ở châu Âu, các nhà báo đã nói thẳng vào mặt tôi: “Tại sao bạn lại chạy loanh quanh với Chiến thắng của mình ở Nga? Chúng tôi đã quên mất rồi.” Tôi hỏi họ: “Các nước các bạn đã chống lại Hitler được bao nhiêu ngày?” Họ im lặng. Sau đó tôi nói tiếp: “Ba Lan bị chinh phục trong 28 ngày, và cũng trong 28 ngày đó ở Stalingrad, quân Đức chỉ chiếm được một số ngôi nhà. Đan Mạch kéo dài đúng một ngày. Và toàn bộ châu Âu đã bị chinh phục trong ba tháng. Và những người lính của chúng tôi đã phải giải thoát cho họ. Và với giá bao nhiêu! Một triệu sinh mạng của những người lính Liên Xô đã được hiến tặng để giải phóng người châu Âu khỏi chủ nghĩa phát xít.”

Chúng tôi sẽ không quên!

Khi họ cố gắng bịt miệng Chiến thắng của chúng ta, quên nó đi, xóa nó khỏi ký ức của cả thế hệ và các dân tộc, điều đáng nhớ là trong Thế chiến thứ hai, họ đã chống lại quân Đức như thế nào?:

Đan Mạch - 6 giờ;

Luxembourg - 1 ngày;

Hà Lan - 5 ngày;

Nam Tư - 11 ngày;

Bỉ - 18 ngày;

Hy Lạp - 24 ngày;

Ba Lan - 27 ngày;

Pháp - 1 tháng 12 ngày;

Na Uy - 2 tháng 1 ngày.

Ngôi nhà của Pavlov ở Stalingrad đã trụ vững được 58 ngày.

Liên Xô cầm cự được 4 năm (1418 ngày) và kết thúc chiến tranh trong hang ổ của kẻ thù - Đức đầu hàng.

Mọi người nên nhớ điều này. Chúng ta cần phải nói với con cháu mình về điều này - để chúng ghi nhớ!""

Rõ ràng là không thể làm phim với những chất liệu bi hèn như thế được😌

(Fb Pavel Thép đã tôi)

Và đương nhiên là lũ bợ đ*t của chúng cũng vậy, giải thích cho việc tại sao chúng phải nhảy cẫng lên khi có một bộ phim lịch sử tử tế của dân tộc này lại viral, chúng chính là đám me Tây, đám Tây nội địa, Việt gian…

 

PHƯƠNG TIỆN SỬ DỤNG CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA
CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY 

Lợi dụng tiến bộ của công nghệ thông tin, truyền thông trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư và nhiều biển động của tình hình thế giới, các thể lực thù địch cảng ráo riết đẩy mạnh chống phá trên mọi mặt trận, trọng tâm là chĩa mũi nhọn tấn công chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng bằng những phương tiện đa dạng, tinh vi, thâm độc.

Cụ thể: với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư, các thế lực thù địch triệt để tận dụng công cụ truyền thông, báo chí, không gian mạng để đẩy mạnh hoạt động chống phá về tư tưởng. Chúng tăng cường thực hiện nhiều chiêu thức khác nhau, như xuất bản tài liệu, ấn phẩm sách báo, tạp chí, tập san, tờ rơi...; thành lập trang web, blog, các kênh phát thanh truyền hình có chương trình tiếng Việt; tổ chức hội thảo, tọa đàm, hội thi... thậm chí núp bóng danh nghĩa yêu nước, bảo vệ dân chủ, nhân quyền, vì dân tộc, vì đất nước, thúc đẩy hình thành các hội, nhóm, tổ chức chống phá Đảng, Nhà nước. Đặc biệt, lợi dụng quá m trình “chuyển đổi số”, các thế lực thù địch đã số hóa các dữ liệu không có thật, xuyên  tạc lịch sử, bôi nhọ Đảng, lãnh đạo Đảng và Nhà nước...; thiết lập cơ sở dữ liệu, sử dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), internet kết nối vạn vật, dữ liệu lớn (Big Data)... để tạo ra các dữ liệu, tài liệu giả theo kiểu “có giá trị như thật”, “minh chứng lịch sử”, “nguồn gốc của mọi nguồn gốc”, “tài liệu mật”... nhằm chống Đảng và Nhà nước ta.

Để có cách nhìn đúng đắn trong thực tiễn, kịp thời nhận diện và vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hiện nay, mỗi độc giả cần xem xét, đánh giá và tiếp thu có chọn lọc, có sự xâu chuỗi, kết nối các dữ liệu và sự kiện trước khi đưa ra quan điểm của riêng mình./.

 

QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM - LỰC LƯỢNG TIÊN PHONG, ĐI ĐẦU TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 


Gìn giữ và phát triển tư tưởng của Đảng trong Quân đội chính là bảo vệ tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bảo vệ cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam - những hệ giá trị để xác lập hệ tư tưởng chính trị, định hướng cho mục tiêu, lý tưởng phụng sự Tổ quốc, Nhân dân của Quân đội. Hiện nay, trước sự chống phá của các thế lực thù địch với thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội là yêu cầu cấp thiết và là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.

Nhận diện các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch với nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

Ngay từ khi ra đời, Quân đội Nhân dân Việt Nam được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục và rèn luyện, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là “kim chỉ nam” trong quá trình xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng là cơ sở để xây đắp, tăng cường, củng cố đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng trong Quân đội sẽ trực tiếp góp phần củng cố, bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

Một trong những nội dung trong hoạt động “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội. Trong cuốn sách mới công bố ngày 18/6/2023 với tên gọi “Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Thực chất, “phi chính trị hóa” Quân đội là thủ đoạn cực kỳ nham hiểm của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng nước ta, tách rời Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm cho Quân đội không còn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy của Đảng và Nhà nước ta”. Sở dĩ Tổng Bí thư coi đây là “thủ đoạn cực kỳ nhan hiểm” vì các thế lực thù địch đã thực hiện thành công âm mưu này ở Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa.

Đối với Việt Nam, âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội thực chất là mũi nhọn để phủ nhận sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam với Quân đội nhân dân Việt Nam, làm cho Quân đội thay đổi mục tiêu, lý tưởng chiến đấu. Trong thời gian gần đây, lợi dụng những thành tựu của Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, nhất là sự phát triển mạnh mẽ của tr.í t.uệ nh.ân t.ạo AI, các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam đã triệt để lợi dụng để tạo dựng, phát tán các thông tin, hình ảnh giả mạo, sai lệch, thật giả lẫn lộn gây hoang mang cho cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta. Các thủ đoạn của chúng là lập hàng loạt các trang web, blog, hàng loạt các nhà xuất bản và các đài phát thanh truyền hình có chương trình tiếng Việt như: Người đưa tin, Sự thật 24h…; xây dựng các chiêu trò như: Tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm tiếp xúc trực tiếp với các tổ chức, cá nhân phản động, bất mãn chính trị trong và ngoài nước để tuyên truyền, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng và tình hình đất nước. Với Quân đội, các phần tử cơ hội chính trị đã lợi dụng một số vi phạm, khuyết điểm của một số cán bộ, sĩ quân, chiến sĩ trong Quân đội để xuyên tạc, thổi phồng, thậm chí khoét sâu làm trầm trọng hóa thêm tình hình nhằm bôi nhọ, hạ thấp hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Qua đó, tấn công vào trận địa tư tưởng, văn hóa của Quân đội và tư tưởng chính trị, tình cảm, đạo đức, lối sống từng cán bộ, chiến sĩ. Đây là những chiêu trò chống phá rất nguy hiểm, chúng ta không thể lơ là, xem nhẹ.

Giải pháp tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội hiện đang là yêu cầu cấp thiết đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng hiện nay, giúp cho Quân đội thực sự là lực lượng chính trị trung thành, tin cậy; lực lượng tiên phong, đi đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, bảo vệ thành quả cách mạng của dân tộc.

Để tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội, cần tập trung vào những giải pháp chủ yêu sau:

Một là, phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chỉ huy các cấp, nhất là cơ quan chính trị đối với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

Cấp ủy, chỉ huy các cấp trong Quân đội cần xác định rõ nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng của toàn Đảng, toàn quân, trực tiếp và chủ yếu nhất là của cấp ủy đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp. Do đó, bí thư cấp ủy, người chỉ huy các cấp, trên cơ sở Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” và Ban Chỉ đạo 35 của Quân ủy Trung ương, hướng dẫn của cơ quan chức năng thuộc Tổng cục Chính trị; từ đó đề xuất các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo việc bảo vệ nền tảng tư tưởng trong Quân đội sát, đúng, hiệu quả, thiết thực. Tổng Bí thư đã chỉ rõ: “Quân ủy Trung ương, lãnh đạo Bộ Quốc phòng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, làm tốt công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, quán triệt nhiệm vụ cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội”. Ngoài ra, cần quan tâm, chăm lo xây dựng hệ thống tổ chức Đảng trong Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, có sức chiến đấu cao, đủ sức lãnh đạo cơ quan, đơn vị trong toàn quân hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị; Kết luận số 01 của Bộ Chính trị về tiếp đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 05 về “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Nghị quyết 847-NQ/QUTW, ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới. Quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 05 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 230-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021-2030.

Hai là, tập trung xây dựng các tổ chức đảng, tổ chức quần chúng, tập thể quân nhân, cán bộ nhất là cán bộ chủ chốt các cấp trong Quân đội trong sạch, vững mạnh ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ, làm cơ sở, tiền đề cho việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng trong Quân đội là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, mang tính chiến lược lâu dài của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, là công việc thường xuyên, tự giác và trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp. Do đó, cần tiếp tục xây dựng các tổ chức đảng trong Quân đội các cấp trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ, trực tiếp góp phần giữ vững sự thống nhất, đoàn kết, nhất trí trong các tổ chức đảng, sự đồng thuận của cán bộ, chiến sĩ trong cơ quan, đơn vị. Từ đó, ngăn chặn và đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đồng thời, cần làm tốt vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, tham mưu, hướng dẫn công tác đảng, công tác chính trị để nâng cao khả năng “miễn dịch” cho cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Quan tâm và tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, văn nghệ để nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ, khắc phục những biểu hiện tiêu cực, lệch lạc, góp phần giữ vững bản chất tốt đẹp của “Bộ đội cụ Hồ” trong tình hình mới.

Ba là, tập trung đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong Quân đội hiện nay để gia tăng năng lực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cho cán bộ, chiến sĩ.

Cần tập trung đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong Quân đội hiện nay giữ vị trí, vai trò quan trọng, giúp cho mọi quân nhân nhận thức sâu sắc những giá trị cốt lõi tạo nên nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Từ đó, xây dựng và củng cố vững chắc lòng tin, lý tưởng vào những giá trị bền vững và tạo cơ sở khoa học cho việc tự nguyện, tự giác phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, trung thành tuyệt đối với nhân dân, với Tổ quốc. Do đó, phải tích cực đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ở các cấp, nhất là các học viện, nhà trường phù hợp với từng đối tượng quân nhân.

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong Quân đội luôn giữ vị trí, ý nghĩa quan trọng giúp mọi quân nhân có được niềm tin, bản lĩnh, trình độ… hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Do vậy, việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong Quân đội hiện nay cần tập trung làm cho mọi quân nhân hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước, nhiệm vụ Quân đội... Trong giáo dục, cần làm cho họ thấy tính đúng đắn và sự cần thiết trong vai trò Đảng lãnh đạo Quân đội; lý tưởng khát vọng hoà bình, độc lập, tự do, hạnh phúc của giai cấp, dân tộc Việt Nam yêu chuộng hòa bình. Xây dựng hình thành, truyền bá những hệ giá trị cốt lõi của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam trong thời đại mới đến bạn bè quốc tế; tập trung khơi dậy và phát huy truyền thống văn hóa hàng nghìn năm của dân tộc, tiếp thu những giá trị văn hóa tinh hoa của nhân loại.

Bốn là, làm tốt công tác quản lý và nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng Internet, mạng xã hội trong Quân đội hiện nay.

Cần quản lý chặt chẽ thông tin trên internet, mạng xã hội ở tất cả các đơn vị trong toàn quân, không để các thế lực thù địch lợi dụng, chiếm lĩnh trận địa thông tin. Theo đó, cần chú trọng xây dựng, hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và có các giải pháp kỹ thuật phù hợp với sự phát triển nhanh của internet, mạng xã hội trong tình hình mới. Chỉ đạo Ban Chỉ đạo 35 và l.ực l.ượ.ng 4.7 các cơ quan, đơn vị trong toàn quân hoạt động có nền nếp, hiệu quả.

Các cơ quan chức năng cần thực hiện tốt công tác rà soát việc cấp phép hoạt động đối với các mạng xã hội, cấp tên miền bảo đảm chặt chẽ; phân định rõ các loại báo chí điện tử, tạp chí điện tử, trang thông tin điện tử. Tiến hành kiểm soát chặt chẽ việc đăng tải thông tin trên Internet, mạng xã hội của các quân nhân; đa dạng hóa hoạt động đấu tranh theo hướng: thiết lập và sử dụng các trang web, blog, nhóm, trang diễn đàn để đăng tải các bài viết với nội dung tuyên truyền các quan điểm chính thống, định hướng dư luận, phản bác hoặc tiến hành đấu tranh phản bác ngay tại các trang mạng “độc hại”.

Năm là, xây dựng và phát huy vai trò của lực lượng nòng cốt, chuyên sâu trong bảo vệ tư tưởng của Đảng trong Quân đội và đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội.

Chú trọng xây dựng đội ngũ nòng cốt, chuyên sâu là những cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ lý luận cao, có khả năng diễn đạt, luận chiến thuyết phục, có nhiệt huyết, dũng khí, quyết tâm đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, chế độ và con đường đi lên xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Từ đó cần tập trung tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, chú trọng nâng tầm lý luận sắc sảo, kinh nghiệm đấu tranh, cung cấp những thông tin, cập nhật nội dung, phương pháp, trang bị phương tiện, công nghệ để họ đấu tranh trên mạng xã hội. Phát huy tốt vai trò của các lực lượng tác chiến mạng xã hội, an ninh mạng Bộ Tư lệnh 86, L.ực l.ượ.ng 4.7 trong toàn quân; thường xuyên bám mạng, áp dụng các biện pháp kỹ thuật cần thiết, thích hợp trên mạng xã hội để phòng ngừa, nhận diện, phát hiện, ngăn chặn, xử lý và gỡ bỏ thông tin xấu độc, những dịch vụ, hành vi vi phạm pháp luật, gây hại đến hoạt động quân sự.

Sáu là, tổ chức đấu tranh có hiệu quả, quyết liệt với các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet, mạng xã hội

Phát huy tốt vai trò của cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên các cấp trong công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị nhận diện và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet, mạng xã hội.

Trang bị những kiến thức cần thiết để mỗi cán bộ, chiến sĩ có thể tự sàng lọc, tiếp nhận thông tin hữu ích, chính thống, “miễn dịch” với những thông tin xấu độc, không tin theo, không truy cập và tán phát, chia sẻ những thông tin xấu độc và tích cực đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet, mạng xã hội.

Có thể khẳng định, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội không chỉ liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ mà còn có ý nghĩa sống còn với sự tồn tại và phát triển của Quân đội. Do đó, để Quân đội ta tiếp tục phát huy được những truyền thống anh hùng, vẻ vang, mỗi tổ chức đảng các cấp trong Quân đội cũng như mỗi cán bộ, chiến sĩ cần phải luôn không ngừng tu dưỡng, rèn luyện để giữ gìn bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức “Bộ đội cụ Hồ” mà còn luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, sức đề kháng trước các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch./.

Những cái Nhất của phụ nữ Việt Nam

 


- Người phụ nữ đầu tiên làm vua ở Việt Nam là: Bà Trưng Trắc, bà là con gái một lạc tướng ở Mê linh, Vĩnh Phúc. Năm 40 của thế kỷ thứ nhất, bà Trưng Trắc đã cùng em gái là Trưng Nhị lãnh đạo nhân dân chống lại sự xâm lược của nhà Hán, thu giang sơn về một mối. Bà xưng vương và giữ ngôi trong 3 năm.

- Nữ tướng duy nhất ở Việt Nam thế kỷ 20 là: Bà Nguyễn Thị Định, sinh năm 1920, tại xã Lương Hòa, Giồng Trôm, Bến Tre. Năm 1974, bà là Thiếu tướng, Phó Tổng tư lệnh lực lượng vũ trang giải phóng Nam Việt Nam. Sau ngày đất nước thống nhất, bà là nữ Phó chủ tịch Hội đồng nhà nước (nay là Phó chủ tịch nước) đầu tiên của Việt Nam và là Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam.

- Nữ anh hùng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam: Anh hùng Nguyễn Thị Chiên, sinh năm 1930 tại xã Kiến Thuật, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Trong kháng chiến chống Pháp, bà đã xây dựng và chỉ huy đội nữ du kích Tán Thuật (Thái Bình). Hoạt động hiệu quả, táo bạo dũng cảm, nổi tiếng với chiến tích “tay không bắt giặc”, bà được tặng thưởng nhiều Huân chương, Huy chương chiến công và năm 1952 được phong là nữ Anh hùng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.

- Nữ Anh hùng lực lượng vũ trang trẻ nhất là: Chị Võ Thị Sáu (1933 - 1952). Ngay từ năm 15 tuổi, chị đã hăng hái tham gia cách mạng, lập nhiều chiến công vang dội. Tháng 5/1950, bị giặc Pháp bắt, tra tấn dã man nhưng chị vẫn giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cách mạng. Năm 1952, giặc đày chị ra Côn Đảo và hành quyết. Năm 1993, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã trân trọng truy tặng chị Huân chương chiến công hạng Nhất và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang.

- Người phụ nữ vác đạn nặng nhất trong chiến tranh Việt Nam là: Anh hùng Ngô Thị Tuyển, sinh năm 1946 tại Nam Ngạn, Hàm Rồng, Thanh Hóa. Chị là nữ dân quân mưu trí, dũng cảm. Ngày 4/4/1965, chị đã vác 2 hòm đạn nặng 98kg vượt qua bờ đê chuyển ra sông phục vụ chiến đấu tại Hàm Rồng, Thanh Hóa.

- Bí thư thành ủy trẻ tuổi nhất Việt Nam là: Đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai, sinh năm 1910 tại Vinh, năm 16 tuổi thoát ly gia đình hoạt động cách mạng. Năm 30 tuổi trở thành Ủy viên Xứ ủy Nam Kỳ, Bí thư Thành ủy Sài Gòn – Chợ lớn. Năm 31 tuổi bị Thực dân Pháp bắt tra tấn và đã anh dũng hy sinh.

- Người phụ nữ biên soạn cuốn từ điển Hán Nôm cổ nhất Việt Nam là: Bà Trịnh Thị Ngọc Trúc, bà đã biên soạn cuốn từ điển Hán Nôm “Ngọc âm chí Nam giải nghĩa” ở thế kỷ 16.

- Người phụ nữ sáng tác nhiều thơ bằng chữ Nôm nhất Việt Nam là: Nữ thi sỹ Hồ Xuân Hương, bà sinh ra ở thế kỷ thứ 18, được mệnh danh là bà chúa thơ Nôm.

- Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam đầu tiên là: Bà Lê Thị Xuyến, bà sinh năm 1909 tại Đại Hòa, Đại Lộc, Quảng Nam, là chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam từ năm 1946-1956.

- Người phụ nữ làm Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam lâu nhất là: Bà Nguyễn Thị Thập, sinh năm 1908 tại Long Hưng, Châu Thành, Bến Tre. Có 18 năm là Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam (1956-1974). Bà cũng là nữ đại biểu Quốc hội nhiều khóa nhất (khóa I đến khóa VI) 36 năm làm đại biểu quốc hội, nữ Phó chủ tịch Quốc hội đầu tiên của Việt Nam.

- Người phụ nữ có nụ cười nổi tiếng nhất Việt Nam là: Chị Võ Thị Thắng, sinh năm 1945 tại Tiền Bửu, Bến Lức, long An. Năm 1968 bị giặc bắt, tuyên án 20 năm tù khổ sai. Trước bản án chị tươi cười và nói: “Tôi sợ chính quyền các ông không đủ thời gian tồn tại để thi hành án của tôi’’. Thực tế đã chứng minh lời nói của chị. Năm 1973, hiệp định hòa bình về Việt Nam được ký kết tại Paris, chị được trao trả tự do. Và là Tổng cục trưởng Tổng cục Du Lịch Việt Nam.

- Người nữ Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên Việt Nam là: Bà Nguyễn Thị Bình. Sinh năm 1927 tại xã Điện Quang, Điện Lực, Quảng Nam. Bộ trưởng Bộ ngoại giao chính phủ lâm thời tại Hội nghị Paris năm 1973.

- Bà mẹ anh hùng chịu đựng nỗi đau lớn nhất trong lịch sử: Mẹ Nguyễn Thị Thứ. Sinh năm 1904, tại xã Điện Thắng, Điện Bàn, Quảng Nam. Mẹ có 10 người con (9 con trai, 1 con rể) và hai cháu nội hy sinh trong chiến tranh.

- Người phụ nữ Việt Nam đầu tiên được tặng danh hiệu Viện sỹ thông tấn của Hàn Lâm Viện văn chương khoa học và nghệ thuật toàn châu Âu là: Bà Điềm Phùng Thị, sinh năm 1920 tại Huế. Bà có 36 tượng đài và nhiều tác phẩm điêu khắc. Năm 1993 bà được phong danh hiệu: “Nữ Viện sỹ thông tấn của Hàn lâm Viện Văn chương khoa học và nghệ thuật toàn châu Âu”.

Không thể xuyên tạc, phủ nhận chức năng, thành quả lao động sản xuất của Quân đội

 

Tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng là một chức năng cơ bản, nhiệm vụ vẻ vang, thể hiện sâu sắc bản chất, truyền thống của của Quân đội nhân dân Việt Nam. Điều đó đã được lý luận khẳng định, thực tiễn chứng minh, Đảng, Nhà nước và Nhân dân ghi nhận. Nhưng với mưu đồ chống phá thâm độc, các thế lực thù địch đã cố tình xuyên tạc, phủ nhận. Đây là vấn đề không mới nhưng rất nguy hiểm, đòi hỏi chúng ta cần tỉnh táo nhận diện và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ.  

Từ lâu, các thế lực thù địch, phần tử bất đồng chính kiến, cơ hội chính trị luôn tìm mọi cách chống phá, hòng làm suy yếu Quân đội - công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Thời gian gần đây, lợi dụng chủ trương của Đảng, Nhà nước về xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh”, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, các đối tượng này mở màn “ca tụng”, “khen ngợi”, bày tỏ sự “đồng thuận”, “nhất trí cao” rồi “hiến kế”, “đề xuất”: “Đất nước đã phát triển có đủ tiềm lực kinh tế đầu tư cho quốc phòng, cho xây dựng Quân đội hiện đại, vì thế đã đến lúc Quân đội không cần phải tham gia lao động sản xuất, không cần kết hợp quốc phòng với kinh tế nữa mà tập trung bảo vệ Tổ quốc”, “Để tinh, gọn, mạnh, hiện đại như mục tiêu đã xác định thì Quân đội tập trung vào xây dựng lực lượng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, không tham gia làm kinh tế”… Họ còn tỏ ra “lo lắng” khi Quân đội “Tham gia làm kinh tế không xứng với vị thế của một đội quân chính quy, hiện đại”. Thâm hiểm hơn chúng bới móc hạn chế, sai phạm của một số tập thể, cá nhân đã bị xử lý kỷ luật, rồi quy chụp, phủ nhận thành quả tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội và “phán” rằng: “Vì tham gia làm kinh tế nên Quân đội mất cán bộ, giảm sút lòng tin của Nhân dân”!

Những luận điệu xảo biện đó không công kích trực diện mà núp bóng tinh vi dưới vỏ bọc “ý kiến đề xuất”, “đóng góp tâm huyết” nên đã làm một số quần chúng do hiểu biết hạn chế, nhận thức giản đơn về chính trị ngộ nhận, từ đó bình luận, chia sẻ trên các trang cá nhân mạng xã hội, vô tình tiếp tay cho chúng.

Nhìn nhận một cách hệ thống, chúng ta thấy, thực chất của các luận điệu trên vẫn chỉ là chiêu trò “bình mới, rượu cũ”. Bản chất phía sau vẫn là dã tâm mà chúng không hề từ bỏ là chống phá Quân đội, chống phá đường lối của Đảng. Mục đích chúng hướng đến là xuyên tạc, phủ nhận chức năng “đội quân lao động sản xuất”, sâu xa hơn xuyên tạc bản chất cách mạng, bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc, tính nhân dân và truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam; xuyên tạc chủ trương kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế của Đảng. Đặc biệt, chúng hướng lái, cổ súy cho việc xây dựng Quân đội theo kiểu quân đội nhà nghề của các nước phương Tây. Đây là ý đồ hết sức thâm độc, được ngụy trang rất tinh vi, nhằm thẩm thấu vào tư tưởng của cán bộ, quần chúng nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, gây tâm lý hoài nghi, nhận thức không đầy đủ, sai lệch về chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta.

Để thấy rõ tính chất phản động, sự xuyên tạc trắng trợn, lố bịch của các thế lực thù địch về chức năng, nhiệm vụ tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội và chủ trương kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế của Đảng, cần nghiên cứu, nhận thức vấn đề này một cách thấu đáo, khách quan, khoa học cả về lý luận và thực tiễn.

Phải khẳng định rằng, kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế là quy luật tất yếu khách quan đối với mọi quốc gia. Đối với nước ta, kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế và Quân đội tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế, góp phần xây dựng đất nước là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng trong mọi giai đoạn cách mạng. Quan điểm đó được hình thành trên cơ sở lịch sử truyền thống “dựng nước đi đôi với giữ nước” của dân tộc, từ những bài học quý về chính sách “ngụ binh ư nông”, “tĩnh vi nông, động vi binh” của ông cha ta và xuất phát từ lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế; về quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản.

Quân đội ta là quân đội cách mạng, “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”. Lao động sản xuất là một trong ba chức năng cơ bản của Quân đội được xác lập từ ngày đầu thành lập, thể hiện rõ đặc trưng, bản chất, truyền thống của đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ và là điểm khác biệt căn bản với quân đội tư sản. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Tham gia sản xuất là một nhiệm vụ vẻ vang mà Đảng và Chính phủ giao cho Quân đội”1. Và trên thực tế, “nhiệm vụ vẻ vang” đó luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, thống nhất; Quân đội quán triệt, thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả.

Nhìn lại chặng đường gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn nắm vững và hoàn thành xuất sắc chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất” mà Đảng, Nhà nước, Nhân dân tin tưởng giao phó. Đối với chức năng “đội quân lao động sản xuất” được toàn quân thực hiện bằng nhiều hình thức, biện pháp sáng tạo, phù hợp trong từng giai đoạn cách mạng. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, quán triệt quan điểm “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc” của Đảng, các đơn vị Quân đội vừa chiến đấu, vừa tích cực tăng gia, sản xuất cải thiện đời sống, đảm bảo cho bộ đội “ăn no, đánh thắng”. Các “công binh xưởng” được thành lập và đã sản xuất hàng triệu tấn vũ khí, trang bị, đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng, phát triển chiến tranh nhân dân.  Sau thắng lợi vẻ vang của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, thực hiện chủ trương của Đảng, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ Quân đội chuyển sang làm nhiệm vụ lao động, sản xuất, xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa đem lại nhiều thành quả quan trọng. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quân đội tích cực tham gia xây dựng hậu phương lớn miền Bắc, đồng thời, đẩy mạnh sản xuất xây dựng căn cứ hậu phương, căn cứ hậu cần trên chiến trường miền Nam, tạo nguồn vật chất tại chỗ to lớn đảm bảo cho tác chiến, góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc.

Đất nước thống nhất, Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) đã ban hành Nghị quyết về nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới; trong đó xác định: “Các lực lượng vũ trang, kể cả các đơn vị thường trực, phải tích cực tham gia sản xuất, góp phần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự đối với tất cả trai tráng và chế độ Quân đội tham gia xây dựng kinh tế”2. Đến Đại hội IV (tháng12/1976), Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Trong hoàn cảnh một nước nghèo lại vừa ra khỏi một cuộc chiến tranh ác liệt, kéo dài, thì các lực lượng vũ trang, ngoài nghĩa vụ luôn luôn sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc, còn phải tích cực làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế, góp phần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội”3. Thực hiện chủ trương của Đảng, Quân đội đã xung kích trên mặt trận hàn gắn vết thương chiến tranh, tham gia củng cố, phát triển kinh tế - xã hội và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, sát cánh cùng toàn dân đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.

Trong giai đoạn mới, tư duy của Đảng về kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế và Quân đội tham gia lao động sản xuất, xây dựng đất nước tiếp tục được nhất quán khẳng định qua các kỳ Đại hội. Tại Đại hội VI (12/1986), Đảng ta chỉ rõ: “Từng bước phát triển công nghiệp quốc phòng đi đôi với tăng cường tiềm lực kinh tế của đất nước. Trên cơ sở bảo đảm nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu và sản xuất quốc phòng, huy động một phần lực lượng Quân đội, sử dụng một phần năng lực công nghiệp quốc phòng vào việc xây dựng kinh tế”4; “Toàn dân xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc”, “Toàn quân bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước”5, v.v.

Quán triệt quan điểm, chủ trương của Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định về nhiệm vụ tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế để lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân thống nhất tổ chức thực hiện. Đáng chú ý là: Nghị quyết số 71/ĐUQSTW, ngày 25/4/2002 của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quan ủy Trung ương) “Về nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội trong thời kỳ mới - tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Quân đội”; Nghị quyết số 520-NQ/QUTW, ngày 25/9/2012 của Quân ủy Trung ương “Về lãnh đạo nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng của Quân đội đến năm 2020”; Nghị quyết số 820-NQ/QUTW, ngày 17/12/2021 về “Lãnh đạo nhiệm vụ lao động sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng của Quân đội đến năm 2030”, v.v.

Theo đó, việc thực hiện chức năng “đội quân lao động sản xuất”, tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội ngày càng đi vào chiều sâu, phù hợp với chủ trương của Đảng về đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh trong giai đoạn mới. Nổi bật là, Quân đội đã phát huy vai trò xung kích trong tham gia xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội gắn với xây dựng tiềm lực, thế trận quốc phòng toàn dân, “thế trận lòng dân” vững chắc, đặc biệt trên các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo. Các đơn vị Quân đội đã chủ trì phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và trực tiếp tổ chức xây dựng hàng chục khu kinh tế - quốc phòng, tạo việc làm cho hàng trăm nghìn hộ dân, hình thành các điểm, cụm dân cư trên vành đai biên giới, khu vực xung yếu, tạo thế bố trí chiến lược mới trên các địa bàn, hướng chiến lược của đất nước. Các doanh nghiệp Quân đội không ngừng phát triển, hội nhập, xung kích thực hiện các dự án kinh tế - xã hội kết hợp quốc phòng, an ninh, nhất là ở địa bàn khó khăn. Nhiều doanh nghiệp Quân đội khẳng định được thương hiệu, giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và là lực lượng dự bị mạnh về quốc phòng. Ngành công nghiệp quốc phòng làm chủ nhiều công nghệ lưỡng dụng tiên tiến, hiện đại, đóng góp tích cực vào xây dựng Quân đội từng bước hiện đại và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Các đơn vị thường trực, sự nghiệp công lập tích cực tăng gia, sản xuất và làm một số dịch vụ theo quy định, tạo nguồn thu trực tiếp cải thiện đời sống bộ đội, tham gia có hiệu quả vào phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng tiềm lực hậu cần trên địa bàn đóng quân, v.v.

Như vậy, cả phương diện lý luận và thực tiễn cho thấy: Quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế là tất yếu khách quan, phù hợp với quy luật và điều kiện Việt Nam. Đặc biệt, kết quả đạt được trên “mặt trận lao động sản xuất” là thực tiễn sinh động khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước trong việc huy động Quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế. Đồng thời, khẳng định ý thức, trách nhiệm chính trị, quyết tâm cao của Quân đội ta trong việc quán triệt, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược, thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao. Mặc dù còn một số khuyết điểm, hạn chế do những nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau, nhưng đó chỉ là cá biệt, “con sâu làm rầu nồi canh”. Thực tiễn hoạt động sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội và những kết quả đạt được là minh chứng sắc bén nhất vạch trần thủ đoạn lập lờ đánh đồng hiện tượng với bản chất, bác bỏ luận điệu xuyên tạc vô lối, phản khoa học của các thế lực thù địch.

Hiện nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đang đứng trước nhiều vận hội, thời cơ thuận lợi và cả khó khăn, thách thức đan xen. Kinh tế đất nước không ngừng phát triển và đạt những thành tựu to lớn. Đây là cơ sở quan trọng để Đảng, Nhà nước tăng cường đầu tư cho quốc phòng, xây dựng Quân đội. Tuy nhiên, nước ta vẫn ở nhóm các nước đang phát triển, nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế mà Đảng ta chỉ ra ngày càng bộc lộ rõ; sức chống chịu của nền kinh tế trước những tác động bất lợi còn hạn chế. Nhu cầu đầu tư cho phát triển nói chung, cho xây dựng Quân đội nói riêng đòi hỏi rất lớn trong khi nguồn lực kinh tế đất nước còn có hạn. Trước bối cảnh đó, hơn bao giờ hết, Quân đội vừa làm tròn vai trò nòng cốt bảo vệ Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; đồng thời, tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa chức năng “đội quân lao động sản xuất”, tham gia có hiệu quả vào phát triển kinh tế, tạo nguồn lực xây dựng đất nước. Mặt khác, cần thấy rằng, Quân đội tham gia lao động sản xuất không chỉ có ý nghĩa về kinh tế, tạo ra nguồn của cải vật chất, góp phần tăng cường tiềm lực đất nước, mà “mặt trận lao động sản xuất” còn là môi trường để cán bộ, chiến sĩ, nhất là thế hệ trẻ được thử thách, rèn luyện ý chí, bản lĩnh của người quân nhân cách mạng, bồi đắp tình yêu lao động, tinh thần tự lực tự cường, ý thức cần, kiệm, liêm, chính; tăng cường gắn kết tình đồng chí đồng đội, v.v. Qua đó, giúp họ trưởng thành, phát triển toàn diện, thực hiện tốt hơn nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Một thực tế nữa không thể phủ nhận là, thông qua thực hiện nhiệm vụ lao động sản xuất hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” thêm ngời sáng, mối quan hệ gắn bó máu thịt quân dân càng thêm bền chặt, niềm tin yêu của Nhân dân dành cho Quân đội càng được nâng cao. Bởi vậy, dù ngụy biện thế nào thì luận điệu “đến lúc Quân đội không cần phải tham gia lao động sản xuất” hay “tham gia xây dựng kinh tế làm giảm sút lòng tin của nhân dân” là hoàn toàn lố bịch, không thể chấp nhận được.

Tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế là chức năng cơ bản, nhiệm vụ vẻ vang, đặc trưng bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam là điều không thể phủ nhận. Tiếp tục nắm vững và thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ đó không chỉ là mệnh lệnh, trách nhiệm, nghĩa vụ, mà còn là niềm vinh dự, tự hào của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Đó là hành động thiết thực nhất để phản bác, đập tan mọi luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và hệ thống chính trị thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “sớm đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”, xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, từng bước hiện đại, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại và tô thắm thêm bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, xứng đáng là “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất” trong thời kỳ mới.