Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2024

Sư đoàn 355 (Quân khu 2): Thi đua thực hiện tốt các khâu đột phá, tạo động lực mạnh mẽ xây dựng đơn vị

 

Những năm qua, công tác thi đua, khen thưởng (TĐKT) và Phong trào Thi đua Quyết thắng (TĐQT) của Sư đoàn 355 được triển khai trong điều kiện đơn vị có sự thay đổi về tổ chức biên chế, yêu cầu nhiệm vụ đòi hỏi ngày càng cao. Với chủ trương, biện pháp tổ chức thi đua phù hợp, khoa học, Phong trào TĐQT của Sư đoàn đã có bước phát triển cả bề rộng và chiều sâu, đạt nhiều kết quả đáng khích lệ.

Nhiệm vụ chính trị trung tâm của Sư đoàn 355 là sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ), quản lý nguồn và động viên huấn luyện lực lượng quân nhân dự bị; địa bàn hoạt động rộng, phân tán, điều kiện kinh tế-xã hội của các địa phương giao nguồn còn nhiều khó khăn. Để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ được giao, công tác TĐKT và Phong trào TĐQT của Sư đoàn tập trung cụ thể hóa, triển khai kịp thời, hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của trên vào tình hình thực tế nhiệm vụ đơn vị và các địa phương.

Sư đoàn 355 (Quân khu 2): Thi đua thực hiện tốt các khâu đột phá, tạo động lực mạnh mẽ xây dựng đơn vị

Cán bộ, chiến sĩ dự bị động viên Sư đoàn 355 (Quân khu 2) huấn luyện chiến thuật. Ảnh: HỒNG SÁNG 

Theo đó, Đảng ủy, chỉ huy Sư đoàn chú trọng đẩy mạnh thi đua “Nâng cao năng lực, trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì các cấp” trong học tập, công tác, cống hiến, không ngại khó, ngại khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Nhất là tập trung giáo dục, quán triệt cho đội ngũ cán bộ, chiến sĩ thường trực cũng như quân nhân dự bị nâng cao trách nhiệm với nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ, kịp thời xử lý hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ.

Nhận thức rõ tác dụng to lớn của việc xây dựng và nhân rộng điển hình tiên tiến, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong Sư đoàn đã quán triệt sâu sắc và thực hiện hiệu quả nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn về xây dựng, nhân rộng điển hình tiên tiến trong Quân đội, xác định các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai kế hoạch xây dựng, nhân rộng điển hình tiên tiến ở các cấp. Sư đoàn lựa chọn những tập thể có thành tích cao, cá nhân có phẩm chất, năng lực, triển vọng phát triển tốt; đồng thời, lựa chọn những tập thể, cá nhân hoàn thành nhiệm vụ chưa cao thông qua bồi dưỡng, xây dựng trở thành điển hình tiên tiến toàn diện hoặc trên từng mặt công tác.

Đặc biệt, quá trình triển khai thực hiện công tác TĐKT và Phong trào TĐQT, Đảng ủy, chỉ huy Sư đoàn nhận thấy, bên cạnh những mặt làm được, có thời điểm phong trào thi đua ở Sư đoàn diễn ra chưa thực sự sôi nổi, kết quả trong học tập, rèn luyện và công tác của cán bộ, chiến sĩ chưa cao. Trên cơ sở chỉ đạo của Đảng ủy, Hội đồng thi đua Sư đoàn xác định tập trung thực hiện tốt Nghị quyết chuyên đề của Đảng ủy Sư đoàn về khắc phục các khâu yếu, mặt yếu tồn tại kéo dài, trong đó thi đua thực hiện tốt: “Một tập trung, hai khâu đột phá”. Một tập trung là tập trung cho đơn vị cơ sở, trước hết là các đơn vị cơ sở đủ quân. Hai khâu đột phá là đột phá vào rèn luyện kỷ luật, xây dựng nền nếp chính quy và đẩy mạnh cải cách hành chính quân sự.

Cùng với đó, các phong trào thi đua nâng cao huấn luyện được các cơ quan, đơn vị trong Sư đoàn triển khai sâu rộng, bám sát phương châm huấn luyện: “Cơ bản, thiết thực, vững chắc” đối với khung A; “Thiết thực, từng bước vững chắc” đối với khung B, coi trọng huấn luyện đồng bộ, chuyên sâu, huấn luyện thể lực, huấn luyện đêm, cơ động theo tình huống chiến đấu. Từ năm 2019 đến nay, 100% cán bộ trong Sư đoàn huấn luyện được theo phân cấp; trong đó 100% cán bộ tiểu đoàn, 80% cán bộ đại đội, trung đội huấn luyện khá, giỏi... Hằng năm, đơn vị bảo đảm kết quả xếp nguồn vào đơn vị đạt 99%; phương tiện kỹ thuật đạt 100%; kết quả huấn luyện các nội dung 100% đạt yêu cầu, có 84,5% khá, giỏi (tăng 4,5% so với giai đoạn 2013-2018). 5 năm qua, Sư đoàn tổ chức và tham gia 6 cuộc diễn tập các cấp hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, giỏi về kỹ thuật, khá về chiến thuật, an toàn tuyệt đối; tổ chức và tham gia hội thi, hội thao các cấp đạt thành tích cao.

Sư đoàn 355 (Quân khu 2): Thi đua thực hiện tốt các khâu đột phá, tạo động lực mạnh mẽ xây dựng đơn vị

Cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 355 (Quân khu 2) hành quân ra thao trường. Ảnh: HỒNG SÁNG 

Bên cạnh hoàn thành tốt nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ, Đảng ủy, chỉ huy Sư đoàn 355 thường xuyên phối hợp với cấp ủy, chính quyền, nhân dân, LLVT các tỉnh: Yên Bái, Điện Biên tổ chức hàng nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ giúp nhân dân xây dựng nông thôn mới; khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, cứu hộ, cứu nạn, cứu sập, được cấp ủy, chính quyền địa phương đánh giá cao. Với những thành tích đạt được, năm 2019, Sư đoàn 355 được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen; các năm 2019, 2021 được Bộ Quốc phòng tặng Cờ thi đua; các năm 2020, 2022 được Bộ tư lệnh Quân khu tặng Cờ thi đua; năm 2023, Trung đoàn 82 (Sư đoàn 355) được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba.

Trong thời gian tới, Đảng ủy, chỉ huy Sư đoàn 355 sẽ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo Phong trào TĐQT hướng vào tiếp tục thực hiện tốt đột phá nâng cao chất lượng xây dựng nền nếp chính quy, chấp hành pháp luật, kỷ luật. Tăng cường quản lý tư tưởng và các mối quan hệ của quân nhân; hạn chế thấp nhất vi phạm kỷ luật thông thường. Sư đoàn thực hiện tốt quy định nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp; động viên, khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân hoàn thành tốt và xuất sắc nhiệm vụ, nhất là các đơn vị làm nhiệm vụ trực SSCĐ, diễn tập, nhiệm vụ đột xuất cấp trên giao; làm cho công tác TĐKT và Phong trào TĐQT thực sự trở thành động lực cổ vũ cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn đoàn kết, đồng thuận vươn lên hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Tập huấn nghiệp vụ công tác lịch sử quân sự toàn quân năm 2024

 

Ngày 8-7, tại TP Hồ Chí Minh, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam tổ chức khai mạc lớp tập huấn nghiệp vụ công tác lịch sử quân sự toàn quân năm 2024.

Thiếu tướng Nguyễn Hoàng Nhiên, Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, Phó chủ tịch Thường trực Hội đồng Khoa học Quân sự Bộ Quốc phòng, Trưởng Ban chỉ đạo lớp tập huấn dự và phát biểu chỉ đạo khai mạc. Dự khai mạc còn có Thiếu tướng Đặng Văn Hùng, Phó tư lệnh Tham mưu trưởng Quân khu 7.

Tham gia lớp tập huấn có 133 đồng chí là cán bộ, nhân viên làm công tác lịch sử quân sự của các cơ quan, đơn vị trong toàn quân. Trong 5 ngày, học viên được bồi dưỡng các chuyên đề: Những vấn đề chung về khoa học lịch sử quân sự; phương pháp nghiên cứu, xây dựng, biên soạn từ điển quân sự; phương pháp lịch sử và phương pháp logic trong nghiên cứu lịch sử quân sự; một số kinh nghiệm trong nghiên cứu, biên soạn công trình lịch sử quân sự ở địa bàn Quân khu 7; phương pháp nghiên cứu biên soạn công trình biên niên sử quân sự; quy trình nghiên cứu và hình thức thể hiện một công trình quân sự...

Tập huấn nghiệp vụ công tác lịch sử quân sự toàn quân năm 2024
Thiếu tướng Nguyễn Hoàng Nhiên, Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự phát biểu khai mạc lớp tập huấn.
Tập huấn nghiệp vụ công tác lịch sử quân sự toàn quân năm 2024
Các đại biểu dự khai mạc lớp tập huấn. 

Phát biểu khai mạc, Thiếu tướng Nguyễn Hoàng Nhiên nhấn mạnh, các nội dung tập huấn lần này là những nội dung cơ bản, cấp thiết trong thực hiện công tác lịch sử quân sự hiện nay. Vì vậy trong tập huấn, các đồng chí trong Ban tổ chức, giảng viên, báo cáo viên phải duy trì lớp tập huấn nghiêm túc, chặt chẽ, chuẩn bị chu đáo nội dung, vật chất; kết hợp tốt giới thiệu kiến thức cơ bản gắn với giao lưu, trao đổi, chia sẻ những câu chuyện, kinh nghiệm, kịp thời giải quyết ngay các vướng mắc của học viên.

Lớp tập huấn cũng tổ chức 2 buổi học tập dã ngoại tại ba địa danh lịch sử có ý nghĩa thiết thực, sâu sắc và quan trọng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh để các học viên trao đổi, học tập kinh nghiệm từ thực tiễn. Quá trình tập huấn, các đồng chí học viên cần tích cực học tập, thảo luận, nắm chắc nội dung, chấp hành nghiêm kỷ luật, vận dụng tốt kiến thức vào thực tiễn.

Hiệu quả hội nhập quốc tế hiện diện trên mọi mặt đời sống xã hội

 



Sau hơn 30 năm thực hiện “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, từ nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn, Đảng ta đã xác nhận nhiều mối quan hệ đan xen nhau rất phức tạp đòi hỏi phải xử lý đúng đắn, hiệu quả, trong đó có mối quan hệ “giữa độc lập tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế”.

Trong Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, Đảng ta đã chỉ rõ mục tiêu của hội nhập quốc tế là: “Củng cố môi trường hòa bình, tranh thủ tối đa các điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển đất nước nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quảng bá hình ảnh Việt Nam, bảo toàn và phát huy bản sắc dân tộc, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước; góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”.

Quan điểm và chủ trương của Đảng nêu bật việc chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sẽ tạo ra cơ hội, tiền đề để giữ độc lập, tự chủ trên mọi mặt đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, văn hóa, đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Quán triệt và xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế trong công tác đối ngoại, những năm qua, chúng ta đã thu được những thành quả khả quan.

Trong lĩnh vực chính trị. Chúng ta đã đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập vào thực chất: Chủ động tham gia phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN và Liên hợp quốc. Hội nhập quốc tế về chính trị được thực hiện tương đối nhanh, sâu rộng và thực chất cả trong kênh song phương và đa phương. Hội nhập song phương tạo tiền đề để Việt Nam phát huy vai trò trên diễn đàn đa phương, qua đó tạo thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng hơn.

Hội nhập khu vực và hội nhập toàn cầu đã góp phần cải thiện đáng kể tiềm lực trong nước, nâng cao vị thế địa chiến lược của Việt Nam tại khu vực Đông Nam Á, Đông Á, châu Á-Thái Bình Dương và trên phạm vi toàn cầu. Từ một quốc gia hội nhập sau, Việt Nam đã trở thành nhân tố tích cực tham gia tiến trình hội nhập khu vực, chủ động đề xuất những sáng kiến, thúc đẩy các liên kết. Việt Nam cũng tích cực hội nhập sâu rộng vào trật tự kinh tế, chính trị toàn cầu, trở thành thành viên có trách nhiệm và uy tín trên cộng đồng quốc tế.

Trong lĩnh vực kinh tế. Chúng ta đã xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư quốc tế, mở rộng thị trường, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực về vốn, khoa học-công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến; khai thác hiệu quả các thỏa thuận được ký kết, đặc biệt là các khu vực mậu dịch tự do song phương và đa phương.

Theo Tổng cục Thống kê, tính đến năm 2022, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt 732,5 tỷ USD, xuất siêu 11,2 tỷ USD. Đầu tư vào Việt Nam đã đăng ký hơn 400 tỷ USD, năm 2022 đạt 22,4 tỷ USD, tăng 13,5% so với năm trước. Việt Nam được xếp vào nhóm 15 quốc gia thu hút FDI hàng đầu thế giới. Hiện nay cộng đồng tài trợ quốc tế hoạt động thường xuyên ở nước ta đã lên tới hơn 50 nhà tài trợ, bao gồm 28 nhà tài trợ song phương và hơn 20 nhà tài trợ đa phương.

Ngoài ra, nước ta còn nhận được vốn ODA từ hơn 600 tổ chức phi chính phủ quốc tế. Thành công của hội nhập kinh tế quốc tế góp phần tăng cường nguồn lực, tạo điều kiện vật chất-kỹ thuật thuận lợi cho việc bảo vệ độc lập, tự chủ của đất nước, tạo nền tảng để hội nhập về chính trị và hội nhập các lĩnh vực khác. Kinh tế đất nước phát triển, sức mạnh tổng hợp của đất nước tăng lên là nhân tố quan trọng để giữ vững độc lập, tự chủ của đất nước.

Trong lĩnh vực văn hóa-xã hội. Đến nay, Việt Nam đã ký hơn 100 thỏa thuận, điều ước quốc tế song phương có nội dung văn hóa. Hội nhập văn hóa xã hội đi vào chiều sâu đã thu hút bạn bè quốc tế đến với Việt Nam ngày càng nhiều hơn.

Từ thành công của hội nhập trong lĩnh vực này đưa tới việc hình thành nhiều dự án, nhiều công trình văn hóa ngay tại Việt Nam với quy mô ngày càng được mở rộng, tạo điều kiện để nhân dân ta có cơ hội tiếp cận và thưởng thức những giá trị văn hóa tiêu biểu của nhiều quốc gia trên thế giới, từ đó thúc đẩy tiềm năng sáng tạo của nhân dân và khuyến khích giao lưu với cộng đồng quốc tế. Nguồn lực và động lực về văn hóa-xã hội được tăng cường sẽ là yếu tố quan trọng để chúng ta giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, để ánh sáng văn hóa Việt Nam là ngôi sao lấp lánh trên bầu trời văn hóa các dân tộc trên thế giới.

Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Hội nhập trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh là một trong những nhiệm vụ quan trọng để phục vụ và hỗ trợ cho chính sách chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện của Đảng và Nhà nước ta, vừa phục vụ cho sự nghiệp phát triển của đất nước, vừa bảo vệ độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia trong bối cảnh môi trường quốc phòng, an ninh trên thế giới và khu vực có những diễn biến phức tạp. Việt Nam đã từng bước mở rộng hợp tác quốc phòng, an ninh với các nước lớn và các nước trong khu vực, đã có quan hệ quốc phòng chính thức với gần 70 nước, đặt văn phòng tùy viên quân sự tại hơn 30 nước và có hơn 40 nước có văn phòng tùy viên quân sự tại Việt Nam. Việt Nam cũng đã tham gia tích cực vào các diễn đàn an ninh, quốc phòng khu vực và từng bước tham gia vào những hoạt động hợp tác quốc tế về an ninh, quân sự toàn cầu.

V3.

Hiểu đúng bản chất quyền lực tối thượng ở Việt Nam là phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc

 


Gần 80 năm qua, kể từ ngày lập quốc theo chế độ mới đến nay, việc thực thi quyền lực nhà nước của chúng ta ngày càng đúng đắn, tốt đẹp hơn, vì sự tối thượng là phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc. Do đó, nếu “nhà dân chủ” nào không hiểu bản chất vấn đề, cố ý đánh đồng giữa hiện tượng và bản chất, đánh tráo khái niệm giữa sự tha hóa quyền lực của một bộ phận cán bộ với mục tiêu, bản chất thực thi quyền lực tối cao thuộc về nhân dân của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, là điều đáng phải phê phán.

1. Lâu nay, chúng ta đã cởi mở hơn, tin cậy hơn trong những thảo luận nhiều vấn đề về đời sống xã hội. Xã hội chúng ta ngày càng công bằng, dân chủ, văn minh hơn, trước hết do chúng ta đã biết tự cân bằng các khu vực quyền lực, ứng xử đúng mực với mọi giai tầng xã hội. Điều này không phải bây giờ mới diễn ra mà đã có từ thượng cổ. Đó chính là nền tảng văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng phong phú, sâu sắc, toàn diện và luôn được các thế hệ người Việt Nam vun trồng, bồi đắp.

Đại đức Thích Đồng Đạo, trụ trì chùa Phương Lan, xã Nam Phương Tiến (huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội) có nói đại ý rằng, để có những trang văn hay và chính xác hơn nữa đối với văn học sử của Việt Nam thì các nhà văn nên nghiên cứu thêm về lịch sử Phật giáo Việt Nam. Vì sử nước nhà có những giai đoạn song hành với sử Phật giáo. Nhiều vị quân vương nước ta lên ngôi dùng quyền lực trị vì thiên hạ đều có mối liên hệ mật thiết với Phật giáo qua các thiền sư. Khi vương triều nào đó mất đi thì các thiền sư vừa đảm nhiệm vai trò giữ đạo, vừa giữ nguồn tri thức cho dân tộc nên phần lớn các vị quân vương đều nhờ sự giáo dưỡng rất lớn của các thiền sư, mà điển hình nhất là Lý Bí, Lý Công Uẩn... Khi chúng ta nghiên cứu thêm về lịch sử Phật giáo sẽ giúp nhà văn dùng từ ngữ và các di tích liên quan đến Phật giáo và lịch sử dân tộc đúng đắn, hay hơn nhiều.

Tư duy trên của vị Đại đức phần nào nói lên rằng, nền Phật giáo Việt Nam chính là một bộ phận cấu thành nền văn hóa Việt Nam, góp phần vào sự trưởng thành đi tới văn minh của con người Việt Nam hiện đại. Đây cũng là một trong những nền tảng căn bản hình thành nên cốt cách dân tộc Việt Nam.

2. Quay lại vấn đề quyền lực. Thực ra, trong bất kỳ thể chế chính trị nào đều là câu chuyện hành xử quyền lực như thế nào để ích nước, lợi dân. Quyền lực của thể chế chính trị triều Lý, triều Trần, triều Lê đều tập trung nơi các vị vua, nơi triều đình. Thế thì tại sao, cũng là quyền lực đó ở các vị vua khai quốc, các vị minh quân, các đại thần tài đức thì nhân dân và Tổ quốc được ấm no, hạnh phúc, đất nước được bình yên, cường thịnh; nhưng với khung khổ quyền lực ấy rơi vào tay các hôn quân, gian thần đều khiến chính thể rối ren, nhân dân đói khổ, mất tự do, thậm chí mất nước, mất vương triều?

Như thế, quyền lực và thực thi quyền lực của một chế độ chính trị phải trở thành thái độ văn hóa sâu rễ bền gốc chứ không phải sự thỏa thích thực thi tất cả quyền hành để thỏa mãn chế độ chính trị đó. Nền tảng của quyền lực không thể bất định, cứng nhắc, chỉ khư khư dựa vào nguyên tắc giáo điều, mà quyền lực thời nay thể hiện tốt nhất vai trò của mình là thực thi quyền lực dựa trên nền tảng thượng tôn hiến pháp, pháp luật gắn với giá trị truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc.

3. Thời gian gần đây, một số “nhà dân chủ” trong nước và ngoài nước cho rằng, bộ máy chính trị ở Việt Nam đã lộng quyền, tham nhũng tràn lan, từ đó làm mất vai trò quyền làm chủ của nhân dân. Thực tế đó chỉ sự đánh tráo khái niệm, đánh đồng giữa hiện tượng và bản chất nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Với chế độ của chúng ta, từ khi đặt nền móng độc lập (1945) đến nay, Hiến pháp và luật pháp của Việt Nam luôn hướng tới những điều tốt đẹp, quyền lực tối thượng luôn để phục vụ nhân dân và Tổ quốc. Điều này là bất di bất dịch. Gần 80 năm qua, chúng ta đã hết sức kiên định, đem tất cả của cải và vật chất, trí tuệ và niềm tin, nhất quán với con đường đã chọn, nhưng cũng biết cách linh hoạt để bảo vệ quyền lợi cao nhất của nhân dân, của quốc gia, dân tộc.

Để giữ gìn sự liêm chính của chính thể, sự trong sạch của bộ máy công quyền, những năm qua, chúng ta đã đẩy mạnh công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, kiên quyết "nhốt" quyền lực trong lồng cơ chế. Về vấn đề này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu trong Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2013-2020, đã nhận định: "Thể chế nói chung, thể chế về phòng, chống tham nhũng nói riêng cùng với chuẩn mực đạo đức trên các lĩnh vực và cơ chế kiểm soát quyền lực là yếu tố cơ bản, nền tảng, có tác dụng ngăn chặn từ gốc hành vi tham nhũng. Phải xây dựng các quy chế nội bộ của Đảng, các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức áp dụng đối với cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong việc giữ gìn phẩm chất đạo đức, liêm chính, gương mẫu đi đầu trong phòng, chống tham nhũng... Khẩn trương hoàn thiện các quy định về kiểm soát quyền lực, trách nhiệm giải trình bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch".

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng cho rằng, tham nhũng là "khuyết tật bẩm sinh" của quyền lực, là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ ta. Thời đại nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có, không thể xóa tận gốc tham nhũng trong một thời gian ngắn. Do vậy, trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng không được chủ quan, nóng vội, thỏa mãn; không được né tránh, cầm chừng, không "ngừng" , không "nghỉ"; vừa phải kiên quyết phát hiện, xử lý tham nhũng, vừa phải kiên trì giáo dục, quản lý, ngăn ngừa không để xảy ra tham nhũng; đồng thời phải luôn cảnh giác, đấu tranh với những âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để kích động, chia rẽ, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

4. Trong xu thế thời cuộc và thời đại hôm nay, thế giới chuyển động không ngừng với nhiều điểm nóng phức tạp, việc thực hành và kiểm soát quyền lực một cách bền vững để phục vụ lợi ích của nhân dân và Tổ quốc phải được đặt ra một cách có hệ thống trên nền tảng văn hóa Việt Nam. Bác Hồ từng huấn thị: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”. Đó chính là phương lược lâu dài của chính thể chúng ta trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Xã hội Việt Nam đang phát triển nhanh, khá toàn diện chính vì đã khơi dậy được nhiều nguồn lực và có cơ chế đúng đắn kiểm soát tốt các khu vực quyền lực. Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa diễn ra nhanh, toàn diện đã và đang đặt ra không ít thách thức về quyền lực và thực hành quyền lực, kiểm soát chặt chẽ quyền lực. Một bộ phận cán bộ, trong đó có những cán bộ cấp cao đã tha hóa biến chất, bị quyền lực, vật chất cám dỗ làm hư hỏng bản thân đến mức phải bị kỷ luật, thậm chí bị xử lý hình sự. Đây là bài học đau xót về sự thiếu giám sát, kiểm soát dẫn đến tha hóa quyền lực.

Xã hội ta đang trưởng thành về mọi mặt. Trong bước đường trưởng thành sẽ phải đối mặt và vượt qua nhiều thách thức, trở ngại, mà thách thức và trở ngại lớn nhất chính là quá trình thực thi quyền lực trong cơ chế chính trị một Đảng cầm quyền duy nhất ở nước ta. Điều này đã được Đảng, Nhà nước ta nhận thức sâu sắc, rõ ràng và đang nỗ lực thực hiện bằng nhiều giải pháp đồng bộ để bảo đảm cho đất nước ta phát triển lành mạnh, ổn định, bền vững, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc. Ví như mới đây, Bộ Chính trị khóa XIII đã ban hành Quy định số 114-QĐ/TW về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ. Quy định số 205-QĐ/TW do Bộ Chính trị khóa XII ban hành năm 2019 chỉ nói đến kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền. Còn Quy định số 114 đã đề cập đến việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ với phạm vi rộng hơn. Bên cạnh đó, các cơ chế, giải pháp cũng được quy định cụ thể hơn, chặt chẽ hơn. Điều này cho thấy, Đảng ta không ngừng hoàn thiện các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh với các biểu hiện tham nhũng, tha hóa quyền lực, nhằm bảo đảm mục tiêu ở đâu có quyền lực thì ở đó phải được kiểm soát chặt chẽ.

Phải khẳng định rằng, gần 80 năm qua, kể từ ngày lập quốc theo chế độ mới đến nay, việc thực thi quyền lực nhà nước của chúng ta ngày càng đúng đắn, tốt đẹp hơn, vì sự tối thượng của nó chính là phục vụ nhân dân và phụng sự Tổ quốc. Do đó, nếu “nhà dân chủ” nào không hiểu bản chất vấn đề, cố ý đánh đồng giữa hiện tượng và bản chất, đánh tráo khái niệm giữa sự tha hóa quyền lực của một bộ phận cán bộ với mục tiêu, bản chất thực thi quyền lực tối cao thuộc về nhân dân của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, là điều đáng phải phê phán./.

          V3.

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG QUÂN ĐỘI

 


Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội hiện đang là yêu cầu cấp thiết đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng hiện nay, giúp cho Quân đội thực sự là lực lượng chính trị trung thành, tin cậy; lực lượng tiên phong, đi đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, bảo vệ thành quả cách mạng của dân tộc.

Để tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội, cần tập trung vào những giải pháp chủ yêu sau:

Một là, phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chỉ huy các cấp, nhất là cơ quan chính trị đối với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

Cấp ủy, chỉ huy các cấp trong Quân đội cần xác định rõ nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng của toàn Đảng, toàn quân, trực tiếp và chủ yếu nhất là của cấp ủy đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp. Do đó, bí thư cấp ủy, người chỉ huy các cấp, trên cơ sở Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” và Ban Chỉ đạo 35 của Quân ủy Trung ương, hướng dẫn của cơ quan chức năng thuộc Tổng cục Chính trị; từ đó đề xuất các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo việc bảo vệ nền tảng tư tưởng trong Quân đội sát, đúng, hiệu quả, thiết thực. Tổng Bí thư đã chỉ rõ: “Quân ủy Trung ương, lãnh đạo Bộ Quốc phòng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, làm tốt công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, quán triệt nhiệm vụ cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội”(2). Ngoài ra, cần quan tâm, chăm lo xây dựng hệ thống tổ chức Đảng trong Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, có sức chiến đấu cao, đủ sức lãnh đạo cơ quan, đơn vị trong toàn quân hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị; Kết luận số 01 của Bộ Chính trị về tiếp đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 05 về “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Nghị quyết 847-NQ/QUTW, ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới. Quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 05 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 230-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021-2030.

Hai là, tập trung xây dựng các tổ chức đảng, tổ chức quần chúng, tập thể quân nhân, cán bộ nhất là cán bộ chủ chốt các cấp trong Quân đội trong sạch, vững mạnh ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ, làm cơ sở, tiền đề cho việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng trong Quân đội là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, mang tính chiến lược lâu dài của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, là công việc thường xuyên, tự giác và trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp.  Do đó, cần tiếp tục xây dựng các tổ chức đảng trong Quân đội các cấp trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức  và cán bộ, trực tiếp góp phần giữ vững sự thống nhất, đoàn kết, nhất trí trong các tổ chức đảng, sự đồng thuận của cán bộ, chiến sĩ trong cơ quan, đơn vị. Từ đó, ngăn chặn và đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đồng thời, cần làm tốt vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, tham mưu, hướng dẫn công tác đảng, công tác chính trị để nâng cao khả năng “miễn dịch” cho cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Quan tâm và tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, văn nghệ để nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ, khắc phục những biểu hiện tiêu cực, lệch lạc, góp phần giữ vững bản chất tốt đẹp của “Bộ đội cụ Hồ” trong tình hình mới.

Ba là, tập trung đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong Quân đội hiện nay để gia tăng năng lực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cho cán bộ, chiến sĩ.

Cần tập trung đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong Quân đội hiện nay giữ vị trí, vai trò quan trọng, giúp cho mọi quân nhân nhận thức sâu sắc những giá trị cốt lõi tạo nên nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Từ đó, xây dựng và củng cố vững chắc lòng tin, lý tưởng vào những giá trị bền vững và tạo cơ sở khoa học cho việc tự nguyện, tự giác phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, trung thành tuyệt đối với nhân dân, với Tổ quốc. Do đó, phải tích cực đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ở các cấp, nhất là các học viện, nhà trường phù hợp với từng đối tượng quân nhân.

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong Quân đội luôn giữ vị trí, ý nghĩa quan trọng giúp mọi quân nhân có được niềm tin, bản lĩnh, trình độ… hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Do vậy, việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong Quân đội hiện nay cần tập trung làm cho mọi quân nhân hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước, nhiệm vụ Quân đội... Trong giáo dục, cần làm cho họ thấy tính đúng đắn và sự cần thiết trong vai trò Đảng lãnh đạo Quân đội; lý tưởng khát vọng hoà bình, độc lập, tự do, hạnh phúc của giai cấp, dân tộc Việt Nam yêu chuộng hòa bình. Xây dựng hình thành, truyền bá những hệ giá trị cốt lõi của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam trong thời đại mới đến bạn bè quốc tế; tập trung khơi dậy và phát huy truyền thống văn hóa hàng nghìn năm của dân tộc, tiếp thu những giá trị văn hóa tinh hoa của nhân loại.

Bốn là, làm tốt công tác quản lý và nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng Internet, mạng xã hội trong Quân đội hiện nay.

Cần quản lý chặt chẽ thông tin trên internet, mạng xã hội ở tất cả các đơn vị trong toàn quân, không để các thế lực thù địch lợi dụng, chiếm lĩnh trận địa thông tin. Theo đó, cần chú trọng xây dựng, hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và có các giải pháp kỹ thuật phù hợp với sự phát triển nhanh của internet, mạng xã hội trong tình hình mới. Chỉ đạo Ban Chỉ đạo 35 và lực lượng 47 các cơ quan, đơn vị trong toàn quân hoạt động có nền nếp, hiệu quả.

Các cơ quan chức năng cần thực hiện tốt công tác rà soát việc cấp phép hoạt động đối với các mạng xã hội, cấp tên miền bảo đảm chặt chẽ; phân định rõ các loại báo chí điện tử, tạp chí điện tử, trang thông tin điện tử. Tiến hành kiểm soát chặt chẽ việc đăng tải thông tin trên Internet, mạng xã hội của các quân nhân; đa dạng hóa hoạt động đấu tranh theo hướng: thiết lập và sử dụng các trang web, blog, nhóm, trang diễn đàn để đăng tải các bài viết với nội dung tuyên truyền các quan điểm chính thống, định hướng dư luận, phản bác hoặc tiến hành đấu tranh phản bác ngay tại các trang mạng “độc hại”.

Năm là, xây dựng và phát huy vai trò của lực lượng nòng cốt, chuyên sâu trong bảo vệ tư tưởng của Đảng trong Quân đội và đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội.

Chú trọng xây dựng đội ngũ nòng cốt, chuyên sâu là những cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ lý luận cao, có khả năng diễn đạt, luận chiến thuyết phục, có nhiệt huyết, dũng khí, quyết tâm đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, chế độ và con đường đi lên xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Từ đó cần tập trung tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, chú trọng nâng tầm lý luận sắc sảo, kinh nghiệm đấu tranh, cung cấp những thông tin, cập nhật nội dung, phương pháp, trang bị phương tiện, công nghệ để họ đấu tranh trên mạng xã hội. Phát huy tốt vai trò của các lực lượng tác chiến mạng xã hội, an ninh mạng Bộ Tư lệnh 86, Lực lượng 47 trong toàn quân; thường xuyên bám mạng, áp dụng các biện pháp kỹ thuật cần thiết, thích hợp trên mạng xã hội để phòng ngừa, nhận diện, phát hiện, ngăn chặn, xử lý và gỡ bỏ thông tin xấu độc, những dịch vụ, hành vi vi phạm pháp luật, gây hại đến hoạt động quân sự.

Sáu là, tổ chức đấu tranh có hiệu quả, quyết liệt với các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet, mạng xã hội

Phát huy tốt vai trò của cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên các cấp trong công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị nhận diện và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet, mạng xã hội.

Trang bị những kiến thức cần thiết để mỗi cán bộ, chiến sĩ có thể tự sàng lọc, tiếp nhận thông tin hữu ích, chính thống, “miễn dịch” với những thông tin xấu độc, không tin theo, không truy cập và tán phát, chia sẻ những thông tin xấu độc và tích cực đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet, mạng xã hội.

Có thể khẳng định, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội không chỉ liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ mà còn có ý nghĩa sống còn với sự tồn tại và phát triển của Quân đội. Do đó, để Quân đội ta tiếp tục phát huy được những truyền thống anh hùng, vẻ vang, mỗi tổ chức đảng các cấp trong Quân đội cũng như mỗi cán bộ, chiến sĩ cần phải luôn không ngừng tu dưỡng, rèn luyện để giữ gìn bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức “Bộ đội cụ Hồ” mà còn luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, sức đề kháng trước các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch./.

          V3.

Đấu tranh, phản bác luận điệu sai trái về việc lấy phiếu tín nhiệm trong công tác cán bộ của Đảng

 


Quy định này không chỉ có ý nghĩa tham khảo, góp phần vào đánh giá cán bộ mà kết quả có giá trị trực tiếp vào công tác đánh giá, bố trí, điều động và thực hiện chính sách đối với cán bộ. Đồng thời, đây cũng là cơ sở trực tiếp cho quá trình chuẩn bị nhân sự cho Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ tới. Thế nhưng, các lực lượng “khoác áo dân chủ ” tìm cách chống phá quan điểm, chủ trương, đường lối, coi đây là một tiêu điểm để xuyên tạc đường lối, phủ nhận vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam.

NHẬN DIỆN CÁC LUẬN ĐIỆU CHỐNG PHÁ

Ngay sau khi Quy định 96 được ban hành, trang RFA có một loạt bài chống phá quan điểm lấy phiếu tín nhiệm của Đảng như: “Phức tạp hóa vấn đề lấy phiếu tín nhiệm, vì sao?”; “Quốc hội đánh giá tín nhiệm, có thể tham khảo ý kiến của người dân như lời của Thủ tướng?”; “Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm: Nên hay không?”; “Đảng thừa nhận không đoàn kết?; “Lấy phiếu tín nhiệm: chiêu trò mị dân?”. Trên kênh Youtobe, Trang Tâm Thức Việt cũng đăng tải video ngày 9/2/2023 với chùm bài: ‘Lấy phiếu tín nhiệm: Thêm một chiêu trò mị dân”. Đài Châu Á – Tự do cũng đăng tải môt loạt các bài trên nền tảng mạng qua mạng Facebook, trang web… Hầu hết các bài viết và các video của các thế lực phản động, thù địch dùng mọi thủ đoạn xuyên tạc, hạ thấp uy tín lãnh đạo của Đảng, để phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân. Dưới các danh xưng “ nhà dân chủ”; “nhà báo tự do” như Nguyễn Ngọc Già, Nguyễn Vũ Bình…

Các luận điệu xuyên tạc, chống phá Quy định 96 của các thế lực thù địch, biểu hiện ở những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, chống phá mục tiêu của Quy định 96.

Trong bài viết “Lấy phiếu tín nhiệm: chiêu trò mị dân”, đăng vào ngày 09/02/2023 của Đài Châu Á Tự do, cho rằng mục tiêu của việc lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm là để “chiêu trò mị dân”, chỉ là “việc của Đảng và những người đảng viên trong Đảng không liên quan tới nhân dân” để nhằm mục tiêu “loại trừ lẫn nhau”, “thanh toán các thế lực, phe cánh, nhóm phái đối lập trong Đảng”, để “xử lý các phần tử không theo hệ thống chung”; và từ đó cho thấy “Đảng không tin vào chính mình” và “Đảng toàn trị nhưng không đủ năng lực cầm quyền” hay “Đảng làm lu mờ và vi phạm nguyên tắc Nhà nước pháp quyền”. Trong một bài cùng nội dung, trang RFA còn “khuyên” rằng Đảng cần làm công tác cán bộ triệt để hơn và đó phải là “việc của toàn dân”. Thực chất luận điệu nêu trên không chỉ nhằm xuyên tạc mục tiêu của Quy định 96 của Đảng, mà qua đó, âm mưu sâu xa, nham hiểm của chúng là từ chỗ làm xói mòn, mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Thứ hai, thông qua việc xuyên tạc Quy định 96, các thế lực thù địch nhằm mục đích phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng.

Việc các thế lực thù địch ra sức phủ nhận lịch sử, công kích vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, “đánh” vào các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng nhằm chia rẽ nội bộ. Khi cho rằng việc lấp phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm là việc “thanh trừng”, “xử lý các sinh mệnh chính trị thoái hóa không trung thành”, không đơn thuần là việc “xây dựng Đảng” mà là việc “loại trừ phần tử phe cánh, nội bộ trong Đảng”. Thông qua việc viện dẫn các ý kiến, quan điểm từ các danh xưng “nhà dân chủ”, “nhà báo tự do” việc bôi nhọ vai trò lãnh đạo của Đảng được cụ thể hóa bằng cách lấy diễn đàn dân chủ ở nước ngoài để lên tiếng tố cáo và phản bác các quan điểm, chủ trương và đường lối của Đảng, như: “càng chống tham nhũng thì tham những càng nhiều”; “ kết quả người có phiếu tín nhiệm cao thì tỷ lệ thuận với danh sách những người bị kỷ luật trong Đảng”; “ bỏ phiếu tín nhiệm mang màu áo dân chủ trong Đảng chủ vì Đảng làm chủ cuộc cách mạng này, công việc chỉ có đảng viên tham gia”... Từ việc làm phép thống kê mối liên hệ có chủ đích giữa kết quả lấy phiếu tín nhiệm với các cá nhân có tên trong các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực trong cán bộ lãnh đạo các cấp thời gian qua, các “nhà dân chủ”, “nhà báo tự do” quy chụp sự suy thoái của một bộ phận cán bộ đảng viên, tệ quan liêu tham nhũng trong Đảng thànhbản chất, biến cái “hiện tượng” thành “phổ biến” và là “tất yếu” của một Đảng duy nhất cầm quyền. Từ đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cho rằng, “Đảng Cộng sản Việt Nam chiếm quyền của dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền”; “Đảng không nên giữ vai trò lãnh đạo, không nên và không thể lãnh đạo tuyệt đối”; “phải đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thì đất nước mới phát triển”... Đây không phải là một điều mới mẻ trong các luận điệu chống phá Đảng của các thế lực phản động. Tuy nhiên, trước mỗi quyết định của Đảng có tính xây dựng tổ chức Đảng, đặc biệt là công tác cán bộ thì chúng luôn lấy việc bài xích chủ trương, đường lối của Đảng và tìm mọi cách, tận dụng mọi thời cơ, mọi sự kiện trong công tác cán bộ để lồng vào đó thông điệp bôi bẩn, suy diễn, sặc mùi chống phá làm mất uy tín và niềm tin vào Đảng.

          V3.

 Đại tướng Phan Văn Giang thăm và làm việc tại huyện đảo Bạch Long Vĩ

Sáng 15/6, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng cùng đoàn công tác của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đến thăm và làm việc tại huyện đảo Bạch Long Vĩ, thành phố Hải Phòng.

Cùng đi với đoàn có các đồng chí: Thượng tướng Huỳnh Chiến Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam; Trung tướng Nguyễn Văn Gấu, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; lãnh đạo thành phố Hải Phòng; lãnh đạo, chỉ huy một số cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng.



Đảo Bạch Long Vĩ có vị trí quan trọng chiến lược về quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế biển ở Vịnh Bắc Bộ. Trong những năm qua, cấp ủy, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân huyện đảo Bạch Long Vĩ luôn thực hiện tốt phương châm kết hợp phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh, từng bước phát triển trên nhiều lĩnh vực, xứng đáng là vị trí phên giậu tiền tiêu trên vùng biển Đông Bắc của Tổ quốc.

Theo lãnh đạo huyện Bạch Long Vĩ, cách đây hơn 30 năm, từ ngày đầu thành lập với 25 cán bộ và 62 đội viên thanh niên xung phong, với ý chí sắt đá, lòng quyết tâm, tinh thần đoàn kết đã giúp huyện đảo Bạch Long Vĩ vượt qua mọi khó khăn, gian khổ. Từ một đảo xa bờ, không điện, không nước ngọt, đến nay đã có hành chục công trình, dự án được xây dựng, mang lại hiệu quả thiết thực về kinh tế - xã hội, gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, nhất là hệ thống cung cấp nước ngọt, nguồn điện gió, mặt trời, diesel 24/24 giờ. Huyện đảo là trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá lớn của cả nước; đời sống vật chất, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc.


Tại buổi thăm và kiểm tra các lực lượng làm nhiệm vụ trên đảo, Đại tướng Phan Văn Giang biểu dương tinh thần, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ đã không quản ngại khó khăn, vất vả, quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần bảo vệ biển, đảo của Tổ quốc. Đặc biệt, Đại tướng Phan Văn Giang rất ấn tượng với sự đón tiếp nồng hậu của người dân, các cháu học sinh và cán bộ, chiến sĩ trên đảo; đồng thời ghi nhận cấp ủy, chính quyền địa phương huyện đảo Bạch Long Vĩ đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai, thực hiện tốt nhiệm vụ quân sự, quốc phòng.

Bộ trưởng Phan Văn Giang đề nghị cấp ủy, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân huyện đảo Bạch Long Vĩ cần tiếp tục quán triệt, thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XIII) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; luôn nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, quan tâm nắm bắt tình hình tư tưởng; đẩy mạnh tăng gia sản xuất; chăm lo ngày càng tốt hơn đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ.




Đặc biệt, để hiện thực hóa mục tiêu “Xây dựng Bạch Long Vĩ trở thành trung tâm hậu cần nghề cá và tìm kiếm cứu nạn khu vực phía Bắc, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo của Tổ quốc”, đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đề nghị cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Bạch Long Vĩ phát huy tinh thần đoàn kết, với phương châm “cùng ăn, cùng ở, cùng lao động, cùng bảo vệ Tổ quốc”.

Các đơn vị làm nhiệm vụ trên đảo tiếp tục phát huy vai trò tham mưu, đề xuất đẩy mạnh việc xây dựng, nâng cao hiệu quả hoạt động của các khu vực phòng thủ; nâng cao khả năng phòng thủ tại chỗ, các công trình phòng thủ tuyến đảo gần bờ, công trình chiến đấu; bố trí lực lượng, trang thiết bị, phương tiện phù hợp với tình hình mới.

Triển khai tốt các dự án phát triển kinh tế gắn với quốc phòng, an ninh; chú trọng xây dựng phát triển hạ tầng của địa phương, cần chú trọng nghiên cứu bảo đảm sự hài hòa và tính lưỡng dụng bảo đảm lợi ích về kinh tế cũng như thích ứng các yêu cầu về quốc phòng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ khi có tình huống xảy ra. 

* Nhân chuyến công tác, Đại tướng Phan Văn Giang và đoàn công tác đã tới dâng hương tại đền thờ Bác Hồ; đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ; đền thờ Trần Hưng Đạo; chùa Bạch Long; trồng cây lưu niệm trên đảo Bạch Long Vĩ; tặng quà người dân và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang làm nhiệm vụ trên đảo. 

CẢNH GIÁC VÀ CHỦ ĐỘNG TRƯỚC ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ

 


Lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo và dựng lên các tổ chức đội lốt để thực hiện mưu đồ là phương thức mà bọn phản động Fulro lưu vong đã và đang sử dụng và chúng coi đây là các chiêu bài hữu hiệu, đắc lợi. Thời kỳ trước, chúng dùng “Tin lành Ðêga” hay “Quỹ người Thượng” để tập hợp lực lượng, kích động tâm lý ly khai, xúi giục, lôi kéo đồng bào dân tộc thiểu số nhẹ dạ gây nên các cuộc bạo loạn và điểm nóng chính trị. Gần đây, vẫn tiếp tục âm mưu thành lập “nhà nước Tây Nguyên tự trị”, chúng lập mới các tổ chức phản động đội lốt tôn giáo mang tên “Giáo hội Tin lành đấng Christ Việt Nam” rồi “Giáo hội Tin lành đấng Christ Tây Nguyên”.

Theo tài liệu do cơ quan công an công bố: Cái gọi là “Tin lành đấng Christ” là một tổ chức do cựu đại tá-Bộ trưởng Ngoại giao Fulro 3 Y Hin Niê đang lưu vong tại Mỹ lập ra. Tổ chức này có trụ sở chính tại bang North Carolina (Mỹ) và chi nhánh ở vài quốc gia khác. Tên trùm Fulro này thông qua tổ chức đội lốt tôn giáo để tập hợp lực lượng, kích động đồng bào tư tưởng ly khai, tự trị nhằm hướng đến mục đích thành lập “nhà nước riêng” và “tôn giáo riêng”.

Vô cùng nguy hiểm là từ nước ngoài, chúng thò nọc độc về Việt Nam và dựng nên các chân rết trong vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên và một số tỉnh, thành phố khác ở trong nước. Với tinh thần cảnh giác cao độ, đấu tranh tích cực, từ năm 2017 đến nay, chúng ta đã bóc gỡ và xử lý theo pháp luật hàng chục đối tượng cốt cán của tổ chức phản động này. Tuy nhiên, mầm độc của chúng vẫn gieo rắc khắp nơi.

Dù hình thức, tên gọi khác nhau, nhưng bản chất của các tổ chức phản động lưu vong đều giống nhau. Nhóm “Người Thượng vì công lý” cũng là một thí dụ. Tổ chức này do tên Y Phíc Hdok (lưu vong tại Mỹ), Y Quynh Bdăp (lưu vong tại Thái Lan) cùng 15 đối tượng phản động, lưu vong khác nhóm lại. Tại nước ngoài, chúng câu kết với các tổ chức Fulro lưu vong (MHRO, MRO…) và “Ủy ban cứu trợ người vượt biển”-BPSOS.

Thông qua mạng xã hội, các đối tượng tìm cách liên lạc, kích động những người trong nước thiếu hiểu biết, thu thập thông tin sai sự thật nhằm mục đích xuyên tạc, vu cáo chính quyền phân biệt đối xử, đàn áp đồng bào. Chúng đã dùng những thông tin dối trá ấy làm các bản “báo cáo nhân quyền”, “nạn nhân tôn giáo bị đàn áp”,… nhằm phục vụ những âm mưu đen tối.

Dù luận điệu, hành vi của các phần tử chống phá chế độ, chống phá cuộc sống bình yên của miền đất đại ngàn có xảo trá đến đâu thì cũng không thể che đậy được bộ mặt của chúng, bộ mặt của những kẻ phản bội Tổ quốc, phản bội buôn làng và đồng bào ruột thịt. Rất đáng tiếc, một số tổ chức và cơ quan truyền thông quốc tế thiếu thiện chí với Việt Nam lại tích cực “cổ vũ”, “đồng hành” và bênh vực cho cái xấu, kẻ ác.

Ví như, trong khi nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế đang cực lực lên án vụ tấn công khủng bố tại huyện Cư Kuin (Ðắk Lắk) thì một tờ báo tiếng Việt ở hải ngoại ngày 23/5/2023 đăng bài “Câu chuyện Tây Nguyên và người dân sắc tộc núi rừng trong lòng tôi”. Nội dung bài viết này cố tình đưa ra những luận điểm xuyên tạc sự thật, như “người Kinh đang đối xử với các sắc tộc Tây Nguyên hơn cả thực dân”; hay “có quá nhiều người sắc tộc ở Tây Nguyên nói họ không được phép thực hành niềm tin tôn giáo họ chọn”.

Hoặc đưa ra góc bình luận bóp méo, đầy tính thù địch rằng: “Ðảng Cộng sản Việt Nam luôn đi ngược lại chính sách đại đoàn kết dân tộc và giờ đây lại còn đổ vấy trách nhiệm về biến cố xả súng ở huyện Cư Kuin”. Tác giả bài viết này còn kích động sự chia rẽ cộng đồng các dân tộc bằng sự xảo ngôn, đánh lái nguy hiểm: Người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên “không chịu được sự áp đảo hiện nay bởi sự thống trị của người Việt đến từ đồng bằng”. Hay ở một bài viết khác thì cố tình đưa ra nhận định xuyên tạc rằng: “người Thượng tấn công chính quyền vì tức nước vỡ bờ”…

Với những cách truyền thông sai lệch, bóp méo trên, các bài viết nhằm hướng dư luận của cộng đồng quốc tế về phía bất lợi cho Việt Nam; cố tình khoét sâu mâu thuẫn, tạo sự bất ổn và kêu gọi các quốc gia, các tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam…

Có thể thấy các thế lực phản động, thù địch luôn rêu rao rằng, đồng bào Tây Nguyên bị kỳ thị, bị phân biệt đối xử, bị đàn áp và bị xóa nhòa bản sắc văn hóa! Thực tế lại trái ngược hoàn toàn. Hiện thực Tây Nguyên hôm nay với những thành tựu to lớn về kinh tế-xã hội, về sự tiến bộ trong vấn đề bảo đảm nhân quyền, sự khởi sắc vượt bậc trong đời sống vật chất và tinh thần của hàng triệu đồng bào là minh chứng rõ ràng và thuyết phục về những đổi thay kỳ diệu trên xứ sở đại ngàn.

Ngày xưa, dù sống giữa vùng đất Tây Nguyên với kho tàng tiềm năng giàu có nhưng đồng bào các dân tộc thiểu số trên miền thượng du này mãi đắm chìm trong đói nghèo, lạc hậu. Hai cuộc xâm lăng, giày xéo của kẻ thù lên đất nước ta, người Tây Nguyên cũng cùng chung thân phận nô lệ như các dân tộc anh em trên mọi miền Tổ quốc. Ðánh Pháp, đuổi Mỹ thành công, nước nhà thống nhất, đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên thực sự được giải phóng; được làm công dân của một nước độc lập; được phát triển bình đẳng giữa cộng đồng các dân tộc anh em.

Từ ngày hết chiến tranh, Ðảng và Nhà nước đã triển khai nhiều nghị quyết, tổ chức nhiều chương trình và đầu tư những nguồn lực lớn để phát triển Tây Nguyên. Nhất là từ khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị khóa IX về “Phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh-quốc phòng vùng Tây Nguyên”, nguồn lực tập trung đầu tư ngày càng cao, từng bước khơi dậy tiềm năng, thế mạnh của địa bàn chiến lược này.

Ðường lối nhất quán của Ðảng ta là bảo đảm quyền tộc người, quyền bảo vệ văn hóa tộc người. Cũng như các dân tộc anh em, các dân tộc thiểu số Tây Nguyên có quyền tự do quyết định vị thế xuất thân, quyền sử dụng ngôn ngữ, khẳng định sự bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Thành tựu về bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các dân tộc Tây Nguyên trong nhiều năm qua rất đáng ghi nhận. Ở Tây Nguyên không có sự kỳ thị sắc tộc mà chỉ có sự tôn trọng các giá trị đặc thù. Bản sắc văn hóa cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên được bảo tồn, phát huy và lan tỏa các hệ giá trị.

Các đối tượng chống phá rêu rao rằng, chính quyền Việt Nam đàn áp tôn giáo. Chúng luôn cáo buộc Nhà nước ta không bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Lập luận của chúng đã cố tình phớt lờ thực tế, xuyên tạc sự thật; dùng xảo ngôn để che đậy những hành vi lợi dụng, đội lốt tôn giáo thực hiện chống phá. Thực tế, Tây Nguyên là một không gian sinh hoạt lý tưởng của các cộng đồng tôn giáo khác nhau.

Theo thống kê, vùng Tây Nguyên là một địa bàn có nhiều tổ chức tôn giáo, trong đó chủ yếu là Công giáo, Phật giáo, Tin lành và Cao đài với tổng số 2,3 triệu tín đồ, gần 4.000 chức sắc, 10.000 chức việc và trên 1.300 cơ sở thờ tự. Trong đó, Công giáo có trên 1,1 triệu tín đồ, khoảng 1.000 chức sắc, trên 2.500 chức việc và 500 cơ sở thờ tự; Phật giáo có 670.000 tín đồ, khoảng 1.900 chức sắc, 2.800 chức việc và khoảng 570 cơ sở thờ tự. Ðạo Tin lành có khoảng 580.000 tín đồ thuộc 33 tổ chức, hệ phái, nhóm đang sinh hoạt tại 311 chi hội, 183 nhà thờ, hơn 1.700 điểm nhóm được chính quyền địa phương cấp đăng ký sinh hoạt…

Các cấp ủy và chính quyền ở Tây Nguyên luôn phát huy vai trò, thế mạnh, những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và nguồn lực của các tôn giáo vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt là các lĩnh vực an sinh xã hội, bảo vệ môi trường; khuyến khích và tạo điều kiện cho tôn giáo góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống. Cổ vũ mặt tích cực nhưng chúng ta cũng không dung thứ việc lợi dụng các hoạt động tôn giáo gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Những kẻ giả hiệu tôn giáo để chống phá cuộc sống bình yên của buôn làng chắc chắn sẽ bị pháp luật trừng trị.

Tây Nguyên là địa bàn chiến lược quốc gia. Không ai muốn nhớ lại những câu chuyện buồn từng xảy ra và vừa mới xảy ra trên vùng đất tươi đẹp này. Nhưng vì sự phát triển thịnh vượng vùng đại ngàn phía tây Tổ quốc, chúng ta cần phải lưu tâm sâu sắc các sự kiện này như một phần ký ức đáng phải suy nghĩ, những bài học thấm thía và đau lòng. Muốn giữ gìn sự bình yên, Tây Nguyên phải xây dựng cho mình sức mạnh nội sinh, tạo nên nguồn kháng thể mạnh mẽ trước mọi khó khăn, biến động.

Bên cạnh tập trung nguồn lực đầu tư, cấp ủy và chính quyền các tỉnh trong khu vực cần phát huy trí tuệ trong hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo; có những điều chỉnh phù hợp, khắc phục những bất cập, hạn chế trong việc thực hiện các chính sách, nhất là chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Cùng với phấn đấu không mệt mỏi vì sự nghiệp phát triển quê hương và nâng cao đời sống nhân dân, chúng ta cần đề cao cảnh giác trước mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch./.

          V3.