Thứ Ba, 5 tháng 3, 2024

Không thể xuyên tạc, phủ nhận chức năng, thành quả lao động sản xuất của Quân đội

 

Tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng là một chức năng cơ bản, nhiệm vụ vẻ vang, thể hiện sâu sắc bản chất, truyền thống của của Quân đội nhân dân Việt Nam. Điều đó đã được lý luận khẳng định, thực tiễn chứng minh, Đảng, Nhà nước và Nhân dân ghi nhận. Nhưng với mưu đồ chống phá thâm độc, các thế lực thù địch đã cố tình xuyên tạc, phủ nhận. Đây là vấn đề không mới nhưng rất nguy hiểm, đòi hỏi chúng ta cần tỉnh táo nhận diện và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ.  

Từ lâu, các thế lực thù địch, phần tử bất đồng chính kiến, cơ hội chính trị luôn tìm mọi cách chống phá, hòng làm suy yếu Quân đội - công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Thời gian gần đây, lợi dụng chủ trương của Đảng, Nhà nước về xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh”, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, các đối tượng này mở màn “ca tụng”, “khen ngợi”, bày tỏ sự “đồng thuận”, “nhất trí cao” rồi “hiến kế”, “đề xuất”: “Đất nước đã phát triển có đủ tiềm lực kinh tế đầu tư cho quốc phòng, cho xây dựng Quân đội hiện đại, vì thế đã đến lúc Quân đội không cần phải tham gia lao động sản xuất, không cần kết hợp quốc phòng với kinh tế nữa mà tập trung bảo vệ Tổ quốc”, “Để tinh, gọn, mạnh, hiện đại như mục tiêu đã xác định thì Quân đội tập trung vào xây dựng lực lượng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, không tham gia làm kinh tế”… Họ còn tỏ ra “lo lắng” khi Quân đội “Tham gia làm kinh tế không xứng với vị thế của một đội quân chính quy, hiện đại”. Thâm hiểm hơn chúng bới móc hạn chế, sai phạm của một số tập thể, cá nhân đã bị xử lý kỷ luật, rồi quy chụp, phủ nhận thành quả tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội và “phán” rằng: “Vì tham gia làm kinh tế nên Quân đội mất cán bộ, giảm sút lòng tin của Nhân dân”!

Những luận điệu xảo biện đó không công kích trực diện mà núp bóng tinh vi dưới vỏ bọc “ý kiến đề xuất”, “đóng góp tâm huyết” nên đã làm một số quần chúng do hiểu biết hạn chế, nhận thức giản đơn về chính trị ngộ nhận, từ đó bình luận, chia sẻ trên các trang cá nhân mạng xã hội, vô tình tiếp tay cho chúng.

Nhìn nhận một cách hệ thống, chúng ta thấy, thực chất của các luận điệu trên vẫn chỉ là chiêu trò “bình mới, rượu cũ”. Bản chất phía sau vẫn là dã tâm mà chúng không hề từ bỏ là chống phá Quân đội, chống phá đường lối của Đảng. Mục đích chúng hướng đến là xuyên tạc, phủ nhận chức năng “đội quân lao động sản xuất”, sâu xa hơn xuyên tạc bản chất cách mạng, bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc, tính nhân dân và truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam; xuyên tạc chủ trương kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế của Đảng. Đặc biệt, chúng hướng lái, cổ súy cho việc xây dựng Quân đội theo kiểu quân đội nhà nghề của các nước phương Tây. Đây là ý đồ hết sức thâm độc, được ngụy trang rất tinh vi, nhằm thẩm thấu vào tư tưởng của cán bộ, quần chúng nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, gây tâm lý hoài nghi, nhận thức không đầy đủ, sai lệch về chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta.

Để thấy rõ tính chất phản động, sự xuyên tạc trắng trợn, lố bịch của các thế lực thù địch về chức năng, nhiệm vụ tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội và chủ trương kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế của Đảng, cần nghiên cứu, nhận thức vấn đề này một cách thấu đáo, khách quan, khoa học cả về lý luận và thực tiễn.

Phải khẳng định rằng, kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế là quy luật tất yếu khách quan đối với mọi quốc gia. Đối với nước ta, kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế và Quân đội tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế, góp phần xây dựng đất nước là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng trong mọi giai đoạn cách mạng. Quan điểm đó được hình thành trên cơ sở lịch sử truyền thống “dựng nước đi đôi với giữ nước” của dân tộc, từ những bài học quý về chính sách “ngụ binh ư nông”, “tĩnh vi nông, động vi binh” của ông cha ta và xuất phát từ lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế; về quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản.

Quân đội ta là quân đội cách mạng, “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”. Lao động sản xuất là một trong ba chức năng cơ bản của Quân đội được xác lập từ ngày đầu thành lập, thể hiện rõ đặc trưng, bản chất, truyền thống của đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ và là điểm khác biệt căn bản với quân đội tư sản. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Tham gia sản xuất là một nhiệm vụ vẻ vang mà Đảng và Chính phủ giao cho Quân đội”1. Và trên thực tế, “nhiệm vụ vẻ vang” đó luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, thống nhất; Quân đội quán triệt, thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả.

Nhìn lại chặng đường gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn nắm vững và hoàn thành xuất sắc chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất” mà Đảng, Nhà nước, Nhân dân tin tưởng giao phó. Đối với chức năng “đội quân lao động sản xuất” được toàn quân thực hiện bằng nhiều hình thức, biện pháp sáng tạo, phù hợp trong từng giai đoạn cách mạng. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, quán triệt quan điểm “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc” của Đảng, các đơn vị Quân đội vừa chiến đấu, vừa tích cực tăng gia, sản xuất cải thiện đời sống, đảm bảo cho bộ đội “ăn no, đánh thắng”. Các “công binh xưởng” được thành lập và đã sản xuất hàng triệu tấn vũ khí, trang bị, đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng, phát triển chiến tranh nhân dân.  Sau thắng lợi vẻ vang của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, thực hiện chủ trương của Đảng, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ Quân đội chuyển sang làm nhiệm vụ lao động, sản xuất, xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa đem lại nhiều thành quả quan trọng. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quân đội tích cực tham gia xây dựng hậu phương lớn miền Bắc, đồng thời, đẩy mạnh sản xuất xây dựng căn cứ hậu phương, căn cứ hậu cần trên chiến trường miền Nam, tạo nguồn vật chất tại chỗ to lớn đảm bảo cho tác chiến, góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc.

Đất nước thống nhất, Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) đã ban hành Nghị quyết về nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới; trong đó xác định: “Các lực lượng vũ trang, kể cả các đơn vị thường trực, phải tích cực tham gia sản xuất, góp phần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự đối với tất cả trai tráng và chế độ Quân đội tham gia xây dựng kinh tế”2. Đến Đại hội IV (tháng12/1976), Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Trong hoàn cảnh một nước nghèo lại vừa ra khỏi một cuộc chiến tranh ác liệt, kéo dài, thì các lực lượng vũ trang, ngoài nghĩa vụ luôn luôn sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc, còn phải tích cực làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế, góp phần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội”3. Thực hiện chủ trương của Đảng, Quân đội đã xung kích trên mặt trận hàn gắn vết thương chiến tranh, tham gia củng cố, phát triển kinh tế - xã hội và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, sát cánh cùng toàn dân đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.

Trong giai đoạn mới, tư duy của Đảng về kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế và Quân đội tham gia lao động sản xuất, xây dựng đất nước tiếp tục được nhất quán khẳng định qua các kỳ Đại hội. Tại Đại hội VI (12/1986), Đảng ta chỉ rõ: “Từng bước phát triển công nghiệp quốc phòng đi đôi với tăng cường tiềm lực kinh tế của đất nước. Trên cơ sở bảo đảm nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu và sản xuất quốc phòng, huy động một phần lực lượng Quân đội, sử dụng một phần năng lực công nghiệp quốc phòng vào việc xây dựng kinh tế”4; “Toàn dân xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc”, “Toàn quân bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước”5, v.v.

Quán triệt quan điểm, chủ trương của Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định về nhiệm vụ tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế để lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân thống nhất tổ chức thực hiện. Đáng chú ý là: Nghị quyết số 71/ĐUQSTW, ngày 25/4/2002 của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quan ủy Trung ương) “Về nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội trong thời kỳ mới - tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Quân đội”; Nghị quyết số 520-NQ/QUTW, ngày 25/9/2012 của Quân ủy Trung ương “Về lãnh đạo nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng của Quân đội đến năm 2020”; Nghị quyết số 820-NQ/QUTW, ngày 17/12/2021 về “Lãnh đạo nhiệm vụ lao động sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng của Quân đội đến năm 2030”, v.v.

Theo đó, việc thực hiện chức năng “đội quân lao động sản xuất”, tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội ngày càng đi vào chiều sâu, phù hợp với chủ trương của Đảng về đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh trong giai đoạn mới. Nổi bật là, Quân đội đã phát huy vai trò xung kích trong tham gia xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội gắn với xây dựng tiềm lực, thế trận quốc phòng toàn dân, “thế trận lòng dân” vững chắc, đặc biệt trên các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo. Các đơn vị Quân đội đã chủ trì phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và trực tiếp tổ chức xây dựng hàng chục khu kinh tế - quốc phòng, tạo việc làm cho hàng trăm nghìn hộ dân, hình thành các điểm, cụm dân cư trên vành đai biên giới, khu vực xung yếu, tạo thế bố trí chiến lược mới trên các địa bàn, hướng chiến lược của đất nước. Các doanh nghiệp Quân đội không ngừng phát triển, hội nhập, xung kích thực hiện các dự án kinh tế - xã hội kết hợp quốc phòng, an ninh, nhất là ở địa bàn khó khăn. Nhiều doanh nghiệp Quân đội khẳng định được thương hiệu, giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và là lực lượng dự bị mạnh về quốc phòng. Ngành công nghiệp quốc phòng làm chủ nhiều công nghệ lưỡng dụng tiên tiến, hiện đại, đóng góp tích cực vào xây dựng Quân đội từng bước hiện đại và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Các đơn vị thường trực, sự nghiệp công lập tích cực tăng gia, sản xuất và làm một số dịch vụ theo quy định, tạo nguồn thu trực tiếp cải thiện đời sống bộ đội, tham gia có hiệu quả vào phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng tiềm lực hậu cần trên địa bàn đóng quân, v.v.

Như vậy, cả phương diện lý luận và thực tiễn cho thấy: Quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế là tất yếu khách quan, phù hợp với quy luật và điều kiện Việt Nam. Đặc biệt, kết quả đạt được trên “mặt trận lao động sản xuất” là thực tiễn sinh động khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước trong việc huy động Quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế. Đồng thời, khẳng định ý thức, trách nhiệm chính trị, quyết tâm cao của Quân đội ta trong việc quán triệt, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược, thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao. Mặc dù còn một số khuyết điểm, hạn chế do những nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau, nhưng đó chỉ là cá biệt, “con sâu làm rầu nồi canh”. Thực tiễn hoạt động sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội và những kết quả đạt được là minh chứng sắc bén nhất vạch trần thủ đoạn lập lờ đánh đồng hiện tượng với bản chất, bác bỏ luận điệu xuyên tạc vô lối, phản khoa học của các thế lực thù địch.

Hiện nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đang đứng trước nhiều vận hội, thời cơ thuận lợi và cả khó khăn, thách thức đan xen. Kinh tế đất nước không ngừng phát triển và đạt những thành tựu to lớn. Đây là cơ sở quan trọng để Đảng, Nhà nước tăng cường đầu tư cho quốc phòng, xây dựng Quân đội. Tuy nhiên, nước ta vẫn ở nhóm các nước đang phát triển, nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế mà Đảng ta chỉ ra ngày càng bộc lộ rõ; sức chống chịu của nền kinh tế trước những tác động bất lợi còn hạn chế. Nhu cầu đầu tư cho phát triển nói chung, cho xây dựng Quân đội nói riêng đòi hỏi rất lớn trong khi nguồn lực kinh tế đất nước còn có hạn. Trước bối cảnh đó, hơn bao giờ hết, Quân đội vừa làm tròn vai trò nòng cốt bảo vệ Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; đồng thời, tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa chức năng “đội quân lao động sản xuất”, tham gia có hiệu quả vào phát triển kinh tế, tạo nguồn lực xây dựng đất nước. Mặt khác, cần thấy rằng, Quân đội tham gia lao động sản xuất không chỉ có ý nghĩa về kinh tế, tạo ra nguồn của cải vật chất, góp phần tăng cường tiềm lực đất nước, mà “mặt trận lao động sản xuất” còn là môi trường để cán bộ, chiến sĩ, nhất là thế hệ trẻ được thử thách, rèn luyện ý chí, bản lĩnh của người quân nhân cách mạng, bồi đắp tình yêu lao động, tinh thần tự lực tự cường, ý thức cần, kiệm, liêm, chính; tăng cường gắn kết tình đồng chí đồng đội, v.v. Qua đó, giúp họ trưởng thành, phát triển toàn diện, thực hiện tốt hơn nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Một thực tế nữa không thể phủ nhận là, thông qua thực hiện nhiệm vụ lao động sản xuất hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” thêm ngời sáng, mối quan hệ gắn bó máu thịt quân dân càng thêm bền chặt, niềm tin yêu của Nhân dân dành cho Quân đội càng được nâng cao. Bởi vậy, dù ngụy biện thế nào thì luận điệu “đến lúc Quân đội không cần phải tham gia lao động sản xuất” hay “tham gia xây dựng kinh tế làm giảm sút lòng tin của nhân dân” là hoàn toàn lố bịch, không thể chấp nhận được.

Tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế là chức năng cơ bản, nhiệm vụ vẻ vang, đặc trưng bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam là điều không thể phủ nhận. Tiếp tục nắm vững và thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ đó không chỉ là mệnh lệnh, trách nhiệm, nghĩa vụ, mà còn là niềm vinh dự, tự hào của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Đó là hành động thiết thực nhất để phản bác, đập tan mọi luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và hệ thống chính trị thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “sớm đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”, xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, từng bước hiện đại, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại và tô thắm thêm bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, xứng đáng là “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất” trong thời kỳ mới.

 

1 nhận xét: