Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2024

LIÊM CHÍNH QUAN CHỨC

  Bài báo “Cần, kiệm, liêm, chính” của Bác Hồ nhằm răn dạy cán bộ về đạo đức, khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa còn non trẻ, toàn quốc kháng chiến trường kỳ. Từ đó đến nay, những thành tựu to lớn, vĩ đại mà Nhà nước và nhân dân ta đạt được có phần quan trọng là nhờ thực hành cần, kiệm, liêm, chính.

“Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc vǎn minh tiến bộ”, đó là nội dung trong bài báo “Cần, kiệm, liêm, chính” của Bác Hồ viết năm 1949. Trong đó, “Liêm là trong sạch, không tham lam” - thật đơn giản, dễ hiểu, dễ học và dễ làm theo. Bác dạy sâu sắc như vậy, nhưng thực hiện không dễ, vì trong cuộc sống có biết bao nhiêu cám dỗ, cạm bẫy rình rập, nhất là đối với những người có quyền thế, chức vụ, địa vị mà mỗi lời nói, quyết định của họ đều có ảnh hưởng đến nhiều người, thậm chí đến cả cộng đồng.

Hiện nay, trong xã hội đang phổ biến một tư duy rằng, hễ là người có quyền, có danh thì có lợi, kể cả cái lợi ích đến từ những hành vi vi phạm pháp luật. Thế nên, có nhiều cán bộ, đảng viên đã bị xử lý vì sa ngã trước cái lợi bất chính. Trong số ấy cũng có những người trước cái lợi nhỏ thì có thể từ chối được, nhưng với những cái lợi cực lớn như hàng trăm, hàng nghìn tỷ đồng “lại quả” từ các dự án thì đã đánh mất mình.

“Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm” là ước mong của Bác Hồ và của tất cả chúng ta. Đó là dân tộc mà từ người già đến trẻ, từ cán bộ đến người dân, từ công chức, viên chức đến tiểu thương, công nhân, nhà khoa học... đều chăm chỉ, cần cù lao động và sống bằng thu nhập chính đáng. Vì vậy, muốn giữ được thanh danh thì phải tự rèn giũa để có đủ bản lĩnh, phẩm chất mà từ chối những cái lợi không chính danh, cái lợi bất minh, phi pháp, ngõ hầu giữ lấy phẩm cách liêm khiết, trong sạch của bản thân mình.

Biết là không dễ nhưng không thể để tình trạng bất liêm, tham nhũng có nguy cơ lan tràn trở thành phổ biến trong xã hội. Điều đó sẽ làm thoái hóa cả một thế hệ cán bộ và tạo ra hậu quả lâu dài đối với hệ thống chính trị.

Vì thế, trước hết, làm sao để quan chức, công chức, những người có quyền lực hay dựa vào quyền lực không thể, không muốn, không dám và không cần tham nhũng, bất liêm, bất chính. Cần phải có một hệ thống đa chiều, vững chắc, bao gồm cả giáo dục đạo đức, hệ thống pháp luật nghiêm minh, nghiêm ngặt và sự giám sát có hiệu quả của xã hội.

Các quy trình ra quyết định, quá trình thực thi, nhất là trong các hoạt động kinh tế cần phải được công khai và minh bạch để mọi người có thể theo dõi và giám sát. Công nghệ thông tin có thể được sử dụng để tạo ra các hệ thống giám sát tự động và công khai.

Cần phải có các kênh thông tin cho phép và bảo vệ người dân tố cáo về những hành vi tham nhũng mà không sợ bị trù dập. Báo chí và các tổ chức xã hội cũng cần được khuyến khích để đưa ra những báo cáo điều tra về tham nhũng, tiêu cực.

Sau cùng, mỗi quan chức, công chức, viên chức cần phải tự giác tuân thủ đạo đức nghề nghiệp và kỷ luật bản thân. Họ cần phải nhận thức được rằng: Việc giữ gìn phẩm chất liêm khiết không chỉ là lợi ích cá nhân mà còn là trách nhiệm với cộng đồng và xã hội; rằng khi họ đút túi một đồng tiền tham nhũng thì có nghĩa ai đó đang nghèo khổ, bệnh tật ngoài kia phải đóng thêm một đồng viện phí, học phí...

Quan chức phải xem sự liêm chính của bản thân như là sinh mệnh chính trị của mình. Không cần tham nhũng hại dân mà ngược lại, đồng cam cộng khổ, chia sẻ ngọt bùi với nhân dân, họ vẫn có thể có được một cuộc đời đầy đủ hạnh phúc, thanh liêm và nhiều giá trị.

Bài báo “Cần, kiệm, liêm, chính” của Bác Hồ nhằm răn dạy cán bộ về đạo đức, khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa còn non trẻ, toàn quốc kháng chiến trường kỳ. Từ đó đến nay, những thành tựu to lớn, vĩ đại mà Nhà nước và nhân dân ta đạt được có phần quan trọng là nhờ thực hành cần, kiệm, liêm, chính. Thực tế hiện nay đã cho thấy, những ai không thực hiện lời dạy đó đến nơi đến chốn đã phải trả giá. Đó cũng là bài học đạo đức quý báu đối với mỗi chúng ta, không chỉ riêng với quan chức.

 

Đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn lợi dụng quyền con người để chống phá Việt Nam

 


Nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác âm mưu, thủ đoạn lợi dụng quyền con người của các thế lực thù địch, phản động, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ sau:

Một là, tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Nhằm bảo vệ và thúc đẩy quyền con người hiệu quả trên thực tế, điều kiện đầu tiên là cán bộ, đảng viên và nhân dân phải nắm vững chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước về quyền con người. Cần tạo sự chuyển biến trong nhận thức về quyền con người qua các kênh tuyên truyền và giáo dục, qua đó, những âm mưu, thủ đoạn và hoạt động lợi dụng, xuyên tạc của các thế lực thù địch về thành tựu bảo đảm quyền con người, xâm phạm đến quyền con người, đến lợi ích của nhân dân Việt Nam dễ được nhận diện và có căn cứ để đấu tranh, phản bác hiệu quả. Thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục, không ngừng củng cố nhận thức chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân, tự giác, tích cực tham gia phòng ngừa, đấu tranh, giữ vững “thế trận lòng dân”, có khả năng nhận diện và “tự miễn dịch” trước các thông tin xấu, độc. Tăng cường và nâng cao hiệu quả phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc, thực hiện mỗi cán bộ, đảng viên một là chiến sĩ trên mặt trận bảo vệ nền tảng tư tưởng; thực hành phát huy dân chủ và quyền con người.

Hai là, đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, coi trọng và thúc đẩy các quyền con người, coi con người là mục tiêu và động lực của mọi chính sách phát triển kinh tế - xã hội, “đưa lực lượng sản xuất phát triển ngày càng nhanh chóng và tiến lên hiện đại là yêu cầu cơ bản và cấp bách để thực hiện có hiệu quả chiến lược con người”(18). Làm cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc là một trong những minh chứng sinh động, thuyết phục nhất để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, vô căn cứ của các thế lực thù địch về thành tựu bảo đảm quyền con người ở Việt Nam. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế, bảo đảm ngày càng tốt hơn đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Đồng thời, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, chính sách đối với người có công với cách mạng; quan tâm đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Các chính sách cần chú trọng đúng mức đến các quan điểm và nguyện vọng của các nhóm xã hội(19).

Chăm sóc trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội _Ảnh: TTXVN

Ba là, tiếp tục hoàn thiện chính sách xã hội, pháp luật về quyền con người, trong đó, con người là trung tâm, là chủ thể, là động lực và là mục tiêu của sự phát triển và tiến bộ xã hội. Mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, phù hợp với nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của người dân, phấn đấu vì hạnh phúc, ấm no của nhân dân. Tiếp tục củng cố hệ thống các quyền con người, quyền công dân đã được hiến định, để mọi người dân đều được hưởng thụ các thành quả phát triển kinh tế, xã hội của đất nước một cách công bằng thông qua việc được tiếp cận các cơ hội bình đẳng và phù hợp, bảo đảm sự tương thích với các nguyên tắc, tiêu chuẩn pháp luật quốc tế về quyền con người. Việc hoàn thiện pháp luật đó cũng là kiến tạo cơ sở pháp lý và chính trị cho mọi hoạt động khác vì sự phát triển của con người Việt Nam. Bên cạnh đó, Nhà nước cần hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện, giám sát thực hiện và xử lý các vi phạm quyền con người để bảo đảm tất cả quyền con người đều được tôn trọng, bảo đảm trong thực tế.

Bốn là, mở rộng quan hệ quốc tế trong nghiên cứu và thực thi quyền con người. Việc bảo vệ quyền con người ở các quốc gia được coi như một điều kiện quan trọng trong quá trình hợp tác quốc tế hiện nay. Do đó, trong nhận thức và giải quyết vấn đề quyền con người, cần quán triệt nguyên tắc thống nhất tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người khi xem xét những vấn đề thực tiễn về quyền con người.

Việc thực hiện dân chủ và quyền con người còn tùy thuộc vào nhiều điều kiện, trước hết là trình độ phát triển kinh tế và điều kiện cụ thể của mỗi nước, mỗi dân tộc trên tất cả các phương diện của đời sống. Các nước có chế độ chính trị khác nhau, trình độ phát triển khác nhau, không thể lấy quan niệm, thực tiễn của nước này, của dân tộc này về dân chủ và quyền con người áp đặt cho dân tộc khác, nước khác. Do đó, xây dựng và thúc đẩy đối thoại trên lĩnh vực dân chủ, quyền con người có ý nghĩa tích cực, góp phần nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau, từng bước thu hẹp bất đồng với các đối tác quốc tế trong vấn đề quyền con người. Qua đối thoại cũng nhằm bác bỏ những thông tin sai lệch, luận điệu xuyên tạc, bịa đặt của các nhóm, cá nhân cực đoan trong và ngoài nước về tình hình quyền con người ở Việt Nam. Bên cạnh việc thực hiện cơ chế đối thoại chính thức với các nước, cần chủ động và tích cực đăng cai tổ chức các hội thảo quốc tế để các nhà chính trị và các nhà khoa học tham dự và thảo luận về các vấn đề liên quan đến quyền con người.

“Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích là vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”(20), tôn trọng và bảo đảm quyền con người là quan điểm nhất quán và xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta. Quyền con người luôn là quyền cơ bản và quan trọng nhất, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Do đó, nhận diện, vạch trần và kiên quyết đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch về thành tựu bảo đảm quyền con người có ý nghĩa quan trọng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo đảm ổn định và sự phát triển bền vững của Việt Nam hiện nay./.

          V3.

Tiếp tục khẳng định, phát huy hệ giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ

 

Bộ đội Cụ Hồ là sản phẩm chính trị, đạo đức, văn hóa, mang ý nghĩa nhân dân sâu sắc, được chính nhân dân cảm nhận, đúc kết, khẳng định và truyền tụng, đồng thời có cội nguồn sâu xa từ lịch sử đặc biệt của dân tộc.

Đó là di sản, là sản phẩm, là tài sản tinh thần vô giá chứa đựng những giá trị văn hóa cao đẹp, bền vững, đồng thời mang tính độc đáo của lịch sử dân tộc. Vì vậy, chắc chắn rằng, cùng với những di sản văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc được khẳng định là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ xứng đáng là Di sản văn hóa phi vật thể rất độc đáo của văn hóa Việt Nam hiện đại.

Tiếp tục tạo sức sống mới cho hệ giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ

Sự xuất hiện của Bộ đội Cụ Hồ trong lịch sử đấu tranh vũ trang của dân tộc ta đã trải qua 80 năm. Thời gian đó so với lịch sử dân tộc không dài, song chỉ bằng thời gian đó, hình tượng Bộ đội Cụ Hồ đã đi vào lịch sử, đi vào đời sống đất nước, đi vào lòng dân và đời sống cộng đồng một cách tự nhiên, nhuần nhuyễn, trở thành một trong những giá trị văn hóa tiêu biểu của thời đại mới.

Những đặc trưng của kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ trở thành một hệ giá trị văn hóa thống nhất, được nhân dân xác định, đồng thuận, ngợi ca. 80 năm qua, biết bao thế hệ người mẹ, người cha đã tin tưởng gửi con em mình vào Quân đội để tuổi trẻ trở thành chiến sĩ cách mạng được mang danh hiệu đầy khiêm tốn mà kiêu hãnh, tự hào: Bộ đội Cụ Hồ.

Với ý nghĩa đó, có 3 vấn đề lớn đặt ra trong hiện tại và tương lai, đó là tiếp tục phát huy, phát triển và khẳng định giá trị văn hóa này, để nó có sức sống ngày càng bền vững, trở thành chuẩn mực văn hóa cho các thế hệ chiến sĩ và góp phần làm giàu có, phong phú cho các di sản, tài sản văn hóa của dân tộc ta. Cũng có ý kiến cho rằng, hình tượng, kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ trong hai phần trên cho phép chúng ta khẳng định rằng, kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ có nguồn gốc sâu xa trong lịch sử đấu tranh, trong truyền thống văn hóa lâu đời và độc đáo của dân tộc ta.

Vì vậy, từ cội nguồn dân tộc và nhân dân, nó có sức sống bền vững, phải được bảo vệ, củng cố và phát triển trong thời gian tới. Mặt khác, từ yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam trong giai đoạn mới, theo mục tiêu cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, việc tập trung mọi nỗ lực để tiếp tục xây dựng, nuôi dưỡng kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ trở nên tất yếu, trở thành một nội dung xuyên suốt trong toàn bộ quá trình xây dựng Quân đội từ nay về sau. Tất nhiên, kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ không phải và không thể là sản phẩm tự phát mà cần một sự chuẩn bị và tiến hành công phu, khoa học, kiên trì, sáng tạo không ngừng.

Nuôi dưỡng và xây dựng nhân cách Bộ đội Cụ Hồ trong giai đoạn mới nhằm mục tiêu tạo ra những thế hệ kế tiếp nhau trở thành người quân nhân cách mạng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng và bảo vệ nhân dân, góp phần xây dựng Tổ quốc Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, tạo khả năng phát triển toàn diện của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Trước yêu cầu mới đó, nhiệm vụ tiếp tục phát huy, phát triển kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ phải đồng thời xử lý hai mối quan hệ cơ bản.

Quan hệ lớn bảo đảm sự thống nhất hài hòa giữa yêu cầu chung đối với con người Việt Nam thời kỳ mới và yêu cầu riêng mang tính đặc thù của người chiến sĩ trong tổ chức quân sự. Xử lý biện chứng quan hệ lớn này sẽ tạo được hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới, đồng thời chuẩn bị cho sự phát triển phẩm chất công dân theo những đòi hỏi hiện đại, khi người cán bộ, chiến sĩ xuất ngũ. Sự đổi mới toàn diện các lĩnh vực cơ bản trong hoạt động Quân đội, đặc biệt là công tác Đảng, công tác chính trị, tư tưởng - văn hóa trong Quân đội sẽ là chìa khóa giải quyết hiệu quả quan hệ trên.

Quan hệ đặc thù trong bản thân Quân đội, đó là vừa khẳng định những giá trị cốt lõi, cơ bản, dứt khoát không thể thay đổi, vừa sẵn sàng bổ sung, phát triển các nội dung mới cần có, phải có trong nhân cách Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới. Định hướng và xử lý đúng quan hệ đặc thù giúp Quân đội chủ động trong quá trình nuôi dưỡng nhân cách Bộ đội Cụ Hồ, tránh được hai khuynh hướng, hoặc là bảo thủ, cứng nhắc trong ý chí; hoặc là bị động trước tác động ngày càng phức tạp đối với tổ chức Quân đội chắc chắn sẽ tiếp tục xảy ra trong tương lai. Từ quan hệ này, việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa "xây" và "chống" trở thành “vũ khí” hữu hiệu để bảo vệ và phát triển nhân cách Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới.

Chú trọng “văn hóa hóa” đời sống Quân đội

Con đường và giải pháp cơ bản, bao trùm là: Trên nguyên tắc lấy xây dựng chính trị làm cơ sở, làm nền tảng, cần chú trọng “văn hóa hóa” toàn bộ đời sống Quân đội.

Văn hóa hóa toàn bộ đời sống Quân đội là nuôi dưỡng và xây dựng cho mỗi cán bộ, chiến sĩ thành những quân nhân có văn hóa mang phẩm chất, giá trị văn hóa, thành nhu cầu của chính mình; là sự biến đổi mọi lĩnh vực của đời sống quân nhân từ ăn, ở, mặc, huấn luyện, lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi, vui chơi, quan hệ nội bộ và quan hệ với nhân dân ở mọi lúc, mọi nơi theo các chuẩn mực văn hóa, ngày càng nỗ lực hướng tới chân-thiện-mỹ và sự hoàn thiện của nhân cách Bộ đội Cụ Hồ. Trong đó, cái gốc của văn hóa là tình yêu Tổ quốc, nhân dân, là chủ nghĩa nhân văn, tôn trọng con người dân chủ, công bằng, bình đẳng, minh bạch... tạo lập cho quân nhân một môi trường văn hóa-môi trường sống thực sự lành mạnh, tốt đẹp và phong phú. Ở đó, mỗi quân nhân được thể hiện hết mọi khả năng của mình với sự nỗ lực cao nhất trong tình thương yêu của tập thể, đồng chí, đồng đội.

Văn hóa hóa còn mang ý nghĩa sâu xa, bền chặt hơn là ở quá trình, thông qua toàn bộ hoạt động tư tưởng, chuyển những yêu cầu chính trị cơ bản: Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại thành những văn hóa thấm sâu trong nhân cách cán bộ, chiến sĩ. Có nghĩa là, các yêu cầu trên không dừng lại ở nhận thức lý thuyết khô cứng mà phải được chuyển hóa thành bản lĩnh, tình cảm, thành tố chất bên trong mỗi cán bộ, chiến sĩ. Nhân cách Bộ đội Cụ Hồ được hình thành, phát triển và dần định hình từ quá trình đó. Truyền thống Bộ đội Cụ Hồ không chỉ của quá khứ mà được hiện thực hóa, phát triển, khẳng định trong hiện tại và tương lai.

Tính bền vững, thấm sâu trong đời sống, trong tình cảm của nhân dân suốt 80 năm là đặc điểm hết sức rõ ràng của hình tượng Bộ đội Cụ Hồ. Có lẽ chưa ở đâu hình tượng đó không chỉ lan tỏa trong đời sống mà còn đi vào văn hóa, văn học, văn nghệ, tạo nên trong lịch sử văn hóa-văn nghệ Việt Nam một dòng chảy mạnh mẽ, hào sảng, trung thực, đầy sức vẫy gọi, cổ vũ con người về hình tượng người chiến sĩ “Dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ” (Lê Anh Xuân), “Đẹp như hoa hồng, cứng như sắt thép” (Nam Hà), “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” (Quang Dũng), “Những cuộc đời đã hóa núi sông ta” (Nguyễn Khoa Điềm)... Hầu như ở tất cả loại hình văn hóa - nghệ thuật Việt Nam suốt 80 năm qua, các nghệ sĩ, chiến sĩ đều dành những tình cảm đẹp và trân trọng nhất cho việc tái hiện hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ.

Khác với nhiều hình tượng văn học - nghệ thuật do sự sáng tạo thông qua đặc trưng khám phá cuộc sống hình tượng và hư cấu, hình tượng Bộ đội Cụ Hồ là kết quả của sự đúc kết, tái hiện từ bản thân đời sống, từ nguyên mẫu Bộ đội Cụ Hồ trong hiện thực. Chính những nguyên mẫu đó đã tạo nên cảm xúc, cảm hứng sáng tạo của người chiến sĩ.

Thử nêu vài ví dụ quen thuộc trong sáng tác âm nhạc. Trong 80 năm qua, hàng loạt ca khúc đi cùng năm tháng, sống trong tình cảm sâu lắng của nhân dân đều mang âm hưởng “hành quân” của đoàn quân chiến thắng Bộ đội Cụ Hồ, như: “Cùng nhau đi hồng binh” (Đinh Nhu), “Cảm tử quân” (Hoàng Quý), “Tiến quân ca”, “Chiến sĩ Việt Nam” (Văn Cao), “Vì nhân dân quên mình” (Doãn Quang Khải), “Tiến bước dưới quân kỳ” (Doãn Nho), “Đội cận vệ bất diệt” (giao hưởng Đàm Linh), “Anh vẫn hành quân” (Huy Du), “Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân” (Huy Thục), “Hành khúc ngày và đêm” (Phan Huỳnh Điểu), “Bước chân trên dải Trường Sơn” (Vũ Trọng Hối), “ Chào anh Giải phóng quân, chào mùa xuân đại thắng” (Hoàng Vân), “Hát mãi khúc quân hành” (Diệp Minh Tuyền)...

Danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ xứng đáng được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Có thể khẳng định rằng, danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ có giá trị kép. Một là, bản thân danh hiệu đó là một giá trị văn hóa quân sự nói riêng và giá trị độc đáo của văn hóa Việt Nam hiện đại nói chung. Hai là, vẻ đẹp, sức hấp dẫn, lan tỏa của danh hiệu đã tạo ra một giá trị riêng của văn học - nghệ thuật Việt Nam hiện đại: Dòng văn học-nghệ thuật về LLVT và chiến tranh cách mạng mà hình tượng trung tâm là Bộ đội Cụ Hồ. Phải chăng chỉ nước ta mới có được một giá trị kép, gắn kết chặt chẽ với nhau như vậy?

Bộ đội Cụ Hồ là sản phẩm chính trị, đạo đức, văn hóa, mang ý nghĩa nhân dân sâu sắc, được chính nhân dân cảm nhận, đúc kết, khẳng định và truyền tụng, đồng thời có cội nguồn sâu xa từ lịch sử đặc biệt của dân tộc. Đó là di sản, là sản phẩm, là tài sản tinh thần vô giá chứa đựng những giá trị văn hóa cao đẹp, bền vững, đồng thời mang tính độc đáo của lịch sử dân tộc. Vì vậy, chắc chắn rằng, cùng với những di sản văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc được khẳng định là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ xứng đáng là Di sản văn hóa phi vật thể rất độc đáo của văn hóa Việt Nam hiện đại.

Danh hiệu cao quý đó không chỉ là di sản của quá khứ mà là tài sản tinh thần của Quân đội ta, hôm nay và mai sau. Trong ý nghĩa đó, Quân đội nhân dân Việt Nam sẽ tiếp tục củng cố, bảo vệ, phát huy và phát triển trong toàn bộ quá trình xây dựng từ nay về sau giá trị Bộ đội Cụ Hồ mà nhân dân, Bác Hồ và Đảng đã trao tặng.

 

“Cuộc chiến” không khói súng

 


Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đầu những năm 90 của thế kỷ XX để lại nhiều bài học quý giá, đặc biệt là trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Các nước XHCN mà đứng đầu là Liên Xô từng đạt được nhiều thành tựu quan trọng, ghi dấu ấn trong lịch sử văn minh nhân loại. Nhưng, một số Đảng Cộng sản cầm quyền, trước hết và chủ yếu là Đảng Cộng sản Liên Xô, lại để mất quyền lãnh đạo, làm cho hệ thống XHCN hùng mạnh được họ dẫn dắt sụp đổ, tan rã. Một trong những nguyên nhân khiến Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã là đã mắc mưu của chủ nghĩa đế quốc, của các nhà tư tưởng chống cộng, hạ thấp, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, thay đổi các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin bằng những luận điểm của chủ nghĩa xã hội dân chủ. Từ chỗ xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin, các nước Đông Âu tiếp tục phạm sai lầm nghiêm trọng về đường lối, xa rời con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa, ngả dần sang thân phương Tây, đi theo con đường của chủ nghĩa xã hội dân chủ, ảo tưởng trông chờ vào sự cưu mang giúp đỡ của chủ nghĩa tư bản nước ngoài.

Ở nước ta, xuất phát từ âm mưu, thủ đoạn và hoạt động “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta, thủ đoạn thâm độc của chúng là làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước và tính ưu việt của chế độ, lái nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Các thế lực thù địch đặc biệt coi trọng việc phá hoại tư tưởng, coi đó là mũi nhọn trong thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, là con đường ngắn nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Từ đó, tiến hành hoạt động tuyên truyền, chống phá Đảng bằng nhiều hình thức tinh vi, xảo quyệt, nhắm đến đa dạng đối tượng, nhưng chủ yếu là trí thức, văn nghệ sĩ; cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ hưu trí, cán bộ, đảng viên có biểu hiện bất mãn, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa; thế hệ trẻ, nhất là học sinh, sinh viên; người lao động… Chúng thường xuyên tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đẩy mạnh hoạt động xuyên tạc lịch sử; thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội và công an; Tích cực đẩy mạnh thực hiện một số thủ đoạn chống phá mới, đó là: Tìm cách đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đưa ra những luận điệu lập lờ, lẫn lộn giữa hai mặt tích cực và tiêu cực, giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đến đảng viên và nhân dân. Khuyến khích những quan điểm lệch lạc và những khuynh hướng xã hội “dân chủ” kiểu Mỹ và phương Tây hòng làm cho người dân thấy hoài nghi về “xã hội Việt Nam” và mơ tưởng về một “xã hội khác” được cổ xúy là tốt đẹp hơn.

Với mưu đồ gây chia rẽ nội bộ, nhất là lợi dụng việc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc là thanh trừng nội bộ, chúng thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an ninh, trật tự... đưa những thông tin sai lệch, nhằm tạo khoảng trống trong tư tưởng nhân dân, làm cho nhân dân hoài nghi, mất niềm tin với chế độ, Đảng và nhà nước. Từ đó, kích động các hoạt động gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc... Đây thật sự là “cuộc chiến không khói súng”, và nếu chúng ta mơ hồ, mất cảnh giác sẽ dẫn đến hậu quả khôn lường. Hơn bao giờ hết, mỗi đảng viên cần đề cao cảnh giác, chủ động tấn công, đổi mới tư duy, có phương thức, biện pháp thích hợp, tăng cường tuyên truyền sâu rộng, kịp thời, chính xác các quan điểm, tư tưởng, lý luận của Đảng, phản bác một cách mạnh mẽ, quyết liệt để kịp thời ngăn chặn sự chống phá về tư tưởng, lý luận của các thế lực thù địch dưới bất cứ hình thức nào. Điều quan trọng là làm cho tư tưởng, lý luận của Đảng thấm sâu trong mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là với thế hệ trẻ để chính họ là những chủ thể mạnh mẽ, vững chắc làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch.

          V3.

 TÊN ANH GẮN LIỀN CHIẾN CÔNG BẤT TỬ


Gửi người Liệt sĩ chưa biết tên

Đã cho nước Việt hóa thành rồng bay

Mộ bia chẳng rõ tháng ngày

Vùi trong đất lạnh đặc dày cỏ hoa

Gửi người chiến sĩ xông pha

Làn tên mũi đạn có hòa máu xương

Hỡi anh chiến sĩ phi thường

Tên anh gắn với niềm thương của người 

Hỡi anh chiến sĩ tuyệt vời

Chẳng màng danh dự hay lời ngợi khen

Đâu cần cuộc sống bon chen

Tên anh đẹp tựa hoa sen tươi hồng 


Đất trời rộng lớn mênh mông

Nhớ ngày liệt sĩ có lồng tên anh

Đời đời sử sách lưu danh

Cỏ hoa thắm đượm luôn dành cho anh

Cầu mong ngày tháng an lành

Đất trời tươi tốt trăng thanh gió ngời

Hồn anh ở mãi tận nơi

Nước non nhung gấm đời đời nhớ ơn.


CHỦ NGHĨA CƠ HỘI PHÁ VỠ KHỐI ĐOÀN KẾT, THỐNG NHẤT TRONG ĐẢNG

 


 

Theo V.I.Lênin, chủ nghĩa cơ hội là chủ nghĩa của những người chủ trương và hành động vô nguyên tắc; luôn hy sinh cái cơ bản để đạt tới lợi ích cục bộ, trước mắt và sẵn sàng thỏa hiệp chính trị. Và những người cơ hội chủ nghĩa là những người không kiên quyết, vô nguyên tắc, không rõ ràng, lờ mờ, quanh co, do dự, thiếu kiên định, dao động, lừng chừng về chính trị. Với những người này, thì họ “dễ dàng thừa nhận mọi công thức và rời bỏ mọi công thức cũng dễ dàng như thế”. Vốn bắt nguồn từ bản chất của chủ nghĩa cơ hội, những người sa vào chủ nghĩa cơ hội, những người cơ hội chủ nghĩa bao giờ cũng tránh đặt các vấn đề một cách rõ ràng, dứt khoát, tìm cách thoả hiệp quan điểm này với quan điểm kia, để đứng trung dung giữa những quan điểm đối chọi nhau, do đó, đối với họ, chỉ luôn là những lời nói bóng gió và giả thiết trống rỗng; là lời nói không đi đôi với việc làm, “cái thói nói cách mạng suông mà không ngượng miệng”.

Thực tế là, trong Đảng vẫn còn đó không ít những thủ đoạn, biểu hiện của những kẻ cơ hội chủ nghĩa - những người mang danh mácxít song lại sẵn sàng hy sinh lợi ích lâu dài, bền vững của giai cấp vô sản để mưu lợi cho sự “hào nhoáng bề ngoài và chốc lát của mình”, sẵn sàng thoả hiệp với mọi cái xấu để đạt được lợi ích cá nhân, tìm cách thích nghi với mọi phía và mong được các phái chấp nhận, dung nạp, tạo thành bè phái và cánh hẩu. Thực tế cũng cho thấy là, nơi nào có quyền lực, có nhiều lợi ích thì chủ nghĩa cơ hội càng dễ phát sinh; đồng thời ở nơi đó, cũng không thể thiếu những kẻ cơ hội chủ nghĩa - những kẻ “lập lờ”, “ẩn mình” dưới những lời nói hay nhưng trong việc làm thì vô nguyên tắc, chỉ chăm chăm lo lợi ích của chính mình mà không màng đến lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân. Vì thế, để bảo vệ Đảng, V.I.Lênin kiên quyết đấu tranh với những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái đó và phê phán kịch liệt sách lược cơ hội chủ nghĩa của những người kém tính Đảng, kém ý thức tổ chức, mang nặng chủ nghĩa cá nhân, những người làm chia rẽ sự thống nhất về tư tưởng và hành động trong Đảng, chia rẽ nội bộ Đảng, phá hoại sức mạnh khối đoàn kết của Đảng.

Chủ nghĩa cơ hội gồm khuynh hướng cơ hội tả khuynh, hữu khuynh, chủ nghĩa cải lương và chủ nghĩa biệt phái. Nhìn bề ngoài, chúng có vẻ đối lập nhau, song đều giống nhau là những trào lưu tư tưởng, chính trị đối lập, thù địch với chủ nghĩa Mác, với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Bởi rằng, về mặt lý luận và thực tiễn, những người theo chủ nghĩa cơ hội luôn bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản và chống lại giai cấp vô sản, bằng cách và tìm cách sửa chữa chủ nghĩa Mác, lấy từ chủ nghĩa Mác những điều mà giai cấp tư sản có thể chấp nhận được, nhưng vứt bỏ nguyên lý cách mạng, linh hồn của chủ nghĩa Mác. Do vậy, V.I.Lênin khẳng định, Đảng phải đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội và coi đó là quy luật phát triển của Đảng; đồng thời, nhấn mạnh rằng: “Khi nói đến đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội thì không bao giờ được quên đặc điểm của tất cả chủ nghĩa cơ hội hiện đại trong mọi lĩnh vực là: nó mang tính chất không rõ ràng, lờ mờ và không thể nào hiểu nổi được. Do bản chất của mình, phái cơ hội chủ nghĩa bao giờ cũng tránh đặt các vấn đề một cách rõ ràng và dứt khoát; bao giờ cũng tìm con đường trung dung, quanh co uốn khúc như con rắn nước giữa hai quan điểm đối chọi nhau và "tìm cách “thoả thuận” với cả quan điểm này lẫn quan điểm kia, vì nó quy những sự bất đồng ý kiến của mình lại thành những điều sửa đổi nhỏ nhặt, những sự hoài nghi, những nguyện vọng thành tâm và vô hại, v.v. và v.v..”[1].

V.I.Lênin và Đảng Bônsêvích Nga đã tiến hành đấu tranh triệt để trong nội bộ phong trào công nhân và ngay trong hàng ngũ của Đảng để chống chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh, chủ nghĩa giáo điều tả khuynh và chủ nghĩa bè phái, vì “bọn này dĩ nhiên là kẻ thù chính của chủ nghĩa bônsêvích trong nội bộ phong trào công nhân. Nó lại còn là kẻ thù chính trên phạm vi quốc tế nữa”[2]. Đồng thời, đấu tranh quyết liệt với bọn Tờrốtkit trên tinh thần: “Cuộc đấu tranh ấy phải được tiến hành thẳng tay, và nhất định phải đẩy, như chúng ta đã đẩy, cuộc đấu tranh ấy tới chỗ làm cho tất cả các thủ lĩnh bất trị của chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa xã hội - sôvanh phải hoàn toàn bị nhục nhã và bị tống cổ ra khỏi các công đoàn”[3]. Có một thực tế không thể phủ nhận là, chủ nghĩa cơ hội hiện luôn song hành cùng với phong trào cộng sản, vì thế, V.I.Lênin nhấn mạnh không chỉ Đảng Bônsêvích Nga mà nếu các Đảng Cộng sản khác mà lơ là, mất cảnh giác và không chủ động, thường xuyên tiến hành cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội thì không chỉ nguy hiểm, cực kỳ nguy hiểm mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của phong trào cộng sản, đến vai trò lãnh đạo của mỗi Đảng Cộng sản và vận mệnh của mỗi quốc gia, dân tộc.

Một trong những nghĩa vụ thiêng liêng của những người mácxít chính là bảo vệ lý luận của chủ nghĩa Mác. Vì thế, theo V.I.Lênin, mỗi Đảng cộng sản, mỗi người cộng sản phải chủ động đấu tranh quyết liệt chống chủ nghĩa cơ hội để giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng. Muốn giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh này, mỗi Đảng phải có phương pháp đấu tranh phù hợp, đúng mức trên cơ sở đi sâu nghiên cứu thực tiễn, hiểu rõ sự tình với điều kiện, hoàn cảnh của nước mình.

Để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và phát triển, theo V.I.Lênin, phải thường xuyên liên tục, không được lơi là cuộc đấu tranh chống những kẻ cơ hội chính trị - những kẻ cái gì cũng cho là đúng, cũng tán thưởng, không có quan điểm chính trị rõ ràng, luôn ngả nghiêng, dao động, không kiên định nguyên tắc dẫn đến gây bè cánh trong Đảng; những kẻ sẵn sàng quỳ gối, uốn lưỡi cho vừa lòng và phù hợp với quan điểm của cấp trên và quần chúng, hòng tăng phiếu ủng hộ trong các dịp bầu cử, nhất là luôn “hy sinh lợi ích căn bản của quần chúng cho lợi ích tạm thời của một số hết sức ít công nhân, nói cách khác tức là sự liên minh giữa một bộ phận công nhân với giai cấp tư sản để chống lại quần chúng vô sản”[4]. Đồng thời, phải chủ động phòng ngừa và đấu tranh chống những phần tử cơ hội chính trị - những kẻ luôn biểu hiện, thể hiện bản thân rất vững vàng về lập trường chính trị, luôn phát biểu và tỏ ra thông suốt lý luận chủ nghĩa Mác, nhưng thực tế thì không phải vậy: chúng không vì lý tưởng cách mạng mà vì động cơ quyền lực, không vì Đảng, vì dân mà hy sinh phấn đấu mà vì lợi ích cá nhân mình; những kẻ “tìm mọi cách” chui vào Đảng, xâm nhập vào bộ máy quyền lực, tìm mọi cách để giành được vị thế/quyền lực, để từ vị trí đó và dùng quyền lực đó thực hiện mục đích của cá nhân, rồi kết bè, kéo cánh cùng những phần tử cơ hội cũ, tạo thành một thế lực đáng kể trong Đảng, làm giảm sức mạnh, uy tín và thanh danh của Đảng; những kẻ không nhận thức đúng con đường đi lên của sự nghiệp cách mạng vô sản, sợ khó khăn trong việc kiến thiết xã hội chủ nghĩa, để những khó khăn đó làm cho khiếp đảm và tỏ ra tuyệt vọng hay hoang mang hèn nhát, người đó không phải là một người xã hội chủ nghĩa[5]. Hơn nữa, phải kiên quyết đưa ra khỏi Đảng “những kẻ gian giảo, những đảng viên cộng sản đã quan liêu hóa, không trung thực, nhu nhược, và những người mensêvích, tuy “bề ngoài” đã được phủ một lớp sơn mới, nhưng trong tâm hồn thì vẫn là mensêvích”[6], làm cho Đảng thực sự là đội ngũ đoàn kết, thống nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đủ năng lực và sức mạnh lãnh đạo tương xứng với nhiệm vụ chính trị được giao.

          V3.

 “YÊU HƠN CẢ BẦU TRỜI” VÀ HAI PHI CÔNG CHA CON HY SINH CHO BẦU TRỜI TỔ QUỐC 

Có một bộ phim không quân Việt Nam đã từng lấy đi rất nhiều nước mắt của khán giả, đó là “Yêu hơn cả bầu trời”. Trong phân đoạn ở tập cuối bộ phim, khi thầy giáo Phong và phi công tập sự Hải làm nhiệm vụ huấn luyện, máy bay bị trục trặc và đâm xuống khu dân cư. Thầy phong ra lệnh cho Hải nhảy dù còn mình sẽ điều khiển máy bay lao xuống nơi trống trải, cứu mạng nhiều người dân… 

Nhưng Hải quyết tâm ở lại, cùng thầy điều khiển chiếc máy bay ra khỏi khu dân cư. Khi máy bay hạ cánh bằng bụng, thầy Phong tìm thấy Hải đang bị chấn động nặng, thầy quát Hải rằng tại sao không nhảy dù? Tại sao lại cãi lệnh thầy? Biết tính mạng phi công quý giá như thế nào không, hai thầy trò mà hy sinh hết thì tốn bao nhiêu tiền của, công sức của Nhà nước và nhân dân… 

Hải trả lời thầy rằng: “Em sợ mất thầy như mất bố em vậy”. 

Có lẽ, nhiều người không biết rằng, bộ phim được xây dựng dựa trên câu chuyện có thật liên quan đến hai cha con phi công đã hy sinh trong quá trình huấn luyện bay, bảo vệ vùng trời Tổ Quốc là Dương Văn Thanh và Dương Lê Minh. 

Năm 2005, Thượng tá Dương Văn Thanh, một phi công tài năng của Trung đoàn Không quân 910, đã điều khiển chiếc máy bay huấn luyện L-39 tránh né đảo du lịch Hòn Tre, khu lồng bè của người dân, lao thẳng xuống vịnh Nha Trang. Trước đó, Thượng tá Thanh ra lệnh cho phi công quân sự Đào Việt Hưng nhảy dù để giữ tính mạng, tiếp tục bảo vệ Tổ Quốc.

Và đến 11 năm sau, con trai của thượng tá Thanh là Thiếu tá Dương Lê Minh cũng hy sinh trên vùng trời Tổ Quốc trong một nhiệm vụ huấn luyện máy bay trực thăng. 

Người vợ của Thượng tá Thanh người mẹ của Thiếu tá Dương Lê Minh chính là mẹ Việt Nam anh hùng trẻ nhất nước Lê Thị Minh Thùy… 

Ngoài đời, hai cha con phi công anh hùng của Việt Nam đã ở trên cao, phù hộ cho Tổ Quốc và nhân dân. Còn trong phim, một viễn cảnh nhẹ nhàng, hy vọng như gửi gắm mong ước rằng, nhiệm vụ hạ cánh thành công và ít nhất là có một người con còn sống… 

Mình tin rằng, bạn sẽ yêu Tổ Quốc hơn khi xem bộ phim này.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng ở Việt Nam hiện nay

 


Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tốc độ phát triển internet, mạng xã hội nhanh nhất thế giới. Theo số liệu thống kê đến tháng 6-2021, trong số 97,75 triệu dân cả nước có trên 68,72 triệu người (chiếm 70,3% dân số) sử dụng internet, cao thứ 12 trên thế giới và thứ 6 ở châu Á; hơn 72 triệu người (chiếm 73,7% dân số) dùng mạng xã hội, chủ yếu là Youtube, Facebook (đứng thứ 7 trong số 10 quốc gia sử dụng Facebook nhiều nhất) và là một trong 10 nước có số lượng người dùng Youtube cao nhất thế giới. Trong đó, 94% số người sử dụng internet hằng ngày là sinh viên, trí thức trẻ, thanh niên(4).

Trong thời gian qua, lợi dụng những thế mạnh và tính mở của không gian mạng với đặc trưng tự do, đa dạng, bình đẳng, không có ranh giới cụ thể giữa “thực” và “ảo”, các thế lực thù địch, phản động trong nước và ngoài nước, bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, không ngừng ra sức tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, với âm mưu hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam, đó là: 1- Xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin; 2- Tập trung công kích, xuyên tạc quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; 3- Bóp méo, hạ thấp, phủ nhận thành quả đổi mới của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng... Điển hình là đầu năm 2022, ngay từ khi xảy ra cuộc xung đột Nga - U-crai-na, trên các diễn đàn đa phương quốc tế và phương tiện thông tin đại chúng, Việt Nam đã nhiều lần nêu rõ quan điểm chính thức của mình. Thế nhưng, trên internet, các trang mạng, diễn đàn, tài khoản mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị lại cố tình đăng tải những tin, bài có nội dung phê phán, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Việt Nam trong quan điểm, cách nhìn nhận, ứng xử trước những vấn đề liên quan đến cuộc xung đột giữa Nga và U-crai-na..., mưu toan hướng dư luận trong nước và quốc tế hiểu sai lệch về Việt Nam, gây ảnh hưởng tới mối quan quan hệ của Việt Nam với Nga, U-crai-na và cộng đồng quốc tế. Các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị còn đẩy mạnh tuyên truyền xuyên tạc, chống phá chính sách đối ngoại quốc phòng của Việt Nam khi xuyên tạc rằng nguyên tắc “không tham gia liên minh quân sự” nêu trong Sách trắng Quốc phòng năm 2019 của Việt Nam là “hành động tự trói”, không phù hợp với xu thế của thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cần phải thay đổi...

Để chủ động đập tan những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, ngay từ năm 1983, Đảng ta đã đưa ra quan điểm: “Tăng cường hoạt động của các cơ quan nghiên cứu lý luận để làm tốt nhiệm vụ tham gia nghiên cứu, chuẩn bị và giải thích về mặt lý luận đường lối, chính sách của Đảng trên các lĩnh vực, nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm tiên tiến trong các phong trào cách mạng của quần chúng, phê phán những tư tưởng, quan điểm sai trái với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và đường lối của Đảng”(5). Kể từ đó đến nay, Đảng ta đã ban hành nhiều văn bản (nghị quyết, chỉ thị) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới, về công tác tư tưởng, lý luận... trong đó nêu rõ các quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp đồng bộ nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động(6). Đặc biệt, ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”... Tháng 1-2021, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lốì sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” (7). Việc ban hành các nghị quyết, chỉ thị để lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đã thể hiện sự chủ động của Đảng ta trong công tác quan trọng này.

Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới vấn đề “bảo đảm chủ quyền, an ninh quốc gia”, nhất là về các nguy cơ, biện pháp bảo đảm an toàn, an ninh, bảo vệ bí mật quốc gia trong không gian mạng, như Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 25-7-2018, của Bộ Chính trị khóa XII, “Về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng”; Nghị quyết số 30-NQ/TW, ngày 25-7-2018, của Bộ Chính trị, “Về Chiến lược an ninh mạng quốc gia”... Có thể thấy, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng đều thống nhất quan điểm chỉ đạo về bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Trên cơ sở đó, Nhà nước đã thể chế hóa thành pháp luật, như Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Luật An ninh mạng năm 2018 và Luật Quốc phòng năm 2018(8)... Việc Nhà nước từng bước thể chế hóa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng về an toàn thông tin, nhất là thông tin mạng, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững kinh tế - xã hội, bảo vệ thông tin và hệ thống thông tin, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc trên không gian mạng.

Mặc dù vậy, việc triển khai các nghị quyết, chỉ thị, văn bản pháp luật nêu trên, bên cạnh những kết quả đạt được, còn gặp khá nhiều khó khăn, thách thức, xuất phát từ một số nguyên nhân khách quan và chủ quan. Về nguyên nhân khách quan, tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, nhanh chóng, khó đoán định. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn song gặp nhiều trở ngại, khó khăn. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, quyết liệt, nhất là ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Cách thức tập hợp lực lượng trên thế giới và trong khu vực diễn ra hết sức linh hoạt. Bên cạnh các thách thức an ninh truyền thống, các thách thức an ninh phi truyền thống, nhất là biến đổi khí hậu và dịch bệnh nổi lên gay gắt hơn. Đặc biệt là đại dịch COVID-19, với sự xuất hiện của các biến chủng mới tiếp tục tác động tiêu cực đến sự phát triển của các quốc gia và quan hệ quốc tế, đồng thời đặt ra nhiều vấn đề về chính trị, đối ngoại, kinh tế, y tế, môi trường, khoa học - công nghệ và văn hóa - xã hội... Tất cả những điều này ít nhiều tác động đến môi trường hòa bình, an ninh và phát triển của quốc tế, khu vực và các nước, trong đó có Việt Nam, tác động đến việc triển khai đường lối đối ngoại, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, cũng như bảo đảm tình hình an ninh, ổn định trật tự xã hội của Việt Nam thời gian qua. Về nguyên nhân chủ quan, hạn chế về nguồn lực triển khai, làm chủ công nghệ, hạn chế về nghiên cứu, dự báo và những thách thức nhức nhối của tình trạng tham nhũng, tiêu cực trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đã tạo cớ để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vu cáo, xuyên tạc.

Trên cơ sở những phân tích về thực trạng, tác động của chiến tranh thông tin trong không gian mạng và những khó khăn, thách thức, nguyên nhân nêu trên, để góp phần triển khai thực hiện hiệu quả công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động trong thời gian tới, cần lưu ý một số nội dung từ góc độ chính trị, đối ngoại như sau:

Ở phương diện quốc tế và khu vực

Một là, tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vừa hợp tác, vừa đấu tranh; kiên trì về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, “dĩ bất biến ứng vạn biến”; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở luật pháp quốc tế đối với tất cả các loại hình không gian, nhất là không gian mạng, trong thời gian tới.

Hai là, chủ động tham gia các diễn đàn đa phương quốc tế, trong đó có Liên hợp quốc về việc xây dựng bộ quy chuẩn quốc tế về cách hành xử có trách nhiệm của các thực thể tham gia quan hệ quốc tế (bao gồm nhà nước, phi nhà nước...) khi tham gia, triển khai các hoạt động trên không gian mạng, trong đó nhấn mạnh đến nội dung bảo đảm việc tôn trọng thể chế chính trị, nền tảng tư tưởng và giá trị dân chủ của các quốc gia có chủ quyền cũng như chống các loại hình thông tin xuyên tạc, tin giả, xấu, độc hại và coi các loại hình thông tin này là kẻ thù chung của cộng đồng quốc tế.

Ba là, tham gia thúc đẩy xây dựng các văn kiện quốc tế về hợp tác ở cấp độ quốc tế và khu vực, xây dựng và triển khai các biện pháp xây dựng lòng tin trong quan hệ quốc tế nhằm giải quyết tận gốc vấn đề thông tin xuyên tạc, tin giả, sai sự thật và ngăn chặn các cuộc chiến tranh thông tin trong không gian mạng, thậm chí là chiến tranh mạng..., qua đó đóng góp vào việc xây dựng lòng tin giữa các quốc gia trên không gian mạng; tham gia thảo luận, đóng góp nội dung theo quan điểm của Việt Nam tại các diễn đàn quốc tế, khu vực về xây dựng các văn bản quản lý, quản trị đối với việc áp dụng các công nghệ mới nổi có liên quan đến các lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam trong không gian mạng; tham gia thúc đẩy việc triển khai thực hiện các điều ước, nghị quyết liên quan của Liên hợp quốc về bảo vệ và bảo đảm việc thụ hưởng, thực hiện các quyền con người trước những tác động tiêu cực ngày càng gia tăng và sâu rộng của thông tin xuyên tạc, sai lệch, tin giả.

Ở phương diện quốc gia

Thứ nhất, tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị nêu trên của Đảng, Nhà nước về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch(9), nhất là Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị khóa XII, Luật An ninh mạng và các luật liên quan; mở rộng, nâng cao hiệu quả và đưa các mối quan hệ đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân đi vào chiều sâu, tạo nền tảng chính trị cho quan hệ giữa Việt Nam với các nước; tạo lập sự đồng thuận và hậu thuẫn chính trị của các chính đảng và các lực lượng chính trị đối với sự nghiệp đổi mới cũng như bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; tăng cường sự phối hợp giữa các tổ chức nhân dân với vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội khác trong hoạt động đối ngoại.

Thứ hai, tăng cường giáo dục, tuyên truyền sâu rộng về Luật An ninh mạng, để người dân có ý thức đấu tranh mạnh mẽ với các hành vi sử dụng không gian mạng tuyên truyền chống phá Nhà nước, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc của Việt Nam. Quyết tâm thực hiện nội dung về “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” được đề ra tại Đại hội XIII của Đảng, trong đó ưu tiên bảo đảm thực hiện các nội dung hệ giá trị của Việt Nam trong giai đoạn hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng, bao gồm các lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích xã hội, lợi ích chính đáng của cá nhân, trên cơ sở tập trung nhấn mạnh các thành tố, như dân chủ và pháp quyền, nhân ái và yêu nước, trung thực và bản lĩnh; dân giàu, nước mạnh, công bằng, trách nhiệm, hạnh phúc, đoàn kết, cần cù, sáng tạo; quan tâm đầu tư phát triển các lực lượng đặc biệt, đặc thù và mạng lưới cộng tác viên với sự hỗ trợ của công nghệ AI trong theo dõi, ngăn ngừa, thậm chí là chủ động tấn công, loại bỏ các sản phẩm truyền thông chứa đựng thông tin xuyên tạc, tin giả, độc hại nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng và các chính sách, hoạt động của Đảng và Nhà nước.

Thứ ba, tiếp tục xây dựng, củng cố đoàn kết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân trong nước cũng như ngoài nước nhằm giải quyết tận gốc “giặc nội xâm” (tham nhũng, tiêu cực...), tranh thủ sự hợp tác, hỗ trợ của bạn bè quốc tế đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, qua đó tăng cường sức mạnh nội tại, bổ trợ cho việc đối phó với các loại hình giặc ngoại xâm thông qua triển khai đồng bộ các biện pháp đối ngoại, quốc phòng và an ninh; quyết liệt triển khai Đề án “Nâng cao hiệu quả công tác thông tin đối ngoại của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đến năm 2030”, nhằm phục vụ việc quảng bá, nâng cao hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế; đồng thời, thu thập những thông tin có chọn lọc về tình hình, sự phát triển của thế giới, khu vực về các vấn đề được dư luận và nhân dân trong nước quan tâm; đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động.

Ở phương diện ý thức của con người

Một là, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện, tôn trọng và bảo vệ các quyền con người do luật pháp quy định, trong đó bao gồm các quyền về tự do ngôn luận, quyền riêng tư, quyền tham gia các công việc của cộng đồng và bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử; nâng cao, đa dạng hóa các biện pháp triển khai ở tất cả các cấp trong việc củng cố lòng tin của người dân vào Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa và ngăn ngừa, đập tan các xu hướng phân cực, kích động, cổ xúy ngôn từ hận thù trên không gian mạng nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân; củng cố, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân, tạo nền tảng xã hội hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trên không gian mạng. 

Hai là, xác định cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước những tác động tiêu cực của cuộc chiến thông tin không gian mạng là lâu dài, kiên nhẫn, bền bỉ và cần học cách sống chung với tin giả, thông tin xuyên tạc, qua đó tự tạo sức đề kháng, giúp hệ thống chính trị, cán bộ, đảng viên và nhân dân kiên cường hơn khi tham gia tương tác trên không gian mạng để chống thông tin độc hại, âm mưu thâm độc chống phá Đảng và Nhà nước. Chú trọng tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân để nhìn nhận và có trách nhiệm, ý thức trước mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Củng cố mối quan hệ thường xuyên, liên tục với các nhóm cần tranh thủ ở nước ngoài đã hiểu biết về Việt Nam cũng như ưu tiên xây dựng quan hệ và tạo thiện cảm với các đối tượng, như giới báo chí, giới trẻ, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Ba la, chú trọng đầu tư và đặt con người vào vai trò chủ thể, luôn làm chủ công nghệ, trong đó có công nghệ hiện đại, công nghệ mới nổi phục vụ việc xây dựng nguồn nhân lực công nghệ số chất lượng cao, trong đó có yêu cầu kiên định về lập trường, bản lĩnh chính trị trước những thay đổi, biến đổi của thế giới trong tương lai.

Ở phương diện kỹ thuật

Thứ nhất, tập trung triển khai các chiến lược quan trọng tự lực, tự cường về công nghệ, nhất là Chiến lược chuyển đổi số quốc gia, Chiến lược quốc gia về phát triển trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, trong đó quan tâm tập trung đầu tư cho công nghệ tiên tiến, hiện đại, đặc biệt là công nghệ AI, tiến tới xây dựng Việt Nam trở thành một “cường quốc mạng” (đặc biệt chú trọng phát triển nguồn nhân lực về AI), góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế, đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, bao gồm việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ hai, phát huy phẩm chất cần cù, thông minh, sáng tạo của con người Việt Nam; đẩy mạnh nghiên cứu, xây dựng các nền tảng hạ tầng, hệ thống mạng “Make in Viet Nam” song song với việc làm chủ, quản lý được các hệ thống nền tảng mạng do nước ngoài sản xuất, qua đó giảm dần sự phụ thuộc vào các nền tảng mạng do các doanh nghiệp, tập đoàn của nước ngoài cung cấp và tạo nền móng vững chắc trong việc triển khai, áp dụng các công nghệ hiện đại trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, hệ giá trị quốc gia trong toàn bộ đời sống chính trị, quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hóa, xã hội của Việt Nam trong tương lai; hợp tác, đặt hàng với các trường đại học, viện nghiên cứu có uy tín, các tập đoàn công nghệ lớn (Viettel, VNPT, FPT...) để xây dựng bộ công cụ toàn diện được vận hành bởi công nghệ AI và có tính tương thích cao trên mọi nền tảng mạng xã hội nhằm phục vụ việc triển khai công tác đấu tranh lâu dài của Đảng trong lĩnh vực này.

Thứ ba, sớm xây dựng, cập nhật, ban hành các văn bản pháp luật, trong đó bao gồm các quy định bảo vệ, quản lý dữ liệu quan trọng của quốc gia, của người dân Việt Nam; cập nhật, sửa đổi, bổ sung nội dung liên quan đến công nghệ AI trong các văn bản, chính sách, quản lý.

          V3.