Thứ Tư, 6 tháng 3, 2024

Triển vọng phát triển công nghiệp văn hóa

Với đặc trưng sáng tạo và công nghệ, công nghiệp văn hóa là hướng đi mới, thậm chí tạo nên hướng đột phá trong phát triển kinh tế tri thức, kinh tế văn hóa để phát triển kinh tế theo chiều sâu.

Công nghiệp văn hóa sẽ đưa đến sự thay đổi cơ cấu các ngành có liên quan, tiếp đó là sự thay đổi cơ cấu ngành kinh tế. Sự xuất hiện của các trung tâm sản xuất công nghiệp văn hóa làm thay đổi cơ cấu vùng kinh tế. Cơ cấu thành phần kinh tế cũng có sự chuyển dịch thích hợp, gắn với quá trình chuyển đổi mô hình các đơn vị sự nghiệp văn hóa cũng như sự xuất hiện ngày càng nhiều hơn các doanh nghiệp văn hóa, bao gồm cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực này.

Đánh giá về triển vọng của ngành công nghiệp văn hóa với phát triển bền vững, PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương cho rằng: Công nghiệp văn hóa góp phần tái tạo các thành phố, cải thiện cuộc sống đô thị, giảm khoảng cách phát triển giữa các vùng và khu vực trong cả nước; bảo tồn, tái sinh và phát huy vai trò của các giá trị văn hóa truyền thống như di sản văn hóa, nghệ thuật truyền thống, thủ công truyền thống; thúc đẩy hội nhập quốc tế và nâng cao vị thế đất nước; góp phần thúc đẩy hòa nhập và cố kết xã hội…

Công nghiệp văn hóa mặc dù mới được chú trọng phát triển ở Việt Nam, đã có những đóng góp ban đầu vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể thị trường công nghiệp văn hóa của Việt Nam vẫn còn nhỏ bé, chưa phát huy hết tiềm năng vốn có, đó là vấn đề đặt ra và cũng là cơ hội để ngành này phát triển trong tương lai.

Thực trạng công nghiệp văn hóa ở Việt Nam

 Tháng 9.2016, chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được ban hành. Đánh giá về vai trò của chiến lược này, ông Nguyễn Văn Hùng – Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho rằng sự ra đời của chiến lược này chính là nỗ lực của Việt Nam trong công cuộc đổi mới thể chế nhằm tháo gỡ nút thắt, thay đổi nhận thức để hình thành nên một khung chính sách có khả năng tạo nên sự đổi thay và hội nhập của các ngành công nghiệp văn hóa. Quá trình triển khai chiến lược cho thấy khung chính sách đã thể hiện được khả năng bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa, từng bước quảng bá hình ảnh, bản sắc và gia tăng sức hấp dẫn, thuyết phục của sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam.

Từ khi chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa ra đời, đến nay thị phần xuất khẩu hàng hóa văn hóa của Việt Nam ra thế giới bao gồm: Sách, tạp chí, sản phẩm đa phương tiện, phần mềm, bản ghi âm, phim, video, chương trình nghe nhìn, hàng thủ công và thời trang…

Sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa thể hiện rõ trong việc đóng góp vào tỉ trọng GDP cả nước: năm 2010 là 2,44%; năm 2015 là 3,5%; năm 2018 là 3,61%. Năm 2019, xuất khẩu sản phẩm văn hóa đạt hơn 2 tỉ USD. Tỉ lệ lao động làm việc trong lĩnh vực văn hóa tăng từ 1,72% của năm 2009, lên 5% vào năm 2019. Nước ta hiện nay có hơn 115 đơn vị văn hóa nghệ thuật công lập, 108 cơ sở đào tạo tham gia đào tạo văn hóa – nghệ thuật. Số lượng không gian văn hóa sáng tạo ngoài công lập tăng từ 40 không gian của năm 2017, lên 195 không gian vào năm 2021. Số lượng doanh nghiệp văn hóa năm 2019 là 97.167 doanh nghiệp.

Trong lĩnh vực làng nghề, năm 2020 cả nước có 1.926 làng nghề, tăng 275 làng nghề so với năm 2011. Mức độ tăng trưởng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong những năm qua khá cao, đạt bình quân khoảng 10%/năm. Năm 2020, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đạt trên 2,35 tỉ USD, trong đó có một số mặt hàng có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn như: Các sản phẩm gốm sứ đạt 539 triệu USD, sản phẩm mây tre cói thảm đạt 484 triệu USD…

Với những đóng góp với quá trình phát triển bền vững của đất nước, Bộ trưởng Nguyễn Văn Hùng nhấn mạnh quan điểm của UNESCO về chỉ số văn hóa với phát triển triển bền vững: “Ngành công nghiệp văn hóa được coi là động lực vừa góp phần trực tiếp mang lại lợi ích kinh tế và xã hội và vừa góp phần vào hiệu quả của các can thiệp phát triển”.

Quan điểm của về phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt NAm

 Công nghiệp văn hoá có xuất phát điểm từ khá lâu, tuy nhiên, kể từ những năm 2000 trở lại đây, khái niệm các ngành công nghiệp văn hoá (cultural industries) mới được nhắc đến nhiều hơn và trở thành một trong những trọng tâm phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới.

Ở Việt Nam, trong Nghị quyết 33-NQ/TW khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII một lần nữa nhấn mạnh nhiệm vụ quan trọng này, coi đây là một vấn đề hết sức quan trọng, xác định là một trong những khâu đột phá trong việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Để thực hiện nhiệm vụ này, Chính phủ đã ban hành Chiến lược về phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (Chiến lược), theo đó, ngành Văn hóa cũng đã triển khai một số hoạt động để thực hiện Chiến lược. Nhận thức của xã hội về công nghiệp văn hóa cũng đã có nhiều chuyển biến.

Song song với đó, một số dự án đã có tác dụng thực tiễn, giải quyết những vấn đề cấp bách trong phát triển các ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Đó là, dự án “Không gian Văn hóa và Sáng tạo Việt Nam” do Hội đồng Anh tài trợ cho Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam; dự án “Chương trình trao đổi giữa các không gian sáng tạo tại Vương quốc Anh và Đông Nam Á” do Hội đồng Anh tài trợ cho các không gian sáng tạo; đề án xây dựng bộ chỉ số thống kế ngành điện ảnh… Việc quảng bá thương hiệu quốc gia cũng được thực hiện tương đối tốt qua các Tuần lễ thời trang quốc gia, Tuần lễ thời trang trẻ em Việt Nam, Liên hoan phim quốc tế Hà Nội, tổ chức triển lãm VietAd; Việt Nam tích cực tham gia vào một số sự kiện văn hóa nghệ thuật quốc tế như Liên hoan phim Cannes, Venice, Busan,… Những chương trình, dự án và các sự kiện trên có vai trò quan trọng trong việc giải quyết những vấn đề cụ thể của công nghiệp văn hóa ở Việt Nam như địa vị pháp lý của các không gian sáng tạo, số liệu thống kê làm nền tảng đánh giá và lập kế hoạch phát triển từng lĩnh vực cụ thể, xây dựng thương hiệu.

Hoàn thiện thể chế cho phát triển các ngành công nghiệp văn hóa

 Một là hoàn thiện khung thể chế, chính sách, tháo gỡ kịp thời những rào cản, vướng mắc, khó khăn, hình thành khung khổ pháp lý, thể chế nhằm phát huy mọi tiềm năng, nguồn lực, tạo động lực cho công nghiệp văn hóa phát triển theo hướng đáp ứng yêu cầu thị trường đầy đủ, hiện đại, hội nhập quốc tế.

Hai là hoàn thiện thị trường văn hóa, ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp văn hóa. Có cơ chế ưu đãi, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa. Ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp văn hóa có tiềm năng, lợi thế, như: điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm, du lịch văn hóa...; Thúc đẩy phát triển các loại hình nghệ thuật đương đại, từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành công nghiệp văn hóa...

Ba là đổi mới cơ chế đầu tư tài chính trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa. Vấn đề tạo ra “không gian sáng tạo” hay môi trường sáng tạo cũng là một giải pháp quan trọng cho việc phát huy sức mạnh mềm văn hóa nước ta hiện nay. Việc bồi dưỡng năng lực sáng tạo và tạo môi trường sáng tạo cho những tài năng văn hóa (văn nghệ sĩ, trí thức khoa học công nghệ) cũng là giải pháp rất căn bản của sự phát triển các ngành công nghiệp văn hóa bên cạnh các giải pháp khác.

Bốn là đầu tư phát triển hạ tầng các ngành công nghiệp văn hóa. Việc phát triển các hạ tầng cơ sở sẽ giúp Việt Nam bảo đảm nền tảng số hóa thuận lợi cho sự phát triển các nguồn lực quyền lực mềm, gia tăng khả năng và cách thức tiếp cận đến đối tượng, mang lại năng lực thích ứng nhanh trước các xu hướng thị trường trong ngành công nghiệp văn hóa.

Người Việt vẫn ưu ái hàng “ngoại” nhiều hơn “nội”

Công nghiệp văn hóa Việt Nam cũng đang phát huy tương đối hiệu quả các thành tố sức mạnh mềm văn hóa thông qua hoạt động của các ngành công nghiệp văn hóa, dần rút ngắn khoảng cách cạnh tranh với các nền công nghiệp văn hóa trên thế giới, góp phần gia tăng sức cạnh tranh và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, các ngành công nghiệp văn hóa chưa phát huy tiềm năng, lợi thế về nguồn tài nguyên mềm văn hóa.

“Việt Nam có quy mô dân số gần 100 triệu người là một thị trường tiềm năng các sản phẩm công nghiệp văn hóa nội địa, nhưng thực tế cho thấy, sức tiêu dùng của người Việt đối với các sản phẩm công nghiệp văn hóa vẫn ưu ái hàng “ngoại” nhiều hơn “nội”. 

Công nghiệp văn hóa - ngành kinh tế đặc biệt

 Trong tham luận gửi tới Hội nghị văn hóa toàn quốc ngày 24/11, TS Lê Thị Ngọc Điệp, Chủ tịch Hội đồng trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM cho rằng, công nghiệp văn hóa sớm được coi là một ngành kinh tế đặc biệt bởi những minh chứng từ các nước có ngành công nghiệp văn hóa phát triển mang lại siêu lợi nhuận. Công nghiệp văn hóa với tư cách là một lĩnh vực công nghiệp nên lợi ích kinh tế được chú trọng quan tâm.

TS Lê Thị Ngọc Điệp lấy dẫn chứng từ một số quốc gia như Nhật Bản và Hàn Quốc, công nghiệp văn hóa đóng góp nguồn thu nhập lớn cho tổng sản phẩm trong nước (GDP). Cụ thể, Nhật Bản đầu tư có trọng điểm vào các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp doanh thu hằng năm khoảng 7%, thu hút 5% nhân công lao động của toàn quốc; nhấn mạnh vào các lĩnh vực nổi bật đặc trưng của đất nước là truyện tranh Manga, Anime, phim hoạt hình với doanh thu hợp đồng bản quyền và các sản phẩm có liên quan.

Công nghiệp văn hóa với tư cách là một lĩnh vực công nghiệp nên lợi ích kinh tế được chú trọng quan tâm.

 Công nghiệp văn hóa với tư cách là một lĩnh vực công nghiệp nên lợi ích kinh tế được chú trọng quan tâm.

Phát triển ngành công nghiệp văn hóa là mục tiêu được ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển của nhiều quốc gia với những bước đi cụ thể về tầm nhìn, quyết sách đầu tư, nghệ thuật tuyên truyền, quảng bá, cách thức chinh phục thị trường. Ở Việt Nam hiện nay, việc phát triển ngành công nghiệp văn hóa đang trở thành một yêu cầu cấp thiết. Trong Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã xác định mục tiêu cụ thể phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam như sau: “Phấn đấu doanh thu của các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 3% cho GDP và tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội, cụ thể các ngành như: Điện ảnh đạt 150 triệu USD; Nghệ thuật biểu diễn đạt 16 triệu USD; Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm đạt 80 triệu USD; Quảng cáo đạt 1.500 triệu USD; Du lịch văn hóa chiếm 10 - 15% trong số 18.000 triệu USD doanh thu từ khách du lịch”.

Phần thưởng quý giá nhất là một dải biên cương tươi đẹp

 

Trưởng thành từ người lính trinh sát, vẻ điềm tĩnh, bặt thiệp của Thiếu tướng Nguyễn Hoài Phương, Phó tư lệnh Bộ đội Biên phòng (BĐBP) khiến bất cứ ai tiếp xúc với ông đều có cảm giác gần gũi, ấm áp và giàu trải nghiệm. Trọn đời quân ngũ của ông là những tháng ngày đằng đẵng hoạt động phân tán, độc lập tác chiến trên các hướng làm nhiệm vụ trinh sát, là biết bao tâm huyết, trí tuệ vì sự bình yên trên một dải biên cương trọng yếu của đất nước, là bao tình cảm chân thành với những người bạn Campuchia được vun đắp suốt mấy mươi năm...

Phát huy mạnh mẽ vai trò của báo chí trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Giữa bối cảnh mạng xã hội đang phát triển như vũ bão, vị thế của báo chí cách mạng không hề bị giảm sút, mà ngược lại cần tiếp tục được củng cố, nâng cao phù hợp với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới. 1. Trải qua 98 năm hình thành và phát triển, báo chí cách mạng Việt Nam đã đồng hành cùng đất nước và dân tộc, là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò tiên phong trên trận địa tư tưởng, bảo vệ Ðảng, Nhà nước, nhân dân, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; hoàn thành nhiều nhiệm vụ quan trọng do Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, trong đó, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một nhiệm vụ thường xuyên được các cơ quan báo chí quán triệt, nghiêm túc thực hiện. Ngày 22/11/2017, Ban Bí thư đã ban hành Kết luận số 23-KL/TW về “Tăng cường chỉ đạo, quản lý, phát huy vai trò của báo chí, xuất bản trong việc ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, trong đó xác định rõ: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Ngày 8/4/2020, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 43-CT/TW về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Hội Nhà báo Việt Nam”, trong đó, chỉ ra những thách thức trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp; khoa học công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, bên cạnh những thuận lợi cũng gây ra khó khăn cho hoạt động của báo chí; báo chí có nguy cơ bị truyền thông xã hội chi phối, lấn át; các thế lực thù địch không ngừng chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta... Đại hội XIII của Đảng xác định: “Xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại. (...). Tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên internet. Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục”(1). Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII tiếp tục chỉ rõ vai trò của báo chí trong tình hình mới: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phát huy vai trò, trách nhiệm của tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, các cơ quan báo chí và nhân dân trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Nâng cao chất lượng công tác dư luận xã hội và đánh giá sự hài lòng của người dân; chủ động dự báo tình hình, kịp thời xử lý thông tin, định hướng dư luận xã hội. Tiếp tục thực hiện đồng bộ quy hoạch phát triển, quản lý báo chí, xuất bản; tăng cường định hướng và đề cao sứ mệnh, trách nhiệm, nâng cao chất lượng hoạt động của báo chí, quản lý chặt chẽ các trang tin điện tử, nhất là mạng xã hội...”(2). Từ các văn kiện, nghị quyết nêu trên cho thấy chủ trương, đường lối của Đảng trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đã được tổ chức thực hiện đồng bộ, mạnh mẽ, quyết liệt ở các cơ quan báo chí từ Trung ương đến địa phương. Theo đó, các kênh phát thanh, truyền hình, cơ quan báo chí trên cả nước đã có những biện pháp chủ động, tích cực, đổi mới, sáng tạo nhằm tăng cường tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước sâu rộng đến quần chúng nhân dân; thực hiện các chương trình, tuyến bài trực tiếp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch tấn công nền tảng tư tưởng của Đảng... Từ khi Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” được ban hành, đến nay có thể thấy, báo chí nước ta đã có những đóng góp to lớn vào việc ngăn chặn có hiệu quả và làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động trong việc xuyên tạc tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đấu tranh làm thất bại các luận điệu và hoạt động chống phá sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay, chống phá nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xuyên tạc vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể với ý đồ “tư nhân hóa” kinh tế để hướng lái chế độ chính trị ở Việt Nam ngả dần theo con đường tư bản chủ nghĩa; làm thất bại âm mưu lợi dụng các vấn đề dân chủ, tự do, nhân quyền, tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta; ngăn chặn, làm thất bại âm mưu cô lập, cản trở Việt Nam tham gia quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, tranh thủ sức mạnh ngoại lực để phát triển đất nước; đấu tranh có hiệu quả trong việc phản bác các luận điệu sai trái đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; giúp nhân dân hiểu đúng và có niềm tin khoa học vào tính cách mạng của nền tảng tư tưởng của Đảng, nhận thức rõ bản chất thật sự của các luận điệu sai trái, xuyên tạc mà các thế lực thù địch, phản động ra sức tuyên truyền, nhất là trên không gian mạng; kiên định trên cơ sở bổ sung, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp điều kiện thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn phát triển của đất nước; đấu tranh có hiệu quả, từng bước ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng; phản bác các luận điệu xuyên tạc xung quanh công tác phòng, chống tham nhũng, công tác bổ nhiệm và giới thiệu cán bộ... Nhiều âm mưu, thủ đoạn của thế lực thù địch, phản động đã bị các cơ quan báo chí kịp thời phát hiện, đấu tranh trực diện bằng nhiều bài viết, sản phẩm báo chí chất lượng, có tính chính xác và sức thuyết phục. Thông qua các tác phẩm báo chí chính luận, đại bộ phận nhân dân đã nhận ra bản chất thật của các âm mưu, luận điệu như: cản trở Việt Nam ký kết Hiệp định thương mại tự do với Liên minh Châu Âu Việt Nam (EVFTA); ngăn cản Việt Nam lần thứ hai ứng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc; xuyên tạc về chính sách dân tộc của Việt Nam liên quan đến vụ khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân diễn ra tại Đắk Lắk... Báo chí cũng đã làm tốt công tác phổ biến, tuyên truyền những tác phẩm lớn, công phu, có tính lý luận cao về xây dựng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng mà gần đây là hai cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh”; “Cả nước đồng lòng, tranh thủ mọi thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Những kết quả trên càng đáng được ghi nhận trong bối cảnh báo chí gặp nhiều khó khăn, nhất là việc sụt giảm doanh thu bởi tác động lâu dài của suy thoái kinh tế do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, xung đột vũ trang giữa Nga và Ukraine, suy giảm quan hệ thương mại Mỹ - Trung. Không chỉ vậy, theo số liệu thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông cho thấy, khoảng 50% doanh thu của báo chí đang “chảy” vào các nền tảng mạng xã hội xuyên biên giới... Nhiều âm mưu, thủ đoạn của thế lực thù địch, phản động đã bị các cơ quan báo chí kịp thời phát hiện, đấu tranh trực diện bằng nhiều bài viết, sản phẩm báo chí chất lượng, có tính chính xác và sức thuyết phục. Thời gian qua, vẫn còn những tồn tại, hạn chế, vướng mắc ảnh hưởng đến việc phát huy vai trò của báo chí trong công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đó là tình trạng “báo hóa” trang tin điện tử và mạng xã hội vẫn diễn ra phổ biến mà chưa có chế tài ngăn chặn hiệu quả; công tác quy hoạch, sắp xếp báo chí còn có những khó khăn, nhạy cảm, cần tiếp tục làm rõ, bổ sung nhiều nội dung, quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ giải pháp; lộ trình tự chủ của nhiều cơ quan báo chí tiếp tục gặp nhiều thách thức vì chưa có cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ đủ mạnh... Cùng với đó, do hạn chế về nguồn lực nên khả năng thích ứng với xu thế truyền thông hiện đại của không ít cơ quan báo chí còn lúng túng; chất lượng nguồn nhân lực làm công tác báo chí chưa thực sự tương xứng với vai trò và vị trí tiên phong trong định hướng dư luận xã hội, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đặc biệt là trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ... 2. Để khắc phục những hạn chế, vướng mắc nêu trên, đồng thời, phát huy hiệu quả vai trò của báo chí cách mạng trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cần quan tâm hơn nữa đến một số vấn đề sau: Một là, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cơ quan lãnh đạo, quản lý báo chí, cơ quan chủ quản về vai trò của báo chí, truyền thông trong “tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng” theo hướng phối hợp chặt chẽ, đồng bộ việc trao đổi, định hướng thông tin, đặc biệt là đối với các sự kiện lớn, những vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau, để kịp thời thông tin chính xác đến các tầng lớp nhân dân. Hai là, triển khai đồng bộ nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch đặc biệt là trên không gian mạng và các nền tảng mạng xã hội. Về nội dung, cần tiếp tục bám sát vào những vấn đề “nóng” mà các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng để xuyên tạc, chống phá như: nhân quyền, tự do ngôn luận, vai trò lãnh đạo của Đảng, chủ quyền quốc gia, quan hệ của Việt Nam với các nước láng giềng, các nước lớn... Tăng cường tính chủ động, kịp thời, linh hoạt, hiệu quả trong một số sự kiện, vấn đề lớn diễn ra trong thời gian tới như chuẩn bị công tác nhân sự Đại hội XIV của Đảng; tuyên truyền xung quanh công tác xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện nghị quyết mới của Trung ương thay thế Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước. Đồng thời chú trọng tuyến bài biểu dương, cổ vũ các gương điển hình trong công tác xây dựng Đảng, phong trào thi đua yêu nước thời kỳ đổi mới. Thông qua việc nêu gương để định hướng tư tưởng, dẫn dắt, tạo ảnh hưởng lan tỏa, “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, tạo hiệu ứng xã hội sâu rộng. Báo chí phải thực sự trở thành diễn đàn để đảng viên và nhân dân tham gia trực tiếp vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phát huy thế trận lòng dân trong đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch. Về hình thức, cần sử dụng đa dạng loại hình báo chí, thế mạnh của truyền thông mạng xã hội để nâng cao khả năng tiếp cận độc giả, thu hút công chúng, tuyên truyền phổ biến rộng rãi đến các tầng lớp nhân dân. Các tác phẩm cần có sự thể hiện đa dạng về thể loại như Inforgraphic, Longform, Short Video, Vlog, Reaction Video… Về nguồn lực con người thực hiện công tác báo chí, cần chú trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng để các phóng viên nhận thức sâu sắc “làm báo là làm cách mạng”, người làm báo là chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng. Kết hợp bồi dưỡng chính trị với nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ để có thể sản xuất các sản phẩm báo chí sáng tạo, đa phương tiện, giàu sức chiến đấu, đề cao tính lý luận nhưng vẫn bảo đảm hấp dẫn, thu hút người đọc, người xem. Ba là, đầu tư cho phát triển báo chí theo hướng hiện đại, đồng thời thực hiện tốt quy hoạch báo chí. Quyết tâm chuyển đổi số báo chí nhằm mục tiêu xây dựng các cơ quan báo chí theo hướng chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước để bảo đảm báo chí hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, tiến tới tự chủ phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và sự bùng nổ của công nghệ thông tin, mạng xã hội. Bốn là, hoàn thiện các văn bản pháp luật và cơ chế thực hiện nhằm ngăn chặn có hiệu quả tình trạng báo hóa mạng xã hội, tư nhân hóa báo chí, đẩy lùi hiện tượng hoạt động không đúng tôn chỉ, mục đích, sa đà vào những thông tin giật gân, câu khách, lệch lạc chỉ nhằm đáp ứng thị hiếu tầm thường của một bộ phận công chúng. Đến thời điểm này, chúng ta đã đi được hơn nửa chặng đường thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Trong bối cảnh đất nước đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, có khó khăn chưa có tiền lệ, Đảng ta vẫn “vững chí bền gan” thực hiện công cuộc đổi mới. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh chống lại các luận điệu lợi dụng tự do, dân chủ để rêu rao chiêu bài đa nguyên, đa đảng; lợi dụng chống tham nhũng, tiêu cực để quy kết, bôi xấu chế độ, gây nghi ngờ, chia rẽ trong nội bộ Đảng, làm giảm uy tín của Đảng, Nhà nước với nhân dân; lợi dụng vấn đề tôn giáo, sắc tộc để đòi tự trị, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Trong bối cảnh đó, người làm báo cách mạng phải “đi tiên phong trên mặt trận tư tưởng, tỉnh táo, cảnh giác, lấy chính thực tiễn sinh động của đất nước đổi mới để tấn công, vạch trần âm mưu thâm độc của các thế lực xấu, thù địch, củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ ta”(3)./.

Ngọt ngào hoa bưởi tháng Ba

 

Mỗi dịp tháng Ba về, không gian lại như được “ướp” bởi hương hoa bưởi nồng nàn. Những cây bưởi bung hoa trắng xóa, những khoảng sân lấm tấm cánh hoa bưởi rụng, những mẹt hoa trắng muốt lẫn vào những sắc lá xanh, tất cả như mang đến cho đất trời sự mộc mạc đầy quyến rũ.

Giữ tiếng thoi đưa bên dòng Nậm Ngam

 

Giữa nhịp sống hiện đại, nghề dệt thổ cẩm truyền thống ở nhiều địa phương đang dần mai một. Tuy nhiên, dưới nếp nhà của đồng bào dân tộc Lào ở tỉnh Điện Biên, những đôi tay khéo léo của các mẹ, các chị vẫn say mê gìn giữ, trao truyền nghề dệt thổ cẩm cho thế hệ sau.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ của toàn dân

Thực hiện âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, một trong những trọng tâm mà các thế lực thù địch hướng đến hiện nay là tấn công, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng. Trước tình hình đó, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa sống còn trong bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Muốn đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thì nhất thiết phải huy động toàn thể người Việt Nam tham gia chủ động, tích cực, tự giác, sáng tạo. Nội dung này được khẳng định rõ trong Nghị quyết số 35-NQ/TW (ban hành ngày 22/10/2018) của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Thời gian qua, công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ngày càng có sự vào cuộc tích cực của đông đảo quần chúng nhân dân thuộc mọi giai tầng xã hội, mọi lứa tuổi, vùng miền…, Từ phong trào này đã xuất hiện nhiều tấm gương điển hình tiên tiến, nhiều cách làm hay, sáng tạo của các tổ chức, cơ quan, đơn vị, cá nhân. Cụ Nguyễn Đình Yên dù đã hơn 100 tuổi đời nhưng vẫn luôn trăn trở vấn đề: Nhiệm vụ đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng quan trọng đối với đất nước ta nhưng phải làm thế nào để chuyển tải thành ý thức của từng người dân để mọi người cùng thực hiện. Niềm trăn trở ấy đã được cụ Yên gửi gắm trong các bài dự thi cuộc thi chính luận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong năm 2022 và 2023. Với lối viết giản dị, không nặng về lý luận, chắt lọc từ chính sự chiêm nghiệm và trải nghiệm trong cuộc đời của mình, những tác phẩm dự thi của cụ Yên đã có sức lan tỏa lớn trong xã hội, giúp cho tầng lớp nhân dân nhất là thế hệ trẻ có nhận thức đúng đắn về những giá trị cốt lõi của độc lập, tự do, của nền hòa bình đã được đổi bằng máu xương của biết bao thế hệ cũng như giá trị đích thực của chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta phấn đấu xây dựng. Từ nhận thức đúng, cụ Yên mong muốn mọi người cũng sẽ xác định và thực hiện nghiêm túc trách nhiệm của mình trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Còn tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh thành phố đã phát huy rất tốt tinh thần tiên phong, gương mẫu trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Thời gian qua, cùng với việc tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền cho hội viên hiểu biết sâu sắc hơn về quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tại các chi hội cơ sở đã chủ động xây dựng lực lượng chính trị nòng cốt, tổ báo cáo viên, tuyên truyền viên và duy trì hoạt động hiệu quả. Nhiều chi hội xây dựng mô hình “Chi hội là trận địa tư tưởng vững chắc của Đảng ở cơ sở” kịp thời đấu tranh ngăn chặn các luận điệu sai trái, thù địch, từ đó góp phần trực tiếp ổn định chính trị ngay tại các khu phố, ấp. Không chỉ những người cả cuộc đời gắn bó với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước mới xác định rõ tầm quan trọng của bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng mà hiện nay rất nhiều bạn trẻ cũng ý thức rõ trách nhiệm của mình và chủ động, tích cực tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Tại thành phố Đông Hà (tỉnh Quảng Trị), xác định tính chất thường xuyên, liên tục trong việc sử dụng mạng xã hội của thanh niên. Bên cạnh những cách thức truyền thống Thành đoàn Đông Hà đã chủ động dùng mạng xã hội làm công cụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Cụ thể Đoàn Thanh niên đã tổ chức nhiều hoạt động định hướng văn hóa sử dụng mạng xã hội cho đoàn viên thanh niên, giúp đoàn viên thanh niên nhận diện, tham gia đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản bác các thông tin xấu, độc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng. Đồng thời để có “công cụ” đấu tranh phản bác các thông tin xấu, độc trên mạng xã hội, Thành đoàn Đông Hà đã thành lập và chỉ đạo cơ sở thành lập các trang mạng xã hội của đơn vị mình. Thực tiễn cho thấy nhờ những chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước cùng các biện pháp tổ chức thực hiện có hiệu quả của các cơ quan chức năng đã huy động được sức mạnh của toàn thể người Việt Nam cùng vào cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Chính quyết tâm cao độ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân cùng tinh thần “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt” đã tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc giúp chúng ta đạt được những thành tựu to lớn trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật đúng đắn của Đảng và Nhà nước; bóp méo vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo ở Việt Nam; phủ nhận những thành tựu to lớn mà Việt Nam đạt được trong thời kỳ đổi mới… Từ đó, góp phần tạo niềm tin, xác định rõ trách nhiệm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong đông đảo quần chúng nhân dân và toàn xã hội. Những thành tựu to lớn này cũng là minh chứng rõ nét để đập tan những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động gây chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, hòng làm suy yếu sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng ở nước ta. Những thành tựu này cũng đồng thời chứng minh một sự thật không thể phủ nhận: Đảng Cộng sản Việt Nam luôn ý thức được rõ vấn đề đoàn kết là sức mạnh, là nguyên nhân của mọi thành công và thắng lợi của cách mạng Việt Nam dù trong bất cứ giai đoạn nào. Do đó, càng xây dựng, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc, càng gắn bó với nhân dân, càng dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thì sự thành công càng chắc chắn bấy nhiêu. Bên cạnh những thành tựu to lớn đạt được, công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay vẫn còn tồn tại một số hạn chế. Một số cán bộ, đảng viên và người dân chưa ý thức rõ và thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình một cách chủ động, tích cực, tự giác. Một bộ phận quần chúng nhân dân trong đó có cả những bạn trẻ chưa có nhận thức đầy đủ về những âm mưu thâm độc đằng sau các quan điểm sai trái, thù địch nên còn thờ ơ, thiếu chủ động trong đấu tranh phản bác các quan điểm này. Thậm chí có một số trường hợp còn bị những luận điệu sai trái lôi kéo, dụ dỗ, kích động quay ra chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, chống phá chế độ. Điều này nguy cơ tác động không nhỏ đến việc xây dựng và phát huy thế trận lòng dân trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong thời gian tới, để tiếp tục huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sự vào cuộc của các cấp ủy, tổ chức Đảng, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội và toàn thể nhân dân trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cần triển khai đồng bộ một số giải pháp sau: Trước hết, phải đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền làm cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta nhận thức sâu sắc và đầy đủ những giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời nhận thức rõ thực tế: chỉ có xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mới đem lại cho tất cả mọi người một cuộc sống thật sự tự do, ấm no, hạnh phúc. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chính là bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chủ nghĩa xã hội, bảo vệ tương lai tươi đẹp của mỗi người dân và toàn thể dân tộc Việt Nam. Cũng chính bởi thế trách nhiệm này không phải của ai khác mà chính là của toàn thể cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Cùng với đó, cần tiếp tục đổi mới, nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng; đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục đối với các tầng lớp nhân dân đặc biệt là thế hệ trẻ, từ đó, nâng cao tinh thần, trách nhiệm và khả năng chủ động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động. Phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu đi đầu của cán bộ, đảng viên nhất là người đứng đầu các cấp trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch. Khi những người đứng đầu nêu gương tốt sẽ là “hình mẫu” để cấp dưới và nhân dân tin tưởng, học tập và noi theo, từ đó một lòng, một dạ đi theo Đảng, kiên quyết đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức tổ chức, hoạt động để tiếp tục phát huy tốt hơn nữa vai trò của các cơ quan báo chí, truyền thông nhất là trên internet và mạng xã hội trong cung cấp các thông tin chính thống định hướng dư luận về chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước, những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trên mọi phương diện; đấu tranh trực diện, vạch trần mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá, những luận điệu sai, trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch… tới đông đảo cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân từ đó tạo dựng thế trận vững chắc đặc biệt là trên không gian mạng. Tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý kịp thời, nghiêm minh những trường hợp cán bộ, đảng viên và người dân có biểu hiện lan truyền những thông tin sai lệch hoặc tán phát những đơn thư có nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời cần có cơ chế khen thưởng, động viên, khuyến khích xứng đáng với những cá nhân, tổ chức, đơn vị… tích cực, chủ động và có những cách làm hay, sáng tạo, có sức lan tỏa lớn trong xã hội về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, từ đó nhân rộng những điển hình tiên tiến này tạo thành phong trào rộng khắp trong toàn xã hội, người dân./.

Đồng hành vượt khó

 

Những năm qua, TP Hà Nội đặt mục tiêu lấy người dân và doanh nghiệp (DN) làm trung tâm để phục vụ, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đồng hành với DN để phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng trong cơ cấu kinh tế của Thủ đô.

Đừng làm biến dạng nhân vật thời đại

 

Đánh giá về lĩnh vực văn học nghệ thuật (VHNT) trong thời kỳ đổi mới, bên cạnh ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ và những thành tựu đạt được, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng đã thẳng thắn nhìn nhận, chúng ta còn “thiếu những tác phẩm văn hóa, VHNT lớn phản ánh sinh động tầm vóc công cuộc đổi mới, có tác dụng tích cực đối với con người”...

Xóm giềng hữu nghị

 

Việt Nam có chung đường biên giới trên bộ với 3 nước Trung Quốc, Lào và Campuchia.

Trên cả 3 tuyến biên giới, các đồn biên phòng, địa phương và nhân dân hai bên biên giới đều có những mối quan hệ gắn bó, thân thiết. Mối quan hệ tốt đẹp ấy đã và đang được vun đắp để cả hai bên cùng gìn giữ, phát huy, xây dựng cuộc sống tốt đẹp.

Đảng viên nhập ngũ

 

Điểm nhấn nổi bật trong mùa tuyển quân năm nay đó là, thanh niên nhập ngũ là đảng viên và được bồi dưỡng nhận thức về Đảng tại nhiều địa phương có tỷ lệ cao.

Phải nói... chuyện “khó nói”!

 

Thực ra, những vấn đề được cho là “khó nói” này nhiều người đã từng nói, truyền thông cũng đã phản ánh. Nhưng việc rút kinh nghiệm, khắc phục vẫn chưa triệt để. Thế nên, phải nói nữa!

Vượt gian khó, gắn bó với đảo tiền tiêu

 

Gắn bó với đảo Bạch Long Vĩ từ ngày đầu nhập ngũ đến nay đã hơn 30 năm nên Thiếu tá QNCN Lê Anh Tuấn, nhân viên chính trị Tiểu đoàn Phòng thủ đảo Bạch Long Vĩ (Bộ CHQS TP Hải Phòng) coi nơi đây như quê hương thứ hai của mình. Anh tâm nguyện cống hiến trọn đời quân ngũ với hòn đảo tiền tiêu...

Kiên trì bám trụ nơi đầu sóng ngọn gió

Năm 1993, sau khi học xong lớp sơ cấp dược, Lê Anh Tuấn được điều động về công tác tại Bệnh xá Trung đoàn 952 (Vùng 1 Hải quân) đóng quân trên đảo Bạch Long Vĩ. Ngày đó đảo rất hoang sơ, chỉ có đá, cát và một số công trình chiến đấu phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Cả đảo có vài chục hộ dân là thanh niên xung phong ra sinh sống, còn lại là các đơn vị Quân đội.

Nhớ lại những ngày đầu ra đảo, anh Tuấn cho biết: “Không có điện nên buổi tối chúng tôi phải thắp đèn dầu. Doanh trại tạm bợ, phòng ở toàn là nhà tranh đắp đất, giường ngủ là những ván gỗ, sạp tre ghép lại với nhau. Mùa đông gió lạnh lùa vào, anh em ôm nhau ngủ mà vẫn rét run người, nhiều đêm thức trắng vì lạnh”.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>

Thiếu tá QNCN Lê Anh Tuấn (bên trái) cùng đồng đội củng cố cảnh quan đơn vị. 

Là đảo xa bờ nhất trong Vịnh Bắc Bộ nên tình trạng thiếu nước ngọt diễn ra quanh năm, nhất là vào mùa khô, các giếng khơi đều cạn trơ đáy. Để có nước sinh hoạt, anh Tuấn và đồng đội phải khoét một lỗ sâu ở đáy giếng, sáng sớm hôm sau trèo thang xuống, dùng vỏ lon múc nước đổ vào xô, chia nhau dùng trong cả ngày.

Anh Tuấn nhớ lại: “Gọi là nước ngọt nhưng vẫn bị nhiễm mặn. Nước sau sinh hoạt được chúng tôi gom lại, tận dụng để tưới rau. Tuy nhiên, do khí hậu ngoài đảo khắc nghiệt, mưa bão thường xuyên, đất đai cằn cỗi cộng thêm thiếu nước tưới khiến cây trồng không thể phát triển. Ngày ấy, rau xanh là món ăn xa xỉ đối với lính đảo. Chỉ khi nào có tàu tiếp tế ra thì bộ đội mới được ăn tươi, ăn rau, còn lại cơ bản phải sử dụng đồ khô, đồ biển”.

Thiếu thốn về vật chất là vậy nhưng theo chia sẻ của anh Tuấn thì điều đó cũng không khiến cán bộ, chiến sĩ “sợ” bằng... nỗi nhớ nhà, nhớ người thân, đặc biệt là mỗi dịp lễ, Tết. Ngày đó ít có tàu ra đảo, khoảng một tháng mới có một chuyến tàu ra tiếp tế lương thực, thực phẩm. Khi tàu trở vào đất liền, bộ đội được nghỉ phép sẽ theo tàu về thăm gia đình. Mỗi năm chỉ được về thăm nhà một lần, chưa có điện thoại nên phương thức liên lạc duy nhất với người thân của lính đảo là thư tay.

Anh Tuấn kể: “Chúng tôi nhờ đồng đội đi phép gửi thư về cho gia đình và mang thư của gia đình gửi ra đảo khi lên phép. Những lá thư giúp chúng tôi vơi nỗi nhớ nhà, có thêm động lực để bám trụ nơi đầu sóng ngọn gió”.

Cuộc sống biền biệt nơi đảo xa khiến anh Tuấn ít có điều kiện đi tìm hạnh phúc riêng. Những người trong gia đình sốt ruột quá nên nhờ mai mối, nhưng khi biết anh Tuấn là bộ đội đóng quân ngoài đảo thì hầu hết các “đối tượng” đều e ngại. Cũng có nàng ban đầu nhận lời tìm hiểu, nhưng rồi họ không đủ kiên nhẫn chờ đợi đến ngày chàng lính đảo được về phép.

Mãi đến năm 2007, khi đã 35 tuổi, anh Tuấn mới tìm được “một nửa” của mình. Người vợ thảo hiền là cô giáo cùng quê, giúp anh thêm yên tâm công tác. “Từ ngày cưới nhau đến nay, vợ chồng tôi vẫn ở chung với bố mẹ. Như vậy có thể nhờ ông bà chăm sóc, đưa đón các cháu đi học mà vợ cũng đỡ buồn khi tôi biền biệt xa nhà”, anh Tuấn chia sẻ.

Năm 2015, Bộ Quốc phòng quyết định rút gọn Trung đoàn 952 thành Tiểu đoàn Phòng thủ đảo Bạch Long Vĩ thuộc Bộ CHQS TP Hải Phòng. Thời điểm đó, nhiều đồng đội chuyển vào đất liền công tác, nhưng anh Tuấn viết đơn xung phong ở lại đảo. Anh bộc bạch: “Mọi người trong gia đình cũng khuyên tôi chuyển vào đất liền, nhưng những năm tháng gắn bó với đảo, tôi thấu hiểu và đã quen với những khó khăn, thiếu thốn của bộ đội, nhân dân nơi đây. Hơn nữa, chia tay các đồng đội thân yêu từng chia ngọt sẻ bùi, tạm biệt mảnh đất đã thân thuộc như quê hương cũng không phải là nguyện vọng. Chưa kể, đã là người lính thì phải sẵn sàng xông pha, vượt qua gian nan, vất vả. Tôi đã quyết tâm ở lại đảo và rất mừng là sau khi tôi trình bày nguyện vọng thì cả bố mẹ và vợ đều hiểu, ủng hộ”.

Hiện nay, Thiếu tá QNCN Lê Anh Tuấn là người có thâm niên công tác nhiều nhất ở Tiểu đoàn Phòng thủ đảo Bạch Long Vĩ. Chuyện về những ngày tháng gian khổ và tâm nguyện gắn bó cả đời quân ngũ với hòn đảo thân yêu vẫn được anh kể với thế hệ sau như một sự động viên, khích lệ để cán bộ, chiến sĩ có thêm động lực vượt khó nơi đầu sóng ngọn gió.

Anh Tuấn tâm sự: “Tôi đã quen cảm giác đêm nằm nghe tiếng sóng biển rì rào, sáng dậy hít hà vị mặn của biển khơi. Từng con đường, gốc cây, bờ kè, ghềnh đá trên đảo đều trở thành thân quen với biết bao kỷ niệm. Với tôi, đảo là nhà, là quê hương thứ hai và sau này về nghỉ hưu, phải xa đảo, tôi vẫn sẽ nhớ mãi những ngày tháng gian khó gắn bó với nơi này”.

Nỗ lực, trách nhiệm với công việc

Điều khiến chúng tôi nể phục và ấn tượng ở Thiếu tá QNCN Lê Anh Tuấn là anh trải qua rất nhiều cương vị công tác với những chuyên môn khác nhau. Ngày mới ra đảo, anh là nhân viên quân y thuộc Bệnh xá Trung đoàn 952 theo đúng chuyên môn được học. Đến cuối năm 1996, anh được điều chuyển sang làm nhân viên tổ chức, Ban Chính trị Trung đoàn.

Năm 2015, khi Trung đoàn 952 rút gọn và tổ chức thành Tiểu đoàn Phòng thủ đảo Bạch Long Vĩ, anh Tuấn chuyển sang làm nhân viên bảo quản thuộc Đại đội Bảo quản của Tiểu đoàn. Đến năm 2020, anh lại chuyển về làm nhân viên chính trị Tiểu đoàn. Dù ở cương vị công tác nào, Thiếu tá QNCN Lê Anh Tuấn cũng luôn nỗ lực hết mình với nhiệm vụ được giao.

Anh Tuấn chia sẻ: “Ai cũng đều muốn được làm theo đúng chuyên môn đào tạo, nhưng ở ngoài đảo, cán bộ, nhân viên thường xuyên biến động, nhiều lúc thiếu vắng, nên việc phải làm trái ngành là chuyện bình thường. Có những thời điểm, cùng lúc tôi phải đảm nhiệm nhiều công việc, vừa làm nhân viên chính trị, vừa là nhân viên bảo quản. Cái gì chưa biết thì mình học hỏi thêm, quan trọng nhất là bản thân phải có quyết tâm thì dù việc mới hay việc khó cũng có thể hoàn thành, thậm chí là hoàn thành tốt”.

Với suy nghĩ và quyết tâm như vậy nên mỗi khi được cấp trên điều động sang vị trí công tác mới, anh Tuấn đều vui vẻ chấp hành. Để sớm đáp ứng với công việc mới, anh chủ động tự tìm tòi học tập, nghiên cứu tài liệu và nhờ đồng đội, chỉ huy có kinh nghiệm hướng dẫn, chỉ bảo thêm. Nhờ tinh thần cầu tiến bộ và ham học hỏi nên cho dù phần lớn thời gian quân ngũ làm việc không đúng chuyên môn đào tạo nhưng anh Tuấn luôn hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ, được chỉ huy các cấp đánh giá rất cao.

Thiếu tá Phạm Xuân Nha, Bí thư Đảng ủy, Chính trị viên Tiểu đoàn Phòng thủ đảo Bạch Long Vĩ, khẳng định: “Thiếu tá QNCN Lê Anh Tuấn là cán bộ tâm huyết, nhiệt tình và trách nhiệm với công việc. Trong cuộc sống cũng như sinh hoạt hằng ngày, đồng chí Tuấn luôn hòa nhã, điềm đạm và sẵn sàng giúp đỡ đồng chí, đồng đội. Chỉ huy đơn vị rất tin tưởng mỗi khi giao việc cho đồng chí Tuấn. Thiếu tá QNCN Lê Anh Tuấn có uy tín, xứng đáng là người anh cả của đơn vị về tuổi đời và độ chín chắn, là tấm gương tiêu biểu để cán bộ, chiến sĩ trong Tiểu đoàn học tập, noi theo”.

Không chỉ trách nhiệm với công việc, anh Tuấn cùng đồng đội thường xuyên vận động bà con trên đảo thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt, có kinh nghiệm nhiều năm gắn bó với đảo nên mỗi khi sắp có mưa bão là anh lại cùng đồng đội giúp bà con gia cố nhà cửa, chằng buộc tàu thuyền. Những năm gần đây, thực hiện công trình “Vì màu xanh đảo tiền tiêu”, anh Tuấn rất tích cực tham gia, vận động nhân dân cùng trồng cây xanh, dọn rác bãi biển, trồng hoa hai bên đường... Hình ảnh anh bộ đội dáng người nhỏ nhắn cứ cuối chiều lại chở nước tưới cây, tưới hoa dọc trục đường đã trở thành quen thuộc với người dân trên đảo.

Với tinh thần vượt khó gắn bó với đảo cùng những thành tích nổi bật trong quá trình công tác, Thiếu tá QNCN Lê Anh Tuấn thường xuyên được cấp trên biểu dương, khen thưởng. Nhiều năm anh được tặng danh hiệu Chiến sĩ tiên tiến cùng rất nhiều bằng khen, giấy khen trong thực hiện các đợt thi đua, cuộc vận động, hội thi của các cấp.

Năm 2020 và 2021, Thiếu tá QNCN Lê Anh Tuấn được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở, năm 2022 được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tặng Bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong công tác. Sự ghi nhận của cấp ủy, chỉ huy các cấp và đồng chí, đồng đội càng tiếp thêm động lực để anh nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Những năm gần đây, đảo Bạch Long Vĩ được quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cơ bản, trên đảo đã được phủ sóng điện thoại, có hồ tích trữ nước ngọt, điện gió, điện năng lượng mặt trời... cuộc sống của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân bớt khó khăn, vất vả. Mặc dù vẫn còn kém xa so với trong đất liền nhưng với những người lính gắn bó với đảo từ thập niên 1990 như anh Tuấn thì sự “thay da đổi thịt” trên đảo như ngày nay đã là bước phát triển vượt bậc, giúp họ thêm yên tâm, kiên trì bám biển, đảo, góp phần bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

Bài và ảnh: DUY ĐÔNG - NGUYỄN TRƯỜNG

nguồn báo quân đội nhân dân

Cầm nợ nhà để minh oan cho đồng đội

 

Nguyễn Công Trung tình nguyện nhập ngũ khi mới 17 tuổi, tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế tại nước bạn Campuchia. Trở về với đời thường, cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Công Trung tích cực tham gia các hoạt động cộng đồng, trợ giúp nhiều đồng đội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Ngoài công việc của một luật sư, ông còn là Chủ tịch Câu lạc bộ “Trái tim người lính miền Tây”, trưởng đoàn thiện nguyện phía Nam, Hội Hỗ trợ gia đình liệt sĩ Việt Nam.

Hết lòng vì đồng đội

 Luôn xuất hiện với bộ quần áo giản dị, CCB Nguyễn Công Trung đã thầm lặng từng ngày với công tác xã hội, từ thiện nơi vùng sâu, vùng xa, biên giới. Hơn 10 căn nhà tình nghĩa, hàng chục tấn gạo, hàng chục nghìn vật phẩm gồm xe đạp, vở, quần áo và các suất khám bệnh, cấp thuốc miễn phí cho CCB, trẻ em, người nghèo đã được CCB Nguyễn Công Trung vận động, hỗ trợ trong hơn 30 năm qua. Với ông, việc tri ân là cần thiết và thường xuyên để sống xứng đáng với sự cống hiến của các thế hệ đã hy sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Hành trang thiện nguyện của người CCB 60 tuổi này chỉ duy nhất tấm lòng luôn hướng về đồng đội, bởi ông tự thấy “mình mắc nợ với đồng đội”.

Nhớ lại câu chuyện hỗ trợ đồng đội đáng nhớ, ông Trung kể về người CCB, thương binh Nguyễn Văn Dũng (sinh năm 1958, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh). Ông Trung là người trực tiếp hỗ trợ pháp lý và phối hợp với các đơn vị liên quan giúp giải oan cho CCB Nguyễn Văn Dũng và các thành viên trong gia đình. Ông Trung không ngần ngại bán vàng và cầm cố nhà để giúp người đồng đội được trả lại sự trong sạch sau 40 năm bị oan. Trước đó, ông Dũng và 7 thành viên trong gia đình bị bắt giam từ tháng 7-1979 đến tháng 5-1983 vì bị cáo buộc phạm tội trong một vụ án cướp tài sản.

Ông Trung nhớ lại: “Anh Nguyễn Văn Dũng tình nguyện đi bộ đội khi còn rất trẻ, luôn dũng cảm trong chiến đấu, nhiều lần bị thương ở chiến trường khi thực hiện nghĩa vụ quốc tế. Ngay khi biết trường hợp bị oan của anh Dũng cũng như thấy hoàn cảnh của anh quá khó khăn, tôi đã bàn với vợ bán 5 chỉ vàng và cầm căn nhà đang ở với số tiền 600 triệu đồng để giúp gia đình anh có chi phí đi lại, tới các cơ quan chức năng tìm sự trong sạch và điều trị bệnh cho các thành viên trong gia đình. Suốt 3 năm ròng cùng anh đi gõ cửa các cơ quan liên quan, được sự hỗ trợ của nhiều tổ chức, cá nhân, đặc biệt là Báo Quân đội nhân dân, “trái ngọt” đã đến khi năm 2019, Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Tây Ninh đã chính thức xin lỗi và bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Văn Dũng. Đó là niềm hạnh phúc lớn nhất của tôi khi danh dự của đồng đội được trả lại”.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>

CCB Nguyễn Công Trung (thứ hai từ phải sang) cùng Câu lạc bộ “Trái tim người lính miền Tây” thăm hỏi, tặng quà các CCB lão thành. 

Cũng trong năm 2019, vào một dịp đi cải táng hài cốt liệt sĩ, ông Trung gặp người đồng đội cùng chung chiến hào năm xưa là CCB Dương Văn Nghề (sinh năm 1962, ngụ tại quận 10, TP Hồ Chí Minh). Biết gia đình ông Nghề bị các băng nhóm xã hội đen lừa lấy căn nhà hơn 10 năm qua, ông Trung đã nhận lời hỗ trợ pháp lý để có thể đòi lại quyền sở hữu nhà ở. Sau thời gian kiên trì, ông Trung giúp lấy lại được căn nhà cho gia đình ông Nghề. Hành trình đòi lại nhà cho đồng đội không chỉ khó khăn về hồ sơ, thủ tục, ông Trung và gia đình còn thường xuyên bị các băng nhóm xã hội đen đe dọa. Trước áp lực đó, bản thân ông Trung và người vợ bị chứng rối loạn tiền đình, rối loạn lo âu phải nhập viện điều trị. Vợ của ông cũng phải nghỉ việc.

Ông Trung chia sẻ: “Anh Nghề mắc bệnh ung thư, sức khỏe giảm sút, chỉ mong lấy lại căn nhà để chăm sóc tốt hơn cho mẹ già. Tôi rất hạnh phúc khi giúp đồng đội thực hiện được ước nguyện chính đáng. Tuy gia đình tôi chịu sức ép lớn từ các băng nhóm xã hội nhưng nếu lo sợ, bỏ cuộc thì đồng đội và người mẹ mãi mãi mất đi căn nhà hợp pháp. Lúc đó tôi làm vì mệnh lệnh trái tim”. 

Tại TP Hồ Chí Minh, luật sư, CCB Nguyễn Công Trung còn giúp ông Trịnh Dân Cường (cựu thanh niên xung phong, ngụ tại quận 6) thoát khỏi thân phận “bị can” suốt 38 năm phải gánh chịu trong một vụ án mất tài sản trên địa bàn quận. Trong những ngày cận Tết Giáp Thìn 2024 vừa qua, CCB Nguyễn Công Trung đã vận động đồng đội, nhà hảo tâm hỗ trợ CCB Trương Thanh Hoàng (ngụ tại quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh) có được mái nhà vững chãi, ấm cúng. Do hoàn cảnh khó khăn, ông Hoàng đạp xích lô kiếm sống và nơi ở thì tạm bợ, dột nát trong nghĩa trang. Một mái ấm nghĩa tình đồng đội trị giá 50 triệu đồng kịp trao đến CCB Trương Thanh Hoàng trước thềm xuân mới trong niềm hạnh phúc vô bờ đối với gia đình và những người đồng đội.

Kết nối, lan tỏa “Trái tim người lính”

Ở tuổi 60, bước chân của người CCB Nguyễn Công Trung vẫn lặng thầm đến những vùng quê, vùng khó khăn ở Bình Phước, Tây Ninh, Bình Thuận để trao nhà tình nghĩa, tổ chức khám bệnh, cấp thuốc miễn phí, tặng quà các gia đình chính sách và hộ nghèo, hay hỗ trợ đưa hài cốt liệt sĩ từ Nam ra Bắc, chăm lo những mảnh đời khó khăn ở khắp các tỉnh phía Nam... Với tinh thần hết lòng vì đồng đội, CCB Nguyễn Công Trung được tín nhiệm, cử làm Chủ tịch Câu lạc bộ “Trái tim người lính miền Tây” trực thuộc Câu lạc bộ “Trái tim người lính Việt Nam”. Câu lạc bộ được thành lập từ tháng 9-2023, góp phần kết nối các CCB để tổ chức những hoạt động giáo dục truyền thống, chăm lo những hoàn cảnh khó khăn. Đồng thời, tập hợp các thế hệ cùng chí hướng, cùng lan tỏa những điều tốt đẹp trong cộng đồng xã hội.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
 CCB Nguyễn Công Trung (đứng giữa) nhận thư cảm ơn khi đóng góp hoạt động xã hội cho Hội CCB huyện Hóc Môn, TP Hồ Chí Minh.

CCB Nguyễn Công Trung đã vận động trao tặng hai “Tủ sách Đặng Thùy Trâm” (150 triệu đồng/tủ sách) đến Trường nuôi trẻ mồ côi Thiên Thần (TP Thủ Đức) và Trường THPT Lý Thường Kiệt (huyện Hóc Môn, TP Hồ Chí Minh). Đồng thời, ông cùng câu lạc bộ vận động nguồn lực để chăm lo cho các CCB, thương binh, bệnh binh có hoàn cảnh khó khăn trong hai năm, gồm: Nhà nghĩa tình đồng đội, xe lăn... Ông đã kết nối thực hiện chương trình giao lưu chủ đề “Từ trái tim đến... trái tim” nhằm kết nối các CCB trong hoạt động nghĩa tình tại tỉnh Trà Vinh và tổ chức hành trình viếng Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Vị Xuyên (Hà Giang) và gặp gỡ, giao lưu với các nhân chứng, CCB từng tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc.

Ông Trung cho biết: “Các thành viên câu lạc bộ luôn phát huy hình ảnh cao quý của Bộ đội Cụ Hồ, tình đồng chí, đồng đội, thể hiện trách nhiệm của bản thân đối với cộng đồng, lan tỏa bản sắc nhân văn là trọng đức, gần gũi, biết cảm thông, sẻ chia, luôn truyền lửa nhiệt huyết, lòng yêu nước cho tuổi trẻ hôm nay. Tôi hy vọng sẽ kết nối và phát huy được tốt hơn công tác thiện nguyện, tri ân liệt sĩ, chăm lo đồng đội ở phía Nam, miền Tây Nam Bộ. Chúng tôi phấn đấu trong thời gian tới sẽ tổ chức những đoàn CCB đi thăm lại chiến trường xưa tại biên giới Tây Nam, mang tinh thần “Trái tim người lính” đến với huyện đảo Trường Sa, Khánh Hòa”.

Bên cạnh vận động nguồn lực, kết nối đồng đội, CCB Nguyễn Công Trung còn trực tiếp tham gia nhiều hoạt động góp phần bảo đảm an sinh xã hội tại nơi cư trú và quê hương. Ông đã hiến tặng 7.400m² đất để xây Trường Tiểu học Vinh Kim C và hỗ trợ các hộ thương binh, bệnh binh nghèo ở quê hương Cầu Ngang, Trà Vinh. Những lần về thăm trường, ông Trung thường trao tặng học sinh hoàn cảnh khó khăn các suất học bổng, xe đạp, quần áo, tập vở. Ngay tại nơi sinh sống ở huyện Hóc Môn, ông thường xuyên đóng góp cho các hoạt động của hội CCB, công tác nhân đạo, từ thiện. Trong đại dịch Covid-19, CCB Nguyễn Công Trung đã tham gia tích cực cùng các tổ chức, doanh nghiệp chăm lo an sinh xã hội, hỗ trợ phòng, chống dịch từ trực chốt, tuần tra đến chia sẻ, hỗ trợ kịp thời hơn 100 triệu đồng cho nhiều đồng đội, cá nhân đang gặp khó khăn để vượt qua đại dịch.

Ông Trung còn nhận đỡ đầu một học sinh Trường THPT Lý Thường Kiệt (huyện Hóc Môn) không may mồ côi do dịch Covid-19 với số tiền 3 triệu đồng/tháng cho năm học lớp 11 và lớp 12. Thầy giáo Phạm Văn Thỏa, đại diện nhà trường cho biết: "CCB Nguyễn Công Trung luôn đồng hành với các hoạt động thiện nguyện của nhà trường. Việc đỡ đầu học sinh mồ côi do dịch Covid-19 của ông đã góp phần tạo sức lan tỏa mạnh, cổ vũ tinh thần chung tay hỗ trợ những hoàn cảnh khó khăn do dịch bệnh trong toàn trường và cộng đồng xã hộ