Gặp mặt các cơ quan thông tấn, báo chí nhân kỷ niệm 99 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2024)
Chiều 14/6, tại Hà Nội, Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng tổ chức gặp mặt các cơ quan thông tấn, báo chí nhân kỷ niệm 99 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925 – 21/6/2024). Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì buổi gặp mặt.
Tham dự buổi gặp mặt có các đồng chí: Thượng tướng Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam; Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
Cùng dự còn có các đồng chí: Nguyễn Mạnh Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông; Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng biên tập Báo Nhân Dân, Phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam; Đỗ Tiến Sỹ, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam; Lê Ngọc Quang, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam; Trung tướng Nguyễn Văn Gấu, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam.
Ngoài ra còn có các đồng chí: Lê Hải Bình, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản; Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn, Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam; Trung tướng Lê Quang Minh, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam; cùng đại biểu lãnh đạo cơ quan chỉ đạo, cơ quan quản lý báo chí Trung ương; lãnh đạo các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam, cơ quan báo chí trong và ngoài Quân đội.
Tại buổi gặp mặt, thông tin kết quả công tác phối hợp tuyên truyền về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng năm 2023 và 6 tháng đầu năm 2024, Trung tướng Nguyễn Văn Gấu nêu rõ: Được sự quan tâm của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; sự phối hợp, giúp đỡ của các ban, bộ, ngành Trung ương, đặc biệt là Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Ngoại giao, Hội Nhà báo Việt Nam, các cơ quan báo chí Trung ương và địa phương, công tác báo chí trong Quân đội tiếp tục đạt được nhiều kết quả rất quan trọng.
Công tác tuyên truyền báo chí tiếp tục có đóng góp quan trọng trong tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng, về xây dựng QĐND trong tình hình mới; thực hiện tốt chức năng cung cấp thông tin, định hướng dư luận; nâng cao ý thức, trách nhiệm, tăng cường sự đoàn kết, đồng thuận của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; sự ủng hộ của bạn bè, cộng đồng quốc tế trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc; đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; nâng cao uy tín của đất nước và QĐND Việt Nam.
Do có sự chủ động, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan báo chí, công tác tuyên truyền báo chí về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, tuyên truyền về QĐND Việt Nam năm 2023 và 6 tháng đầu năm 2024 tiếp tục được đẩy mạnh đậm nét, tạo được những dấu ấn mới.
Báo chí Trung ương và địa phương, báo chí Quân đội đã tập trung tuyên truyền đậm nét, đúng định hướng các hội nghị của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; kết quả xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh; kết quả nửa nhiệm kỳ toàn quân thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; các hoạt động SSCĐ, công tác dân vận, vui Xuân, đón Tết của bộ đội dịp Tết Nguyên Đán Giáp Thìn 2024; tuyên truyền kịp thời, chặt chẽ về công tác tuyển quân, ra quân huấn luyện, hội thao, hội thi, diễn tập, không để sai sót.
Đặc biệt gần đây, báo chí đã tuyên truyền rất đậm nét, đạt hiệu ứng truyền thông rất cao về các hoạt động kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ; đã làm nổi bật vai trò, những đóng góp của Quân đội cũng như những tình cảm sâu đậm của nhân dân dành cho Quân đội, dành cho Bộ đội Cụ Hồ. Cùng đó, báo chí đã tập trung tuyên truyền đậm nét các sự kiện, hoạt động đối ngoại quốc phòng, cả ở trong nước và ngoài nước...
Đáng chú ý, tuyên truyền báo chí về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, về Quân đội đã được các cơ quan báo chí đồng loạt tăng thời lượng và nâng cao chất lượng. Nhiều cơ quan báo chí đã chú trọng xây dựng các vệt bài, các chương trình tuyên truyền chuyên đề, xây dựng kế hoạch tuyên truyền riêng về kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam.
Các tin, bài báo chí đã tập trung làm nổi bật hơn hình ảnh, truyền thống, bản chất tốt đẹp của QĐND Việt Nam, lan tỏa hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới; nhất là trong việc chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; trong việc giúp nhân dân phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới; tuyên truyền đậm nét tinh thần, trách nhiệm, hoạt động SSCĐ của bộ đội trong bảo vệ chủ quyền biên giới, biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Nhiều cơ quan báo chí đã chủ động phối hợp với các cơ quan, đơn vị quân đội đầu tư tổ chức nhiều sự kiện, chương trình truyền thông có chất lượng, tạo hiệu ứng tốt, được dư luận đánh giá cao.
Cùng với báo chí cả nước, báo chí quân đội tiếp tục đạt được nhiều thành công, kết quả quan trọng. Báo chí quân đội luôn chấp hành nghiêm pháp luật, thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, thực hiện tốt chức năng cung cấp thông tin và định hướng dư luận; phát huy tốt vai trò tiên phong, nòng cốt trong tuyên truyền đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; tích cực phối hợp với các cơ quan báo chí Trung ương, địa phương xây dựng Báo chí Cách mạng Việt Nam chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại.
Đại diện lãnh đạo các cơ quan thông tấn, báo chí cảm ơn Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng trong thời gian qua đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị trong Quân đội tạo điều kiện, cung cấp thông tin nhanh chóng, chính xác để các cơ quan báo chí tiếp tục nâng cao chất lượng các chương trình, chuyên mục tuyên truyền về thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, gương người tốt, việc tốt trong Quân đội. Đồng thời, bày tỏ mong muốn thời gian tới, các bên sẽ phối hợp hiệu quả hơn trong việc xử lý, định hướng thông tin, tuyên truyền về những vấn đề liên quan đến nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và xây dựng Quân đội, góp phần định hướng dư luận xã hội, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch.
Thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Đại tướng Phan Văn Giang bày tỏ sự trân trọng, cảm ơn các cơ quan Trung ương, các cơ quan báo chí Trung ương và địa phương luôn quan tâm phối hợp, giúp đỡ, chỉ đạo báo chí đồng hành, đưa tin, tuyên truyền kịp thời, hiệu quả về kết quả thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, đối ngoại quốc phòng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng QĐND trong tình hình mới.
Đại tướng Phan Văn Giang mong muốn các cơ quan báo chí tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Bộ Quốc phòng đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền; phối hợp thực hiện tốt việc tham mưu định hướng, cung cấp thông tin, xử lý kịp thời, chặt chẽ những vấn đề quan trọng, không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng kích động, chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội.
Bộ Quốc phòng tiếp tục chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trong toàn quân tăng cường phối hợp, tạo điều kiện thuận lợi nhất để các cơ quan thông tấn, báo chí trong cả nước thông tin, tuyên truyền kịp thời, hiệu quả về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, đối ngoại quốc phòng và hoạt động xây dựng QĐND Việt Nam vững mạnh.
Đặc biệt, 6 tháng cuối năm 2024, toàn quân xúc tiến tổ chức nhiều sự kiện, hoạt động, nhiều cuộc thi thiết thực kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam và 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân; nên rất cần sự phối hợp, góp sức của báo chí để lan tỏa mạnh mẽ, sâu rộng về truyền thống, bản chất tốt đẹp của QĐND Việt Nam.
Trong các luận điệu chỉ trích Việt Nam không có
tự do ngôn luận, tự do báo chí, có thể thấy các lập luận đã cố tình tập trung
vào vế đầu của “Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền” năm 1948, khẳng định tự do
tư tưởng, tự do xuất bản là quyền cơ bản của con người, mà bỏ đi vế sau là quyền
tự do đó nằm trong khuôn khổ pháp luật và thể chế mỗi quốc gia.
Thay vì xem xét các mối quan hệ giữa Hiến pháp,
pháp luật và hoạt động báo chí thực tiễn, các thế lực thù địch, thiếu thiện chí
chỉ tập trung vào các vụ việc và cá nhân cụ thể để xuyên tạc về tự do ngôn luận,
tự do báo chí của Việt Nam. Khái niệm mà họ sử dụng chính là "ngôn luận tự
do", "báo chí tự do", gần với khái niệm tự do tuyệt đối, không
có giới hạn.
Tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF) nhiều
năm gần đây xếp Việt Nam ở vị trí gần cuối bảng xếp hạng về tự do báo chí của
180 quốc gia, với những lý do chủ yếu là “đàn áp các blogger”, “bắt giam các
nhà báo”, nhưng trong những vụ việc này, các đối tượng bị bắt giữ đều có hành
vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ để đưa tin sai sự thật, tuyên truyền chống
phá Đảng và Nhà nước, xuyên tạc tình hình kinh tế-xã hội ở Việt Nam.
Trên một kênh truyền thông ở hải ngoại thiếu thiện
chí, khi bình luận về Việt Nam gần đây, có một bài viết về bảng xếp hạng của
RSF. Nhưng tổ chức RSF lại không đưa ra được khái niệm hay cách hiểu nào về tự
do báo chí. Nếu họ cho rằng không thể bắt giữ các nhà báo và cho rằng không ai
đáng bị bắt vì lý do tham gia ngôn luận, thì có lẽ họ đã bỏ qua hoàn toàn việc
hoạt động báo chí phải nằm trong khuôn khổ pháp luật. Với cách lập luận như vậy,
họ đang cổ xúy cho ngôn luận tự do, báo chí tự do mà không chịu bất cứ trách
nhiệm xã hội nào.
Trong vụ việc bắt giữ một nữ nhà báo gần đây, có
thể thấy rõ trong thời gian dài, nhà báo này đã công khai chỉ trích nhiều cá
nhân, doanh nghiệp, tổ chức trên trang cá nhân của mình, như Công ty Cổ phần Đại
Nam, Quỹ Sống Foundation, Mạng lưới Tự kỷ Việt Nam... với lời lẽ nặng nề nhưng
không có căn cứ xác đáng. Núp dưới chiêu bài “nêu nghi vấn”, “đặt dấu hỏi”,
“phân tích giả định”, “đấu tranh chống tiêu cực”, nhà báo này đã tùy tiện đưa
ra những thông tin có nhiều dấu hiệu quy chụp, phán xét không khách quan, sai sự
thật, bất chấp luật pháp và đạo lý.
Ngôn luận tự do dựa theo những phán đoán, suy diễn
chủ quan, ác ý đã dẫn một người từng là nhà báo kiêm luật sư phải chịu trách
nhiệm trước pháp luật vì lợi dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm quyền, lợi
ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức khác. Một số nhà báo, luật sư, người dùng mạng
xã hội khác bị bắt cũng có chung vi phạm pháp luật như vậy.
Khi phê phán, chỉ trích Việt Nam không có tự do
ngôn luận và tự do báo chí, các thế lực thù địch cũng không chỉ ra được điều luật
nào, quy định nào ngăn cản tự do của nhà báo, mà có xu hướng áp đặt hình mẫu
phương Tây cho Việt Nam. Đó là một cách tiếp cận không có cơ sở khoa học. Nội
hàm của tự do ở mỗi quốc gia, mỗi thời điểm có thể giống nhau về phổ quát, còn
lại sẽ mang đặc điểm của mỗi thể chế chính trị-xã hội. Thực chất, không có nơi
nào có tự do tuyệt đối, đây chỉ là một khái niệm mang tính tương đối và có sự
phát triển trong các nền tảng xã hội khác nhau.
Như vậy, ngôn luận tự do, báo chí tự do theo
cách mà các thế lực thù địch tuyên truyền là đề cao tư tưởng của các cá nhân,
không đi kèm trách nhiệm và các khuôn khổ luật pháp, đạo đức xã hội, không quan
tâm hoặc xem nhẹ những hệ quả gây ra cho xã hội, cộng đồng. Điều đó khác rất xa
với tự do ngôn luận, tự do báo chí chân chính có trách nhiệm với sự phát triển
tiến bộ của xã hội và nhân loại.
Ngay từ khi mới ra đời, Chủ nghĩa Mác-Lênin đã
phải đấu tranh không khoan nhượng với những quan điểm sai trái, thù địch được
núp bóng dưới mọi hình thức. Trong các tác phẩm của mình, C.Mác, Ph.Ăng-ghen và
V.I.Lênin đã chỉ ra một loại kẻ thù hết sức nguy hiểm, đó là những phần tử cơ hội,
khoác áo cộng sản nhưng lại ngấm ngầm chống phá Đảng. Đó là những con người chỉ
vì lợi ích nhất thời hằng ngày mà quên đi những quan điểm chủ yếu lớn; chạy theo
những thành công chốc lát và đấu tranh cho những thành công chốc lát mà không
tính đến hậu quả về sau... tất cả những việc ấy có thể xuất phát từ những động
cơ “thành thật”. "Nhưng đó là và sẽ vẫn là chủ nghĩa cơ hội, mà chủ nghĩa
cơ hội “thành thật” có lẽ lại là thứ chủ nghĩa cơ hội nguy hiểm hơn hết cả” và
nguồn gốc sinh ra chủ nghĩa cơ hội ấy từ các mặt kinh tế, chính trị, tư tưởng
và lịch sử.
V.I.Lênin là người kế tục xuất sắc nhất sự nghiệp
vĩ đại của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, đã phấn đấu quên mình để bảo vệ và phát triển
chủ nghĩa Mác trong thời đại báo hiệu sự suy sụp của chủ nghĩa tư bản và thắng
lợi của cách mạng vô sản, đưa chủ nghĩa Mác lên một bước phát triển mới, thành
Chủ nghĩa Mác-Lênin. Từ kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh cách mạng, nhất là những
năm tháng xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực ở nước Nga Xô viết, trong bài viết
“Về vấn đề thanh đảng”, V.I.Lênin vạch rõ mặt những phần tử cơ hội trong đảng,
những phần tử giỏi về thủ đoạn “ngoại giao tư sản”, khả năng thích ứng “thay
màu đổi sắc để ẩn nấp được dễ dàng hơn, như con thỏ rừng, về mùa đông, thay
lông thành màu trắng”. Vì thế, V.I.Lênin yêu cầu, cần phải đuổi ra khỏi đảng những
kẻ gian giảo, những đảng viên cộng sản đã quan liêu hóa, không trung thực, nhu
nhược. Theo V.I.Lênin, có như vậy sẽ làm cho đảng trở thành một đội tiền phong
của giai cấp vô sản vững mạnh hơn.
Vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều
kiện, hoàn cảnh thực tiễn của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng
ta luôn quan tâm đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh chống mọi biểu
hiện cơ hội trong Đảng. Trước lúc đi xa, trong Di chúc, việc đầu tiên, trước hết,
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về Đảng, Người căn dặn: “Phải giữ gìn Đảng ta thật
trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành
của nhân dân”. Để Đảng Cộng sản là một Đảng thực sự cách mạng, chân chính, tất
yếu phải đấu tranh chống những biểu hiện cơ hội trong Đảng, nhất là cơ hội về
chính trị.
Trong bối cảnh hết sức khó khăn khi mới thành lập
Đảng, nhưng nhiệm vụ đấu tranh chống những phần tử cơ hội trong Đảng luôn đặt
ra yêu cầu cấp thiết. Song cũng phải nhận diện rõ và phân loại đối tượng cụ thể
để có phương pháp đấu tranh phù hợp. Nghị quyết của toàn thể Hội nghị Ban Trung
ương Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 20 và 30-3-1938 chỉ rõ: “Phải tẩy sạch những
phần tử trotsky đã lọt vào trong Đảng”. Do đó, muốn đấu tranh phòng, chống biểu
hiện cơ hội về chính trị tốt, cần phải nhận diện đúng thực chất “cơ hội về
chính trị”.
1. Trên trang Facebook
cá nhân, một cán bộ hưu trí ở phía Nam bỗng dưng đăng bài viết bày tỏ bức xúc,
quy chụp và lớn tiếng phê bình lối sống của một số cán bộ cấp cao. Chủ tài
khoản mạng xã hội này cho rằng cán bộ tốt bây giờ không còn nữa nên bản thân thật
sự mất niềm tin. Biết anh từ khá lâu nên chúng tôi gặng hỏi, sao anh lại quy
chụp kiểu “vơ đũa cả nắm” như thế. Anh bực dọc: “Bây giờ cán bộ ai chả thế.
Những người tưởng chừng là tốt, là hay rồi cũng đã “nhúng chàm”. Thế thì còn
biết tin ai, tin vào đâu”.
Không đồng tình với
quan điểm đó, chúng tôi đấu lý rồi kể tên hàng loạt cán bộ cấp cao liêm chính,
giản dị, sống vì dân. Bảo rằng cán bộ tha hóa, biến chất trong xã hội bây giờ
không hiếm, nhưng đó không phải là tất cả. Đó chỉ là những “con sâu làm rầu nồi
canh”. Thuyết phục mãi anh mới chịu hạ giọng, nhưng vẫn chua thêm một câu qua
điện thoại, đại thể: Nói chung, không thể tin được cán bộ bây giờ!
Một câu chuyện khác, khi báo chí đăng tải một bài viết về tấm gương cán bộ dám
nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm ở miền Trung, dù không biết cán bộ đó là
ai, không rõ thực hư thành quả cá nhân đó đạt được như thế nào nhưng nhiều
người đọc ở ngoài Bắc vẫn bình luận bày tỏ sự hoài nghi, thậm chí dị nghị: Lại
“bôi trơn”, tung hô nhau đây. Đúng là “đài nói láo, báo nói thêm”...
Rõ ràng, tâm lý xã hội đang thật sự có vấn đề. Đó không chỉ là tâm lý của những
người dân bình dị mà còn là lối nghĩ của không ít trí thức, người có vị trí xã
hội, kể cả những người có chức trách, nhiệm vụ đi tuyên truyền, giáo dục. Công
bằng mà nói, lâu lắm rồi, báo chí và các phương tiện truyền thông chưa quan tâm
thỏa đáng, đúng tầm mức việc tuyên truyền về người tốt-việc tốt, cán bộ tiêu
biểu, điển hình, mô hình...
Minh chứng là khi thử thao tác tra cứu Google với cụm từ “gương cán bộ cấp
tỉnh, thành phố”... thì kết quả thu được thật khó tin: Gần như chỉ đếm được
trên đầu ngón tay số cán bộ cấp tỉnh, thành phố, cán bộ công chức ở các ban,
bộ, ngành Trung ương, địa phương được báo chí truyền thông viết thành gương
điển hình.
Thực tế cho thấy, không phải không có điển hình, mà chính những người trong
cuộc lại ngại được tuyên truyền, vì tâm lý sợ “lợi bất cập hại”... Mặt khác,
ngay cả cơ quan báo chí cũng chưa dành nhiều thời gian, đầu tư công sức để mở
chuyên trang, chuyên mục ngợi ca, tôn vinh các điển hình, mô hình, cái hay, cái
đẹp một cách hệ thống, thường xuyên, hiệu quả. Cũng bởi thế mà trong dòng chảy
thông tin xã hội, thông tin mạng xã hội lấn át thông tin báo chí chính thống;
thông tin tiêu cực bao trùm lên thông tin tích cực một cách khó kiểm soát.
Kết quả khảo sát tại một số cơ quan báo chí cho thấy, những bài viết về cái
hay, cái đẹp, gương người tốt-việc tốt thời gian qua nhận được rất ít sự quan
tâm của bạn đọc, lượng chia sẻ, tương tác khá khiêm tốn; số lượng bình luận bày
tỏ thái độ tiêu cực, thiếu niềm tin nhiều hơn sự ghi nhận, khen ngợi nhân vật
điển hình.
Thậm chí trong không ít năm, các giải thưởng báo chí ở nhiều cấp, ngành, địa
phương thường ưu tiên giải thưởng cho các tác phẩm đề cập đến nội dung đấu
tranh chống tiêu cực, dám bóc trần những hạn chế, yếu khuyết của đời sống xã
hội. Hơn thế, trên báo chí, mạng xã hội hiện nay, người ta nói nhiều đến sự vô
cảm và dễ dàng bắt gặp những tin tức tội phạm, câu chuyện tiêu cực, hành vi ứng
xử kém văn hóa... Những thứ ấy được đào xới, lan truyền một cách bừa bãi, nhận
sự ủng hộ của cộng đồng mạng theo lối a dua, ăn theo; nhưng lại có quá ít người
sẻ chia, ủng hộ những tấm gương tốt, việc làm thiện, cách sống hay.
2. Ông cha ta đã dạy “... mất niềm tin là mất tất cả”. Những người không tin
tưởng vào chính mình, không có niềm tin vào cuộc sống, nhất là những điều tốt
đẹp sẽ không biết bản thân nên làm gì, hành động thế nào. Từ đó, họ sinh ra tâm
lý chán nản, không muốn làm việc tốt, không có động lực dấn thân, cống hiến. Khi
một cá nhân không có niềm tin sẽ không tin vào phẩm chất, năng lực của chính
mình; không còn khả năng đương đầu với khó khăn, thử thách, dễ dàng buông xuôi.
Tổ chức, cơ quan, địa phương có những cá nhân mất niềm tin thì công việc sẽ
đình trệ, nội bộ mất đoàn kết.
Vì thiếu niềm tin vào người tốt, cái tốt của xã hội nên không ít cá nhân nhìn
nhận xã hội này bằng những gam màu xám xịt. Nhiều người sinh ra bất mãn, tự ti,
cực đoan. Khi đó, họ so sánh xã hội này với xã hội khác, xã hội hiện nay với xã
hội ngày xưa... Điều này tiềm ẩn nguy cơ lớn của việc đòi hỏi thay đổi chế độ,
đòi hỏi dân chủ quá trớn, tự do quá đà. Trong xã hội có những cá nhân mất niềm
tin như vậy như những đốm lửa nhỏ cháy âm ỉ, từng ngày lan truyền tạo thành đám
lửa lớn, sinh ra những xung đột kiểu “đại dịch... thiếu niềm tin”.
Điều đáng nói là các thế lực thù địch, phản động luôn tung ra những luận điệu
xuyên tạc, quy chụp về các hiện tượng tiêu cực, cá nhân sai phạm, từ đó hướng
lái dư luận xã hội mất niềm tin vào đội ngũ cán bộ, đảng viên, vào sự lãnh đạo
của Đảng, đòi thay đổi chế độ.
Trong thời đại của “xã hội ảo”, lợi dụng internet, mạng xã hội, những kẻ hiềm
khích, chống phá dựng nên nhiều “tấm gương tốt” ở bên kia chiến tuyến, dựng nên
cuộc chiến tranh tâm lý, tạo ra sự nghi ngờ bao trùm trong xã hội, thật-giả,
tốt-xấu lẫn lộn khiến người dân hoang mang, mất niềm tin. Tổng Bí thư Nguyễn
Phú Trọng từng khẳng định: “Ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn,
Đảng ta còn. Nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”. Đó
là nguy cơ của mọi nguy cơ, vì mất niềm tin là mất tất cả!
3. Thật ra, người tốt, cái tốt luôn hiện hữu quanh ta. Vấn đề là mỗi người cần
tĩnh tâm nhìn nhận để phát hiện ra điều đó, bởi người tốt thì không bao giờ lộ
thiên, điều tốt thì thiêng liêng, cao quý, rất khó để cảm nhận đủ đầy giá trị
của nó. Những người tốt thường khiêm tốn, không thích khoe khoang thành tích cá
nhân, không thích được vinh danh, xướng tên trên truyền thông, báo chí. Lòng
tốt đôi khi chỉ là những cử chỉ, lời nói động viên rất nhỏ, có khi chỉ thoảng
qua khiến chúng ta khó nhận ra, ví dụ như việc giúp một người già qua đường,
nhường ghế cho một người yếu thế trên xe buýt... Đừng nghĩ rằng việc tốt phải
là những việc to tát, lớn lao.
Ngày nay, trong cuộc sống náo nhiệt với sự đa dạng về văn hóa, ứng xử... chắc
hẳn không ít người từng bắt gặp những con người, hành vi chưa tốt, để rồi chép
miệng “xã hội tốt-xấu lẫn lộn, chẳng thể tin ai”. Cũng không phải tự nhiên mà
người ta nghi ngại như vậy. Bởi đôi khi, sự giả tạo vẫn tồn tại trong cuộc sống
và trong nhiều trường hợp có phần lấn át cái hay, cái đẹp, khiến chúng ta khó
nhận ra cái tốt trước mắt. Đặc biệt, khi người ta đánh giá con người qua “xã
hội ảo” nhiều hơn xã hội thực thì việc kiểm chứng thông tin càng trở nên khó
khăn gấp bội.
Cái đẹp, cái thiện vẫn âm thầm, lặng lẽ tồn tại xung quanh chúng ta. Người tốt
là người biết lo nghĩ cho người khác, sẵn sàng cống hiến cho cộng đồng, quê
hương, đất nước. Tuy nhiên, để phát hiện người tốt-việc tốt, để “cả dân tộc ta
là một rừng hoa đẹp” thì công tác tuyên truyền có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Không ít cơ quan truyền thông, báo chí vẫn xem đó là nhiệm vụ chính trị thường
xuyên, cũng là việc cần kíp để nhân lên niềm tin tốt đẹp trong xã hội. Ví như ở
Báo Quân đội nhân dân, với trách nhiệm vinh danh, nhân lên phẩm chất Bộ đội Cụ
Hồ và những giá trị cao đẹp chân-thiện-mỹ trong đời sống xã hội, liên tục hơn
14 năm qua, tờ báo chiến sĩ đã duy trì hiệu quả Cuộc thi viết “Những tấm gương
bình dị mà cao quý”, phát hiện hàng nghìn tấm gương sáng, học tập và làm theo
tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, để cán bộ, quần chúng soi chiếu, học
tập, làm theo.
Như vậy, để khắc phục, khống chế “đại dịch... thiếu niềm tin” đang lan tràn
rộng khắp thì giải pháp cần kíp và lâu dài vẫn là quan tâm kiếm tìm, tôn vinh,
nhân lên những tấm gương sáng, hành động đẹp trong đời sống xã hội. Phần việc
này đòi hỏi phải có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, mà trước hết cần
phải thay đổi tư duy, quan niệm về sự ghi nhận, đón nhận, tán dương cái hay, cái
tốt, cái đẹp bằng sự lạc quan, tin tưởng tuyệt đối của cả cộng đồng xã hội./.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ cách mạng, nhà văn hóa kiệt
xuất, nhà tư tưởng vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Người đã để lại cho chúng ta
một sự nghiệp chính trị cao cả, một di sản tư tưởng lý luận đồ sộ, vô giá và
trở thành một biểu tượng văn hóa của dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng
định, cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư
tưởng của Đảng và đã kiên trì vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người vào công
cuộc đổi mới, đưa đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch
sử.
Với dã tâm chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch,
phản động không từ thủ đoạn thâm độc nào, điên cuồng xuyên tạc, phủ nhận tư
tưởng Hồ Chí Minh. Dã tâm đó bắt đầu từ sớm, được thực hiện bởi chủ nghĩa thực
dân câu kết với chủ nghĩa chống cộng, âm mưu thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam, hòng dập tắt phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta.
Khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa, thì sự xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động chống Chủ tịch Hồ Chí
Minh ngày càng được gia tăng, gắn liền với những hoạt động nhằm lật đổ chính
quyền cách mạng còn non trẻ và xóa bỏ nền độc lập mà nhân dân ta dưới sự lãnh
đạo của Đảng mới giành được. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và
đế quốc Mỹ, các thế lực thù địch, phản động tập trung xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí
Minh và đường lối của Đảng ta trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam đấu tranh giải
phóng dân tộc, sau đó từ năm 1954 thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là cách
mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền
Nam, thống nhất nước nhà.
Khi cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành biểu
tượng văn hóa, tinh thần của dân tộc, là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho
hành động cách mạng của Đảng, nhất là khi Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới,
trong bối cảnh chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ,
thì các thế lực thù địch, phản động càng điên cuồng tìm mọi cách chống phá với
nhiều thủ đoạn thâm độc, phương thức tinh vi, xảo quyệt hơn. Chúng không từ bất
cứ thủ đoạn nào, từ bóp méo sự thật lịch sử, bôi nhọ nhân cách và phẩm giá, đến
đánh giá phiến diện, sai trái; thậm chí, nguy hiểm hơn, chúng còn ca tụng một
cách cực đoan, hòng tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và
với Đảng Cộng sản Việt Nam…
Tất cả những âm mưu và thủ đoạn thâm độc đó của các thế lực thù
địch, phản động đều nhằm phủ nhận giá trị và cống hiến to lớn từ cuộc đời và sự
nghiệp của Người đối với dân tộc, từ đó phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng,
làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Bác Hồ; mưu đồ gây ra những
bất ổn chính trị, tạo cớ cho sự can thiệp từ bên ngoài để xóa bỏ vai trò lãnh
đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong chiến lược chống
cộng, chiến lược “diễn biến hòa bình”, các nước đế quốc và các thế lực phản
động rắp tâm tìm mọi cách “hạ bệ thần tượng” Hồ Chí Minh, bài bác, phủ nhận tư
tưởng của Người, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta, âm mưu “lật đổ” trên
lĩnh vực tư tưởng, mở đường cho cuộc lật đổ về chính trị.
Phương thức hoạt động chủ yếu hiện nay của các thế lực phản động
quốc tế là tiến hành chiêu dụ, cấp tiền, o bế các tổ chức phản động lưu vong,
lập nhiều quỹ với danh nghĩa “phi chính phủ”, “từ thiện” để thực hiện chiến
lược “diễn biến hòa bình”. Chúng sử dụng nhiều công cụ, phương tiện, hình thức
tuyên truyền từ bên ngoài tác động vào bên trong, nhất là qua các trang thông tin quốc tế có xu hướng cực hữu chính
trị, chống cộng, các phương tiện truyền thông xã hội, các đài phát thanh, kênh
truyền hình… của một số đối tượng phản động, lưu vong, tổ chức phi chính phủ ở
một số nước phương Tây.
Bên cạnh đó, ở trong nước, một số đối tượng cơ hội, bất mãn
chính trị được hậu thuẫn của tổ chức phản động nước ngoài, cũng ráo riết thực
hiện hành vi tuyên truyền xuyên tạc thân thế và sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, bằng nhiều chiêu trò, nhất là sử dụng kỹ thuật, công nghệ chỉnh
sửa, cắt ghép tư liệu lịch sử, tranh ảnh, phim tư liệu… để xuyên tạc, ngụy tạo
những câu chuyện hoang đường, không có thật về Người. Thâm độc hơn, chúng cố
tình “lập lờ đánh lận con đen”, đan cài thật - giả lẫn lộn, hòng làm vấy bẩn,
bóp méo, xuyên tạc bản chất mác-xít, tính cách mạng, khoa học, nhân văn của tư
tưởng Hồ Chí Minh.
V3.
Những điểm cốt lõi trong Quy định 144-QĐ/TW về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới
(TG) - Quy định số 144-QĐ/TW, ngày 9/5/2024 của Bộ Chính trị có tính hệ thống, khái quát, cập nhật và góp phần đồng bộ với các quy định về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên; có tính liên thông với các quy định về những điều đảng viên không được làm, về nêu gương của Đảng. Làm rõ những điểm mới, cốt lõi trong Quy định này có ý nghĩa quan trọng trong nhận thức và hành động, góp phần đưa các chuẩn mực đạo đức cách mạng giai đoạn mới nhanh chóng đi vào cuộc sống
Đại hội XII của Đảng đã tách nội dung Xây dựng Đảng về đạo đức thành một mặt độc lập cùng với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức trong tổng thể công tác Xây dựng Đảng. Tiếp nối tinh thần đó, Đại hội XIII của Đảng xác định đưa công tác cán bộ thành một mặt độc lập hợp thành tổng thể 5 mặt của công tác Xây dựng Đảng là: chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.
Thực tế cho thấy, từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng vấn đề giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thời gian gần đây, các quy định về giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng và thực hiện nêu gương đã được ban hành một cách có hệ thống như: Quy định số 101-QÐ/TW, ngày 7/6/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19/12/2016 của Bộ Chính trị về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên; Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 30/10/2016 của Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” và Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên BCH Trung ương...
Sau Đại hội XIII của Đảng, các quy định mới có liên quan đến nội dung giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng và nêu gương của cán bộ, đảng viên đã được Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung như: Quy định số 37-QĐ/TWngày 25/10/2021về những điều đảng viên không được làm; Quy định số 114-QĐ/TWngày 11/7/2023 về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ; Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”; Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17/11/2022 Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới.
Như vậy, những nội dung về giáo dục đạo đức cách mạng đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên đã được quy định trong hàng loạt các văn bản của Đảng, nhưng để kịp thời cập nhật, bổ sung theo hướng giúp cán bộ, đảng viên dễ đọc, dễ hiểu và dễ thực hiện thì việc Bộ Chính trị ban hành Quy định số 144-QĐ/TWvề chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới (Quy định 144-QĐ/TW) là rất phù hợp và cần thiết.
2. Quy định 144-QĐ/TWcó những nội dung nổi bật đáng chú ý như sau:
Thứ nhất, về sự cần thiết ban hành chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới.
Quy định 144-QĐ/TWchính là sự tiếp nối tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cách mạng và là bước cụ thể hóa nhiệm vụ về xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng mà Đại hội XIII của Đảng đề ra.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính. Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là:
Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường.
Tận trung với nước. Tận hiếu với dân.
Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không”(1).
Đối với đội ngũ đảng viên, Người yêu cầu: “Người đảng viên - dù công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp - ở đâu cũng phải làm gương mẫu cho quần chúng”(2); “Phải giữ vững đạo đức cách mệnh, là chí công vô tư”(3); “Tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo”(4)...
Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn nhấn mạnh nội dung giáo dục, rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên. Các quy định của Đảng về đạo đức cách mạng qua các thời kỳ đã chứng minh cho nội dung này và gần đây, tại Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII, Đảng ta nêu rõ, một trong những phương thức lãnh đạo của Đảng là bằng phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên.
Đại hội XIII của Đảng xác định: “Thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, trước hết là Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương. Đảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan toả, thúc đẩy các phong trào cách mạng. Coi trọng kiểm tra, giám sát trong Đảng kết hợp với phát huy vai trò giám sát của cơ quan dân cử, của Mặt trận Tổ quốc, báo chí và nhân dân đối với cán bộ, đảng viên thực hiện các quy định nêu gương”(5).
Về nhiệm vụ, văn kiện Đại hội XIII nêu rõ: “Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng theo tinh thần “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc. Xây dựng các chuẩn mực đạo đức làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công việc hằng ngày. Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng. Nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện và thực hành đạo đức cách mạng. Tăng cường đấu tranh chống các quan điểm, hành vi phản đạo đức, phi đạo đức. Cổ vũ, biểu dương các gương sáng đạo đức, tạo ảnh hưởng sâu rộng trong Đảng và ngoài xã hội”(6).
Trong cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: So với “tham nhũng” thì “tiêu cực” có nghĩa rộng hơn, do đó, phải xác định phạm vi của tiêu cực mà chúng ta cần tập trung phòng, chống là những hành vi có liên quan đến tham nhũng; đó là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Tham nhũng là một loại hành vi tiêu cực do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện, là loại biểu hiện cụ thể của suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Tham nhũng và tiêu cực, nhất là suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống có mối quan hệ gắn bó mật thiết, chặt chẽ với nhau; nguyên nhân cơ bản, trực tiếp của tham nhũng là do suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; tiêu cực là môi trường làm nảy sinh tham nhũng; tham nhũng tác động trở lại làm trầm trọng hơn tình trạng tiêu cực. Nếu chỉ phòng, chống tham nhũng về tiền bạc, tài sản thôi thì chưa đủ, mà nguy hại hơn là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống (...). Vì vậy, phòng, chống tiêu cực, mà trọng tâm là phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, tức là trị tận gốc của tham nhũng(7).
Thứ hai, về bố cục, kết cấu.
Quy định 144-QĐ/TWkết cấu thành6 điều. Nội dung của Điều 1 đến Điều 5 là sự cụ thể hóa chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới. Điều 6 là quy định về tổ chức thực hiện. Nội dung các chuẩn mực đạo đức cách mạng trong Quy định này có tính cô đọng, khái quát và dễ hiểu.
Nội dung của từng điều về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên lại được cụ thể hóa thành từng khoản gắn với tên gọi của từng chuẩn mực đạo đức đã nêu ở tên từng điều. Chính xác hơn là từ nội dung cụ thể của 5 điều đã được cụ thể hóa thành 19 chuẩn mực đạo đức cách mạng mà mỗi cán bộ, đảng viên cần phải tuân thủ.
Thứ ba, tìm hiểu một số nội dung cụ thể trong Quy định 144-QĐ/TW.
Nội dung cơ bản của Điều 1 - Yêu nước, tôn trọng Nhân dân, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc.
Điều 1 được cụ thể hóa thành 3 khoản tương ứng với các mệnh đề của tên điều như nội dung khoản 1 chính là cụ thể hóa nội dung “yêu nước” có nội hàm là gì. Đó là “1. Suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng cách mạng của Đảng; nêu cao tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với sự nghiệp cách mạng của Đảng; hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân”.
Tương tự như vậy, chuẩn mực tôn trọng nhân dân được cụ thể hóa thành khoản 2 và điểm đáng chú ý chính là: “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại đến dân phải hết sức tránh”. Đây chính là sự kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh, về nội dung này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”(8).
Chuẩn mực “tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc” được cụ thể hóa thành khoản 3 với 2 yêu cầu rất rõ ràng là “Đặt lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích chung của Đảng, Nhà nước và của Nhân dân lên trên hết, trước hết” và “kiên quyết, kiên trì đấu tranh với mọi hành vi gây phương hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích của Đảng, Nhà nước và của Nhân dân”.
Nội dung cơ bản của Điều 2 - Bản lĩnh, đổi mới, sáng tạo, hội nhập.
Điều 2 được thiết kế thành 4 khoản tương ứng với nội hàm của từng chuẩn mực. Tinh thần bao trùm của Điều 2 chính là nội dung về “bản lĩnh”.
Chuẩn mực bản lĩnh được cụ thể hóa thành khoản 1 với 3 yêu cầu là “kiên định” với 4 nội dung về nền tảng tư tưởng, mục tiêu, đường lối đổi mới và các nguyên tắc xây dựng Đảng; “kiên quyết, kiên trì” bảo vệ nền tảng tư tưởng và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch và “thực hiện nghiêm” các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Chuẩn mực “đổi mới” được diễn đạt ở khoản 2 theo tinh thần “độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, ý chí vươn lên, cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần phát triển đất nước, địa phương, cơ quan, đơn vị”.
Khoản 3 cụ thể hóa “sáng tạo” theo tinh thần cán bộ “6 dám” mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu thời gian gần đây: “Dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thách thức, hành động vì lợi ích chung, vì nước, vì dân”. Muốn đổi mới, sáng tạo thì chắc chắn cán bộ, đảng viên rất cần có bản lĩnh.
Khoản 4 cụ thể hóa chuẩn mực về “hội nhập” theo tính thần đề cao tính tích cực, chủ động “hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộngtheo đường lối đối ngoại của Đảng phù hợp với luật pháp quốc tế, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng cộng đồng vì hoà bình, ổn định, tiến bộ và phát triển”.
Nội dung cơ bản của Điều3 - Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
Các nội dung cụ thể của Điều 3 được cụ thể hóa thành 5 khoản rất cụ thể trên tinh thần kế thừa các chuẩn mực về cần, kiệm, liêm, chính mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra và có cập nhật những yêu cầu mới cho phù hợp. Khoản 1 bên cạnh việc lý giải về nội dung “Cần” còn đưa ra mục tiêu là góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Khoản 3 sau khi giải thích về nội dung “Liêm” còn đưa ra yêu cầu về “Chủ động phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ”.
Quy định của khoản 4 về “Chính” có tính cập nhật khi đưa ra chuẩn mực về “Trung thực, thẳng thắn, khách quan, công tâm, tích cực đấu tranh tự phê bình và phê bình, không giấu khuyết điểm, không nói sai sự thật”; còn đưa ra yêu cầu về việc cán bộ, đảng viên phải dũng cảm “thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh”.
Khoản 5 về “chí công vô tư” có nhiều nội dung mới rất đáng chú ý. Bên cạnh việc yêu cầu cán bộ, đảng viên phải tự mình rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hiện việc “giữ gìn phẩm giá của người cán bộ, đảng viên, không để tác động lôi kéo, cám dỗ tiêu cực”, “Thực hiện văn hoá từ chức khi không đủ khả năng, uy tín” thì còn yêu cầu trách nhiệm về nêu gương và vận động gia đình, người thân và người khác thực hành đạo đức cách mạng: “Không để gia đình, người thân và người khác lợi dụng chức vụ, vị trí công tác để trục lợi; bảo vệ uy tín, danh dự của bản thân và tổ chức đảng”.
Nội dung cơ bản của Điều 4 - Đoàn kết, kỷ cương, tình thương, trách nhiệm.
Quy định của Điều 4 dành khoản 1 nói về đoàn kết với hai nội dung chính là “Luônluôn giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, cơ quan, tổ chức và trong Nhân dân, trước hết là ở chi bộ, cơ quan, đơn vị công tác, khu dân cư” và yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải “kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện chia rẽ, bè phái, cục bộ, lợi ích nhóm; xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện”.
Khoản 2 đề cập về nội dung “kỷ cương” với yêu cầu về việc thực hành “nói đi đôi với làm”, tuân thủ các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Điều cần lưu ý là nội dung về “kỷ cương” yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên cần phải giữa nghiêm kỷ luật phát ngôn cũng như “phục tùng sự phân công của Đảng, của tổ chức” vì những nội dung này đang có biểu hiện vi phạm khá nhiều thời gian gần đây.
Khoản 3 thể hiện tính nhân văn và đạo lý truyền thống của dân tộc Việt Nam: “Sống có nghĩa tình, chân thành, thương yêu, đối xử, giúp đỡ đồng chí, đồng nghiệp và mọi người theo lẽ phải, phù hợp với đạo lý dân tộc, cùng nhau tiến bộ”.
Khoản 4 về chuẩn mực “trách nhiệm” đã làm rõ các yêu cầu về trách nhiệm công tác và sinh hoạt; sẵn sàng đảm nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đồng thời yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải “Kiên quyết đấu tranh, phê phán mọi hành vi né tránh, đùn đẩy, hoặc có tư tưởng trung bình chủ nghĩa, làm việc cầm chừng, sợ trách nhiệm, không dám làm”.
Thời gian vừa qua, tình trạng sợ trách nhiệm, không dám hành động vì lợi ích chung trong một bộ phận cán bộ, công chức là rất đáng lo ngại, gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức về trách nhiệm đối với nhiệm vụ được giao. Chính vì vậy, Quy định 144-QĐ/TW nhấn mạnh nội dung “trách nhiệm” là rất cần thiết và góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng sợ trách nhiệm trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay.
Về nguyên nhân của bệnh sợ trách nhiệm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Có lợi cho tôi thì tôi tích cực; không có lợi cho tôi thì tôi tiêu cực. Tôi muốn có địa vị cao, nhưng lại sợ trách nhiệm”. Người yêu cầu: “...quyết không vì lợi riêng mà hại đến lợi chung. Mọi việc đều để lợi ích của Đảng và của nhân dân lên trên hết”(9).
Nội dung cơ bản của Điều 5 - Gương mẫu, khiêm tốn, tu dưỡngrèn luyện, học tập suốt đời.
Quy định 144-QĐ/TW dành khoản 1 và 2 để cụ thể hóa chuẩn mực “gương mẫu” vì mỗi cán bộ, đảng viên cần phải gương mẫu tiên phong về lý luận và tiên phong về hành động thực tiễn. Trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (tháng 2/1848), C.Mác và Ph.Ănghen đã khẳng định: “về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên; về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản”(10).
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(11). Chính vì vậy, hoàn thiện các quy định của Đảng Cộng sản Việt Nam và phát huy phương thức lãnh đạo bằng sự nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên hơn lúc nào hết cần được mỗi cán bộ, đảng viên hiểu đúng và thực hiện có hiệu quả trong thực tế: “Cán bộ, đảng viên chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, cấp trên gương mẫu trước cấp dưới, cấp uỷ gương mẫu trước đảng viên, đảng viên gương mẫu trước quần chúng”.
Nội dung gương mẫu của cán bộ, đảng viên không chỉ dừng lại ở việc tự giác học tập, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của bản thân mà còn “Tích cực vận động, thuyết phục gia đình, người thân chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”.
Bên cạnh chuẩn mực cụ thể về gương mẫu, Quy định 144-QĐ/TW còn cụ thể hóa chuẩn mực “khiêm tốn”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở: “Người cách mạng mẫu mực phải khiêm tốn, khoan hoà, lượng thứ, can đảm khi sa cơ, bình tĩnh khi thắng thế, không bao giờ được quên rằng cuộc đời mình và sự nghiệp của mình thuộc về toàn nhân loại chứ không thuộc về mình”(12).
Gương mẫu cùng với khiêm tốn chính là yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên cần phải “không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao phẩm chất, đạo đức, trình độ, năng lực công tác. Nói đi đôi với làm, làm đi đôi với nói, đã nói là làm”.
Nội dung của khoản 3 chính là sự tiếp nối tinh thần của Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17/11/2022 Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới: “Mọi đảng viên phải gương mẫu, nói đi đôi với làm, thực hiện nghiêm Điều lệ Đảng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, phục tùng tuyệt đối sự phân công của Đảng; giữ mối liên hệ mật thiết với Nhân dân; học tập, rèn luyện, nâng cao năng lực, phẩm chất, lối sống; giữ gìn đoàn kết, thống nhất trong Đảng”.
Điều 6 bên cạnh nội dung về tổ chức thực hiện, trách nhiệm của các cấp, các ngành các cơ quan đơn vị, đã yêu cầu “Cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần gương mẫu, thực hiện nghiêm Quy định này”.
Lời nói phải đi đôi với việc làm; luôn nhất quán giữa lời nói và hành động, phát ngôn đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hiểu rõ và thực hiện nghiêm các chuẩn mực về đạo đức cách mạng chính là thể hiện rõ niềm tin vào sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng hướng tới mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng “cường thịnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc”, “vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu ra trong bài viết kỷ niệm 94 năm thành lập Đảng.
Quy định số 144-QĐ/TW đã đáp ứng yêu cầu từ thực tiễn đối với việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị hiện nay; góp phần loại bỏ những vướng mắc, bất cập nảy sinh từ thực tế nhưng chưa có quy định để điều chỉnh; thiết thực đưa chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới vào cuộc sống. Đặc biệt, Quy định 144-QĐ/TW còn là tiêu chuẩn, thước đo, góp phần nâng cao hiệu quả công tác nhận xét, đánh giá, xếp loại cán bộ, đảng viên; là cơ sở để cấp ủy đảng các cấp xem xét, đánh giá, lựa chọn cán bộ, đảng viên đưa vào quy hoạch, giới thiệu bầu cấp ủy khóa mới; là tiền đề quan trọng trong việc chuẩn bị nhân sự cho Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng./.
PGS. TS. LÊ VĂN CƯỜNG Viện Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh