Thứ Năm, 3 tháng 10, 2024

Thực tiễn lịch sử trong bảo vệ Tổ quốc của nhân loại

 


Từ khi ra đời, các nước xã hội chủ nghĩa luôn phải đối mặt với sự tiến công chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. Sau Cách mạng Tháng Mười năm 1917, Chính quyền Xô viết phải động viên mọi nguồn lực của đất nước chống lại và đập tan sự tiến công của liên minh 14 nước đế quốc câu kết với các thế lực tư sản, phong kiến phản động Nga. Những năm 30 - 40 của thế kỷ XX, để tránh đòn tiến công trực tiếp về quân sự, các nước phương Tây tìm mọi cách hướng lái cuộc chiến tranh phát xít vào Liên Xô. Thắng lợi của cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của nhân dân Liên Xô năm 1945 không chỉ bảo vệ toàn vẹn Tổ quốc xã hội chủ nghĩa mà còn tạo thành trì vững chắc cho sự ra đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Nhờ đó, chủ nghĩa phát xít và quân phiệt đã bị tiêu diệt, làm thất bại những âm mưu chiến lược chống phá, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội hiện thực của chủ nghĩa đế quốc. 

Bên cạnh đó, chủ nghĩa đế quốc đã ra sức chạy đua vũ trang, tiến hành “Chiến tranh Lạnh”, chiến tranh xâm lược kết hợp với chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ chống các nước xã hội chủ nghĩa. Trong những năm 50 - 60, từ kích động, tổ chức các cuộc phản loạn, mưu đồ lật đổ các nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu; các thế lực đế quốc trực tiếp tiến hành chiến tranh xâm lược Triều Tiên, Cu Ba, Việt Nam. Cuối những năm 80, đầu những năm 90, chúng đã đẩy mạnh chiến lược chống phá toàn diện, làm sụp đổ các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô.

Trên đà “chiến thắng không cần chiến tranh”, từ những năm 90 thế kỷ XX đến nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tiếp tục tổ chức những cuộc bạo động chính trị lớn khắp Trung Quốc, âm mưu cướp chính quyền ở Bắc Kinh; tiến công quân sự làm tan rã Liên bang Nam Tư; chia tách, chuyển hóa các nước cộng hòa thuộc Liên Xô (trong thế kỷ XX); chống phá phong trào cánh tả ở Mỹ Latinh. Hiện nay, chúng vẫn là tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ kết hợp với gây sức ép toàn diện trên mọi lĩnh vực, kể cả răn đe và tiến công quân sự hòng thủ tiêu hoặc chuyển hóa các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam. 

Thực tiễn lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, nhất là khi có Đảng lãnh đạo đã chứng minh tính tất yếu khách quan phải bảo vệ Tổ quốc. Suốt chiều dài lịch sử, dân tộc ta đã luôn luôn ở trong tư thế sẵn sàng chống ngoại xâm và phải liên tiếp đương đầu với nhiều cuộc chiến tranh xâm lược, phần lớn là của những quốc gia lớn mạnh, những đế quốc cường bạo. Chỉ tính trong khoảng 22 thế kỷ, từ cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Tần đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dân tộc ta đã buộc phải tiến hành 13 cuộc chiến tranh giữ nước hết sức quyết liệt. Trong đó, đã 10 lần chiến thắng, giữ vững nền độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia. Trong thời kỳ bị Bắc thuộc, Minh thuộc và Pháp thuộc, nhân dân ta đã tiến hành hàng trăm cuộc khởi nghĩa, dần chuyển hóa, phát triển thành chiến tranh giải phóng, đưa đến thắng lợi cuối cùng là giải phóng hoàn toàn đất nước.

Từ giữa thế kỷ thứ XIX đến những năm 70 của thế kỷ XX, đất nước ta liên tiếp bị các thế lực thực dân, đế quốc và phong kiến, phản động tay sai xâm lược, đô hộ và áp bức, nô dịch. Từ khi thống nhất đất nước (1975), các thế lực ngoại bang vẫn tiến hành xâm lược lãnh thổ, chống phá nền độc lập dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức chống phá Việt Nam chủ yếu bằng “diễn biến hòa bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ, ly khai. Chúng không từ bỏ thủ đoạn thâm độc nào để chống phá toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, mưu toan gây mất ổn định chính trị, kết hợp với bạo loạn lật đổ, hòng xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Mặt khác, yêu cầu đặt ra hàng đầu là phải thường xuyên giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, thực hiện thắng lợi các mục tiêu của công cuộc đổi mới, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Vì thế, đi đôi sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, cả về lý luận và thực tiễn đã chỉ ra, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là tất yếu khách quan, nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của cách mạng Việt Nam hiện nay.

Âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá chủ nghĩa xã hội nói chung, cách mạng Việt Nam nói riêng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay

 


Từ khi chủ nghĩa xã hội hiện thực ra đời cho đến nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ra sức chống phá toàn diện với những âm mưu, thủ đoạn hết sức hiểm độc. Tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản, thủ tiêu chủ nghĩa xã hội trên thế giới là bản chất và mục đích của chủ nghĩa chống cộng. Khi hệ thống xã hội chủ nghĩa hình thành, đứng đầu là Liên Xô chủ nghĩa chống cộng trở thành cơ sở tư tưởng của mọi chính sách thù địch, phản động của chủ nghĩa đế quốc. Với hệ tư tưởng thể hiện lợi ích của chủ nghĩa đế quốc nhất quán chống lại các lực lượng xã hội chủ nghĩa, dân chủ và tiến bộ, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc, nhất là các nước xã hội chủ nghĩa.

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa chống cộng biểu hiện tập trung ở “chủ nghĩa Truman” với kế hoạch “Phục hưng châu Âu”, lấy viện trợ làm đòn bẩy cho chính sách chống Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa; đàn áp các tổ chức cộng sản ở châu Âu; chống phong trào giải phóng dân tộc; ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản, can thiệp và mở rộng chiến tranh ở Đông Dương.

Hiện nay, các thế lực thù địch tiếp tục chống phá các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, cũng như các lực lượng tiến bộ theo xu hướng xã hội chủ nghĩa chủ yếu bằng “diễn biến hòa bình”, kết hợp bạo loạn lật đổ, kích động chủ nghĩa ly khai, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế để từng bước xâm nhập, chuyển hóa và khi có thời cơ tiến hành lật đổ, thậm chí không loại trừ tạo cớ để can thiệt quân sự, gây chiến tranh xâm lược. Các thế lực cường quyền, hiếu chiến đang tiếp tục thực hiện các chính sách quân sự, cạnh tranh chiến lược... đe dọa đến nền hòa bình và an ninh thế giới, khu vực nói chung, sự thống nhất, toàn vẹn Tổ quốc xã hội chủ nghĩa nói riêng.

Đối với Việt Nam, các thế lực chống cộng, thế lực thù địch ra sức chống phá cách mạng Việt Nam trên cả phương diện tự nhiên - lịch sử và chính trị - xã hội. Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá chủ nghĩa xã hội hiện thực, thì chúng coi Việt Nam là trọng điểm, coi trọng thúc đẩy “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ, kết hợp với bạo loạn lật đổ, ly khai hòng lật đổ, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đưa Việt Nam phát triển theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa, hoặc chế độ khác không phải xã hội chủ nghĩa.

Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh về tính tất yếu bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

 


Thời kỳ C.Mác và Ph.Ăngghen, do điều lịch sử quy định nên các ông chưa bàn nhiều đến vấn đề “bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”, song các ông đã nêu ra những quan điểm khoa học về tính tất yếu phải bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Trong Các bài phát biểu tại En-bơ-phen-đơ năm 1845, Ph.Ăngghen khẳng định: “Xin quý vị lưu ý rằng, khi xảy ra chiến tranh và đương nhiên chỉ có thể là chiến tranh chống lại các quốc gia chống cộng sản thì mỗi thành viên xã hội phải bảo vệ tổ quốc chân chính, mái nhà chân chính, do đó sẽ chiến đấu với tinh thần hăng hái, tính cương nghị và lòng dũng cảm khiến cho quân đội hiện đại được huấn luyện một cách máy móc phải tan”[1]. Như vậy, tổ quốc mà Ph.Ăngghen đề cập ở đây là Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Trên tinh thần ấy, V.I.Lênin đã bổ sung, phát triển thành học thuyết bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền, thành lập nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, thì sự nghiệp bảo vệ tổ quốc đặt ra một cách trực tiếp, cấp bách. Bởi vì, chiến tranh, xâm lược, nô dịch là “bạn đường” của chủ nghĩa đế quốc, là trở lực lớn nhất trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì thế, “Không cầm vũ khí bảo vệ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa, thì chúng ta không thể tồn tại được. Giai cấp thống trị không bao giờ nhường chính quyền cho giai cấp bị trị”[2]. V.I.Lênin nhấn mạnh: “Kể từ ngày 25 tháng Mười năm 1917, chúng ta là những người chủ trương bảo vệ tổ quốc. Chúng ta tán thành “bảo vệ tổ quốc”, những cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang đi tới, là một cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là tổ quốc, bảo vệ nước Cộng hòa Xô viết, với tính cách là một đơn vị trong đạo quân thế giới của chủ nghĩa xã hội”[3].

V.I.Lênin tuyên bố: “Nước Cộng hòa liên bang xô - viết Nga nhất trí lên án những cuộc chiến tranh ăn cướp, từ nay nhận thấy mình có quyền và có nghĩa vụ bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa chống lại tất cả các cuộc xâm lược có thể xảy ra do bất kỳ một cường quốc đế quốc chủ nghĩa nào gây ra”[4]. Trong tác phẩm “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa lâm nguy!”, V.I.Lênin tiếp tục khẳng định: “1) Tất cả mọi lực lượng, mọi tài nguyên của đất nước đều phải dành cho công cuộc bảo vệ cách mạng. 2) Tất cả các Xôviết và các tổ chức cách mạng có trách nhiệm phải bảo vệ từng vị trí cho đến giọt máu cuối cùng”[5]. V.I.Lênin nhấn mạnh: “Chúng ta là những người chủ trương bảo vệ tổ quốc kể từ ngày 25 tháng Mười năm 1917. Điều này tôi đã nói nhiều lần một cách hoàn toàn dứt khóat, và các anh cũng không dám bác lại. Chính vì lợi ích “củng cố mối liên hệ” với chủ nghĩa xã hội quốc tế nên nhất thiết phải bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa”[6].

Kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tính tất yếu phải bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa vào điều kiện cụ thể Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc là quy luật sinh tồn của dân tộc trong tiến trình lịch sử và là một trong hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Người đã chỉ ra “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”[7]. Trong Tuyên ngôn độc lập (1945) và Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”; “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên chống thực dân Pháp để cứu Tổ quốc”[8]. Như vậy, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam là nhiệm vụ chiến lược đặt trong mối quan hệ biện chứng với nhiệm vụ xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

Hơn 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, kiên quyết đấu tranh bảo vệ nền độc lập, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, tiến hành sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và giành được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Trong Cương lĩnh (2011), Đảng ta khẳng định: Xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau”[9]. Đến Văn kiện Đại hội XIII, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc được khẳng định ngay trong chủ đề của Đại hội: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy ý chí, khát vọng, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp sức mạnh thời đại; đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, phát triển nhanh và bền vững đất nước; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”[10].



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 2, “Các bài phát biểu tại En-bơ-phen-đơ” (1845), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội,1995, tr.725.

[2] V.I.Lênin toàn tập, Tập 30, “Cương lĩnh quân sự của cách mạng vô sản” (1916), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr.173.

[3] V.I.Lênin toàn tập, Tập 36, “Nhiệm vụ chủ yếu của thời đại chúng ta” (1918), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr.102

[4] V.I.Lênin toàn tập, Tập 36, “Đại hội IV bất thường các Xôviết toàn Nga” (1918), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr.153

[5] V.I.Lênin toàn tập, Tập 35, “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa lâm nguy” (1918), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr.435.

[6] V.I.Lênin toàn tập, Tập 36, “Về bệnh ấu trĩ “tả khuynh” và tính tiểu tư sản” (1918), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr.358.

[7] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 9, “Nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân tiên phong tại đền Hùng (Phú Thọ) (1954), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.59.

[8] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.63.

[9] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.65.

[10] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.14.

Từ quy luật sinh tồn của mọi quốc gia dân tộc trong bảo vệ Tổ quốc

 


Mọi sinh vật trong quá trình sinh thành, phát triển luôn phải bảo vệ, tự bảo vệ để chống lại các nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chính nó. Đối với xã hội loài người, quy luật ấy là tất yếu, khi xã hội xuất hiện sự phân công lao động, hình thành các giai cấp, tầng lớp có lợi ích khác nhau, nhất là có mâu thuẫn đối kháng thì nhà nước, tổ quốc ra đời, xuất hiện yêu cầu tự vệ - hoạt động bảo vệ tổ quốc xuất hiện.

Khi các tổ quốc đã định hình và phát triển vững chắc trên các phương diện tự nhiên và xã hội, trước nhu cầu phát triển của sản xuất, phát triển kinh tế, mở rộng thị trường, cùng với sự gia tăng các xung đột lợi ích không thể điều hòa giữa các giai cấp, tầng lớp, các tập đoàn kinh tế và sự lớn mạnh của nhà nước thể hiện ở sức mạnh kinh tế, sức mạnh quân sự… thì các quốc gia - dân tộc luôn phải đối phó nhiều hơn với các cuộc chiến tranh xâm lược với quy mô, hình thức lớn hơn.

Lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng minh rằng từ khi tổ quốc ra đời, cùng với đẩy mạnh xây dựng, phát triển đất nước, giai cấp thống trị xã hội còn phải tổ chức, tập hợp lực lượng đấu tranh chống thiên tai, địch họa để bảo vệ thành quả đã đạt được. Nhiều cuộc chiến tranh bảo vệ diễn ra rất khốc liệt nhằm đánh đuổi các thế lực ngoại xâm, bảo vệ quê hương, đất nước của mình.

Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ra đời và để tồn tại, phát triển cũng không ngoài quy luật chung là xây dựng đi đôi với bảo vệ thành quả cách mạng, lợi ích quốc gia - dân tộc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, chống lại sự chống phá, xâm lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. Bởi vì, còn chủ nghĩa đế quốc thì còn nguy cơ chiến tranh xâm lược, giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam tất yếu phải bảo vệ tổ quốc.

CẢNH GIÁC VỚI ÂM MƯU LỢI DỤNG THIÊN TAI ĐỂ XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ

 

Hiện cả hệ thống chính trị và toàn xã hội chung tay góp sức, vào cuộc quyết liệt để ứng cứu, khắc phục hậu quả của cơn bão số 3 và tình trạng lũ lụt, sạt lở gây thiệt hại nặng nề ở một số địa phương; thì trên không gian mạng, các thế lực thù địch lại lợi dụng tình hình này để đưa ra những luận điệu xuyên tạc nhằm chống phá Nhà nước Việt Nam và chia rẽ khố đại đoàn kết toàn dân.

 

Lợi dụng tình hình bão, lũ, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động lại “đục nước béo cò” tung ra các luận điệu xuyên tạc, chống phá, tuyên truyền trên không gian mạng theo hướng xuyên tạc, bóp méo sự thật. Đặc biệt, tổ chức khủng bố, phản động lưu vong Việt Tân những ngày qua đã đăng tải, tán phát hàng trăm bài viết, hình ảnh, video tuyên truyền xuyên tạc. Họ lấy hình ảnh bão, lũ, đời sống thiếu thốn, khổ cực của nhân dân trong cơn hoạn nạn rồi lồng ghép thông tin sai trái, xuyên tạc, cho rằng Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền nhân dân thờ ơ, vô trách nhiệm “bỏ mặc dân”.

 

Họ xuyên tạc “trong cơn bất hạnh của dân, tuyên giáo vẫn giả dối, đưa các hình ảnh, video tập huấn, diễn tập để tuyên truyền”; “nhân dân lâm nguy, chính quyền vẫn ưa bệnh thành tích”; “nhà nước đã phát gạo… trên tivi”; “sau cơn bão lũ, cây rừng thì dành cho lãnh đạo xây biệt phủ, hòm thì tặng cho dân nghèo”…

 

Lợi dụng vào sự cố sập cầu Phong Châu, các đối tượng bỏ qua việc nguyên nhân do tác động mưa lũ, lập tức quy kết cho “chính quyền phải chịu trách nhiệm vì đã ăn hối lộ, làm ngơ, bảo kê, tiếp tay cho tham nhũng nên mới gây ra hậu quả sập cầu”, cho rằng việc cầu sập là hậu quả của… chế độ!

 

Mưa bão đi qua, để lại hậu quả rất nặng nề, rất nhiều người cần được hỗ trợ, giúp đỡ. Trong lúc khó khăn, hàng trăm nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ, người dân đã không quản ngại khó khăn, gian khổ, nguy hiểm, xông pha tuyến đầu giúp người dân. “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”, Đảng và Nhà nước đã và tiếp tục dành nguồn lực để khôi phục cơ sở hạ tầng, hỗ trợ tái sản xuất, từng bước ổn định đời sống của nhân dân vùng thiên tai, bão lũ. Phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”, đồng bào và chiến sĩ cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài hưởng ứng lời kêu gọi của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã dành sự chia sẻ, giúp đỡ về tinh thần, vật chất. Những chuyến xe đậm nghĩa tình vẫn hối hả chở nhu yếu phẩm từ miền Nam, miền Trung ra vùng bị thiệt hại nặng nề bởi bão lũ ở miền Bắc với những nghĩa cử cao đẹp, thể hiện sâu sắc “tình dân tộc, nghĩa đồng bào”.

 

Vậy mà, tổ chức Việt Tân tự xưng tiêu chí hành động là “khát vọng Canh Tân” đã không có bất cứ chia sẻ nào với người dân trong cơn hoạn nạn lại tìm cách xuyên tạc, chống phá. Rõ ràng, việc lợi dụng bão lũ, thiên tai, mất mát đau thương để thông tin sai trái, xuyên tạc với mục đích kích động, chống lại đất nước, nhân dân Việt Nam là hành vi nhẫn tâm, vô đạo đức cần được vạch trần lên án và phản bác./.

Khái niệm bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

 


          thổng thể hoạt động của nhà nước và nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm giữ vững, củng cố độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ xã hội chủ nghĩa, những thành quả cách mạng, lợi ích quốc gia - dân tộc, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch.

          Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, phản ánh tính quy luật của cách mạng xã hội chủ nghĩa sau khi giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động giành được chính quyền. Mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa toàn diện cả phương diện tự nhiên - lịch sử và chính trị - xã hội, những thành quả cách mạng, lợi ích quốc gia - dân tộc, đấu tranh vô hiệu hóa, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. Phương thức bảo vệ là kết hợp giữa đấu tranh vũ trang và phi vũ trang, giữa xây dựng và bảo vệ, giữa bảo vệ và tự bảo vệ, được sử dụng trong từng giai đoạn lịch sử và tình huống cụ thể. Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa dựa trên sức mạnh tổng hợp của các lực lượng cách mạng, chế độ xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quân sự, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, trong đó lực lượng vũ trang và sức mạnh quân sự làm nòng cốt.

Xây dựng lực lượng nòng cốt phòng, chống địch lợi dụng dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta

 


Xây dựng, bồi dưỡng lực lượng nòng cốt tham gia đấu tranh các thế lực thù địch lợi dụng dân tộc, tôn giáo chống phá Việt Nam hiện nay. Lực lượng nòng cốt tham gia đấu tranh các thế lực thù địch lợi dụng dân tộc, tôn giáo chống phá Việt Nam hiện nay có vai trò tiên phong, xung kích, tập hợp, hướng dẫn các lực lượng khác cùng tham gia đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá Việt Nam. Do đó, xây dựng, bồi dưỡng lực lượng nòng cốt tham gia đấu tranh phải toàn diện cả về trình độ, kiến thức lý luận và phương pháp, kỹ năng, kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng, bồi dưỡng lực lượng nòng cốt là cán bộ, sĩ quan trẻ với bộ phận cán bộ, sĩ quan có kinh nghiệm trong hoạt động này.

Đòi hỏi, cấp ủy, chỉ huy các đơn vị có chủ trương, kế hoạch xây dựng, lựa chọn “hạt nhân”, xác định nội dung, hình thức xây dựng, bồi dưỡng lực lượng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao. Thường xuyên bồi dưỡng, cập nhật, nâng cao trình độ kiến thức, kinh nghiệm về dân tộc, tôn giáo. Coi trọng phổ biến, cập nhật những vấn đề mới, phức tạp, nảy sinh trong quan hệ dân tộc, tôn giáo nói chung và tình hình dân tộc, tôn giáo trên từng địa bàn đóng quân của các đơn vị nói riêng; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng phương pháp tuyên truyền nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch, âm mưu, thủ đoạn mới các thế thế lực thù địch. Đồng thời, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị phải thường xuyên bồi dưỡng phương pháp tư duy, kỹ năng phân tích xử trí các tình huống nảy sinh, kịp thời tham mưu, đề xuất với lãnh đạo, chỉ huy đơn vị các biện pháp hữu hiệu. Tích cực bồi dưỡng kỹ năng khai thác, sử dụng mạng xã hội (facebook, Zalo, telegram…) cho lực lượng nòng cốt. Quan tâm, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách phù hợp đối với lực lượng này.

Nâng cao nhận thức của cán bộ, chiến sỹ trong phòng, chống địch lợi dụng dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta

 


Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ trong đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta. Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu nhằm nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm, tinh thần cảnh giác cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ không để bị động, bất ngờ trước âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta. Bởi nhận thức đúng chính là cơ sở để mọi quân nhân có động cơ, thái độ đúng đắn, phát huy ý thức trách nhiệm, có ý chí quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao.

Nội dung tuyên truyền, giáo dục, cần tập trung giáo dục, quán triệt chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo trong chủ nghĩa xã hội. Thông qua đó làm cho mọi quân nhân nắm vững những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo để từ đó vận dụng đúng đắn trong quá trình đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn lợi dụng dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta hiện nay. Bên cạnh đó, cần chú trọng công tác giáo dục cho bộ đội quan điểm của Đảng, Nhà nước trong phòng, chống “Diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực dân tộc, tôn giáo, nhất là các quan điểm, nguyên tắc, phương châm, phương thức chỉ đạo đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta. Nội dung trọng tâm hiện nay là giáo dục để cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta, qua đó nâng cao nhận thức, tinh thần cảnh giác cách mạng, phát huy vai trò và trách nhiệm của quân nhân trong thực hiện công tác dân tộc, tôn giáo của quân đội ta.

Để nâng cao hiệu quả tuyên truyền, giáo dục, các cấp uỷ, chỉ huy các đơn vị quân đội phải thường xuyên chăm lo kiện toàn, củng cố tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, cán bộ dân vận ở tất cả các đơn vị trong toàn quân. Cần rà soát lại đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, bổ sung những người có kinh nghiệm, năng lực công tác, am hiểu tình hình, có kiến thức chuyên sâu về vấn đề dân tộc, tôn giáo. Trước những diễn biến phức tạp của tình hình dân tộc, tôn giáo trên thế giới và trong nước, đòi hỏi cấp uỷ, chỉ huy các đơn vị phải đổi mới cả về nội dung và hình thức công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ trên lĩnh vực này. Đồng thời, tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức rõ những âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta hiện nay; làm cho cán bộ, chiến sĩ thấy được tính chất nham hiểm, tinh vi trong các thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch. Từ đó mọi quân nhân nâng cao tinh thần cảnh giác, kịp thời phát hiện, đấu tranh vạch trần các âm mưu, thủ đoạn của địch, chủ động phòng ngừa, khắc phục triệt để những biểu hiện mơ hồ, xem nhẹ, lơ là, mất cảnh giác trước các luận điệu và hành động “mị dân” của các thế lực thù địch, không để bị động, bất ngờ trước các tình huống chống phá trên lĩnh vực dân tộc, tôn giáo.

Ở ĐÂU DÂN KHÓ, Ở ĐÓ CÓ BỘ ĐỘI!

 

Họ là những chiến sĩ, những người lính "Bộ đội Cụ Hồ", họ cũng là máu là thịt, là con của một gia đình có cha mẹ đang mong ngóng từng giây từng phút; gia đình, đơn vị họ cũng đang ngập chìm trong biển nước... Họ cũng có những giây phút lặng nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ vợ con; thèm một hơi ấm gia đình...

Nhưng vì đồng bào, vì màu áo xanh đã khoác, vì vành mũ cối sáng lấp lánh ngôi sao vàng mà xông pha ra tuyến đầu không màng khó khăn, nguy hiểm. Họ chỉ là những con người bình thường, những cánh tay áo xanh bình dị nhưng lại đang là điểm tựa vững chắc, ôm lấy đồng bào ta trong cơn nguy cấp.

Cảm ơn các anh, những người lính "Bộ đội Cụ Hồ"!!!

#nguồn sưu tầm Ở ĐÂU DÂN KHÓ, Ở ĐÓ CÓ BỘ ĐỘI!

 

Họ là những chiến sĩ, những người lính "Bộ đội Cụ Hồ", họ cũng là máu là thịt, là con của một gia đình có cha mẹ đang mong ngóng từng giây từng phút; gia đình, đơn vị họ cũng đang ngập chìm trong biển nước... Họ cũng có những giây phút lặng nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ vợ con; thèm một hơi ấm gia đình...

Nhưng vì đồng bào, vì màu áo xanh đã khoác, vì vành mũ cối sáng lấp lánh ngôi sao vàng mà xông pha ra tuyến đầu không màng khó khăn, nguy hiểm. Họ chỉ là những con người bình thường, những cánh tay áo xanh bình dị nhưng lại đang là điểm tựa vững chắc, ôm lấy đồng bào ta trong cơn nguy cấp.

Cảm ơn các anh, những người lính "Bộ đội Cụ Hồ"!!!

#nguồn sưu tầm

Vai trò, trách nhiệm của quân đội trong đấu tranh phòng, chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá Việt Nam

 


Vai trò của quân đội trong tham gia đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta: Một là, quân đội là lực lượng quan trọng trong tuyên truyền, giác ngộ và vận động quần chúng nhân dân, nhất là đồng bào vùng dân tộc, vùng tôn giáo hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng. Hai là, quân đội là lực lượng quan trọng tham mưu cho Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể địa phương trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, trực tiếp xây dựng khu vực phòng thủ, xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc vùng dân tộc, tôn giáo, góp phần đấu tranh, xử lý, vô hiệu hóa các hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng. Ba là, quân đội là lực lượng quan trọng trong tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vùng dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo; thiết thực góp phần chủ động tiến công làm thất bại âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch. Bốn là, quân đội là lực lượng trực tiếp chủ động đấu tranh ngăn ngừa, phát hiện, xử lý kiên quyết, kịp thời các hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng, các “điểm nóng” về dân tộc, tôn giáo ở trong nước và từ bên ngoài.

Chủ động, kịp thời giải quyết tốt các “điểm nóng” liên quan đến vấn đề dân tộc và tôn giáo.

 


Chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện, dập tắt mọi âm mưu, hành động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, kích động lôi kéo đồng bào gây rối, bạo loạn. Cần thường xuyên vạch trần bộ mặt phản động của các thế lực thù địch, phản động để nhân dân nhận rõ và không bị lừa bịp. Đồng thời, vận động, bảo vệ đồng bào các dân tộc, tôn giáo để đồng bào tự vạch mặt những thủ đoạn xảo trá của chúng. Phát huy vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng trong cuộc đấu tranh này.

Khi xuất hiện “điểm nóng” về dân tộc, tôn giáo, cần tìm rõ nguyên nhân, biện pháp giải quyết kịp thời, không để lan rộng, không để kẻ thù lấy cớ can thiệp; xử lý nghiêm minh theo pháp luật những kẻ cầm đầu ngoan cố chống phá cách mạng. Kiên trì thuyết phục, vận động những người nhẹ dạ, cả tin nghe theo kẻ xấu, quay về với buôn làng, đối xử khoan hồng, độ lượng, bình đẳng đối với những người lầm lỗi đã ăn năn hối cải, phục thiện. Khi có xung đột về lợi ích giữa các dân tộc, giữa các bộ phận trong cộng đồng các dân tộc, cần giải quyết theo tinh thần hòa giải; chống kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Phát hiện kịp thời, đấu tranh vô hiệu hóa các hoạt động truyền bá, kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, ly khai, tự trị; xử lý nghiêm các phần tử lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật, kích động chia rẽ các dân tộc, chia rẽ nhân dân với Đảng, gây mất trật tự xã hội, xâm phạm lợi ích an ninh quốc gia. Chủ động đấu tranh với hoạt động của các thế lực thù địch chỉ đạo, hậu thuẫn số đối tượng bên trong đòi ly khai, tự trị; đấu tranh với các hoạt động quốc tế hóa vấn đề dân tộc và sự can thiệp từ bên ngoài. Phát huy tinh thần yêu nước của đồng bào có đạo và truyền thống yêu nước chống ngoại xâm của đồng bào các dân tộc thiểu số; phối hợp chặt chẽ các tổ chức đoàn thể, lực lượng vũ trang; tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ, đồng tâm hiệp lực của đồng bào trong cuộc đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trên địa bàn.

Tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh vùng dân tộc và vùng đồng bào tôn giáo vững mạnh

 


Tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh vùng dân tộc và vùng đồng bào tôn giáo vững mạnh; kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Đây là giải pháp rất quan trọng, trực tiếp góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống các hoạt động lợi dụng dân tộc, tôn giáo trở thành “điểm nóng” trên các địa bàn. Theo đó, cần tiếp tục xây dựng, củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh cả về tiềm lực, lực lượng và thế trận, gắn thế trận quốc phòng toàn dân, với thế trận an ninh nhân dân, mà nòng cốt là “thế trận lòng dân” vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo. Bên cạnh đó, chủ động xây dựng và luyện tập các phương án đấu tranh, giải quyết các “điểm nóng” về dân tộc, tôn giáo. Chú trọng xây dựng phương án, kế hoạch phòng, chống bạo loạn, khủng bố; tăng cường kiểm tra, bổ sung hoàn chỉnh phương án bảo vệ an ninh ở địa phương, cơ sở. Giải quyết kịp thời, dứt điểm các vụ việc phức tạp liên quan đến dân tộc, tôn giáo, không để hình thành “điểm nóng”. Khi có “điểm nóng” xảy ra, cần phát huy sức mạnh tổng hợp, phối hợp chặt chẽ, thống nhất với các lực lượng, phân công, phân cấp trách nhiệm rõ ràng, thực hiện đúng pháp luật, theo chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức, lực lượng.

Xây dựng cơ sở chính trị - xã hội vùng dân tộc và vùng đồng bào tôn giáo vững mạnh toàn diện.

 


Tích cực xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vùng dân tộc, vùng tôn giáo đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, quản lý có hiệu quả. Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ, cả cán bộ lãnh đạo quản lý và cán bộ chuyên môn kỹ thuật, giáo viên… là người dân tộc thiểu số, người có tôn giáo. Bởi đây là đội ngũ cán bộ sở tạo có rất nhiều lợi thế trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo. Đổi mới công tác dân vận vùng dân tộc, tôn giáo theo phương châm: chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, tế nhị, vững chắc; sử dụng nhiều phương pháp phù hợp với đặc thù từng dân tộc, từng tôn giáo. Cán bộ công tác vùng dân tộc, tôn giáo phải biết tiếng dân tộc, am hiểu phong tục tập quán, tôn giáo của đồng bào. Thực hiện tốt phong cách công tác dân vận: trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân; không quan liêu tham nhũng để bị kẻ thù lợi dụng chống phá. Tăng cường và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về dân tộc, tôn giáo.

Kiên quyết xử lý những đối tượng cầm đầu, tuyên truyền tà đạo, có biện pháp theo dõi, khống chế những đối tượng ngoan cố; tạo điều kiện hoạt động cho những cơ sở tín ngưỡng phù hợp với nguyện vọng tâm linh, truyền thống, bản sắc của đồng bào và đúng với quy định xây dựng đời sống văn hóa, chống hủ tục ở cơ sở, địa bàn; lưu giữ chứng cứ pháp lý để đấu tranh chống địch xuyên tạc, vu cáo ta “đàn áp tôn giáo”. Thực hiện nghiêm Luật Dân chủ cơ sở, tôn trọng và phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân; không làm trái, làm sai gây dư luận bất bình trong nhân dân để các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc, kích động, phá hoại.

Phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc, đồng bào tôn giáo.

 


Xét đến cùng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc, các tôn giáo có ý nghĩa nền tảng để vô hiệu hóa sự lợi dụng của kẻ thù. Khi đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao, đồng bào sẽ đoàn kết, tin tưởng vào Đảng, Nhà nước, thực hiện tốt quyền lợi và nghĩa vụ của công dân thì kẻ thù, dù nham hiểm đến đâu cũng không chia rẽ dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam được. Đẩy nhanh tiến độ và hiệu quả các chương trình, dự án an sinh xã hội; ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội miền núi, vùng dân tộc, vùng tôn giáo, tạo mọi điều kiện để đồng bào các dân tộc, các tôn giáo nhanh chóng xóa đói giảm nghèo, tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, nhất là đối tượng người cao tuổi, trẻ em và phụ nữ vùng sâu, vùng xa.

Tích cực phổ cập giáo dục phổ thông, nâng cao dân trí, không để “tái mù” và xảy ra tình trạng “bản trắng” ở vùng sâu, vùng xa. Giải quyết tốt tình trạng tranh chấp đất đai, đẩy nhanh tiến độ giao đất, khoán rừng, tổ chức lại sản xuất cho đồng bào các dân tộc, tôn giáo, tạo việc làm ổn định, giúp đồng bào an cư lạc nghiệp. Đẩy mạnh cuộc vận động định canh, định cư, tăng cường cán bộ khuyến nông, khuyến lâm hướng dẫn đồng bào dân tộc, tôn giáo áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyển đổi ngành nghề, phát triển chăn nuôi, trồng trọt, nâng cao thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống để đồng bào yên tâm xây dựng cuộc sống lâu dài, nhất là ở các huyện miền núi, biên giới. Chăm lo đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc, tôn giáo; tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào các dân tộc, tôn giáo tổ chức các lễ hội truyền thống và các hoạt động văn hóa - thể thao, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể mang đậm bản sắc dân tộc.

Nâng cao nhận thức cho toàn dân về âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch.

 


Đây là giải pháp hàng đầu nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức của cả hệ thống chính trị và nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộc, tôn giáo, để các chủ thể, lực lượng đấu tranh có hiệu quả. Bởi lẽ, có nhận thức đúng đắn, đầy đủ, sâu sắc đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về dân tộc, tôn giáo thì đồng bào các dân tộc, tôn giáo và nhân dân mới đủ năng lực để nhận diện, vạch trần, phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch; đồng thời “bịt kín” những kẽ hở, không để cho kẻ thù lợi dụng sự thiếu hiểu biết để kích động, chống phá.

Trong giai đoạn hiện nay, công tác tuyên truyền, giáo dục cho các tầng lớp nhân dân và đồng bào các dân tộc, tôn giáo cần tập trung vào những nội dung: quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tôn giáo, trong đó trọng tâm là quyền bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc, bảo đảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; tăng cường đoàn kết lương giáo, khuyến khích nhân dân sống “tốt đời đẹp đạo” để cùng nhau xây dựng chủ nghĩa xã hội, về đại đoàn kết toàn dân tộc. Đặc biệt, cần tuyên truyền, giáo dục để đồng bào các dân tộc, tôn giáo nhận thức rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn hiểm độc của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá chế độ; đồng thời, xác định rõ vai trò, trách nhiệm của mỗi tổ chức, lực lượng, mỗi cá nhân trong tham gia đấu tranh.

Để đạt hiệu quả, cán bộ, đảng viên cần sát dân, tìm hiểu và nắm tâm tư, nguyện vọng của dân; kết hợp giữa tuyên truyền vận động tập trung với phân tán; tăng thời lượng các buổi phát thanh bằng tiếng dân tộc với nội dung đơn giản, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ tiếp thu phù hợp với trình độ của đồng bào dân tộc thiểu số. Phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, các nhân sĩ trí thức là người dân tộc thiểu số và các chức sắc, chức việc tôn giáo tiến bộ cùng vận động, thuyết phục đồng bào các dân tộc, tôn giáo nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương. Đồng thời, cần phát huy tốt vai trò của các tổ chức, đoàn thể nhân dân; thiết chế xã hội truyền thống vùng dân tộc thiểu số. Sử dụng có hiệu quả các phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền, giáo dục.