Công nghiệp văn hoá có xuất phát điểm từ khá lâu, tuy nhiên, kể từ những năm 2000 trở lại đây, khái niệm các ngành công nghiệp văn hoá (cultural industries) mới được nhắc đến nhiều hơn và trở thành một trong những trọng tâm phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới.
Ở Việt Nam, trong Nghị quyết 33-NQ/TW khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII một lần nữa nhấn mạnh nhiệm vụ quan trọng này, coi đây là một vấn đề hết sức quan trọng, xác định là một trong những khâu đột phá trong việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Để thực hiện nhiệm vụ này, Chính phủ đã ban hành Chiến lược về phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (Chiến lược), theo đó, ngành Văn hóa cũng đã triển khai một số hoạt động để thực hiện Chiến lược. Nhận thức của xã hội về công nghiệp văn hóa cũng đã có nhiều chuyển biến.
Song song với đó, một số dự án đã có tác dụng thực tiễn, giải quyết những vấn đề cấp bách trong phát triển các ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Đó là, dự án “Không gian Văn hóa và Sáng tạo Việt Nam” do Hội đồng Anh tài trợ cho Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam; dự án “Chương trình trao đổi giữa các không gian sáng tạo tại Vương quốc Anh và Đông Nam Á” do Hội đồng Anh tài trợ cho các không gian sáng tạo; đề án xây dựng bộ chỉ số thống kế ngành điện ảnh… Việc quảng bá thương hiệu quốc gia cũng được thực hiện tương đối tốt qua các Tuần lễ thời trang quốc gia, Tuần lễ thời trang trẻ em Việt Nam, Liên hoan phim quốc tế Hà Nội, tổ chức triển lãm VietAd; Việt Nam tích cực tham gia vào một số sự kiện văn hóa nghệ thuật quốc tế như Liên hoan phim Cannes, Venice, Busan,… Những chương trình, dự án và các sự kiện trên có vai trò quan trọng trong việc giải quyết những vấn đề cụ thể của công nghiệp văn hóa ở Việt Nam như địa vị pháp lý của các không gian sáng tạo, số liệu thống kê làm nền tảng đánh giá và lập kế hoạch phát triển từng lĩnh vực cụ thể, xây dựng thương hiệu.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét