Thứ Hai, 8 tháng 7, 2024

Các dân tộc nâng cao ý thức độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường

 


Các dân tộc ngày càng hiểu rõ giá trị của độc lập, tự chủ, tự cường. Bài học thực tiễn sâu sắc là mất độc lập, tự chủ, đất nước thường rơi vào cảnh đói nghèo, bất công, vị thế trên trường quốc tế giảm sút... Đồng thời, những tấm gương về một dân tộc như Việt Nam, Cu Ba... đã chủ động, sáng tạo đấu tranh thắng lợi các nước đế quốc giàu mạnh để giành độc lập, tự chủ và phát triển đang cổ vũ cho các dân tộc khác noi theo.

Hiện nay, các dân tộc đang tích cực đấu tranh đòi độc lập, tự chủ chống lại mưu đồ áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản, đứng đầu là đế quốc Mỹ. Ngay cả các nước tư bản là đồng minh của Mỹ cũng muốn khẳng định mình, kiên quyết chống lại sự can thiệp, áp đặt hoặc khống chế của Mỹ. Tuy gặp nhiều khó khăn, song các nước khác vẫn quyết tâm chống lại các hình thức can thiệp, áp đặt của các nước tư bản, đòi thiết lập trật tự thế giới mới công bằng, bình đẳng, giữ gìn độc lập tự chủ. Vì vậy, “Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội. Đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến phong trào “99 chống lại 1” diễn ra ở Mỹ đầu năm 2011 và nhanh chóng lan rộng ở nhiều nước tư bản. Sự rêu rao bình đẳng về quyền nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất. Trong đời sống chính trị, một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át. Vì vậy mà tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là “tự do”, “dân chủ” dù có thể thay đổi chính phủ nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản”[1].



[1] Nguyễn Phú Trọng, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.21.

Dân chủ hóa trong thời đại ngày nay

 


Dân chủ hóa là quá trình biến đổi chính trị và xã hội nhằm thiết lập chế độ dân chủ. Đó là quá trình biến đổi, quá độ từ chế độ phi dân chủ sang chế độ dân chủ, quá trình thực hiện dân chủ trên thực tế trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và quan hệ quốc tế. Đó là sự quá độ từ trạng thái chưa dân chủ sang dân chủ, từ dân chủ trình độ thấp lên dân chủ trình độ cao hơn, từ dân chủ chưa hoàn thiện sang dân chủ hoàn thiện.

 Dân chủ hóa là một xu thế lớn hiện nay của thời đại, diễn ra ở các cấp độ, các quốc gia trên thế giới. Dân chủ hóa ở các nước phương Tây hiện nay gồm: Cải cách nhà nước, xây dựng nhà nước dân chủ mới; thực hiện đường lối trung dung cấp tiến - dân chủ; củng cố gia đình dân chủ; dân chủ hóa chính trị toàn cầu. Hiện nay dân chủ hóa các vấn đề quốc tế cũng là một xu thế lớn. Tất cả các vấn đề quốc tế đều phải được các nước đưa ra bàn bạc và quyết định theo đa số, theo quy định của luật pháp và những thông lệ quốc tế.

Chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản cùng tồn tại, vừa hợp tác, vừa đấu tranh

 


Thế giới hiện nay là thế giới toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế; là cả một không gian mở, đan xen lợi ích, tùy thuộc lẫn nhau. Một khi khủng hoảng kinh tế ở một khu vực hoặc một nước lớn kéo theo khủng hoảng toàn cầu. Những vấn đề toàn cầu, nhất là một số vấn đề an ninh phi truyền thống buộc cả cộng đồng quốc tế phải chung tay giải quyết. Sự biến đổi khí hậu khác thường, thiên tai nghiệt ngã đang diễn ra rất đáng lo ngại. Sự phát triển không thể ngăn cản của các loại vũ khí giết người khủng khiếp cũng là yếu tố làm cho bất kỳ giới cầm quyền nào, cho dù là nước xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa cũng phải tính toán kỹ vấn đề chiến tranh hay hòa bình. Như vậy, cùng với việc đổi mới nhận thức của toàn nhân loại, đặc biệt là của giới lãnh đạo các nước về trách nhiệm chung đối với sự phát triển thế giới, những nhân tố khách quan nêu trên vừa thúc đẩy, đòi hỏi, vừa tạo điều kiện cho việc cùng tồn tại và hợp tác cùng phát triển đối với tất cả các nước.

Trong khi nhận rõ sự hợp tác giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản hiện nay là khá toàn diện, thì không thể quên rằng những mâu thuẫn giữa hai chiều hướng phát triển này vẫn chứa đựng mâu thuẫn vốn có. Các thế lực hiếu chiến và thù địch chưa bao giờ từ bỏ âm mưu, thủ đoạn muốn xóa sổ chủ nghĩa xã hội. “Diễn biến hòa bình” là một trong những chiến lược tổng thể của chủ nghĩa đế quốc nhằm thực hiện mục tiêu đó. Tất cả những thủ đoạn mà các thế lực đế quốc đã và đang sử dụng đối với các nước xã hội chủ nghĩa, cũng như đối với giai cấp những người lao động trên toàn thế giới cho thấy, cuộc đấu tranh giai cấp hiện nay không kém phần gay gắt, quyết liệt và phức tạp. Bởi vậy, trong điều kiện mở cửa, hội nhập với thế giới, thu hút vốn đầu tư, công nghệ và hợp tác giao lưu với các nước tư bản, các nước xã hội chủ nghĩa phải luôn kiên định bảo vệ nền tảng tư tưởng và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, hợp tác cùng phát triển nhưng luôn cảnh giác và sẵn sàng đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc và mục tiêu lý tưởng của mình.

Phát triển toàn diện, nhất là phát triển kinh tế - xã hội là mục tiêu ưu tiên hàng đầu của mỗi quốc gia.

 

 


 Ngày nay thực lực kinh tế quyết định vị thế của một quốc gia dân tộc trong quan hệ quốc tế và đời sống chính trị thế giới. Ưu tiên kinh tế đã trở thành trào lưu thế giới và là tất yếu phát triển của lịch sử đương đại. Phát triển kinh tế - xã hội hiện nay không chỉ liên quan đến vấn đề quốc tế dân sinh, đến ổn định chính trị lâu dài của một đất nước mà còn liên quan đến hòa bình và an ninh của khu vực và thế giới. Sự suy thóai - phản phát triển không chỉ diễn ra ở cục bộ một nước mà sẽ nhanh chóng ảnh hưởng và liên lụy đến khu vực và thế giới. Phát triển kinh tế thị trường là định hướng chủ yếu của các quốc gia hiện nay. Hàng loạt các vấn đề kinh tế - xã hội hiện nay đang đặt ra cho các quốc gia mà con đường giải quyết chỉ có thể là hòa bình và hợp tác phát triển. Phát triển và những cơ hội phát triển trong công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc sẽ tạo ra thực lực đảm bảo cho hòa bình và hướng tới một nền hòa bình vững chắc.

Trong quan hệ quốc tế hiện nay, hợp tác và đấu tranh luôn là hai mặt cùng tồn tại trong quan hệ quốc tế. Đây là một tất yếu khách quan. Nó đòi hỏi phải được nhận thức đúng và có sự kết hợp hài hòa khi xem xét đến các quyền lợi của mỗi quốc gia và cả cộng đồng. Tuyệt đối hóa mặt này hay mặt kia đều có thể dẫn đến đổ vỡ trong quan hệ giữa các quốc gia cũng như giữa quốc gia với cộng đồng quốc tế. Trong quá trình xem xét, phải xuất phát từ nguyên tắc hợp tác để đấu tranh và đấu tranh để hợp tác chặt chẽ hơn, bền vững hơn. Xuất phát từ quyền lợi cụ thể của mỗi chủ thể quan hệ quốc tế trong quan hệ đối ngoại, phải thấy luôn tồn tại đối tác và đối tượng. Vấn đề đặt ra cho các đảng cộng sản là phải nhấn mạnh, phải chú ý tìm thấy đối tác để khắc phục đối tượng, tìm thấy điểm tương đồng để hạn chế, khắc phục bất đồng gắn với bối cảnh lịch sử cụ thể trong từng thời điểm của quan hệ quốc tế.

Trong bối cảnh của thế giới đương đại sẽ không có mối quan hệ nào chỉ là đối tượng và ngược lại chỉ là đối tác. Xuất phát từ lợi ích của mỗi quốc gia, của mỗi khu vực cần tìm thấy các điểm tương đồng, các lợi ích chung để khắc phục bất đồng. Hợp tác và đấu tranh là hai mặt luôn song hành. Điều quan trọng nhất trong quan hệ giữa các quốc gia là giải quyết theo nguyên tắc đồng thuận khắc phục bất đồng; cố gắng biến những bất đồng lớn theo hướng giảm nhẹ, và tuyệt đối tránh làm cho bất đồng nhỏ thành bất đồng lớn. Thống nhất hợp tác và đấu tranh, đối tượng và đối tác là một xu thế đang tồn tại trong quan hệ quốc tế hiện nay, đang nổi lên trong sự lựa chọn của các dân tộc. Đây là một xu thế, một nguyên tắc trong ứng xử giữa các nước, “hợp tác và đấu tranh vì lợi ích quốc gia, vì hòa bình - phát triển và cùng giải quyết những thách thức toàn cầu là xu hướng chung của nhân loại”[1].

Hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế lớn, song nguy cơ chiến tranh khu vực, xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo vẫn còn tiềm ẩn, khó lường. Nguy cơ này xuất phát từ nhiều nguồn gốc, nguyên nhân khác nhau, cả vấn đề lịch sử, hiện tại, các phương diện từ ý thức hệ tư tưởng, đến địa chính trị, kinh tế, văn hóa, dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền… Các cường quốc muốn thiết lập một trật tự thế giới mới, khẳng định vị thế, vai trò của mình đối với khu vực và thế giới. Mặc dù vậy, khả năng giải quyết vấn đề luôn mở ra hòa bình, hợp tác, phát triển để vượt qua những khác biệt, mâu thuẫn và xung đột quốc tế. Xu thế chung của thế giới hiện nay thể hiện qua các mối quan hệ tất yếu và phổ biến giữa hòa bình, hợp tác và phát triển.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.266.

Xu thế chủ yếu của thời đại trong giai đoạn hiện nay

 


Hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế lớn, nhưng nguy cơ chiến tranh khu vực, xung đột vẫn còn tiềm ẩn, khó lường

Hòa bình là điều kiện tiên quyết cho hợp tác và phát triển. Hòa bình vẫn là khát vọng, là mục tiêu đấu tranh của nhân loại tiến bộ, do đó luôn có sự thống nhất, đồng thuận cao trong nhận thức và hành động của các dân tộc. Thế giới hiện nay xét về tổng thể là hòa hoãn, cùng tồn tại hòa bình, nguy cơ nổ ra chiến tranh lớn, chiến tranh thế giới về cơ bản đã được ngăn chặn, nhưng nguy cơ chiến tranh khu vực, xung đột dân tộc, sắc tộc vẫn tiềm ẩn và sẵn sàng bùng phát bất cứ lúc nào, nơi nào. Khủng bố và chống khủng bố tuy có phần lắng dịu so với những năm trước, nhưng những nguồn gốc, đặc điểm vẫn chưa giải quyết dứt điểm và xu hướng vận động trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm phức tạp đời sống chính trị toàn cầu, làm mất ổn định chính trị - xã hội, tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế, có nguy cơ làm mất đi cơ hội hòa bình và phát triển của tất cả các quốc gia dân tộc trên thế giới.

Hòa bình, là mục tiêu đấu tranh hàng đầu của nhân loại tiến bộ và là khát vọng sống mãnh liệt của các dân tộc, nhất là các dân tộc đã từng chịu các cuộc chiến tranh khốc liệt, kéo dài. Hòa bình và phát triển là nguyện vọng, là mối quan tâm của toàn thế giới, là sự thống nhất và đồng thuận trong nhận thức lẫn hành động của tất cả các dân tộc. Thế giới cần hòa bình, nhân dân cần hợp tác, quốc gia cần phát triển, xã hội cần tiến bộ, tất cả đã trở thành trào lưu, xu thế tất yếu của thế giới ngày nay. Việc đảm bảo hòa bình không hề dễ dàng trong một thế giới chứa chất nhiều điều bất ổn, nhiều biến động khó lường và thách thức gay gắt. Đấu tranh cho hòa bình và an ninh chung ngày càng trở nên bức xúc, có tính thời sự và là chủ đề lớn của thời đại.

Hợp tác là phương thức đạt tới hòa bình và phát triển. Chỉ có hợp tác tích cực, lành mạnh và văn minh mới thực hiện được hòa bình và phát triển. Hợp tác đó phải dựa trên cơ sở tôn trọng chủ quyền và lợi ích của tất cả các bên, tin cậy, hiểu biết lẫn nhau và cùng có lợi.

Hợp tác trong điều kiện nền kinh tế thị trường và toàn cầu hóa bao hàm cả cạnh tranh và đấu tranh bảo vệ lợi ích dân tộc, đồng thời đảm bảo lợi ích quốc tế hiện tại cũng như tương lai. Lợi ích của các nước trong xu thế toàn cầu hóa ngày càng liên hệ chặt chẽ và tùy thuộc lẫn nhau, do đó, cần có hòa bình để liên kết với nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Không thể có sự phát triển nếu không có cơ sở và nền tảng là hòa bình, cũng không thể có phát triển nếu không thông qua phương thức hay động lực là hợp tác và đấu tranh.

Hợp tác toàn diện trên các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường. Hợp tác để bảo vệ hòa bình, chống chiến tranh xâm lược và khủng bố; để phòng tránh và vượt qua các thảm họa thiên nhiên từ những biến động dữ dội của môi trường; để duy trì, tái tạo, phát triển sự sống, xác lập lại trật tự hài hòa vốn có của tự nhiên, xã hội và con người; để cùng nhau bảo tồn và phát huy các giá trị tích cực của truyền thống lưu giữ trong các bản sắc văn hóa dân tộc; để sáng tạo văn hóa, phát triển văn hóa nhân loại trong sự thống nhất trong sự đa dạng, đồng thời cùng nhau đấu tranh chống các nọc độc văn hóa, phản động, phản văn hóa.

Hợp tác diễn ra bằng con đường song phương và đa phương, bằng mở cửa và hội nhập bằng chia sẻ trách nhiệm và đảm bảo công bằng trong lợi ích, bình đẳng trong quan hệ quốc tế. Hợp tác đòi hỏi phải tích cực, chủ động và cộng đồng trách nhiệm, không hẹp hòi và vụ lợi, không sô vanh, bá quyền. Hợp tác lành mạnh đòi hỏi phải giải quyết hài hòa mối quan hệ dân tộc và quốc tế. Hợp tác hiện nay đòi hỏi phải tuân thủ theo nguyên tắc: vừa hợp tác vừa cạnh tranh, ganh đua một cách có văn hóa trên tinh thần hòa bình và bao dung. Trong quá trình hợp tác cũng rất cần sự nỗ lực, sáng tạo của các chủ thể thông qua các cơ chế phối hợp, điều chỉnh, hòa giải và thương lượng theo các chuẩn mực chung cùng nhau giải quyết bất đồng.

Vai trò của Quân đội trong thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay

 


Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân; là quân đội mang bản chất của giai cấp công nhân, chiến đấu dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Quân đội có vai trò rất quan trọng trong thực hiện mục tiêu sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc - một trong hai nhiệm vụ chiến lược của Đảng và dân tộc. Đó là mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, đại biểu trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thể hiện mục tiêu lý tưởng của giai cấp công nhân; trong đó bảo vệ Đảng, cơ sở chính trị - xã hội của Đảng và nền tảng tư tưởng của Đảng là nội dung hết sức quan trọng để giữ vững chế độ theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng quan trọng tham gia hiện thực hóa mục tiêu kinh tế - xã hội của Đảng và giai cấp công nhân. Quân đội tham gia bảo vệ lợi ích kinh tế, xã hội, tạo điều kiện môi trường thuận lợi cho để phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội là nhiệm vụ chính trị thường xuyên; đồng thời, tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân và đời sống cán bộ, chiến sĩ. Các đơn vị trong toàn quân đều thể hiện vai trò này, song trực tiếp, thường xuyên nhất là các doanh nghiệp quân đội, các đơn vị thực hiện nhiệm vụ kinh tế - quốc phòng. Thông qua đó, quân đội còn trực tiếp xây dựng đội ngũ công nhân quốc phòng vững mạnh, đóng góp vào sự phát triển giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, trở thành lực lượng trung tâm, tiêu biểu trong cơ sở chính trị - xã hội của Đảng.

Quân đội là lực lượng rất quan trọng trong thực hiện nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân về văn hóa, tư tưởng. Quân đội tham gia giữ gìn, phát triển, phát huy các giá trị bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu giá trị văn minh nhân loại để xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa; là lực lượng đi đầu trong việc truyền bá tư tưởng - hệ giá trị của giai cấp công nhân trong quân đội và toàn xã hội, thông qua hoạt động tư tưởng, lý luận, văn hóa, công tác tuyên huấn, công tác dân vận và vận động quần chúng…

Quân đội là lực lượng quan trọng trong thực hiện chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, tham gia gìn giữ hòa bình và các mục tiêu khác của thời đại hiện nay, vì một thế giới hòa bình, hợp tác, phát triển, thịnh vượng và văn minh.

Xây dựng, củng cố khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức vững mạnh

 


Liên minh giữa công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, nguồn sức mạnh và động lực để phát triển đất nước. Hiện nay, trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, xây dựng giai cấp công nhân trong thời kỳ mới, cần củng cố hơn nữa khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, làm cơ sở để xây dựng giai cấp công nhân, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của toàn xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

Phát huy vai trò của tổ chức công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội khác trong xây dựng, phát triển giai cấp công nhân.

 


Công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội khác có vai trò trực tiếp trong giáo dục, vận động, bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp và nâng cao ý thức chính trị của công nhân. Cần xây dựng và ứng dụng trong thực tiễn những mô hình về hoạt động công đoàn, những mô hình về hoạt động văn hóa tinh thần của công nhân... Công đoàn cơ sở ngoài việc bảo vệ quyền lợi, lợi ích của công nhân, cần phối hợp với doanh nghiệp tuyên truyền pháp luật lao động, giáo dục cho công nhân biết về quyền lợi và trách nhiệm của mình; động viên công nhân thực hiện tốt các quy định của pháp luật. Đảng ta yêu cầu, phải “Định hướng, quản lý tốt sự ra đời, hoạt động của các tổ chức của công nhân tại doanh nghiệp ngoài tổ chức công đoàn hiện nay”[1].



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.166. 

Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về giai cấp công nhân

 


Cải cách chính sách tiền lương theo cơ chế thị trường. Tiền lương và thu nhập của người công nhân phải bảo đảm đủ sống. Phải bảo đảm nguyên tắc công bằng trong phân phối tiền lương và thu nhập trong doanh nghiệp, đồng thời phải tương xứng với sự đóng góp của lao động, tức là trả đúng giá trị của lao động.

Đổi mới chính sách an toàn - vệ sinh lao động trong nền kinh tế thị trường theo hướng xây dựng văn hóa an toàn trong lao động tại nơi làm việc. Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về an toàn - vệ sinh và môi trường lao động, nhất là tăng cường thanh tra, kiểm tra an toàn và vệ sinh lao động.

Hoàn thiện và phát triển hệ thống an sinh xã hội, mở rộng phúc lợi xã hội cho công nhân như: xây dựng và hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội; thực hiện chương trình phát triển nhà ở, các dịch vụ xã hội công cho công nhân, nhất là ở các khu công nghiệp tập trung. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, nhà ở và phúc lợi xã hội cho công nhân; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân. Đổi mới tổ chức và hoạt động của công đoàn phù hợp với cơ cấu lao động, nhu cầu, nguyện vọng của công nhân và yêu cầu hội nhập quốc tế; tập trung làm tốt vai trò đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, tập thể công nhân”[1].

Tập trung xây dựng quan hệ lao động hài hoà, đồng thuận, ổn định và tiến bộ trên cơ sở thực hiện cơ chế thỏa thuận giữa các bên ở cấp doanh nghiệp, cấp ngành theo đúng nguyên tắc thị trường.

Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện chính sách cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước để người lao động được mua và giữ được cổ phần nhằm bảo đảm quyền lợi về kinh tế, chính trị, tạo sự gắn bó giữa công nhân, lao động với doanh nghiệp.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.166. 

Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cho công nhân đáp ứng yêu cầu điều kiện mới.

 


Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta xác định: Xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”[1]. Nâng cao chất lượng đào tạo, dạy nghề cho công nhân là giải pháp vừa cơ bản, lâu dài, vừa là khâu đột phá nhằm phát triển trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, kỹ năng, tay nghề, tác phong làm việc công nghiệp, tính năng động và sức sáng tạo của công nhân. Muốn vậy, phải đổi mới giáo dục, đào tạo và dạy nghề, coi đó là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu và phải đi trước một bước. Trong đó, cần ưu tiên dạy nghề cho thanh niên nông thôn, trước khi bổ sung vào giai cấp công nhân. Vấn đề việc làm của người lao động trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế hết sức quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người lao động và gia đình họ, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, xã hội và an ninh chính trị.

Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục bằng các hình thức và nội dung thích hợp, nhằm nâng cao giác ngộ giai cấp, bản lĩnh chính trị, tinh thần dân tộc, ý thức công dân cho công nhân. Nâng cao tinh thần phấn đấu, rèn luyện, xây dựng tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động và ý chí quyết tâm vươn lên cho tập thể và bản thân từng công nhân.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.166. 

Đổi mới tổ chức, tăng cường đầu tư, đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về giai cấp công nhân


Đổi mới tổ chức, tăng cường đầu tư, đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về giai cấp công nhân, hướng vào những vấn đề thực tiễn đang đặt ra như: xu hướng phát triển của giai cấp công nhân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; vấn đề trí thức hóa công nhân; công nhân tham gia sở hữu doanh nghiệp; mối quan hệ giữa giai cấp công nhân với các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội, đặc biệt là trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; sự phân hóa và mối quan hệ trong nội bộ giai cấp công nhân; vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ mới; việc tổ chức và hoạt động của tổ chức đảng, các tổ chức chính trị - xã hội trong các doanh nghiệp; vai trò làm chủ của giai cấp công nhân, quan hệ giữa người sử dụng lao động và nguời lao động; mối quan hệ đoàn kết, hợp tác giữa giai cấp công nhân Việt Nam và giai cấp công nhân các nước trong điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế; những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch đối với giai cấp công nhân... Qua đó, cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn để đề ra chủ trương, giải pháp xây dựng giai cấp công nhân phát triển toàn diện trong thời kỳ mới.

Bên cạnh đó, chú trọng giáo dục, tuyên truyền trong Đảng, trong hệ thống chính trị và toàn xã hội về vai trò, sứ mệnh lịch sử, truyền thống vẻ vang của giai cấp công nhân Việt Nam; nâng cao nhận thức chung về yêu cầu, trách nhiệm toàn Đảng và cả hệ thống chính trị, toàn xã hội chung tay xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh. 

Quan điểm xây dựng, phát triển giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay

 


Trong điều kiện hiện nay, cần tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt các quan điểm chỉ đạo xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết trung ương 6, khóa X, đó là: Kiên định quan điểm giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng, thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam phải gắn liền với xây dựng và phát huy sức mạnh của khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng; chiến lược xây dựng giai cấp công nhân phải gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; tích cực đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ mọi mặt cho công nhân, trí thức hóa giai cấp công nhân là một nhiệm vụ chiến lược; xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội, sự nỗ lực của mỗi công nhân.

Thực hiện nghĩa vụ quân sự - “mệnh lệnh từ trái tim!”

 

Thực hiện nghĩa vụ quân sự không chỉ là nghĩa vụ, quyền cao quý, mà trên hết đó còn là “Mệnh lệnh từ trái tim” của mỗi công dân Việt Nam. Nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong Quân đội nhân dân.

Tuy nhiên, cứ đến “mùa tuyển quân” hằng năm, các thế lực thù địch lại “bổn cũ soạn lại” những chiêu trò cũ rích nhằm xuyên tạc, kích động công dân trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự. Chúng ta cần nhận diện, đấu tranh bác bỏ những thủ đoạn xuyên tạc này; đồng thời tích cực tuyên truyền, phổ biến cho nhân dân trong đó có thế hệ trẻ nhận thức đúng rằng “Quân đội luôn là trường học lớn” và luôn nêu cao trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ quân sự, bảo vệ Tổ quốc thiêng liêng.

Xây dựng, phát triển giai cấp công nhân Việt Nam về số lượng, chất lượng, cơ cấu phù hợp

 


Đây là điều kiện rất quan trọng, đảm bảo cho họ là “lực lượng sản xuất hàng đầu” của nền sản xuất công nghiệp và đứng vững trên vũ đài chính trị thực hiện hoàn thành sứ mệnh lịch sử mà dân tộc giao phó. Giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay là sản phẩm của tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nên số lượng và chất lượng ngày càng tăng. C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: Các giai cấp khác trong xã hội đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp, trái lại giai cấp công nhân ngày càng phát triển. Đảng ta chủ trương đưa nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại vào giữa thế kỷ XXI, càng đòi hỏi giai cấp công nhân phải không ngừng phát triển về số lượng, nâng cao trình độ về mọi mặt cả về phương diện học vấn, văn hóa, tay nghề, trình độ khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ; họ phải nắm lấy và làm chủ “những vũ khí” (nền đại công nghiệp và tri thức khoa học của thời đại mới). Mặt khác, giai cấp công nhân Việt Nam phải đạt tới trình độ giác ngộ cao về chính trị, “mình là gì và cần phải làm gì với lịch sử”, phấn đấu “trở thành giai cấp của dân tộc” vươn lên lãnh đạo và cùng với dân tộc giải quyết các nhiệm vụ của lịch sử.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với giai cấp công nhân.

 


Khi nội dung lãnh đạo đã được xác định thì tất nhiên phải có sự đổi mới phương thức lãnh đạo cho phù hợp với đặc điểm hoạt động của công đoàn và đội ngũ công nhân lao động. Phương thức lãnh đạo của Đảng là phương pháp và cách thức tiến hành lãnh đạo để đạt hiệu quả cao. Đảng lãnh đạo giai cấp công nhân thông qua Nghị quyết đại hội, Nghị quyết của các uỷ đảng. Các nội dung trong nghị quyết của các cấp uỷ đảng phải bám sát thực tiễn tình hình chính trị - xã hội đất nước, thực tiễn hoạt động doanh nghiệp, đặc điểm hoạt động của công nhân và các tổ chức đại diện như công đoàn, nghiệp đoàn.

Vai trò lãnh đạo của Đảng còn được thể hiện ở việc tuyên truyền, vận động, thu hút tập hợp công nhân, hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng, những vấn đề đặt ra đối với công nhân và giai cấp công nhân. Nội dung lãnh đạo cần quan tâm những lợi ích thiết thân, trước mắt cũng như lợi ích cơ bản lâu dài của giai cấp công nhân, nhằm bảo đảm tính khoa học - thực tiễn Nghị quyết của Đảng. Hơn nữa, phải thể hiện rõ được tính triệt để trong đấu tranh loại trừ chủ nghĩa cơ hội, xét lại và các khuynh hướng sai trái dưới mọi hình thức trong giai cấp công nhân và phong trào công nhân, bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng đi tới mục tiêu cuối cùng.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với giai cấp công nhân không thể thiếu hoạt động kiểm tra, giám sát. Thông qua đó, các cấp uỷ đảng mới đánh giá được việc quán triệt nghị quyết của đảng đối với giai cấp công nhân và trách nhiệm, năng lực của các tổ chức chính trị - xã hội của công nhân, mặt khác các cấp uỷ đảng kịp thời phát hiện những vấn đề phức tạp nảy sinh, từ đó chỉ đạo, điều chỉnh phát huy vai trò của công đoàn giải quyết hài hoà những vấn đề phức tạp đó.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: SỨC MẠNH CỦA BỘ ĐỘI CHỦ LỰC, TÁC CHIẾN HIỆP ĐỒNG TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ VÀ VẬN DỤNG XÂY DỰNG QUÂN ĐOÀN CHỦ LỰC “TINH , GỌN, MẠNH”!

     Thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ tạo ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, quyết định đến việc ký Hiệp định Geneva (tháng 7-1954) về lập lại hòa bình ở Đông Dương, kết thúc 9 năm kháng chiến trường kỳ, gian khổ, nhưng cũng vô cùng vẻ vang, anh dũng của quân và dân ta!
Chiến thắng Điện Biên Phủ là một mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta quyết tâm thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thống nhất đất nước và đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Đầu năm 1954, lo sợ bị uy hiếp và mất quyền kiểm soát tại khu vực Tây Bắc, Navarre vội vã cho quân nhảy dù đánh chiếm Điện Biên Phủ với lực lượng lớn; bố trí thành 3 phân khu, 8 trung tâm đề kháng, 49 cứ điểm, trang bị nhiều vũ khí, phương tiện kỹ thuật hiện đại. Mục đích của thực dân Pháp nhằm xây dựng tập đoàn cứ điểm mạnh-một pháo đài không thể công phá và là nơi thu hút, giam chân, tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta.

Về phía ta, trên cơ sở nắm chắc tình hình, đánh giá đúng, đầy đủ về địch-ta, địa hình, thời tiết, Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy quyết định mở chiến dịch tiến công Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Ta huy động một lực lượng lớn quân chủ lực gồm: 3 đại đoàn bộ binh (308, 312, 316), một trung đoàn thuộc Đại đoàn 304, Đại đoàn Công pháo 351 và Trung đoàn Pháo cao xạ 367 tham gia trận quyết chiến này.

Quán triệt nguyên tắc “đánh chắc thắng” của Trung ương Đảng, Bác Hồ và căn cứ vào thực tế chiến trường, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định chuyển từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang phương châm “đánh chắc, tiến chắc”. Đây là sự sáng suốt, linh hoạt, thể hiện tư duy quân sự sắc sảo của Đảng ủy, Bộ chỉ huy chiến dịch và Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Để thực hiện phương châm này, Bộ chỉ huy chiến dịch đã chủ động triển khai hàng loạt biện pháp tác chiến, tổ chức, sử dụng lực lượng chủ lực một cách sáng tạo, phù hợp với từng giai đoạn, đợt chiến dịch và diễn biến chiến trường để tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của địch.

Thực tiễn chiến dịch cho thấy, trải qua 56 ngày đêm chiến đấu kiên cường, dũng cảm, sáng tạo, ta đã diệt và bắt sống toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ, thu nhiều vũ khí, trang bị của chúng. Thắng lợi đó là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó nổi bật là nghệ thuật tác chiến hiệp đồng giữa bộ đội chủ lực và các binh chủng phối thuộc, được thể hiện ở một số nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, tập trung binh lực, hỏa lực giải quyết dứt điểm từng cụm mục tiêu vòng ngoài.
Trong đợt 1 (từ ngày 13 đến 17-3-1954), ta tiến công đánh chiếm trung tâm đề kháng Him Lam. Bộ chỉ huy chiến dịch xác định đây là cụm cứ điểm mạnh; thắng lợi của trận mở đầu sẽ tạo thế, tạo đà cho chiến dịch phát triển. Vì thế, Bộ chỉ huy chiến dịch tập trung lực lượng hơn hẳn 6 lần địch (5 trung đoàn), tiến công tiêu diệt 3 tiểu đoàn chiếm đóng và đề phòng 2 tiểu đoàn cơ động của địch.

Trong đợt tập kích hỏa lực đầu tiên mang tên “Sấm rền”, ta đã sử dụng 11 đại đội pháo, súng cối (chiếm khoảng 70% tổng số pháo binh tham gia chiến dịch) bí mật triển khai trên các triền núi, bất ngờ giáng đòn sấm sét xuống các mục tiêu: Him Lam, Phân khu Trung tâm, sân bay, các trận địa pháo và kho tàng của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ binh tiến công.

Đêm 13-3, trung tâm đề kháng Him Lam bị ta tiêu diệt. Sau khi làm chủ Him Lam, đêm 14-3, dưới sự chi viện kịp thời, có hiệu quả của pháo binh, 2 trung đoàn bộ binh của ta đã tiến công mãnh liệt, tiêu diệt trung tâm đề kháng Độc Lập, xóa sổ một tiểu đoàn Bắc Phi, diệt 483 tên, bắt 200 tên; đánh bại các đợt phản kích của địch và làm chủ vững chắc vị trí này.

Nét đặc sắc của nghệ thuật sử dụng lực lượng ở đây là: Ta không chỉ đánh giá sát đúng tình hình địch để tập trung lực lượng bảo đảm đủ sức tiêu diệt địch nhanh gọn, khiến chúng hoàn toàn bất ngờ, không kịp trở tay; mà còn là nghệ thuật phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa bộ binh với pháo binh, xung lực với hỏa lực (đây là lần đầu tiên bộ đội ta đánh hiệp đồng binh chủng giữa bộ binh và pháo binh với quy mô lớn nhưng chưa qua diễn tập) và giữa hoạt động đánh chiếm trận địa với đánh bại địch phản kích. Nhờ đó, bộ đội chủ lực đã tiêu diệt các cứ điểm ngoại vi, mở toang cánh cửa “vòng ngoài” để đưa lực lượng vào tiến công khu vực trung tâm tập đoàn cứ điểm địch.

Thứ hai, sử dụng lực lượng chốt điểm, vây lấn hợp lý.
Bước vào đợt 2 (từ ngày 30-3 đến 30-4-1954), Bộ chỉ huy chiến dịch chủ trương tổ chức các trung đoàn bộ binh thành các lực lượng nhỏ, hoạt động rộng rãi, thực hiện đánh vây lấn, chia cắt, cô lập từng cứ điểm, cụm cứ điểm, xiết chặt vòng vây vào khu trung tâm.

Để thực hiện tốt chủ trương này, Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ đạo các đơn vị trên từng hướng tiến công tổ chức lại lực lượng; tích cực xây dựng trận địa bao vây và trận địa tiến công, kết hợp chặt chẽ giữa vây lấn và đột phá trận địa phòng ngự địch, tạo cơ sở cho các lực lượng vừa thực hành vây lấn, vừa phòng ngự ngăn chặn, đánh bại phản kích của địch, khi có thời cơ tiến hành đột phá, lần lượt đánh chiếm từng cứ điểm, ổ đề kháng, từng bước thu hẹp dần phạm vi trận địa phòng ngự của chúng.

Cùng với nhiệm vụ chiến đấu, bộ đội đã tổ chức đào hàng trăm ki-lô-mét giao thông hào chiến đấu, cơ động cùng hàng nghìn công sự và ụ súng các loại, tạo thế liên kết chặt chẽ với nhau, có thể cơ động lực lượng và mang vác một số vũ khí, thậm chí cả pháo hạng nhẹ. Với tinh thần tích cực, vượt mọi khó khăn, gian khổ, nên chỉ trong thời gian ngắn, hệ thống giao thông hào, chiến hào ngày càng lấn sâu vào phía cứ điểm, cụm cứ điểm, tạo thành “sợi dây thòng lọng” mỗi ngày lại xiết chặt thêm yết hầu quân địch. Dựa vào thế trận đó, Bộ chỉ huy chiến dịch đã ra lệnh cho các đơn vị chủ lực tổ chức lực lượng đánh địch rộng khắp, thực hiện triệt để việc “vây, lấn, tấn, diệt”... Với cách đánh này, ta vừa khắc phục được hỏa lực địch, vừa phá hủy từng ụ đề kháng, tiêu diệt thêm các cứ điểm ở vòng trong, làm hao mòn sinh lực địch. Do đó, đến trung tuần tháng 4-1954, quân ta từng bước làm thay đổi cục diện chiến trường. Sân bay Mường Thanh bị hàng loạt chiến hào ta cắt đứt, không còn là nơi lên, xuống của máy bay địch.

Các trận địa pháo binh của ta cũng từng bước thu hẹp vòng vây; từ các vị trí có lợi dồn dập nã đạn diệt gọn các khẩu đội pháo của địch ở trung tâm Mường Thanh. Đồng thời, pháo cao xạ của ta được đưa xuống cánh đồng Mường Thanh khống chế vùng trời này, buộc địch phải thả dù ở độ cao lớn, làm cho hơn nửa số dù tiếp tế hậu cần, kỹ thuật rơi vào trận địa của ta, trở thành nguồn cung cấp đạn pháo và lương thực, thực phẩm cho các đơn vị.

Thực tế chứng minh, việc sử dụng lực lượng hợp lý, tổ chức vây hãm, đẩy mạnh đánh lấn, tiêu hao rộng khắp, triệt đường tiếp tế của địch ở Điện Biên Phủ đã đẩy chúng vào thế ngày càng khốn quẫn. Đến cuối tháng 4-1954, mặc dù quân Pháp ở Điện Biên Phủ còn hơn một vạn tên, nhưng lực lượng có đủ khả năng để chiến đấu còn rất ít. Đây là điều kiện thuận lợi cho ta tiếp tục tiến công kết thúc chiến dịch.

Thứ ba, tập trung lực lượng tổng công kích giành thắng lợi quyết định.
Trước những dấu hiệu phát triển đột biến của chiến trường, thời cơ tiêu diệt hoàn toàn Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đã xuất hiện, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định huy động mọi lực lượng, thực hiện tổng công kích giành thắng lợi.

Chiều 7-5-1954, trên các hướng, mũi, toàn bộ lực lượng của ta đang từ thế vây lấn được lệnh nhanh chóng chuyển sang tổng công kích bằng sức mạnh áp đảo quân địch. Trên các hướng, mũi, các lực lượng tiến công hiệp đồng chặt chẽ với nhau, tạo sức mạnh tổng lực, nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu và hẹn giờ hợp điểm chiến thắng tại trung tâm Mường Thanh.

Nét sáng tạo trong sử dụng lực lượng chiến dịch còn được thể hiện, khi thời cơ đến, Bộ chỉ huy chiến dịch táo bạo sử dụng Trung đoàn 209 (Đại đoàn 312) vượt cầu Mường Thanh, thọc sâu vào sở chỉ huy địch, bắt sống tướng De Castries, binh lính địch lũ lượt giơ cờ trắng ra hàng. Ở khu vực Hồng Cúm, Đại đoàn 304 dùng loa kêu gọi địch đầu hàng. Lợi dụng đêm tối, địch tháo chạy, ta truy kích và đã bắt sống toàn bộ. Cùng với Chiến dịch Điện Biên Phủ, các lực lượng: Bộ binh, pháo binh, phòng không, hậu cần ở các mặt trận phía sau, thậm chí cả lực lượng ở vùng địch chiếm đóng đã phối hợp chặt chẽ, chủ động, tích cực tiến công địch ở khắp nơi, tạo thế kiềm chế, cô lập, không cho chúng hỗ trợ, tăng cường binh lực, hỏa lực cho quân đồn trú ở Điện Biên Phủ.

Chiến dịch Điện Biên Phủ là chiến dịch đầu tiên Quân đội ta sử dụng cách đánh hiệp đồng quân, binh chủng giữa bộ đội chủ lực và các lực lượng pháo binh, pháo cao xạ tiến công quy mô lớn, tiêu diệt địch phòng ngự trong công sự vững chắc. Các đơn vị của ta đã thực hiện xuất sắc tiêu diệt gọn quân địch về chiến thuật, tiêu diệt lớn về chiến dịch và chiến lược.

Thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ để lại nhiều bài học sâu sắc, đặc biệt có giá trị về lý luận và thực tiễn. Trong đó, nghệ thuật sử dụng sức mạnh của bộ đội chủ lực, tác chiến hiệp đồng trong Chiến dịch Điện Biên Phủ cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vận dụng vào xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, bảo đảm đánh thắng kẻ thù trong mọi tình huống.

Nhằm góp phần cụ thể hóa chủ trương về tổ chức, xây dựng Quân đội trong tình hình mới, ngày 21-11-2023, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã ký Quyết định số 6012/QĐ-BQP về việc thành lập Quân đoàn 12-quân đoàn chủ lực đầu tiên được tổ chức lại theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, tiến lên hiện đại. Quân đoàn 12 được thành lập trên cơ sở các đơn vị tiền thân có bề dày truyền thống lịch sử vẻ vang của Quân đoàn 1 và Quân đoàn 2.

Sự ra đời của Quân đoàn 12 đánh dấu bước phát triển lớn mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới. Quy mô tổ chức lực lượng của Quân đoàn lớn hơn, chức năng, nhiệm vụ bổ sung nhiều hơn, được trang bị nhiều loại vũ khí, phương tiện hiện đại. Với thế bố trí mới, Quân đoàn 12 đảm nhận nhiệm vụ mở các chiến dịch có quy mô vừa và đánh bại mọi hình thái đặc trưng mới của địch trong tương lai, đồng thời thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ theo yêu cầu của Bộ Quốc phòng.

Một tháng sau khi thành lập, Quân đoàn 12 tổ chức cuộc diễn tập có bắn đạn thật đầu tiên, với sự phối hợp, hiệp đồng chiến đấu của nhiều quân, binh chủng như: Phòng không-không quân, pháo binh, xe tăng, thiết giáp, công binh, hóa học, thông tin liên lạc, tác chiến điện tử, đặc công...; sử dụng nhiều loại vũ khí, khí tài mới, hiện đại do Việt Nam nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, chưa từng có trong các cuộc diễn tập trước đây. Quân đoàn 12 cùng các lực lượng tham gia đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Đây là minh chứng cho sự trưởng thành, lớn mạnh toàn diện của Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung và Quân đoàn 12 nói riêng; đồng thời thể hiện năng lực, trình độ tổ chức chỉ huy, phối hợp hiệp đồng của các lực lượng tham gia cuộc diễn tập, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao, xây dựng Quân đoàn 12 xứng đáng là quân đoàn chủ lực, cơ động chiến lược của Quân đội ta được tổ chức theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, tiến lên hiện đại.

Để tiếp tục phát huy các giá trị, ý nghĩa, bài học kinh nghiệm của Chiến dịch Điện Biên Phủ vào quá trình xây dựng Quân đoàn và bảo đảm đánh thắng trong mọi tình huống, Quân đoàn 12 xác định tiếp tục thực hiện tốt một số giải pháp:
Một là, tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Chú trọng làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục sâu sắc nhiệm vụ, khơi dậy và phát huy truyền thống vẻ vang của Quân đội và đơn vị; vận dụng sáng tạo các giá trị, bài học kinh nghiệm của các cuộc kháng chiến nói chung, Chiến dịch Điện Biên Phủ nói riêng trong huấn luyện, thực hiện nhiệm vụ...

Hai là, tiến hành đồng bộ, hiệu quả các giải pháp xây dựng Quân đoàn “tinh, gọn, mạnh”, gắn với đổi mới, đột phá nâng cao chất lượng huấn luyện, đào tạo, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, tổ chức biên chế của Quân đoàn và từng đơn vị. Quá trình huấn luyện chú trọng truyền thụ kinh nghiệm thực tiễn, nâng cao năng lực thực hành, làm chủ vũ khí, trang bị, khí tài mới, hiện đại, sức cơ động và khả năng tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng giữa các đơn vị trong Quân đoàn và với đơn vị bạn trong điều kiện chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao. Coi trọng nghiên cứu các hình thức tác chiến trong các cuộc xung đột quân sự gần đây trên thế giới; phát triển nghệ thuật quân sự vận dụng vào thực tiễn huấn luyện, diễn tập để có phương thức tác chiến phù hợp. Tích cực ứng dụng khoa học-công nghệ, các phương tiện kỹ thuật hiện đại trong huấn luyện, diễn tập ở các cấp, bảo đảm sát thực tế chiến đấu, rèn luyện khả năng chịu đựng khó khăn, gian khổ, tạo sức khỏe bền bỉ, dẻo dai cho bộ đội, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ.

Ba là, quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới phương thức bảo đảm hậu cần, kỹ thuật và cơ chế quản lý tài chính phù hợp với quy mô, lực lượng, địa bàn của Quân đoàn. Chú trọng nâng cao chất lượng bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho các nhiệm vụ; thực hiện tốt phương châm “thực túc-binh cường”, đẩy mạnh tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, quan tâm chăm lo bảo đảm tốt đời sống vật chất và tinh thần cho bộ đội. Quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật trong biên chế, nhất là các loại vũ khí mới, hiện đại. Chú trọng xây dựng, nâng cao sức cơ động để Quân đoàn thực sự là đơn vị “chủ lực, cơ động chiến lược” của Bộ Quốc phòng, đáp ứng kịp thời nhiệm vụ trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, với mọi quy mô lực lượng và cự ly, yêu cầu của hình thức tác chiến được giao.

Bốn là, thường xuyên giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp; chăm lo xây dựng các cấp ủy, tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, tiêu biểu về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”. Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới. Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Phát huy tốt vai trò tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ chủ trì; cấp ủy, chỉ huy các cấp phải thực sự tiên phong, gương mẫu, thấm nhuần và thực hiện hiệu quả tinh thần 7 dám: “Dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung”, quyết tâm lãnh đạo, tổ chức chỉ huy đơn vị thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ.

Năm là, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng; chăm lo xây dựng các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân vững mạnh; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, tăng cường đối thoại giữa cán bộ chủ trì với cán bộ, chiến sĩ, giải quyết kịp thời các vướng mắc nảy sinh từ cơ sở. Triển khai hiệu quả công tác dân vận, chú trọng ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, góp phần xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc; chủ động chuẩn bị tốt lực lượng, phương tiện, phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền, các lực lượng và nhân dân địa phương trong thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, diễn tập và tham gia phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, bảo vệ môi trường...
Ảnh: Quân đoàn 12 và các lực lượng tham gia diễn tập chiến thuật có bắn đạn thật, tháng 12-2023.
Yêu nước ST.

Tác động đến sự biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp của cách mạng công nghiệp lần thứ tư

 


Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển làm cho cơ cấu kinh tế thay đổi dẫn đến sự thay đổi cơ cấu xã hội và cơ cấu xã hội - giai cấp. Xu hướng giảm bớt lao động nông nghiệp, tăng thêm lực lượng lao động công nghiệp (đã diễn ra trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa) do tác động của khoa học và công nghệ diễn ra ngày càng mạnh mẽ hơn. Trong nông nghiệp, tính chất lao động và trình độ kỹ thuật cũng đạt tới trình độ hiện đại. Đặc biệt cuộc cách mạng trong lĩnh vực sinh học, kỹ thuật gen và việc ứng dụng ngày càng rộng rãi những thành tựu khoa học và công nghệ vào nông nghiệp đã cho phép từng bước xóa bỏ sự khác biệt giữa lao động công nghiệp và lao động nông nghiệp.

