Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2024

XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ DOANH NHÂN VỮNG MẠNH

 

Sáng 4/10, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì buổi gặp mặt của Thường trực Chính phủ với đại diện doanh nghiệp nhân kỷ niệm 20 năm Ngày Doanh nhân Việt NamCùng dự có các Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Hòa Bình, Trần Hồng Hà và Lê Thành Long; đại diện lãnh đạo các bộ, ngành, cơ quan Trung ương; hơn 200 đại diện doanh nghiệp, doanh nhân, hơn 40 hiệp hội doanh nghiệp trong nước.

Phát biểu ý kiến khai mạc, thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính gửi tới các đại biểu, doanh nghiệp, doanh nhân lời chào trân trọng, lời thăm hỏi ân cần và lời chúc mừng tốt đẹp nhất. Thủ tướng nêu rõ, cuộc gặp mặt được tổ chức để cùng tri ân, vinh danh các doanh nghiệp, doanh nhân có đóng góp vào sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân đã đóng góp rất quan trọng vào sự nghiệp cách mạng của đất nước, đặc biệt là trong những lúc đất nước khó khăn như chống đại dịch Covid-19, phòng, chống thiên tai, khắc phục hậu quả bão lũ.

Cho biết vừa qua, cơn bão số 3 (Yagi) đã tàn phá 26 tỉnh, thành từ phía bắc trở ra, gây thiệt hại rất lớn về người và tài sản, Thủ tướng bày tỏ rất xúc động khi các doanh nghiệp, doanh nhân tự giác đóng góp, chia sẻ, giúp đỡ đồng bào bão lũ rất chân tình, nhiệt thành, hiệu quả, cho thấy tình dân tộc, nghĩa đồng bào, sự đoàn kết, thống nhất của dân tộc ta luôn phát huy hiệu quả trong những lúc khó khăn, thách thức.

Thủ tướng nêu rõ, ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ngày 13/10/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới giới Công Thương Việt Nam nhằm khuyến khích sự phát triển và nhấn mạnh vai trò của giới Công Thương đối với nền kinh tế quốc gia: “Hiện nay Công Thương cứu quốc đoàn đương hoạt động để làm được nhiều việc ích quốc lợi dân. Tôi rất hoan nghênh và mong đợi nhiều kết quả tốt. Trong lúc các giới khác trong quốc dân ra sức hoạt động để giành lấy nền hoàn toàn độc lập của nước nhà thì giới Công Thương phải hoạt động để xây dựng một nền kinh tế và tài chính vững vàng và thịnh vượng…”.

Kế thừa và phát huy tư tưởng của Người, cách đây 20 năm, ngày 13/10 hằng năm đã được chọn là Ngày Doanh nhân Việt Nam (theo quyết định số 990/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải ký ngày 20/9/2004), với ý nghĩa chính là khuyến khích và tôn vinh vai trò của những nhà doanh nhân đã cống hiến nhiều thành tựu cho Tổ quốc và cho nhân dân.

Thủ tướng nhấn mạnh, trong bối cảnh hiện nay của nước ta (với chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, thực chất, hiệu quả), chúng ta khẳng định, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về khuyến khích phát triển, phát huy vai trò, trách nhiệm của doanh nhân Việt Nam đối với sự thịnh vượng của đất nước vẫn còn nguyên giá trị sâu sắc và tính thời sự nóng hổi, đặc biệt là trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, đất nước ta.

HÀ NỘI ĐIỂM HẸN HẤP DẪN CỦA CÁC CHÍNH KHÁCH VÀ BẠN BÈ QUỐC TẾ

 

Trong những năm gần đây, Thủ đô Hà Nội đã vươn lên trở thành "điểm hẹn" hấp dẫn của các sự kiện quốc tế lớn, thu hút sự chú ý của bạn bè quốc tế và các chính khách từ khắp nơi trên thế giới. Những sự kiện ngoại giao mang tính lịch sử được tổ chức tại Hà Nội không chỉ khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế mà còn giới thiệu đến thế giới về một thủ đô văn hiến, hòa bình và thân thiện.

Với những giá trị văn hóa và lịch sử độc đáo, Hà Nội không chỉ là nơi gặp gỡ của các nhà lãnh đạo toàn cầu mà còn là "cầu nối" giữa Việt Nam và thế giới. Hà Nội tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của mình trên bản đồ ngoại giao quốc tế, góp phần tạo dựng hình ảnh về một Việt Nam thân thiện, cởi mở và giàu tiềm năng phát triển.

Hội nghị cấp cao lần thứ 7 của Tổ chức quốc tế Pháp ngữ, diễn ra từ ngày 14 đến 16/11/1997 tại Hà Nội, là minh chứng rõ ràng về vai trò quan trọng của Thủ đô như một điểm đến hấp dẫn, an toàn và tin cậy cho các sự kiện quốc tế quan trọng. Với chủ đề “Tăng cường hợp tác và tình đoàn kết Pháp ngữ vì hòa bình và phát triển kinh tế xã  hội”, hội nghị đã thông qua Tuyên bố Hà Nội, nhấn mạnh mối quan hệ không thể tách rời giữa hòa bình và phát triển, giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển bền vững.

Hội nghị là một thành công ngoại giao của Việt Nam, là một sự kiện quan trọng đánh dấu sự mở cửa Việt Nam hướng tới chủ nghĩa đa phương. Hội nghị đã góp phần hoàn thiện thể chế của Tổ chức quốc tế Pháp ngữ, với việc bầu ra Tổng Thư ký đầu tiên và thông qua Hiến chương của Tổ chức quốc tế Pháp ngữ.

Được xem là sự kiện lớn đầu tiên được tổ chức ở Việt Nam sau khi thống nhất đất nước và mở cửa hội nhập, Hội nghị cấp cao Pháp ngữ lần thứ 7 tại Hà Nội là cơ hội chưa từng có cho Việt Nam để giới thiệu với thế giới về một Việt Nam Nam đổi mới, phát triển và hội nhập, góp phần thúc đẩy hợp tác giữa Việt  Nam và các nước trong cộng đồng. Sự kiện còn là cơ hội để Hà Nội khẳng định vị thế và chứng tỏ vai trò là điểm hẹn lý tưởng cho các hoạt động quốc tế.

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

 

Phát triển bền vững trở thành mục tiêu, yêu cầu chung của nhân loại. Tháng 9 năm 2015, đại biểu 193 nước thành viên Liên hợp quốc, trên cơ sở tổng kết 15 năm thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (2000-2015), đã thông qua Chương trình nghị sự toàn cầu về phát triển bền vững đến năm 2030, xác định các mục tiêu phát triển bền vững (Sustainable Development Goals-SDG) nhằm chấm dứt đói nghèo, bảo vệ hành tinh, hòa bình và thịnh vượng cho người dân trên toàn cầu.

Trước tất yếu khách quan và tính chất không thể đảo ngược của toàn cầu hóa, quốc tế hóa, khu vực hóa, các quốc gia, dân tộc ngày nay đều thực hiện hội nhập quốc tế ngày càng toàn diện, từng bước nhất thể hóa hàng loạt các lĩnh vực của đời sống quốc gia theo chuỗi giá trị toàn cầu.

Nội dung mục tiêu phát triển bền vững là: Một nền kinh tế có hiệu quả, tiêu thụ ngày càng ít nguyên nhiên vật liệu, vốn và lao động nhưng vẫn sản xuất ra sản lượng, sản phẩm ngày càng cao; một xã hội ổn định và ngày càng công bằng, không chấp nhận mô hình phát triển loại trừ nhau; một hệ sinh thái vững chắc, lành mạnh, bảo đảm cuộc sống cho cả loài người hôm nay và mai sau.

Phát triển bền vững đặt ra yêu cầu cho tất cả các chính phủ phải quán triệt thường xuyên, sâu rộng hơn nữa tư duy biện chứng, tư duy hệ thống trong thiết kế chính sách và thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội của đất nước mình.

Bất kỳ sự tuyệt đối hóa mặt nào đều có nghĩa là xem nhẹ, thậm chí bỏ qua các lĩnh vực khác, gây ra sự phiến diện, méo mó của bản thân quá trình phát triển, đẩy xã hội vào thoái bộ nghiêm trọng toàn diện.

Phát triển bền vững biến thế giới ngày nay thành hệ sinh thái duy nhất, không cho phép bất cứ quốc gia nào tách biệt phát triển quốc nội với phát triển toàn cầu; ngược lại, cần đặt mình vào vị trí là bộ phận không thể tách rời trong toàn hệ thống, tiến cùng thời đại.

Chủ nghĩa tư bản toàn cầu điều chỉnh, thích nghi, còn nhiều tiềm năng phát triển nhưng cũng có nhiều hạn chế không thể vượt qua. Được cấu thành bởi tư bản xuyên quốc gia, quyền lực nhà nước tư bản xuyên quốc gia và giai cấp tư sản toàn cầu, chủ nghĩa tư bản toàn cầu là sản phẩm của thế giới toàn cầu hóa, sự ra đời của các lực lượng sản xuất có trình độ xã hội hóa ở quy mô toàn cầu và sự bành trướng của các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trên phạm vi toàn thế giới.

Thời kỳ phát triển mới đã đem lại cho chủ nghĩa tư bản không ít thành công, sức mạnh và vị thế từ cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21 đến nay. Mặt khác, phiên bản “chủ nghĩa tư bản toàn cầu” lại làm trầm trọng hơn những mâu thuẫn nội tại trong lòng chủ nghĩa tư bản, mà trong suốt trên dưới 300 năm qua vẫn là những hạn chế lịch sử không thể vượt qua.

Hội thảo quốc tế Vì sự cân bằng của thế giới do Đảng Cộng sản Cuba tổ chức từ năm 2003, đến tháng 1 năm 2023 là Hội thảo lần thứ VI, là diễn đàn đa chiều, đa nguyên thảo luận về các chủ đề nóng hổi của thế giới đương đại từ bất công xã hội, bạo lực, đồng hóa văn hóa… đến nguy cơ chiến tranh, nạn phân biệt chủng tộc, bất bình đẳng giới…

Thực tiễn đấu tranh của phong trào nhân dân trên thế giới cho thấy phân hóa giàu nghèo, phân cực giữa tư bản và lao động vẫn là nghịch lý lớn nhất trong bức tranh phát triển của nhân loại hiện nay; bởi vậy, chiến đấu chống đói nghèo, thiết lập công bằng xã hội tiếp tục là mục tiêu nóng bỏng trước mắt và cơ bản lâu dài của quá trình đi tới tiến bộ xã hội, tiến bộ lịch sử.

Chủ nghĩa tư bản, mặc dù có nhiều lợi thế, nhưng không là tương lai của nhân loại. Thực tiễn này cũng đặt ra yêu cầu vô sản ở mỗi nước phải biết đặt công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước mình vào cuộc đấu tranh nhân dân rộng lớn, vì những mục tiêu cao cả của thời đại.

Các quốc gia xã hội chủ nghĩa đẩy mạnh cải cách, đổi mới, cập nhật hóa. Trung Quốc tiến hành cải cách, mở cửa năm 1978; Việt Nam, Lào khởi xướng đổi mới năm 1986; Cuba bắt đầu cập nhật hóa mô hình kinh tế-xã hội theo con đường xã hội chủ nghĩa năm 2011… Nhờ cải cách, đổi mới thành công, phong trào xã hội chủ nghĩa trên thế giới đã vượt qua thử thách lịch sử (Liên Xô tan rã năm 1991), trụ vững và phát triển.

Nếu như từ năm 1917, chủ nghĩa xã hội hiện thực đã chấm dứt thời đại độc tôn của chủ nghĩa tư bản, vẽ lại bản đồ thế giới với sự cùng tồn tại giữa hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, thì chủ nghĩa xã hội trong cải cách, đổi mới, cập nhật hóa hiện nay đang mở ra con đường mới đi tới tiến bộ xã hội: Con đường của giải phóng và phát triển.

Giải phóng dân tộc khỏi mọi hình thức nô dịch, thống trị; giải phóng giai cấp để không còn chế độ bóc lột lao động; giải phóng xã hội để tiến tới bình đẳng, công bằng xã hội; giải phóng lao động để lao động không bị tha hóa và không làm tha hóa con người; giải phóng con người để đưa con người từ “vương quốc của tất yếu” đến “vương quốc của tự do”.

Phát triển để mang lại phồn vinh, thịnh vượng, giàu mạnh cho nhân dân và đất nước, tạo điều kiện, tiền đề cho mỗi con người đều được phát triển toàn diện. Sức mạnh của con đường này bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội trở thành một trong những chủ thể định hình thế giới đương đại.

Gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, phát triển đất nước phù hợp với xu thế thời đại, kết hợp nội lực với ngoại lực… luôn là bài học kinh nghiệm quý báu và quy luật vận động của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Từ nay đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đất nước cần hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ to lớn, nặng nề, trong đó lớn nhất là phải trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, vững bước trên con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Môi trường bên ngoài, bối cảnh thế giới, nhất là những chuyển động mang tính thời đại tiếp tục tác động đến từng bước đi và toàn bộ con đường của chúng ta.

NHẬN DIỆN MỘT SỐ CHUYỂN ĐỘNG MANG TÍNH THỜI ĐẠI TRONG THẾ GIỚI NGÀY NAY

 Trong những thập kỷ vừa qua, thế giới có nhiều chuyển động từ chính trị, kinh tế đến an ninh, văn hóa, xã hội; từ tầng sâu vật chất, kỹ thuật, công nghệ đến thượng tầng quyền lực quốc gia và quốc tế.

Có thể nhận diện một số chuyển động có tính thời đại, tác động trong dài hạn đến an ninh và phát triển của mọi quốc gia dân tộc gồm: Cách mạng công nghiệp lần thứ tư từ đầu thế kỷ 21 đang khai sinh một thời đại kinh tế mới; quá trình toàn cầu hóa đang biến mọi chủ thể quốc gia thành bộ phận của toàn thế giới; phát triển bền vững trở thành mục tiêu, yêu cầu chung của nhân loại; sự xuất hiện của chủ nghĩa tư bản toàn cầu như giai đoạn phát triển mới của chủ nghĩa tư bản; phong trào đấu tranh nhân dân rộng lớn trên thế giới tìm kiếm những phương án thay thế chủ nghĩa tư bản; quá trình cải cách, đổi mới chủ nghĩa xã hội trên thế giới đang khẳng định chủ nghĩa xã hội là một thực thể tham gia định hình thế giới hiện đại.

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mở ra một thời đại kinh tế mới và bước ngoặt vận động của thế giới. Với các công nghệ nền tảng: Internet vạn vật, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ in 3 chiều, công nghệ chuỗi khối, công nghệ sinh học hiện đại…, từ đầu thế kỷ 21, cuộc cách mạng này mở ra thời đại số hóa. Nó chế tạo ra ngày càng nhiều tư liệu sản xuất hiện đại không chỉ thay thế lao động chân tay, lao động trí óc mà còn mô phỏng được nhiều trạng thái tinh thần của con người; xóa đi ranh giới giữa thế giới vật thể, thế giới thực và thế giới số hóa, thế giới ảo; phá bỏ mọi khoảng cách về không gian và thời gian; biến toàn bộ thế giới thành một thực thể ngày càng nhất thể hóa cao độ.

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mở ra một thời đại kinh tế mới và bước ngoặt vận động của thế giới. Với các công nghệ nền tảng: Internet vạn vật, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ in 3 chiều, công nghệ chuỗi khối, công nghệ sinh học hiện đại…, từ đầu thế kỷ 21, cuộc cách mạng này mở ra thời đại số hóa.

Chưa bao giờ, dự đoán của C.Mác về việc khoa học-công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp trở thành hiện thực như trong giai đoạn hiện nay của thời đại.

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, toàn bộ nền sản xuất vật chất của loài người sẽ được triển khai bằng các công cụ sản xuất khác trước, được quản lý bằng cách thức khác trước, buộc toàn bộ đời sống con người phải tái cấu trúc lại với quá trình hình thành nền kinh tế số, xã hội số và chính quyền số.

Toàn cầu hóa, quốc tế hóa, khu vực hóa tiếp tục là chuyển động to lớn, bao trùm lịch sử thế giới. Đây là một xu thế khách quan, ra đời nhờ sự phát triển của các lực lượng sản xuất hiện đại do các cuộc cách mạng công nghiệp tạo ra. Từ cuối thế kỷ 20 đến nay, xu thế này có xung lực mới trên mọi lĩnh vực và ở phạm vi toàn cầu.

Các tổ chức liên kết, hợp tác quốc tế ở mọi cấp độ toàn cầu, liên khu vực, khu vực và tiểu khu vực được củng cố, mở rộng, thành lập mới. Xu thế đó vừa tiếp tục được triển khai mạnh mẽ trên lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư; vừa được mở rộng sang các lĩnh vực văn hóa, xã hội, khoa học-kỹ thuật, an ninh, quốc phòng… thông qua hoạt động của các thiết chế đa phương và quản trị toàn cầu.

Riêng quá trình khu vực hóa là sự thiết lập liên minh, liên kết, hợp tác giữa các quốc gia, các chủ thể trong cùng một khu vực trên cơ sở tương đồng về địa lý, văn hóa, lịch sử. Hiện nay, các nước có chế độ xã hội khác nhau cùng tham gia vào một quá trình liên kết khu vực trên mọi bình diện kinh tế, văn hóa, khoa học-kỹ thuật, quốc phòng, an ninh, chính trị…

Trước tất yếu khách quan và tính chất không thể đảo ngược của toàn cầu hóa, quốc tế hóa, khu vực hóa, các quốc gia, dân tộc ngày nay đều thực hiện hội nhập quốc tế ngày càng toàn diện, từng bước nhất thể hóa hàng loạt các lĩnh vực của đời sống quốc gia theo chuỗi giá trị toàn cầu.

ĐOÀN KẾT VƯỢT QUA KHÓ KHĂN

 

Cơn bão số 3 qua đi nhưng vẫn còn đó những hậu quả, tổn thất nặng nề cả tinh thần và vật chất đối với nhiều người dân, gia đình, bản làng, cộng đồng, địa phương và cả nước. Phát huy truyền thống tốt đẹp “tình dân tộc, nghĩa đồng bào”, luôn ghi nhớ lời dạy của Bác Hồ kính yêu “Không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền/ Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên”, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, chúng ta hãy phát huy hơn nữa tinh thần đoàn kết, chung sức đồng lòng, kề vai, sát cánh vượt qua mọi khó khăn, thách thức, quyết tâm nhanh chóng ổn định đời sống nhân dân, tích cực khôi phục sản xuất kinh doanh, các hoạt động kinh tế-xã hội, tạo sinh kế cho người dân vùng bị bão lũ trong thời gian sớm nhất; đồng thời tiếp tục nỗ lực phấn đấu cao nhất thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội đã đề ra theo các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, góp phần thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho Nhân dân.

CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI ĐẾN NĂM 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2050

 

Để đạt được mục tiêu đề ra trong Chiến lược quốc gia phòng, chống thiên tai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050[5], các cấp, các ngành, các địa phương tuyệt đối không được lơ là, chủ quan, tiếp tục triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai; Luật Phòng, chống thiên tai, Luật Phòng thủ dân sự, Chiến lược, Kế hoạch phòng, chống thiên tai quốc gia. Tập trung nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo thiên tai; tiếp tục rà soát, hoàn thiện các chương trình, kế hoạch, kịch bản phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, bảo đảm lồng ghép trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của cả nước, từng vùng, từng địa phương, ngành, lĩnh vực.

Thực hiện linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả phương châm "bốn tại chỗ" tại cơ sở phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương theo từng thời kỳ. Tập trung hướng dẫn, nâng cao nhận thức, kỹ năng quản lý, ứng phó với thiên tai, nhất là ở cấp cơ sở và các địa bàn có nguy cơ cao; tập trung rà soát, hoàn thiện các quy trình, quy chế tổ chức vận hành, phối hợp trong phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai. Ưu tiên bố trí nguồn lực đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất, kỹ thuật đồng bộ, tiên tiến, công nghệ hiện đại; tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách để sử dụng hiệu quả Quỹ phòng, chống thiên tai. Khẩn trương hoàn thành Chương trình phân vùng rủi ro thiên tai, xây dựng bản đồ phân vùng sạt lở đất, lũ quét tỷ lệ lớn, chi tiết đến cấp xã, thôn bản. Tập trung bố trí sắp xếp, di dời người dân vùng có nguy cơ cao gắn với tạo việc làm, sinh kế bền vững tại nơi ở mới, bảo đảm bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ. Rà soát quy hoạch, xây dựng các công trình bảo đảm phòng, chống lũ quét, sạt lở đất. Tăng cường quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, nâng cao chất lượng rừng, nhất là rừng tự nhiên, phòng hộ.

Làm tốt công tác thông tin truyền thông, nhất là những mô hình tốt, cách làm hay, gương điển hình tiên tiến để nhân rộng. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, huy động sự hỗ trợ, giúp đỡ của các nước, tổ chức quốc tế, đối tác bên ngoài, nhất là về đào tạo nhân lực, chuyển giao công nghệ, mô hình quản trị, điều hành tiên tiến, góp phần đáp ứng yêu cầu phòng, chống thiên tai trong giai đoạn mới.

CHUYỂN BIẾN MẠNH MẼ, TOÀN DIỆN, THỰC CHẤT, HIỆU QUẢ

 Tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách để thu hút mạnh mẽ hơn các nguồn vốn đầu tư xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân để thực sự là một động lực quan trọng của nền kinh tế; tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài có chọn lọc gắn với chuyển giao công nghệ. Thúc đẩy mạnh thị trường trong nước, thực hiện hiệu quả Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”.

Mở rộng, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, chuỗi cung ứng, khai thác hiệu quả các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) đã ký kết và thúc đẩy tích cực hơn nữa trong đàm phán, ký kết các FTA mới với các nước Trung Đông, châu Phi, thị trường sản phẩm Halal…

Tiếp tục thúc đẩy mạnh mẽ, tạo chuyển biến về chất trong thực hiện 3 đột phá chiến lược về thể chế, nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng; trong đó xác định rõ thể chế là “đột phá của đột phá” vì vừa là nguồn lực, vừa là động lực quan trọng cho phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tiếp tục đổi mới tư duy xây dựng thể chế theo hướng không chỉ tập trung cho quản lý nhà nước mà còn tập trung cho mở rộng không gian, kiến tạo phát triển; có cơ chế, chính sách thông thoáng, tạo đột phá trong tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, khơi thông các nguồn lực, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược đồng bộ, hiện đại.

Tập trung đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, không ngừng cải thiện vị thế của Việt Nam trong bản đồ kinh tế khu vực, toàn cầu. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tiếp tục đơn giản hóa, cắt giảm thủ tục hành chính, tạo mọi thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.

Đồng thời, chú trọng phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống của Nhân dân, bảo vệ toàn diện môi trường; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần phục vụ và thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội; bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố quốc phòng-an ninh, tăng cường đối ngoại, hội nhập quốc tế, giữ gìn môi trường hoà bình, ổn định và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển đất nước.

Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của thiên tai và biến đổi khí hậu. Thời gian tới, tình hình thiên tai, bão lũ, biến đổi khí hậu được dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp, cực đoan, khó lường với tần suất và cường độ ngày càng lớn, tác động, ảnh hưởng ngày càng nặng nề. Trong bối cảnh đó, công tác phòng, chống bão lũ nói riêng và phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai nói chung cần phải có sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, thực chất, hiệu quả. Đây là một nhiệm vụ chính trị quan trọng, vừa có ý nghĩa cấp bách, vừa mang tính chiến lược lâu dài của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, các địa phương.

Trong đó, cần quán triệt sâu sắc quan điểm xuyên suốt đặt tính mạng của người dân lên trên hết, trước hết và không hy sinh tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường để đổi lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần, không để ai bị bỏ lại phía sau trong phòng, chống thiên tai cũng như trong mọi hoạt động kinh tế, xã hội. Xác định rõ phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai là trách nhiệm và nghĩa vụ của toàn dân, toàn xã hội; phát huy cao nhất sự chủ động, tích cực, tinh thần tự lực, tự cường của các cấp ủy đảng, chính quyền và người dân ở cơ sở; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Bảo đảm tính khoa học, hợp lý và phù hợp với tình hình thực tiễn; kết hợp nhuần nhuyễn giữa truyền thống và hiện đại; chú trọng cả 3 giai đoạn phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả, trong đó lấy chủ động phòng ngừa là chính; chuyển hướng quản lý, phòng ngừa rủi ro theo lưu vực, liên vùng, liên ngành.

Đồng thời, phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc gắn với sức mạnh thời đại; sử dụng phương pháp tiếp cận mang tính toàn dân, toàn diện, toàn cầu trong phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai

THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT

                 Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát, cần xác định rõ đây là một trong những nội dung trọng tâm, nhất quán, xuyên suốt và quan trọng nhất trong công tác chỉ đạo điều hành kinh tế vĩ mô, hướng tới mục tiêu phát triển nhanh, xanh và bền vững, góp phần tái cấu trúc nền kinh tế theo các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ.

Từ nay đến cuối năm 2024 và trong năm 2025, các cấp, các ngành, các địa phương cần tiếp tục tập trung theo dõi sát, nắm chắc tình hình thị trường, giá cả; bảo đảm cung ứng đầy đủ nguồn hàng, ổn định giá các mặt hàng thiết yếu, nguyên vật liệu cho đời sống và sản xuất kinh doanh; tuyệt đối không để xảy ra thiếu lương thực, thực phẩm; tiếp tục nghiên cứu tái cấu trúc chuỗi cung ứng năng lượng theo hướng xanh, bền vững và phù hợp với điều kiện tự nhiên của đất nước và nhu cầu của Nhân dân; trong ngắn hạn và trung hạn phải tập trung bảo đảm cung ứng đủ xăng dầu, điện phục vụ sản xuất kinh doanh và tiêu dùng; xử lý nghiêm các hành vi đầu cơ, găm hàng tăng giá, thao túng giá.

Thực hiện chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, phối hợp chặt chẽ, đồng bộ với chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm và các chính sách khác để ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Tăng cường tiếp cận tín dụng và tiết giảm chi phí, tiếp tục phấn đấu giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ nền kinh tế.

Thực hiện hiệu quả chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm, nhất là các chính sách giãn, hoãn, giảm thuế, phí, lệ phí…; tăng cường tiết kiệm chi, triệt để tiết kiệm chi thường xuyên để dành nguồn lực cho an sinh xã hội, hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai và đầu tư phát triển. Đẩy mạnh hơn nữa giải ngân vốn đầu tư công; ưu tiên bố trí vốn, đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án quan trọng, trọng điểm quốc gia, có tính liên tỉnh, liên vùng, kết nối quốc gia, khu vực, quốc tế.

Chú trọng nghiên cứu, khắc phục những hạn chế, bất cập của các thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, bất động sản; sớm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan các dự án, đất đai trong các kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án tại một số địa phương và các dự án vướng mắc, tồn đọng khác theo tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị; qua đó góp phần giải phóng nguồn lực, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và tăng trưởng kinh tế.

Tập trung làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống (đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu) và thúc đẩy mạnh mẽ các động lực tăng trưởng mới (như phát triển đô thị, kinh tế vùng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế chia sẻ, kinh tế tri thức, các ngành, lĩnh vực công nghệ cao, chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo…); trong đó đặc biệt chú trọng phát triển kinh tế số và chuyển đổi xanh, coi đây là yêu cầu tất yếu khách quan của hội nhập, toàn cầu hóa và cũng là cơ hội thuận lợi để đưa đất nước tiến cùng thời đại, thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình”.

KHẨN TRƯƠNG KHẮC PHỤC HẬU QUẢ CỦA BÃO LŨ, NHANH CHÓNG ỔN ĐỊNH ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN

 

Khẩn trương khắc phục hậu quả sau bão lũ, nhanh chóng ổn định đời sống nhân dân được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách, đặc biệt là đối với các cấp uỷ đảng, chính quyền, các lực lượng chức năng ở cơ sở. Tập trung tìm kiếm người mất tích; kịp thời cứu chữa người bị thương; thăm hỏi, chia sẻ, động viên, hỗ trợ hậu sự cho người đã mất; kiểm tra, tiếp cận bằng được những nơi còn bị chia cắt nhằm hỗ trợ kịp thời, hiệu quả cho người dân. Cung cấp lương thực, thực phẩm, nước sạch, chỗ ở cho những người dân bị mất nhà ở; rà soát, thực hiện việc tái định cư cho các hộ gia đình bị mất nhà ở, bảo đảm hoàn thành sớm nhất có thể, trước ngày 31/12/2024 với điều kiện sống tốt hơn nơi ở cũ. Bảo đảm vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh; khẩn trương đưa học sinh tới trường và đưa các bệnh viện, cơ sở y tế vào hoạt động ngay trong tháng 9/2024.

Sớm khôi phục, bảo đảm các hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, sóng điện thoại, cung cấp điện, nước sạch, các dịch vụ xã hội cơ bản thông suốt. Rà soát, có biện pháp hỗ trợ phù hợp khôi phục các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bảo đảm việc làm, sinh kế của người dân trong tất cả các lĩnh vực, nhất là công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp.

Giữ vững ổn định chính trị, an ninh, an toàn và bảo đảm trật tự xã hội trên địa bàn. Làm tốt công tác thông tin, truyền thông, không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng xuyên tạc, chống phá.

Đồng thời, tiếp tục rà soát, thống kê đầy đủ thiệt hại để kịp thời đề xuất, kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, sử dụng dự trữ quốc gia, dự phòng ngân sách trung ương và các nguồn hợp pháp khác để hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả bão lũ theo quy định pháp luật.

Cùng với việc sớm ổn định đời sống nhân dân, chúng ta cần tập trung khôi phục sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát. Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng; chỉ có thực hiện tốt nhiệm vụ này mới có thể bảo đảm sự ổn định, bền vững của đời sống, sinh kế của người dân vùng bị ảnh hưởng của bão lũ nói riêng và Nhân dân cả nước nói chung; đồng thời mới tạo ra được nền tảng vững chắc cho phát triển kinh tế-xã hội của từng địa phương, từng vùng và cả nước.

Về khôi phục sản xuất kinh doanh, các bộ, ngành, địa phương cần tập trung rà soát các cơ chế, chính sách để hỗ trợ kịp thời, hiệu quả các cơ sở sản xuất, hộ kinh doanh, hợp tác xã, doanh nghiệp để khôi phục nhanh chuỗi sản xuất, cung ứng, lao động, phục hồi và thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh. Khẩn trương thực hiện miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất, thuê mặt nước... cho các doanh nghiệp, tổ chức, người dân bị ảnh hưởng, thiệt hại; thực hiện kịp thời việc tạm ứng, chi trả quyền lợi bảo hiểm; ưu tiên bố trí nguồn lực để sớm khắc phục các sự cố, hư hỏng về hệ thống giao thông, đê điều, hồ chứa thủy lợi.

Thực hiện các giải pháp chính sách tiền tệ như: cơ cấu lại thời hạn, giữ nguyên nhóm nợ, xem xét miễn, giảm lãi vay… cho các khách hàng bị thiệt hại; bổ sung nguồn lực thực hiện các chính sách tín dụng ưu đãi cho Ngân hàng Chính sách xã hội; tiếp tục cho vay mới đối với khách hàng để khôi phục sản xuất kinh doanh sau bão lũ.

Tập trung khôi phục ngay năng lực sản xuất nông nghiệp; nhân cơ hội này cơ cấu lại cây trồng, vật nuôi ở các vùng, các địa phương theo hướng thuận thiên, hiệu quả, bền vững hơn; kịp thời hỗ trợ giống, thức ăn, hóa chất và các vật tư cần thiết. Sớm đưa các khu công nghiệp, các dự án sản xuất công nghiệp, thương mại, dịch vụ bị ảnh hưởng trở lại hoạt động bình thường; khôi phục nhanh chóng các cơ sở logistics và kho bãi bị hư hỏng, không để gián đoạn chuỗi cung ứng.

Rà soát, cắt giảm thủ tục hành chính để sớm sửa chữa, xây dựng lại công trình, nhà xưởng bị ảnh hưởng bởi hậu quả thiên tai phục vụ kịp thời phục hồi sản xuất kinh doanh; áp dụng quy trình, thủ tục đầu tư khẩn cấp đối với các công trình, dự án phòng, chống bão lũ. Các địa phương chủ động, tích cực huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị cơ sở, phối hợp chặt chẽ cùng các bộ, cơ quan trung ương để tập trung khắc phục hậu quả thiên tai, bão lũ theo tinh thần Nghị quyết số 143/NQ-CP của Chính phủ.

CỘI NGUỒN SỨC MẠNH

 

Từ thực tiễn công tác phòng chống, khắc phục hậu quả bão lũ, chúng ta càng củng cố, tăng cường niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của toàn dân, toàn quân ta, nhất là sự đồng tâm, hiệp lực của các cấp, các ngành, các địa phương và tình cảm gắn kết bền chặt của đồng bào, chiến sĩ trong những lúc khó khăn, hoạn nạn, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta.

Trong điều kiện còn nhiều hạn chế, bất cập, vượt qua những khó khăn, thách thức lớn trong phòng, chống thiên tai, bão lũ, chúng ta càng nhận thấy rõ những yếu tố mang tính nền tảng, là cội nguồn sức mạnh của đất nước được phát huy mạnh mẽ, trong đó nổi bật là “Sáu điểm tựa Việt Nam” gồm:

(1) Điểm tựa về tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết trong Đảng, đoàn kết trong Nhân dân, đoàn kết trong nước, đoàn kết quốc tế, “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công”, như Bác Hồ kính yêu đã căn dặn;

(2) Điểm tựa Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh lãnh đạo; gần 95 năm qua Đảng không có mục tiêu nào khác ngoài mục tiêu mang lại độc lập, tự do cho dân tộc và cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho Nhân dân;

(3) Điểm tựa truyền thống lịch sử-văn hóa hào hùng, văn minh, văn hiến của dân tộc, với tinh thần tương thân, tương ái "thương người như thể thương thân", "lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều", "bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn";

(4) Điểm tựa Nhân dân, Nhân dân làm nên lịch sử, sức mạnh bắt nguồn từ Nhân dân, "dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong";

(5) Điểm tựa Quân đội và Công an; “khi cần, khi khó có Quân đội, Công an”, "Quân đội ta từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu", "Công an ta, vì nước quên thân, vì dân phục vụ";

(6) Điểm tựa tinh thần tự lực, tự cường của dân tộc ta, của mỗi người khi khó khăn, thách thức, càng áp lực lại càng nỗ lực, phấn đấu vươn lên, vượt qua giới hạn của bản thân, với tinh thần "biến không thành có, biến khó thành dễ, biến cái không thể thành có thể".

 

KHẨN TRƯƠNG KHẮC PHỤC HẬU QUẢ CƠN BÃO SỐ 3

 

Bão số 3 (Yagi) đã gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản đối với nhiều địa phương Bắc Bộ, nhưng ngay trong những thời khắc khó khăn nhất luôn có sự vào cuộc chủ động, quyết liệt của cả hệ thống chính trị, tinh thần đoàn kết, chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, qua đó góp phần giảm đến mức tối đa thiệt hại; đồng thời cũng đặt ra nhiều nhiệm vụ quan trọng đối với các cấp, các ngành, các địa phương để nhanh chóng ổn định đời sống nhân dân, sớm khôi phục các hoạt động kinh tế-xã hội, phục hồi sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hiện thực hoá mục tiêu phát triển nhanh và bền vững ở vùng bị thiên tai nói riêng và cả nước nói chung. Bão số 3 là cơn bão mạnh nhất trên Biển Đông trong vòng 30 năm qua và mạnh nhất trên đất liền ở nước ta trong khoảng 70 năm qua, có cường độ rất cao, tốc độ rất lớn, phạm vi rộng, vùng gần tâm bão mạnh cấp 14, giật cấp 17,thời gian kéo dài, sức tàn phá mạnh và tác động, ảnh hưởng rất nặng nề trên phạm vi rất rộng ở hầu hết các địa phương Bắc Bộ; trong đó có 2 vấn đề phức tạp, khó dự báo là thời gian bão kéo dài trong đất liền và hoàn lưu bão có mưa rất lớn. Lượng mưa lớn trong cơn bão và hoàn lưu sau bão đã gây ra tình trạng ngập lụt, lũ ống, lũ quét, sạt lở đất ở nhiều địa bàn miền núi và lũ lớn tại hầu hết các sông ở Bắc Bộ[1], dẫn đến thiệt hại rất nghiêm trọng về người, tài sản, cây trồng, vật nuôi, hạ tầng kinh tế-xã hội, các hoạt động sản xuất kinh doanh, các ngành, các lĩnh vực, nhất là nông nghiệp tại các địa phương bị ảnh hưởng.

Trước diễn biến phức tạp của cơn bão số 3 và mưa lũ sau bão, Bộ Chính trị, Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành, các địa phương, các lực lượng chức năng thực hiện khẩn trương, quyết liệt, đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp phòng, chống và khắc phục hậu quả mưa bão.

Ngày 9/9/2024, trong lúc đang mưa lũ do hoàn lưu bão, Bộ Chính trị đã họp, chỉ đạo toàn hệ thống chính trị tập trung ứng phó với bão lũ. Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có Thư thăm hỏi đồng bào, chiến sĩ bị ảnh hưởng của cơn bão số 3; trực tiếp đi kiểm tra, chỉ đạo công tác ứng phó, khắc phục hậu quả tại một số địa phương.

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 10 công điện; chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương theo dõi sát tình hình, tập trung ứng phó bão, mưa lũ từ sớm, từ xa, ngay tại cơ sở với phương châm phải chủ động, quyết liệt, phòng ngừa, ứng phó hiệu quả ở mức cao nhất, sẵn sàng cho các tình huống xấu nhất.

Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các địa phương trực tiếp đi kiểm tra, chỉ đạo triển khai công tác ứng phó, khắc phục hậu quả bão, lũ và kịp thời động viên, thăm hỏi người dân và các lực lượng tham gia phòng, chống bão lũ, nhất là các gia đình, địa phương có mất mát về người để giảm thiểu thiệt hại ít nhất có thể. Các cấp, các ngành, các địa phương, các tổ chức chính trị-xã hội và toàn thể Nhân dân đã chủ động phối hợp chặt chẽ, triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp phòng chống, khắc phục hậu quả bão lũ. Huy động gần 700 nghìn người và gần 9 nghìn phương tiện ứng phó với bão, mưa lũ, sạt lở đất, lũ quét; chủ động triển khai các giải pháp bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản của Nhân dân

Thủ tướng Chính phủ đã kịp thời quyết định trích dự phòng ngân sách trung ương, xuất cấp gạo từ dự trữ quốc gia hỗ trợ các địa phươngỦy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tổ chức Lễ phát động ủng hộ đồng bào bị thiệt hại do bão lũ gây ra; đến ngày 21/9/2024 đã huy động được tổng số tiền hơn 1.646 tỷ đồng.

Mặc dù sự chủ động, tích cực vào cuộc từ sớm, từ xa, từ cơ sở và sự nỗ lực, cố gắng rất lớn của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, các địa phương, các lực lượng chức năng, cộng đồng doanh nghiệp và người dân đã góp phần rất quan trọng giảm thiểu tác động, ảnh hưởng của bão lũ, nhưng thiệt hại vẫn còn rất lớn và để lại hậu quả nghiêm trọng, nặng nề, làm hàng trăm người chết và mất tích, hàng nghìn người bị thương; hàng trăm nghìn ngôi nhà bị ngập, hư hỏng; hàng trăm nghìn héc-ta lúa, hoa màu, cây ăn quả bị ngập úng, thiệt hại; hàng nghìn lồng bè nuôi trồng thủy sản, tàu thuyền bị hư hỏng, cuốn trôi; hàng triệu con gia súc, gia cầm bị chết; gây mất điện, mất liên lạc trên diện rộng ở một số địa phương; hàng trăm sự cố đê điều, tình trạng sạt lở, ngập lụt, chia cắt giao thông cục bộ; nhất là những tổn hại về tinh thần của người dân và sự đau thương, mất mát không gì có thể bù đắp được của những người thân, gia đình có người đã mất, người bị thương do bão lũ gây ra

Trước những tổn thất, mất mát to lớn của đồng bào ở những vùng bị thiệt hại, chúng ta vô cùng tiếc thương, thấu hiểu, chia sẻ với những giọt nước mắt, những nỗi đau buồn khôn nguôi của những gia đình đã không may mất đi những người thân yêu. Đi bất cứ nơi đâu trong vùng bị ảnh hưởng của bão lũ, chúng ta đều cảm thấy xót xa, đau đớn khi tận mắt chứng kiến những ngôi làng, mái nhà, đồng ruộng, vườn cây, ao cá, lồng bè, tài sản của đồng bào bị lũ lụt tàn phá.

Chúng ta không bao giờ quên những tấm gương dũng cảm, hy sinh quên mình của các lực lượng tuyến đầu, nhất là những cán bộ, chiến sĩ quân đội, công an đã không quản ngại nguy hiểm, khó khăn để ứng cứu đồng bào, tìm kiếm, cứu nạn trong bão lũ, trong đó có những đồng chí đã anh dũng hy sinh, thể hiện bản chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”, của người chiến sĩ Công an nhân dân “vì nước quên thân, vì dân phục vụ”.

Chúng ta xúc động và cảm phục về sự chủ động, tích cực, đoàn kết, tinh thần nỗ lực vượt khó của người dân trong vùng bão lũ, đặc biệt là những tấm gương nhanh trí, sáng tạo, dũng cảm thực hiện các nhiệm vụ nguy hiểm, như kịp thời đưa người dân trong thôn, bản tránh khỏi lũ quét, cứu tàu thuyền trôi tự do trên sông lớn chảy xiết.

Những “chuyến xe nghĩa tình”, những tấm lòng hảo tâm, nghĩa cử cao đẹp giúp đỡ đồng bào gặp khó khăn là minh chứng rõ nét cho tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái và truyền thống tốt đẹp yêu nước, thương nòi của dân tộc ta. Chúng ta cũng luôn ghi nhớ sự chia sẻ, giúp đỡ quý báu của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và sự hỗ trợ kịp thời của nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế.

Để khẩn trương khắc phục hậu quả cơn bão số 3, các cấp, các ngành, các địa phương, các lực lượng chức năng và đồng bào, chiến sĩ cả nước cần tiếp tục tập trung quán triệt nghiêm túc tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, nhất là tập trung thực hiện hiệu quả 6 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm về bảo vệ tính mạng, an toàn, sức khỏe của Nhân dân; hỗ trợ ổn định cuộc sống Nhân dân; phục hồi, phát triển sản xuất kinh doanh; chuẩn bị sẵn sàng ứng phó với thiên tai, bão lũ; cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính để triển khai các chính sách hỗ trợ; kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo tinh thần Nghị quyết số 143/NQ-CP ngày 17/9/2024 của Chính phủ.

GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG “GIẶC Ở TRONG LÒNG” THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

V.I.Lênin từng nói: “Không có kẻ thù nào, dù là hung bạo nhất, có thể chiến thắng được những người Cộng sản, ngoại trừ chính họ tự tan rã, chính những lỗi lầm của họ và họ không kịp sửa chữa”. Đó có thể xem như là “lời di chúc” cho tất cả những người Cộng sản trên toàn thế giới phải luôn tự răn mình, để thường xuyên tự đổi mới, tự chính đốn; để kiên quyết loại trừ những con người nhạt phai lý tưởng, “tự diễn biến” và dẫn đến tự chuyển hóa. Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu có rất nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân cơ bản nhất, là gốc rễ của sự sụp đổ của “người anh cả của CNXH” lại xuất phát từ chính “kẻ thù nội tại” là sự “tự diễn biến” và dẫn đến “tự chuyển hóa” và sụp đổ; cần lưu ý rằng Đảng Cộng sản Liên Xô mất quyền lãnh đạo, Liên Xô tan rã mà không thông qua một cuộc chiến tranh với chủ nghĩa đế quốc.

Quán triệt quan điểm của Lênin, ngay từ rất sớm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ "giặc ở trong lòng". Nếu chiến sĩ và nhân dân ra sức chống giặc ngoại xâm mà quên chống giặc nội xâm, như thế là chưa làm tròn nhiệm vụ của mình. Vì vậy, chiến sĩ và nhân dân phải hăng hái tham gia phong trào ấy.” Đây chính là sự dự báo, định hướng của chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình xây dựng xã hội mới.

Theo quan điểm của Người, kẻ thù đáng sợ nhất, nguy hiểm nhất, khó chiến thắng nhất lại chính là những kẻ thù ngay trong lòng ta, kẻ thù giấu mặt, những thứ “giặc nội xâm”. Những loại này nằm lẩn khuất trong nội bộ, rình rập trong chính mỗi người, nếu chúng ta mất cảnh giác hoặc do dự, ngập ngừng hay dao động, hay thiếu kiên quyết. Nguy hiểm hơn đây là thứ kẻ thù rất khó nhận biết chúng, vì chúng biến ảo khôn lường: Chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa thực dụng và đặc biệt là “chủ nghĩa quay giáo, trở cờ”… được ngụy trang, trá hình dưới muôn vàn màu sắc và giặc nội xâm cần phải xác định là kẻ thù nguy hiểm nhất của chúng ta, cần phải nhận diện đúng để có kế sách đối phó, bảo đảm chiến đấu và thắng lợi trước chúng.

Trên thực tế, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những người giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với các biểu hiện khác nhau như: Thờ ơ, dao động về tư tưởng chính trị, bàng quan trước vận mệnh của Đảng, của dân tộc, trước khó khăn của đất nước, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc; phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu niềm tin vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Một số cán bộ, đảng viên, trong đó có người trước đây từng giữ cương vị, trọng trách trong các cơ quan đảng, chính quyền có những ý kiến lệch lạc, nhìn nhận phê phán lịch sử thiếu khách quan, toàn diện, đòi đa nguyên, đa đảng, công khai đả kích, phủ nhận những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, cộng tác với thế lực thù địch, phản bội lại lợi ích dân tộc.

Để chủ động đấu tranh, xử lý triệt để, có hiệu quả loại giặc này, cần phải có sự đoàn kết, chung tay, góp sức của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân mà trước hết cần phải thực hiện tốt các giải pháp sau đây:

1. Kiên quyết cắt bỏ những khối ung nhọt trên cơ thể của ta, dù rất đau đơn nhưng đó là việc cấp bách nên làm và phải làm để về lâu về dài chúng ta có một cơ thể khỏe mạnh, đủ sức đề kháng trước mọi loại “vi trùng, vi khuẩn”. Đưa bọn “giặc nội xâm” vào nung trong lò “đốt suy thoái” của Đảng ta, không kể chúng là ai, giữ chức vụ gì.

2. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta. Đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị nước ta. Vì, những biểu hiện xa rời mục tiêu xã hội chủ nghĩa, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nếu không được ngăn chặn kịp thời sẽ là nguy cơ rất khó lường, đe dọa sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

3. Tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng: Cán bộ, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân về âm mưu, thủ đoạn, chiêu bài chống phá của các thế lực thù địch.

Cổ nhân có câu: “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, có nghĩa là nghĩa là: nước nhà lúc hưng thịnh hay lúc suy vong, một người dân thường cũng phải có trách nhiệm lo lắng cho vận mệnh đất nước; có nghĩa là “phải khoan thư sức dân”, gần gủi với nhân dân, khơi gợi tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc của người dân để tạo thành sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là mấu chốt của mọi sự thành bại trong lịch sử dựng nước và giữa nước của dân tộc ta và ngay trong thời đại Hồ Chí Minh thì tinh thần ấy được thể hiện càng rõ nét hơn; dưới chủ trương “đại đoàn kết” của Đảng và Bác Hồ thì Đảng gắn bó máu thịt với dân, vì dân quên mình, vì dân mà chiến đấu hy sinh; dân tin tưởng và ủng hộ tuyệt đối vào Đảng, đó là cuội nguồn của mọi thắng lợi.

Kiên quyết diệt giặc nội xâm; đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ sẽ triệt tiêu được “mảnh đất mầu mỡ”, triệt được cái cớ để các thế lực thù địch, bọn phản động vin vào để chống phá ta, góp phần giữ vững sự ổn định xã hội, đưa xã hội phát triển vững chắc theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

  

ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC – CỘI NGUỒN SỨC MẠNH CỦA MỌI THÀNH CÔNG

 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề đoàn kết toàn dân tộc. Người căn dặn: Đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng mà còn là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc. “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công”.

Kế thừa và phát huy truyền thống đại đoàn kết của dân tộc, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, trong mọi giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn xác định, “đoàn kết” là giá trị cốt lõi, “đại đoàn kết toàn dân tộc” là đường lối chiến lược, là cội nguồn sức mạnh, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, là động lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam, có ý nghĩa quyết định mọi thành công, thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Phát triển tư duy về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đại hội XIII của Đảng đã xác định mục tiêu của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là: “Phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu để đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Sự đồng nhất giữa mục tiêu cách mạng của Đảng với mục tiêu của khối đại đoàn kết toàn dân tộc cho thấy sự hòa quyện giữa ý Đảng – lòng Dân; giữa mục tiêu cách mạng của Đảng với nguyện vọng của toàn thể nhân dân, xuất phát từ nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp Nhân dân.

Cùng với việc thực thi hiệu lực, hiệu quả chủ trương, chính sách về đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng ta luôn chú trọng gắn liền với tôn vinh những giá trị văn hóa truyền thống, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc 18/11 hằng năm (tổ chức theo Nghị quyết số 04/NQ/ĐCT-MTTW ngày 01/8/2003 của Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) được tổ chức trên khắp mọi vùng, miền của Tổ quốc, đã trở thành ngày hội toàn dân – là nét đẹp mang đậm bản sắc truyền thống riêng có ở Việt Nam mà không một quốc gia nào trên thế giới có được.

Thực tế đã minh chứng, qua 20 năm được triển khai, Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc đã thực sự trở thành nhu cầu thiết yếu về sinh hoạt chính trị, văn hóa tinh thần của cộng đồng, trở thành diễn đàn dân chủ của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Trong dịp này các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước và cấp ủy, chính quyền các cấp đã về từng địa bàn dân cư tham dự Ngày hội, thăm hỏi, động viên, lắng nghe những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, tiếp thu những đóng góp tâm huyết của nhân dân với Đảng, với Nhà nước…

Không chỉ đem lại giá trị tinh thần cho Nhân dân, ý nghĩa lan tỏa của ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc còn làm giàu ý chí cách mạng, tình yêu quê hương, đất nước, tôn vinh sức mạnh cộng đồng, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc trong các tầng lớp nhân dân, trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, thắm đượm tình làng, nghĩa xóm, mang đậm nghĩa đồng bào, của các thế hệ “con Lạc, cháu Hồng”…, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngay từ thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố trên khắp mọi vùng, miền của Tổ quốc.

Nhân dịp kỷ niệm 93 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam (18/11/1930 – 18/11/2023) – Ngày truyền thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2023, đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam có bài viết: "Giương cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy truyền thống yêu nước, vai trò nòng cốt chính trị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, quyết tâm xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc". Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đánh giá cao những thành tựu, kết quả nổi bật trong việc xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng trong thời gian qua, đồng thời nhấn mạnh, đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc, là đường lối chiến lược của Đảng, là cội nguồn sức mạnh, giá trị cốt lõi và động lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam, có ý nghĩa quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong mọi thời kỳ.

Sáu nhiệm vụ, giải pháp phát huy truyền thống yêu nước và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tăng cường vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng thời gian tiếp theo trong bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là những chủ trương, định hướng lớn, là phương châm hành động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị cùng toàn xã hội, khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, niềm tự hào và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, niềm tin và khát vọng phát triển, để xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

 

CẢNH GIÁC VIỆC LỢI DỤNG QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 Theo thống kê của cơ quan chức năng trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, với dân số khoảng 95 triệu người, tỉ lệ người sử dụng internet chiếm hơn 65% (đứng thứ 16 thế giới về số lượng người sử dụng internet), trong đó có khoảng 94% người dùng với mục đích sử dụng mạng xã hội. Các mạng xã hội được người dùng Việt Nam sử dụng phổ biến là facebook, zalo, youtube…, nhiều nhất là mạng xã hội facebook với gần 60 triệu người dùng(đứng thứ 7 thế giới).

Các thế lực thù địch, đối tượng chống đối trong và ngoài nước, đối tượng phản động ở nước ngoài đã tung lên không gian mạng nhiều sản phẩm dưới các hình thức như: Bài viết, video, phỏng vấn trực tuyến, tọa đàm… với các nội dung xuyên tạc, cho rằng: “Việt Nam đang vi phạm vấn đề về nhân quyền”; “Môi trường chính trị ở Việt Nam đang có biến động lớn bởi sự “độc tài”, “độc đoán” của chế độ “Đảng trị”… Đặc biệt, chúng còn cổ xúy hận thù, kích động gây mất đoàn kết, chia rẽ nội bộ, phá hoại công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đang đi đúng hướng và rất được lòng dân của Đảng, Nhà nước ta.

Ở nước ta, tại Điều 25 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Bên cạnh việc đề cao tự do ngôn luận phải vì lợi ích chung, pháp luật đều không cho phép lợi dụng tự do ngôn luận để viết, nói xuyên tạc với ý đồ xấu, bất chấp luật pháp, đồng thời xử lý nghiêm khắc hành vi lợi dụng tự do ngôn luận gây tổn hại cho Nhà nước, cộng đồng.

Thông qua các trang thông tin điện tử và mạng xã hội, người dân có thể tự do ngôn luận bày tỏ ý kiến, quan điểm, đăng tải hay lan truyền bất cứ thông tin gì thông qua tài khoản cá nhân của mình như facebook, youtube, zalo… Việc thể hiện quyền tự do ngôn luận của mỗi người trên mạng xã hội khá dễ dàng và có sức lan truyền nhanh chóng. Đặc biệt một số người có thói quen theo dõi báo mạng không chính thống trong nước và ở nước ngoài.

Xuất phát từ đặc điểm này, các thế lực thù địch đã lựa chọn mạng xã hội là công cụ, phương tiện hữu hiệu để xuyên tạc, tuyên truyền, chống phá chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chống phá Đảng và Nhà nước ta. Khi tương tác trên mạng xã hội, người tham gia cần tỉnh táo nhận diện rõ một số điểm sau:

Một là, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng quyền tự do ngôn luận để tạo lập các website, blog, facebook, fanpage, mạng xã hội kết hợp với các loại hình thông tin khác như báo viết, báo hình, báo nói… ban đầu gây sự chú ý để thu hút lượng người truy cập, qua đó truyền bá các quan điểm, tư tưởng phản động. Các trang mạng này có thể cài bẫy những thông tin sai trái nhằm làm rối nhiễu thông tin, phân tâm dư luận xã hội, đó là một thủ đoạn đánh trúng vào tâm lý người đọc rất tinh vi, thâm độc với mục đích tuyên truyền thông tin lệch lạc.

Hai là, các đối tượng phản động, chống phá cố tình xuyên tạc khái niệm “tự do ngôn luận”, chúng viện dẫn các quy định của luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam về tự do ngôn luận, nhưng cố tình lờ đi những quy định và điều khoản nghĩa vụ của người dân rồi tán phát qua internet, mạng xã hội làm cho nhiều người hiểu lầm rằng “tự do ngôn luận” là một quyền tuyệt đối, không có bất cứ một hạn chế nào.

Ba là, tạo lập các trang giả mạo cơ quan, tổ chức, cá nhân có uy tín để đăng tải thông tin xuyên tạc, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, gắn với việc đưa thông tin bí mật đời tư, bí mật cá nhân của các đồng chí lãnh đạo, sau đó lợi dụng quyền tự do ngôn luận để đưa ra nhận xét, phân tích, bình luận nhạy cảm để tác động đến niềm tin của người đọc.

Bốn là, lợi dụng quyền tự do ngôn luận để tổ chức lấy ý kiến qua mạng xã hội nhằm tạo áp lực dư luận, gây áp lực đối với chính quyền; kích động chống đối thông qua các hội, nhóm, tài khoản trên mạng xã hội, kích động những vấn đề liên quan đến các sơ hở, sai phạm và bức xúc xã hội như liên quan vấn đề chống tham nhũng, công tác cán bộ của Đảng, vấn đề sửa đổi Luật đất đai…

Năm là, lợi dụng quyền tự do ngôn luận để thành lập các trang phát thanh, kênh truyền hình, bài viết trên internet truyền tải nhiều nội dung xấu, độc trên nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, chúng tiến hành chuyển thể những bài viết có nội dung phản động thành âm nhạc, thơ ca, phóng sự ngắn phát trực tiếp trên các kênh âm nhạc và các trang mạng cá nhân. Các đối tượng dựng chuyện, tung ra nhiều thông tin thất thiệt, tuyên truyền xuyên tạc, gây nhiễu loạn thông tin, kích động, gieo rắc tâm lý hoài nghi cho người tiếp cận thông tin.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đề cập trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 khẳng định yêu cầu giữ vững an ninh mạng, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương… Muốn làm tốt vấn đề này thì một trong những trọng tâm thực hiện là cần chủ động phòng ngừa, đấu tranh mạnh mẽ với việc lợi dụng quyền tự do ngôn luận trên không gian mạng. Trách nhiệm này không chỉ thuộc về các cơ quan chức năng có liên quan mà là nhiệm vụ chung của các cấp ủy Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên.

 

NGÀY GIẢI PHÓNG THỦ ĐÔ 10/10/1954- MỐC SON LỊCH SỬ

 Kể từ “Chiếu dời đô” của Vua Lý Thái Tổ năm 1010 đến nay, Thăng Long - Hà Nội đã trải qua và chứng kiến nhiều thăng trầm lịch sử. Quân, dân Hà Nội, thế hệ sau tiếp bước thế hệ trước kiên cường tranh đấu, bền bỉ lao động, sáng tạo nền văn hiến rực rỡ, lập nhiều chiến công hiển hách lưu danh muôn đời. Trong tiến trình lịch sử phát triển Thủ đô Hà Nội, ngày 10-10-1954 là một mốc son lịch sử, đánh dấu thất bại hoàn toàn của thực dân Pháp ở Việt Nam, mở ra thời kỳ phát triển mới của Thủ đô và đất nước.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nhân dân Thủ đô Hà Nội và cả nước không có ước nguyện nào hơn là được sống trong không khí hòa bình để xây dựng, phát triển. Nhưng thực dân Pháp dưới sự ủng hộ của đế quốc Mỹ, đã dã tâm cướp nước ta một lần nữa, gây hấn ở Nam Bộ (23-9-1945) và phát động chiến tranh ra cả nước. Ngày 19-12-1946, hưởng ứng Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, với tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, quân, dân Hà Nội đã cùng với nhân dân cả nước nhất tề đứng lên đánh giặc cứu nước.

Với cuộc chiến đấu 60 ngày đêm vô cùng oanh liệt, Hà Nội đã mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc, kìm chân và tiêu hao sinh lực địch, tạo điều kiện để cơ quan đầu não và các lực lượng kháng chiến của ta tạm rút khỏi Hà Nội an toàn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ do Trung ương giao. Sau 9 năm chiến đấu ngoan cường, thông minh, gan dạ, đầy sáng tạo của quân và dân ta, đặc biệt là sau thất bại trong trận quyết chiến chiến lược tại Điện Biên Phủ năm 1954, thực dân Pháp buộc phải ký Hiệp định Giơnevơ (20-7-1954) công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia; chấp nhận rút quân khỏi miền Bắc Việt Nam.

Theo Hiệp định Giơnevơ, Hà Nội nằm trong khu vực tập kết 80 ngày của địch. Biết trước âm mưu của Pháp lợi dụng thời gian này để phá hoại các cơ sở kinh tế, văn hóa của ta, lôi kéo người di cư vào Nam, làm cho Hà Nội trở thành trống rỗng, mọi công việc bị đình trệ. Chúng ta đã chủ động có kế hoạch đề phòng, đấu tranh, đồng thời chuẩn bị lực lượng về mọi mặt để tiếp quản Thủ đô một cách trọn vẹn.

Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và trực tiếp là Đảng ủy tiếp quản, các tầng lớp nhân dân Thủ đô, nòng cốt là công nhân, tự vệ các nhà máy, xí nghiệp, công sở, đã đấu tranh quyết liệt với địch, bảo vệ gần như nguyên vẹn máy móc, thiết bị, hồ sơ, nguyên vật liệu; đồng thời đấu tranh chống địch cưỡng ép di cư vào Nam. Cùng thời gian này, cuộc đấu tranh của ta trên bàn Hội nghị ngoại giao ở Phù Lỗ cũng giành thắng lợi, buộc thực dân Pháp phải chuyển giao thành phố cho ta theo đúng nguyên tắc đã quy định tại Hiệp định Giơnevơ.

Đúng 16 giờ ngày 9-10-1954, những tên lính Pháp cuối cùng đã rút qua cầu Long Biên; quân ta hoàn toàn kiểm soát thành phố. Sáng ngày 10-10-1954, Ủy ban Quân chính thành phố và các đơn vị quân đội nhân dân gồm cả bộ binh, pháo binh, cao xạ, cơ giới,... chia làm nhiều cánh lớn đã mở cuộc hành quân lịch sử vào Hà Nội. Hai mươi vạn nhân dân Thủ đô náo nức trong rừng cờ đỏ sao vàng, với niềm vui sướng tột độ của những người đã gần 9 năm bị kìm nén dưới gót sắt của giặc nay được giải phóng, đã đón mừng đoàn quân chiến thắng trở về. 15 giờ chiều cùng ngày, hàng vạn nhân dân trang nghiêm dự lễ chào cờ do Ủy ban Quân chính tổ chức với sự có mặt của các đơn vị quân đội nhân dân tham gia tiếp quản thành phố. Cờ đỏ sao vàng phấp phới tung bay trên đỉnh Cột cờ cổ kính... Cả Hà Nội rạo rực niềm vui giải phóng, tự hào về sức mạnh hùng hậu kháng chiến, vô cùng biết ơn Đảng và Bác Hồ kính yêu.

Thủ đô Hà Nội được giải phóng là sự kiện lịch sử trọng đại, là ngày hội lớn không chỉ của các tầng lớp nhân dân Hà Nội mà còn là niềm hạnh phúc lớn của nhân dân cả nước; là mốc son sáng chói đánh dấu sự thất bại hoàn toàn của thực dân Pháp tại Việt Nam, mở ra thời kỳ phát triển mới của Thủ đô và đất nước. 70 năm qua, nhân dân Thủ đô vững bước đi theo trên con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiến tới mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

 

Thứ Năm, 3 tháng 10, 2024

ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC LUẬN ĐIỆU LỢI DỤNG THIÊN TAI XUYÊN TẠC CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

 Những ngày qua, trước những hậu quả nặng nề do bão số 3 và hoàn lưu của bão gây ra tại các tỉnh Bắc bộ, Đảng, Nhà nước, các địa phương, lực lượng vũ trang và nhân dân đang gồng mình ứng phó với trận bão, lũ lịch sử, huy động tối đa lực lượng, phương tiện để phòng, chống và giúp đỡ nhân dân khắc phục hậu quả của thiên tai. Cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc các địa phương và đồng bào cả nước đang hướng về miền Bắc, tích cực ủng hộ, giúp đỡ người dân ở những vùng gặp nạn theo lời kêu gọi của Đảng, Nhà nước, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Tuy nhiên, trên các trang mạng xã hội của các tổ chức, cá nhân phản động, bất mãn, cơ hội chính trị lại đăng tải những thông tin xuyên tạc, suy diễn, quy chụp, vu khống; lợi dụng việc bão lớn làm đổ nhiều cây xanh, nhiều cột điện, hỏng nhiều đường xá, thậm chí cố tình chọn đăng một vài hình ảnh cây mới trồng không có nhiều rễ, cột điện có ít lõi sắt (cả ảnh thật và ảnh cắt ghép, ảnh không rõ nguồn gốc và thời điểm chụp) để quy chụp, tung tin rằng nguyên nhân dẫn đến thiệt hại này là do tham nhũng quá nhiều và ở khắp mọi nơi, rồi do sự tắc trách của chính quyền các cấp, sự vô trách nhiệm của các cơ quan chức năng, v.v…

Bên cạnh đó, do thiếu hiểu biết, có người dân còn đăng tải những hình ảnh, bài viết thông tin sai sự thật, nhất là thông tin sai về việc vỡ đập, vỡ đê, ngập lụt, sạt lở... làm người dân hoang mang, hoảng loạn, cũng là cái cớ để các thế lực thù địch, phản động mượn gió, bẻ măng, chống phá Đảng, Nhà nước,…

Thực tế, quán triệt nghiêm túc chỉ đạo của Bộ Chính trị, của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và các Công điện, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các cấp, các ngành, các địa phương nói chung, lực lượng CAND nói riêng đã phát huy mạnh mẽ tinh thần “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ”, thực sự là chỗ dựa của nhân dân. Giữ vững phương châm hành động “lúc dân cần, lúc dân khó, có Công an”, lực lượng CAND đã huy động hơn 150 nghìn lượt CBCS; hàng chục nghìn trang thiết bị, phương tiện, công cụ hỗ trợ, đồng thời không quản ngại khó khăn, gian khổ, thậm chí đã có cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh, nhiều đồng chí bị thương trong khi thực hiện nhiệm vụ giúp nhân dân phòng, chống, ứng phó, cứu nạn, cứu hộ, cứu trợ, bảo đảm ANTT và khắc phục thiệt hại do bão, mưa lũ gây ra. Những nỗ lực, cố gắng, tinh thần quyết tâm, không quản ngại nguy hiểm, sẵn sàng hy sinh vì nhân dân của CBCS Công an các đơn vị, địa phương tham gia phòng, chống, khắc phục hậu quả do cơn bão số 3 gây ra đã được cấp uỷ, chính quyền và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao.

Cùng với đó, hưởng ứng lời kêu gọi của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, với tinh thần hỗ trợ “cao nhất, nhanh nhất” cho các gia đình bị thiệt hại do bão số 3 gây ra, phát huy truyền thống tương thân tương ái, “lá lành đùm lá rách” của dân tộc, nhiều tỉnh, thành và các đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức, doanh nghiệp, trong đó có Công an tỉnh Ninh Bình đã tổ chức phát động quyên góp ủng hộ, giúp đỡ đồng bào các tỉnh, thành phố bị thiệt hại do bão số 3 gây ra. Đến nay, số tiền quyên góp, ủng hộ chuyển về tài khoản của Uỷ ban Trung ương mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã lên đến hàng trăm tỷ đồng, cùng cơ số nhu yếu phẩm của các nhà hảo tâm, đồng bào trên cả nước đã được chuyển đến tận tay, kịp thời hỗ trợ bà con vùng bị nạn vượt qua khó khăn…

Thực tế trên đã khẳng định: Càng trong lúc khó khăn, hoạn nạn, tinh thần đoàn kết, kiên cường của dân tộc, của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta càng được phát huy mạnh mẽ. Sự chia sẻ, đồng tâm, đồng lòng của nhân dân cả nước đã tạo nên sức mạnh to lớn giúp đồng bào bị ảnh hưởng nặng nề của lũ bãovượt qua khó khăn, thách thức.

Thiết nghĩ, mỗi chúng ta, trong bối cảnh, tình hình hiện nay, cần hết sức tỉnh táo, sáng suốt khi tiếp nhận thông tin trên internet, mạng xã hội, nhất là thông tin từ những tổ chức, đối tượng phản động, bất mãn; không vội vàng cả tin, không lan tỏa những thông tin không chính thống, chưa được kiểm chứng,. Trước mỗi thông tin, sự việc xảy ra, cần cẩn trọng xem xét, tuyệt đối không để kẻ xấu lợi dụng tình hình ứng phó với bão lũ, thiên tai để kích động, lừa gạt, lôi kéo làmdẫn đến làm những việc gây tổn hại cho đất nước, cho nhân dân./.

 

HÀ NỘI PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ, XỨNG DANH THỦ ĐÔ ANH HÙNG, NGÀN NĂM VĂN HIẾN

 Ngay sau khi tiếp quản Thủ đô, Đảng bộ và chính quyền Hà Nội đã lãnh đạo Nhân dân khẩn trương khôi phục những cơ sở bị chiến tranh tàn phá, ổn định tình hình, từng bước vượt qua khó khăn, tổ chức lại sản xuất, bảo đảm đời sống Nhân dân, xây dựng cơ sở vật chất ban đầu của chủ nghĩa xã hội.

Trong 10 năm (1954-1964), ở vùng ngoại thành Hà Nội, nông dân được chia ruộng đất, phấn khởi phát triển sản xuất và tham gia vào các tổ đổi công và hợp tác xã. Các khu công nghiệp mới ra đời, hàng loạt nhà máy, xí nghiệp mới mọc lên. Nhiều công trình thủy lợi, nông trường, trại chăn nuôi được xây dựng. Mạng lưới giao thông được mở mang phát triển. Nhiều trường đại học lớn ra đời. Một số bệnh viện cũ được cải tạo, nâng cấp và xây dựng nhiều bệnh viện mới. Đến năm 1965, Hà Nội đã trở thành một trung tâm công nghiệp lớn của miền Bắc. Sự nghiệp văn hóa, giáo dục phát triển vượt bậc. Đời sống Nhân dân được cải thiện. Đi đôi với việc xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa, xã hội, Nhân dân Hà Nội đẩy mạnh đấu tranh và không ngừng chi viện cho miền Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Ngày 29/6/1966, không quân của đế quốc Mỹ ném bom kho xăng Đức Giang, bắt đầu giai đoạn đánh phá trực tiếp vào Thủ đô Hà Nội. Với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, quân dân Hà Nội không sợ hy sinh đã chiến đấu anh dũng, sáng tạo, làm tốt công tác phòng không sơ tán, giữ gìn trật tự trị an, duy trì đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, tiếp tục chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam. Đặc biệt, 12 ngày đêm cuối tháng 12/1972, Mỹ dùng máy bay B52 ném bom rải thảm Hà Nội và nhiều tỉnh, thành phố khác. Hà Nội cùng với các quân, binh chủng, các tỉnh, thành phố bình tĩnh, tự tin, tổ chức lực lượng chiến đấu, đánh thắng hoàn toàn cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của đế quốc Mỹ, lập nên kỳ tích “Điện Biên Phủ trên không”, góp phần tạo ra bước ngoặt lịch sử, làm thay đổi căn bản cục diện của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, buộc Chính phủ Mỹ phải ký Hiệp định Paris, chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam, tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Bước vào thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay, mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, tuy nhiên, kế thừa truyền thống cách mạng anh hùng, bám sát sự chỉ đạo của Trung ương, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Thủ đô đã chủ động triển khai đồng bộ nhiều chương trình, kế hoạch để thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày một nâng cao.

Hiện nay, trong bối cảnh cả nước gặp khó khăn, tốc độ tăng trưởng kinh tế của nhiều địa phương giảm, Hà Nội vẫn bền bỉ tăng trưởng, mức tăng GRDP 6,27% (năm 2023), cao hơn so với mức tăng trưởng chung của cả nước (5,05%). Thu nhập của người dân tiếp tục được cải thiện, bình quân 150 triệu đồng/người/năm. Hai năm gần đây, Hà Nội đứng đầu cả nước về thu nội địa. Năm 2022, tổng thu ngân sách trên địa bàn thành phố lần đầu tiên vượt mức 300.000 tỉ đồng (đạt 332.089 tỉ đồng), trong đó thu nội địa cũng lần đầu tiên đạt 302.917 tỉ đồng, cao nhất cả nước. Năm 2023, tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố đạt hơn 410.000 tỉ đồng, trong đó thu nội địa tiếp tục dẫn đầu cả nước với trên 381.000 tỉ đồng. Đến hết năm 2023, thành phố có 18/18 huyện đạt chuẩn nông thôn mới với 382/382 xã đạt chuẩn nông thôn mới, 183 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và 68 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu, an sinh xã hội đảm bảo, quốc phòng, an ninh trên địa bàn được giữ vững, năng suất lao động ngày càng tăng, đạt bình quân trên 7%/năm.

Văn hóa, thể thao, du lịch, giáo dục, y tế và tôn tạo di tích được chú trọng đầu tư và phát triển. Năm 2023 khách du lịch quốc tế đến Hà Nội tăng 3,5 lần so với cùng kỳ năm 2022; khách du lịch trong nước tăng 19,1%. An sinh xã hội được đảm bảo, nhất là công tác xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm, chăm sóc các đối tượng chính sách xã hội. Tính đến hết năm 2023, tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn thành phố giảm còn 0,03%; tỷ lệ hộ cận nghèo 0,7%. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 93,5%. Bên cạnh đó, thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh có nhiều đổi mới, sáng tạo, sát với tình hình thực tiễn. Công tác đối ngoại của thành phố đã có những bước chuyển mình tích cực. Đến nay, Hà Nội đã ký thỏa thuận hợp tác với 61 Thủ đô, thành phố các nước; có quan hệ kinh tế thương mại với gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ…

Với những cố gắng, nỗ lực trong suốt 70 năm qua của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Thủ đô, Hà Nội xứng đáng là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước, được bạn bè thế giới ngợi ca và được UNESCO vinh danh là “Thành phố vì hòa bình”; 3 lần được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, tặng danh hiệu “Thủ đô Anh hùng”.

Kỷ niệm 70 năm Ngày giải phóng Thủ đô (10/10/1954 - 10/10/2024) là dịp chúng ta nhìn lại một chặng đường lịch sử vẻ vang, bước trưởng thành và phát triển để thêm tự hào và trách nhiệm với Hà Nội; chung tay, góp sức đưa Thủ đô vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện thành công Nghị quyết số 15 - NQ/TW ngày 05/5/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; cùng đất nước vững bước trên con đường đổi mới, hội nhập và phát triển, tiếp tục lập được những thành tựu mới, xứng đáng hơn nữa với niềm tin của Đảng, Nhà nước và đồng bào cả nước dành cho Thủ đô, để Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội xứng đáng là Thủ đô Anh hùng của dân tộc Việt Nam Anh hùng.

 

HIỆU QUẢ CỦA CÔNG TÁC BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

 Thời gian qua, nhờ có sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, kịp thời của Chính phủ, sự vào cuộc đồng bộ, tích cực của cả hệ thống chính trị, cùng với sự đồng tình, hưởng ứng, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài, chúng ta đã khắc phục, vượt qua được những khó khăn rất lớn, những tác động tiêu cực do dịch bệnh, thiên tai, bão lụt, hạn hán xảy ra. Đó là minh chứng sinh động, khẳng định tính ưu việt của chế độ; truyền thống đoàn kết, yêu nước, lòng nhân ái và ý chí kiên cường của nhân dân ta. Càng trong khó khăn, thử thách, truyền thống và ý chí đó càng được nhân lên gấp bội, là nguồn lực và động lực to lớn, không một thế lực nào có thể ngăn cản, để xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh, đất nước tiếp tục đi lên, dân tộc phát triển cường thịnh, trường tồn. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử là kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam” Trong đó, phải kể đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch được Đảng ta đặc biệt quan tâm, đạt nhiều kết quả tích cực. Cụ thể:

Thứ nhất, chất lượng lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ngày càng được nâng cao. Nhờ vậy, cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức đúng đắn sách lược của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Quán triệt rõ, công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, đồng thời là trách nhiệm của toàn dân nhằm đấu tranh hiệu quả với những quan điểm sai trái, thù địch, góp phần tạo nên sức mạnh tổng thể của cả hệ thống chính trị, kết hợp với sức mạnh của nhân dân. Trên cơ sở quán triệt nhận thức, tư duy, xác định rõ tính chất nguy hại và tác động tiêu cực của những quan điểm sai trái, thù địch đối với an ninh, trật tự, an toàn xã hội; nhận diện rõ các quan điểm sai trái, thù địch để có chủ trương, biện pháp chỉ đạo phù hợp; phân định được sự khác biệt của quan điểm sai trái, thù địch với nhận thức lệch lạc, phiến diện, ý kiến phê bình, nhưng thiếu xây dựng. Từ đó, có cách thức phản biện khoa học, phương thức đấu tranh phù hợp, giải pháp áp dụng phát huy hiệu quả cao.

Thứ hai, sử dụng đa dạng giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Lấy giá trị thực tiễn làm phương thức đấu tranh, nhưng luôn bảo đảm tính khách quan, thuyết phục; đồng thời, sử dụng biện pháp đấu tranh mềm dẻo, cương quyết, nhưng dân chủ. Áp dụng biện pháp khoa học - kỹ thuật để nhận diện, đấu tranh và xử lý kịp thời thông tin vu khống, xuyên tạc, nội dung xấu, độc, luận thuyết sai trái (phủ nhận giá trị khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh...). Sử dụng hiệu quả công cụ pháp lý để bảo đảm tính tuân thủ, bình đẳng, khách quan trước pháp luật; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa làm công cụ về thể chế để đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ ba, Đảng ta đã sử dụng các phương thức, giải pháp có tính bản lề, kết hợp “xây” và “chống”. Phương thức này bảo đảm các giá trị về tạo lập tinh thần cách mạng, có sự kết hợp với đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Trong đó, “xây” là chính và “chống” là quan trọng, cấp bách, đã được quan tâm, thường xuyên triển khai thực hiện. Xác định rõ trọng tâm, cốt lõi về mặt bản chất, Đảng ta đã trưởng thành từ nhân dân và “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”(9). Do vậy, bằng nhiều phương thức khác nhau, Đảng ta đã xây dựng được niềm tin của nhân dân theo tinh thần “Dân tin thì Đảng còn và ngược lại”. Quán triệt quan điểm lấy dân làm gốc, xây dựng và củng cố vững chắc “thế trận lòng dân”, Đảng ta đã dựa vào nhân dân, thông qua sự ủng hộ, bằng sức mạnh của nhân dân để hình thành tổ chức và lực lượng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Thông qua các diễn đàn, phương tiện truyền thông, người dân thẳng thắn bày tỏ quan điểm, tinh thần yêu nước, ủng hộ Đảng và chế độ. Trên các phương tiện truyền thông xã hội thời gian qua, nhiều tài khoản đã tham gia tích cực vào công tác này, như nhóm “Đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc” với 91.468 thành viên; trang “Chống luận điệu xuyên tạc” có 44.000 người thích, 48.000 người theo dõi; trang “Tiếng nói thế hệ trẻ” có 14.392 người thích, 15.224 người theo dõi; trang “Thông tin chống phản động” có 149.000 người thích, 190.000 người theo dõi; trang “Chống phản động” có 189.349 người thích, 229.136 người theo dõi(10)...

Thứ tư, kết hợp cùng lúc nhiều phương thức, giải pháp, như đấu tranh, phản bác với nêu gương; tuyên truyền, phổ biến với giáo dục ý thức cách mạng, chủ nghĩa yêu nước; đấu tranh, phản biện với chứng minh, đối chứng, so sánh (“chứng cứ thật, giá trị thật”); đấu tranh, phản biện với sử dụng biện pháp mạnh (“xử lý không có vùng cấm”, “không chấp nhận lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm”, “trục lợi chính sách”)./.

ĐẤU TRANH CHỐNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI VỀ CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG Ở NƯỚC TA

 Thời gian qua công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta đã đạt nhiều kết quả rất quan trọng, toàn diện, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao, được bạn bè quốc tế ghi nhận. Thế nhưng, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thường xuyên sử dụng nhiều chiêu bài thâm độc hòng xuyên tạc công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta... Vì vậy, cần nhận diện các thủ đoạn, chiêu bài của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị để phản bác, đấu tranh hiệu quả.

Với những biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong đó có Việt Tân đã đưa ra những luận điệu sai trái; thậm chí trơ trẽn đánh tráo khái niệm, tốt vẫn nói xấu, có khuyết điểm thì bới móc, thổi phồng, làm lệch lạc bản chất vấn đề hòng xuyên tạc công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta.

Đầu tiên chúng ta thấy rằng bản chất của tham nhũng bắt nguồn từ lòng tham con người, lòng tham chính là “hạt giống” tồn tại với tư cách là một thuộc tính cố hữu của con người, trong điều kiện thích hợp có thể “sinh sôi nảy nở”, phát triển thành các biểu hiện cụ thể của hành vi tham nhũng. Nguyên nhân của các hành vi tham nhũng là do người cán bộ thiếu đạo đức cách mạng, thiếu tinh thần trách nhiệm, xa rời sự lãnh đạo của Đảng, xa rời quần chúng. Như vậy, có thể thấy chính sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống chính là nguyên nhân căn cơ để tình trạng tham nhũng, tiêu cực phát sinh, phát triển.

Thứ hai, Đảng ta xác định “Đoàn kết, thống nhất trong Đảng” là một trong những nguyên tắc cơ bản trong xây dựng Đảng. Điều này bắt nguồn từ truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam trong lịch sử dựng nước và giữ nước, đồng thời đây là sự vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin trên cơ sở điều kiện lịch sử cụ thể của nước ta. Trong từng thời kỳ cách mạng khác nhau, Đảng ta luôn nhất quán xây dựng và không ngừng củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, xem đây là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng.

Thứ ba, phải khẳng định rằng, những kết quả nổi bật trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua đã góp phần làm cho nước ta ngày càng phát triển. Điều đó đã được chứng minh rõ nhất bằng hiệu quả của việc phòng, chống tham nhũng từ sau khi Chính phủ ban hành Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018; Nghị định số 59 ngày 01/7/2019 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018; Nghị định số 130 ngày 30/10/2020 quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị... Nhờ đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực mà nhiều sai phạm của không ít cán bộ, đảng viên đã được xử lý, nhiều vụ tham nhũng, tiêu cực phức tạp được giải quyết, tháo gỡ những “điểm nghẽn” như: đại án Việt Á, FLC, Tân Hoàng Minh, AIC, Vạn Thịnh Phát,…

Do đó, những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Việt Nam thời gian qua là không đúng sự thật. Qua lăng kính đánh giá của các đối tượng xấu, chúng đã tô vẽ, biến tướng, gây nhiễu loạn dư luận, kích động sự hoài nghi, hoang mang, dao động trong xã hội, dần dần làm xói mòn lòng tin của quần chúng nhân dân với Đảng, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội.

Hiện nay, Đảng, Nhà nước và nhân dân là các chủ thể thống nhất với nhau về mục tiêu và lợi ích, mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Điều này đã, đang và sẽ tiếp tục đem lại những hiệu quả tích cực trong công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta./.

 

“CÁN BỘ CHĂM CHỈ LÀM VIỆC CHƯA ĐỦ, CẦN PHẢI BIẾT LÀM VIỆC CHO CÓ PHƯƠNG PHÁP. PHẢI CẦN MÀ PHẢI CẨN NỮA”

 Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Thiếu óc tổ chức – một khuyết điểm lớn trong các ủy ban nhân dân”, bút danh Chiến Thắng, đăng trên Báo Cứu quốc, số 58, ngày 04 tháng 10 năm 1945.

Đây là thời điểm đất nước mới giành được độc lập, chính quyền cách mạng mới được thiết lập, phải đối diện với một khối lượng lớn công việc cần được giải quyết, đòi hỏi đội ngũ cán bộ các cấp phải dốc hết tâm huyết, nhiệt tình, trách nhiệm, song cần phải có sự tổ chức khoa học, hiệu quả. Do vậy, Bác đã viết bài để căn dặn đội ngũ cán bộ các cấp chỉ làm việc chăm chỉ là chưa đủ, mà phải làm việc khoa học, mới mang lại hiệu quả cao trong tổ chức, sắp xếp công việc của chính quyền mới.