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tốc độ phát triển của các ngành mà đồng thời còn làm cho hoạt động phân công lao động trong xã hội ngày một sâu sắc hơn, từ đó dẫn đến hệ quả của việc phân chia ngành kinh tế thành nhiều ngành nhỏ, có nhiều ngành nghề mới xuất hiện cùng với nhiều lĩnh vực kinh tế mới. Kết quả cuối cùng là làm cho cơ cấu kinh tế được thay đổi theo chiều hướng tích cực. Cơ cấu ngành nghề, từ những ngành nghề cổ truyền chuyển thành các ngành nghề có ưu thế, có sự độc quyền cao, bảo đảm lợi nhuận cao, nhất là kinh tế số.

Việc áp dụng những công nghệ hoàn toàn mới đã tạo điều kiện cho sản xuất phát triển theo chiều sâu, giảm hẳn tiêu hao năng lượng và nguyên nhiên vật liệu, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của sản xuất. Các ngành dịch vụ phát triển như: dịch vụ sản xuất, dịch vụ công nghiệp, dịch vụ du lịch (ngành công nghiệp không khói).

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay làm thay đổi cơ cấu giai cấp công nhân cả về số lượng, chất lượng, tính chất lao động và mức thu nhập. Công nhân lao động trực tiếp giảm, lao động gián tiếp tăng; trình độ ngày càng được nâng cao, như ở Nhật Bản 90% công nhân có trình độ đại học; từ lao động cơ bắp chuyển thành lao động kỹ thuật, lao động trí tuệ; xuất hiện nhiều loại hình công nhân như: công nhân áo trắng, công nhân áo xanh, công nhân áo vàng Về số lượng: thế kỷ XIX trên thế giới có 19 triệu công nhân, nay gần 2 tỷ công nhân.

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay làm cho lao động trí óc, lao động chân tay, nông thôn và thành thị xích lại gần nhau. Do đó tỉ lệ thất nghiệp và nguy cơ thất nghiệp của công nhân cũng tăng lên. Trong cuộc khủng hoảng kinh tế vừa qua của các nước Mỹ, Nhật Bản, Anh, Châu Âu và Trung Quốc, số người thất nghiệp lên tới hàng chục triệu người; phân hóa giàu nghèo giữa các giai cấp, tầng lớp diễn ra nhanh chóng hơn, làm cho số dân ở đô thị và các khu công nghiệp gia tăng nhanh chóng kéo theo hàng loạt các vấn đề cần phải giải quyết về công ăn việc làm, thu nhập.

C.Mác và Ph.Ăngghen đã dự báo: Sự phát triển của đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa ngày càng làm phá sản hàng loạt những người sản xuất nhỏ, ngày càng tập trung tư liệu sản xuất vào tay các nhà tư bản, làm cho đội ngũ những người lao động làm thuê ngày càng đông.

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư không giúp cho xã hội tư bản khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản, vốn có của nó, trái lại càng làm cho những mâu thuẫn đó tích tụ và ngày càng gay gắt hơn. Ngược lại, vấn đề thất nghiệp cũng đang là một vấn đề xã hội phức tạp ở các nước xã hội chủ nghĩa. Nhưng mục đích và bản chất của chủ nghĩa xã hội là hướng tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho người lao động. Sự tồn tại những người thất nghiệp là do trình độ thấp kém về kinh tế, tài chính chưa đủ điều kiện tạo ra nhiều chỗ làm việc để thu hút hết người có sức lao động, mặt khác cũng phải tính đến cả sự yếu kém trong việc quản lý kinh tế - xã hội của nhà nước và các ngành kinh tế mà chủ nghĩa xã hội đang từng bước khắc phục, giải quyết. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, việc ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại cho phép rút ngắn thời gian lao động, tăng thêm chỗ làm việc, giải quyết triệt để vấn đề thất nghiệp và không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân lao động.

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư còn tác động sâu sắc đến cơ cấu dân cư nông thôn và đô thị theo xu hướng tăng nhanh dân số đô thị. Điều đó cũng đặt ra nhiều vấn đề xã hội phải giải quyết thỏa đáng hiện nay.

Nhận diện, phân tích, phê phán một vài khuynh hướng giải thiêng trong văn học

 

Vận dụng những tri thức mới nhất về triết học liên văn hóa, căn cứ vào thực tế diễn ra của văn học đương đại Việt Nam và thế giới, căn cứ vào những đặc trưng cơ bản của văn học, lấy điểm tựa là quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về vai trò, sứ mệnh của văn học nghệ thuật, bài viết nhận diện một vài khuynh hướng giải thiêng trong văn học Việt Nam từ sau 1975: Về quan niệm “văn học minh họa”; về khuynh hướng hạ bệ thần tượng; hạ thấp, xuyên tạc các giá trị văn hóa; về khuynh hướng cổ vũ “diễn ngôn bên lề”, “diễn ngôn ngoại vi”, phân tích các biểu hiện, chỉ ra một cách cụ thể nguyên nhân. Trên cơ sở đó, trên nét lớn, bài viếtss đưa ra những giải pháp khắc phục hạn chế, tiêu cực cả ở phía chủ quan và khách quan.

Triết học liên văn hóa (The Intercultural Philosophy) đang là hướng nghiên cứu ưu trội được vận dụng, hưởng ứng mạnh mẽ trên thế giới, nhất là trong lĩnh vực văn học nghệ thuật. Với quan niệm bất kỳ hiện tượng văn hóa nào cũng là sự hội tụ, kết tinh từ nhiều luồng văn hóa để hướng đến những điểm tương đồng trên nền tảng các khác biệt, do vậy nhận thức một vấn đề không chỉ từ cái nhìn dân tộc, đa chiều hơn, từ nhiều hướng khác nhau để tìm ra những giá trị phổ quát, nhân loại. Trên cơ sở đó, bài viết sẽ nhận diện, phân tích, phê phán một vài quan niệm chưa đúng, vội vã, lệch lạc hoặc cố tình hiểu sai (để phủ nhận) về văn học, góp phần đưa vấn đề về đúng vị trí vốn có. Trọng tâm là tập trung vào vấn đề “giải thiêng” biểu hiện ở nhiều cấp độ.

Phòng, chống "diễn biến hòa bình": Cảnh giác với dụng ý xấu

 

Hôm nay, ông bà Đậu-Tuyết thịt con gà, làm bữa cơm mừng con gái út vừa hoàn thành kỳ thi tốt nghiệp THPT. Sau bữa cơm, thấy ông Đậu ngồi bần thần ngoài sân, bà Tuyết đi tới, vừa kéo ghế vừa hỏi: