Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2024

Chủ tịch Hồ Chí Minh bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và đấu tranh với những tư tưởng phi mác-xít

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ tiếp thu, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, vận dụng sáng tạo học thuyết này vào thực tiễn cách mạng nước ta, mà còn tích cực đấu tranh chống những tư tưởng phi mác-xít để bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin. Tinh thần đó của Người đã tiếp tục cổ vũ, khích lệ chúng ta trong công cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong bối cảnh hiện nay.

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH ĐẶT NỀN MÓNG VỮNG CHẮC CHO VIỆC XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VÀ ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG TƯ TƯỞNG PHI MÁC - XÍT

Có thể khẳng định, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh chính thức đến với chủ nghĩa Mác - Lênin vào năm 1920 khi Người đọc bản “Sơ thảo Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I. Lênin. Luận cương của V.I. Lênin đã bàn đến dân tộc, thuộc địa, cách mạng giải phóng dân tộc - những vấn đề có liên quan trực tiếp đến cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ; trong đó, có một luận điểm rất quan trọng nói về con đường phát triển của các nước thuộc địa, phụ thuộc như Việt Nam: “Với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến, các nước lạc hậu có thể tiến tới chế độ Xô-viết, và qua những giai đoạn phát triển nhất định, tiến tới chủ nghĩa cộng sản, không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”.

Có thể nói, luận điểm này của V.I. Lênin đã giải tỏa những trăn trở bấy lâu của Nguyễn Ái Quốc về con đường phát triển của cách mạng Việt Nam. Khi nói về điều này, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!””. Như vậy, hoàn toàn có cơ sở để khẳng định, chính “Sơ thảo Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I. Lênin đã tạo ra bước ngoặt căn bản về chất trong sự phát triển nhận thức, tư tưởng và lập trường cách mạng của Nguyễn Ái Quốc: từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin, từ giác ngộ dân tộc đến giác ngộ giai cấp, từ người yêu nước trở thành người cộng sản. Qua đó, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cách mạng chân chính cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc - con đường cách mạng vô sản. Từ đây, Nguyễn Ái Quốc đã đi theo V.I. Lênin, đi theo Quốc tế III và Người khẳng định một cách chắc chắn rằng: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”.

Từ việc đi theo chủ nghĩa Lênin, Nguyễn Ái Quốc còn tích cực truyền bá chủ nghĩa ấy vào Việt Nam, đầu tiên là thông qua tờ báo Thanh niên (ra đời năm 1925). Người không chỉ mở lớp đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ cốt cán, mà còn trực tiếp truyền thụ những nội dung về chủ nghĩa Mác - Lênin; bởi vì, theo Người, “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”. Hơn ai hết, Nguyễn Ái Quốc là người rất hiểu giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin với cách mạng Việt Nam nên Người luôn kiên định, vững vàng trong việc bảo vệ, phát triển học thuyết ấy: “Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”.

Những đánh giá của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh về vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin với cách mạng Việt Nam không mang tính chủ quan, mà hoàn toàn khách quan, bởi xuất phát từ thực tiễn phát triển cách mạng Việt Nam. Chủ nghĩa Mác - Lênin với tính cách là lý luận khoa học, cách mạng, vũ khí sắc bén của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế khi được truyền bá vào Việt Nam đã chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cách mạng; đồng thời, tạo ra bước phát triển về nhận thức, tư tưởng và quan trọng hơn, đã tạo ra một đội ngũ cán bộ cách mạng được trang bị lý luận tiên tiến. Do đó, trong quá trình lãnh đạo cách mạng sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên định, vững vàng với chủ nghĩa Mác - Lênin, coi đó là nền tảng tư tưởng của Đảng ta, là “kim chỉ nam” cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VẬN DỤNG, PHÁT TRIỂN SÁNG TẠO CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VÀO THỰC TIỄN CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ kiên định, vững vàng với thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, mà còn vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết này vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Trong “Sơ thảo Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa”, V.I. Lênin cho rằng, các nước thuộc địa thường là nước nghèo nàn, lạc hậu, đang bị các nước tư bản nô dịch, thống trị. Do đó, giai cấp vô sản ở chính quốc phải ủng hộ tích cực nhất phong trào giải phóng của các dân tộc thuộc địa. Bằng việc nghiên cứu rất kỹ lưỡng tình hình các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã phát triển hơn nữa quan điểm của V.I. Lênin về vấn đề này, khi khẳng định cách mạng ở các nước thuộc địa có thể tiến hành trước ở các nước chính quốc, và đến lượt mình sẽ có thể giúp đỡ cách mạng ở các nước chính quốc tiến lên. Đây là sự sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc khi vận dụng quan điểm của V.I. Lênin về vai trò của cách mạng ở các nước thuộc địa so với cách mạng ở chính quốc. Nhận định về điều này, Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng đã khẳng định: “Luận điểm của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh mới mẻ đến kỳ lạ,... nó nằm trong dòng sáng tạo cách mạng của những con người mà cống hiến lý luận và sự nghiệp đấu tranh vạch đường cho thời đại”. Ngoài ra, tư tưởng về khả năng đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa của V.I. Lênin (bỏ qua gián tiếp) đã được Nguyễn Ái Quốc phát triển thành tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và ngày nay, tư tưởng ấy vẫn là “kim chỉ nam” cho cách mạng nước ta.

Khi xác định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, mặc dù ở thời điểm chủ nghĩa xã hội đang hiển hiện ở Liên Xô và các nước Đông Âu, nhưng theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, không thể áp dụng một cách máy móc vào thực tiễn Việt Nam; bởi lẽ: “Ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lý khác”. Với tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng cần học tập kinh nghiệm của các nước một cách sáng tạo và vận dụng linh hoạt cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Người chỉ rõ: “Phải học tập kinh nghiệm các nước anh em và áp dụng những kinh nghiệm ấy một cách sáng tạo. Chúng ta phải nâng cao sự tu dưỡng về chủ nghĩa Mác - Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp chủ nghĩa Mác - Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quán triệt rất sâu sắc lời chỉ dạy của Ph. Ăngghen khi vận dụng chủ nghĩa Mác vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Theo Ph. Ăngghen, học thuyết của Mác là lý luận của sự phát triển, chứ không phải là một giáo điều mà người ta phải học thuộc lòng và lắp lại một cách máy móc. Tư tưởng về con đường phát triển của cách mạng Việt Nam là quá độ từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, có trình độ phát triển nghèo nàn, lạc hậu đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng cách bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa; hay độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội chính là những dẫn chứng thuyết phục cho sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, làm cho học thuyết ấy được nảy nở, phát triển trên cơ sở vận dụng phù hợp với điều kiện của một nước phương Đông như Việt Nam.

Là người quán triệt sâu sắc phương pháp luận duy vật biện chứng, Chủ tịch Hồ Chí Minh phê phán rất nghiêm khắc cả hai khuynh hướng sai lầm khi vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn. Đó là “chủ nghĩa giáo điều” và “chủ nghĩa xét lại”. Người chỉ rõ: “Không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em, là sai lầm nghiêm trọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều. Nhưng nếu quá nhấn mạnh đặc điểm dân tộc để phủ nhận giá trị phổ biến của những kinh nghiệm lớn, cơ bản của các nước anh em, thì sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa xét lại”. Vì thế, khi vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn, Người luôn yêu cầu vừa coi trọng việc học tập, nghiên cứu lý luận, vừa gắn lý luận với thực tiễn và phải khắc phục bệnh giáo điều, đề phòng chủ nghĩa xét lại.

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH LUÔN KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH KHÔNG KHOAN NHƯỢNG VỚI NHỮNG TƯ TƯỞNG PHI MÁC - XÍT ĐỂ BẢO VỆ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

Không chỉ thấm nhuần, kiên định vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh còn kiên quyết đấu tranh với những tư tưởng phi mác-xít để bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người am hiểu hơn ai hết giá trị của những quan điểm về dân tộc và thuộc địa mà V.I. Lênin đã đưa ra, nên khi đi theo chủ nghĩa Mác - Lênin, Người cũng đi theo Quốc tế III. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy sự phức tạp, nguy hiểm của những tư tưởng cơ hội, xét lại, dân túy xuất hiện ở Nga những năm sau Cách mạng Tháng Mười, nên Người đã luôn nêu cao tinh thần “tiến công mạnh mẽ những kẻ chống lại Lênin và Quốc tế thứ ba”. Là thành viên của Quốc tế Cộng sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh “không chỉ tranh luận trong chi bộ”, mà còn đi đến các chi bộ khác để đặt câu hỏi: “Nếu các đồng chí không lên án chủ nghĩa thực dân, nếu các đồng chí không đoàn kết với các dân tộc thuộc địa, thì các đồng chí làm thứ cách mạng gì?”.

Một trong những tư tưởng phi mác-xít mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đấu tranh một cách trực diện, kiên quyết chính là tư tưởng của những phần tử tờ-rốt-xkít. Với nhiều năm kinh nghiệm hoạt động quốc tế và sự nhạy bén về chính trị, ngay từ sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận rõ bản chất và mưu đồ của các phần tử tờ-rốt-xkít; bởi, bọn họ luôn có tư tưởng phá hoại phong trào cách mạng ở nhiều nước, như Liên Xô, Nhật Bản, Trung Quốc, Tây Ban Nha... và cài cắm các phần tử chống phá vào trong nội bộ tổ chức Quốc tế Cộng sản. Ngày 23/6/1939, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm “Về chủ nghĩa Tờ-rốt-xkít” đăng trên báo Notre Voix để vạch trần bản chất của các phần tử tờ-rốt-xkít. Người viết: “Bọn tờ-rốt-xkít không chỉ là kẻ thù của chủ nghĩa cộng sản, mà còn là kẻ thù của nền dân chủ và tiến bộ. Đó là bọn phản bội và mật thám tồi tệ nhất”. Người còn chỉ rõ thêm: “Trong tất cả các nước, bọn tờ-rốt-xkít đều dùng những tên gọi hoa mỹ để che giấu những công việc kẻ cướp bẩn thỉu của chúng”. Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đấu tranh một cách trực diện với những phần tử tờ-rốt-xkít bằng những ngôn ngữ rất gay gắt. Điều đó cho thấy tinh thần đấu tranh không khoan nhượng của người cộng sản kiên trung với những tư tưởng phi mác-xít.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đấu tranh với chủ nghĩa Tờ-rốt-xkít trên thế giới, mà còn kiên quyết đấu tranh với những tư tưởng tờ-rốt-xkít ở Việt Nam. Trong giai đoạn 1936 - 1939, trước tình trạng những phần tử tờ-rốt-xkít công khai phá hoại đường lối của Đảng Cộng sản Đông Dương, lôi kéo, lừa bịp nhân dân bằng những lời lẽ hoa mỹ; từ nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc đề nghị các đồng chí trong Đảng cảnh giác đối với những phần tử này: “Đối với bọn tờrốtxkít, không thể có thoả hiệp nào, một nhượng bộ nào. Phải dùng mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị”. Như vậy, nhóm tờ-rốt-xkít không chỉ phá hoại nền hòa bình, dân chủ trên thế giới, mà còn là tay sai cho chủ nghĩa phát xít. Điều này đi ngược lại với lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản mà chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã gây dựng, nên Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên quyết cho rằng không thể có một sự “thỏa hiệp” hay “nhượng bộ” nào!

Ngoài ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn cảnh giác và đấu tranh không khoan nhượng với khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa để bảo vệ thành quả cách mạng cũng như bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin. Tại Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và công nhân các nước xã hội chủ nghĩa (tháng 11-1957), Người nhắc lại tinh thần của Bản Tuyên bố của Hội nghị: “Chúng ta cần phải tăng cường giáo dục theo tinh thần chủ nghĩa Mác - Lênin và đấu tranh chống những khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa như chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa sôvanh, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại, đặc biệt là chủ nghĩa xét lại”. Đây chính là lời cảnh tỉnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh với những người cộng sản, nhằm giữ vững lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin và nêu cao tinh thần cảnh giác trước sự chống phá của những khuynh hướng tư tưởng phi mác-xít lúc bấy giờ.

Sau này, khi nói về nguyên nhân thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng ta luôn luôn đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản, tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp và của nhân dân, biết vận dụng lý luận Mác - Lênin vào tình hình thực tế của nước ta và đề ra đường lối, chính sách đúng đắn. Đảng ta không ngừng đấu tranh chống những khuynh hướng cải lương của giai cấp tư sản và những khuynh hướng manh động của tầng lớp tiểu tư sản trong phong trào dân tộc; chống luận điệu “tả” của bọn tơrốtxkít trong phong trào công nhân; chống những khuynh hướng hữu và “tả” trong Đảng khi quy định và chấp hành chiến lược và sách lược cách mạng của Đảng ở mỗi thời kỳ”. Có thể thấy rõ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra hai yếu tố cơ bản mang lại những thắng lợi của cách mạng Việt Nam: Đó là luôn vững vàng với lập trường giai cấp vô sản, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng; đồng thời, đấu tranh không khoan nhượng với những khuynh hướng tư tưởng phi mác-xít, như khuynh hướng cải lương của giai cấp tư sản, khuynh hướng manh động của tầng lớp tiểu tư sản và các khuynh hướng cơ hội, xét lại khác... Đây là nhận định vừa mang tính lý luận, vừa mang tính tổng kết thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn lãnh đạo cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giúp sự nghiệp cách mạng nước ta vượt qua muôn vàn khó khăn, thách thức để đạt được những thành quả to lớn ở thế kỷ XX.

Có thể khẳng định, việc kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin cũng như kiên quyết đấu tranh chống những khuynh hướng tư tưởng phi mác-xít không chỉ nằm trong quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn được Người thực hành một cách nghiêm túc, thường xuyên trong thực tiễn lãnh đạo cách mạng. Do đó, ở Người, lý luận và thực tiễn, “tri” và “hành” có sự thống nhất với nhau rất đặc sắc.

Hiện nay, một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong công tác xây dựng Đảng là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đây được coi là nhiệm vụ cơ bản, xuyên suốt, sống còn, liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ ta. Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời kiên quyết đấu tranh với những tư tưởng phi mác-xít có ý nghĩa phương pháp luận rất quan trọng đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân ta trong thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018, của Bộ Chính trị khóa XII, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Điều đó nhắc nhở mỗi chúng ta phải thực hiện tốt cả hai nhiệm vụ: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng để tiếp tục tuyên truyền, lan tỏa những nội dung, giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phản bác hiệu quả các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị ở trong nước và nước ngoài. “Bảo vệ” và “đấu tranh” có mối quan hệ biện chứng với nhau, có sự tác động qua lại nhau; bởi lẽ, muốn bảo vệ tốt phải đấu tranh hiệu quả và ngược lại, đấu tranh hiệu quả góp phần bảo vệ tốt hơn, vững chắc hơn.

Trong những năm qua, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường với sự leo thang của các cuộc xung đột vũ trang, quân sự trên quy mô lớn. Ở trong nước, bên cạnh những thành tựu to lớn, tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội còn chậm, chưa vững chắc; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ còn nhiều diễn biến phức tạp... Điều này đòi hỏi chúng ta tiếp tục kiên định, vững vàng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng bổ sung, phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam; đồng thời, thường xuyên đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Điều này cũng phù hợp với phương châm kết hợp hài hòa giữa “xây” và “chống” mà Đảng ta đã xác định rõ trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng giai đoạn hiện nay.

Là người cộng sản kiên trung, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quán triệt rất sâu sắc di huấn của V.I. Lênin: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”. Sự kiên định, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và sự kiên quyết, kiên trì đấu tranh với những tư tưởng phi mác-xít của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ cho chúng ta một phương pháp luận quan trọng, mà còn tiếp tục cổ vũ, động viên, khích lệ chúng ta trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giai đoạn hiện nay./.

Sưu tầm

Xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới

Trong những năm tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó dự báo. Hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế lớn, song đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn, thách thức. Các nước lớn vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh quyết liệt; tăng cường điều chỉnh chiến lược, lôi kéo, tập hợp lực lượng. Nhiều điểm nóng, xung đột tiếp tục tồn tại, có nguy cơ lan rộng. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia, dân tộc. Sự xuất hiện của các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự hiện đại, nhiều hình thái chiến tranh mới làm thay đổi môi trường chiến lược. Các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng gay gắt, tác động tiêu cực đến sự tồn tại, phát triển bền vững của các quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Ở trong nước, mặc dù đạt được nhiều thành tựu về kinh tế - xã hội, kinh tế vĩ mô bảo đảm ổn định nhưng chưa thật sự vững chắc; tiềm lực đất nước tiếp tục được tăng cường, uy tín, vị thế trên trường quốc tế được nâng cao, song cũng còn nhiều khó khăn, thách thức. Bốn nguy cơ Đảng ta xác định vẫn còn hiện hữu; những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ, tình trạng tham nhũng chưa được đẩy lùi; sự xuống cấp của một số giá trị văn hóa và đạo đức, những mâu thuẫn, bức xúc trong xã hội còn diễn biến phức tạp. Tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông còn tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định. Các thế lực thù địch, phản động tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội với âm mưu, thủ đoạn ngày càng công khai, trực diện và tinh vi hơn.

Tình hình đó đặt ra những khó khăn, thách thức mới đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong những năm tới; đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Phát huy những bài học kinh nghiệm quý báu trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc, trong lịch sử xây dựng, chiến đấu và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam, chúng ta tiếp tục giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân và sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Quán triệt sâu sắc và thực hiện có hiệu quả đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân; khơi dậy và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, ý chí tự lực, tự cường, truyền thống văn hóa tốt đẹp, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc để thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tăng cường xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và “thế trận lòng dân” vững chắc. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn xã hội đối với nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho các đối tượng; chú trọng tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về đối tác, đối tượng của cách mạng Việt Nam, đường lối, quan điểm của Đảng, yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, bồi dưỡng ý thức trách nhiệm, tinh thần cảnh giác cách mạng trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.

Chú trọng xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng, nâng cao tính bền vững và khả năng huy động đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng trong các tình huống. Xây dựng khu vực phòng thủ các cấp vững chắc, tạo thế bố trí phòng thủ liên hoàn trên từng địa bàn và phạm vi cả nước. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hoá, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hoá, xã hội và đối ngoại theo đúng quan điểm chỉ đạo: “Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”.

Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Điều chỉnh tổ chức Quân đội theo hướng tinh, gọn, mạnh, gắn với bố trí lại lực lượng và nâng cao chất lượng thu hút, đào tạo nhân tài, nguồn nhân lực chất lượng cao trong Quân đội. Giữ vững và phát huy truyền thống vẻ vang của Quân đội, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” và nghệ thuật quân sự Việt Nam; thực hiện tốt chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”; sẵn sàng các phương án bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, ứng phó các mối đe dọa an ninh phi truyền thống; nâng cao năng lực phòng, chống chiến tranh không gian mạng, chiến tranh thông tin. Đồng thời, quan tâm, chăm lo thực hiện tốt chính sách đối với Quân đội và chính sách hậu phương quân đội.

Tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng theo tinh thần Kết luận số 53 ngày 28/4/2023 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 2662-NQ/QUTW ngày 26/2/2024 của Quân ủy Trung ương về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo. Quán triệt và thực hiện tốt phương châm “tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả” trong hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, kiên định chính sách quốc phòng “Bốn không” của Việt Nam trong quan hệ quốc tế (không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế). Từ đó, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, tăng cường lòng tin chiến lược, giữ vững môi trường hòa bình, hợp tác, cùng phát triển, góp phần bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”.

Kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân là dịp để chúng ta ôn lại lịch sử hào hùng của dân tộc, bản chất, truyền thống tốt đẹp, những chiến công oanh liệt của Quân đội và nhân dân ta; qua đó, khơi dậy niềm tự hào, tự tôn dân tộc, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nâng cao lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, ý chí tự lực, tự cường, vượt qua mọi khó khăn, thử thách; ra sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong những năm tới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

Sưu tầm

Chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước.

 

Tối 5-10, tại Nhà hát Lớn Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Hội đồng Thi đua-Khen thưởng Trung ương dự và phát biểu tại Chương trình phát động hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước với chủ đề “Mái ấm cho đồng bào tôi” do Chính phủ và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức.

Cùng dự chương trình có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Thường trực Ban Bí thư Lương Cường; Đỗ Văn Chiến, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Nguyễn Hòa Bình, Bí thư Trung ương Đảng, Phó thủ tướng Thường trực Chính phủ; Đại tướng Phan Văn Giang, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; Thượng tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Bộ Công an và lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương...

Phát biểu tại chương trình, Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định, nhân dân ta có câu “an cư lạc nghiệp”, đặc biệt, Đảng, Nhà nước có chủ trương “Không hy sinh công bằng, tiến bộ xã hội, không hy sinh an sinh xã hội và môi trường để chạy theo tăng trưởng đơn thuần; phải làm cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc”.

Thủ tướng nhắc lại, thực hiện chủ trương của Đảng, ngày 13-4-2024, tại huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình-nơi có nhiều nhà dột nát, nhà tạm của đồng bào dân tộc, Thủ tướng Chính phủ đã phát động Phong trào thi đua “Cả nước chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát” trên phạm vi toàn quốc trong năm 2025 và đã được cả hệ thống chính trị, toàn dân, doanh nghiệp hưởng ứng, tham gia tích cực, mang lại hiệu quả lớn cho người dân. Thủ tướng ghi nhận, đánh giá cao và trân trọng cảm ơn những nghĩa cử cao đẹp của nhân dân, doanh nghiệp, các bộ, ngành, địa phương đã đóng góp cho phong trào thi đua có ý nghĩa nhân văn sâu sắc này.

Thủ tướng nhấn mạnh, từ nay đến hết năm 2025 chỉ còn khoảng 450 ngày đêm để hoàn thành mục tiêu xóa toàn bộ nhà tạm, nhà dột nát nên khối lượng công việc rất nhiều. Với tinh thần “tương thân tương ái”, Thủ tướng kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, cả hệ thống chính trị và cộng đồng doanh nghiệp hãy chung sức, đồng lòng, tăng tốc, bứt phá hơn nữa trong việc chung tay xóa hết nhà tạm, nhà dột nát với tinh thần “ai có gì giúp nấy, ai có của giúp của, ai có công giúp công, ai có nhiều giúp nhiều, ai có ít giúp ít” để nhanh chóng xóa nhà tạm, nhà dột nát cho đồng bào, nhất là đồng bào dân tộc ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và thực hiện chủ trương lớn của Đảng là “Không để ai bị bỏ lại phía sau” trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. 

Tại chương trình, Thủ tướng đã ra lời kêu gọi thúc đẩy hơn nữa, mạnh mẽ tăng tốc hơn nữa phong trào thi đua để sớm hoàn thành mục tiêu xóa nhà tạm, nhà dột nát trong năm 2025. Trong quá trình thực hiện, Thủ tướng lưu ý tăng cường kiểm tra, giám sát không để xảy ra tiêu cực, tham nhũng liên quan đến phong trào có ý nghĩa nhân văn này.

Theo Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung, công tác xóa nhà tạm, nhà dột nát cho các hộ nghèo đã đạt được những kết quả tích cực. Tính từ năm 2000 đến 2023, với sự tham gia tích cực của các lực lượng Quân đội, Công an, Mặt trận Tổ quốc, các doanh nghiệp và nhân dân cả nước, hơn 1,7 triệu căn nhà đã được xây mới và sửa chữa cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn. Tuy nhiên, hiện nay, qua rà soát cả nước còn khoảng 400.000 căn nhà tạm, nhà dột nát, chưa đảm bảo “3 cứng” hoặc thiếu hụt về chất lượng.

Đến thời điểm hiện tại, tổng số tiền huy động được để xóa nhà tạm, nhà dột nát là 5.932 tỷ đồng.

Trị bệnh kiêu ngạo trong Đảng

Bệnh kiêu ngạo ở một số cán bộ, đảng viên là một trong những biểu hiện của suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, nếu không được nhận diện, ngăn chặn, đẩy lùi sẽ từng bước dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Để điều trị hiệu quả bệnh kiêu ngạo trong Đảng cần có nhận thức đầy đủ, tìm ra nguyên nhân, đánh giá đúng thực trạng và thực hiện nghiêm túc các giải pháp thiết thực, qua đó góp phần xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh.

1. Theo từ điển Tiếng Việt: “Kiêu ngạo là tự đánh giá mình quá cao, tỏ ra khinh thường người khác”. Đối với cán bộ, đảng viên khi mắc bệnh kiêu ngạo sẽ biểu hiện ở nhận thức, thái độ, lời nói và hành động. Trong nhận thức là sự đánh giá phẩm chất, năng lực của bản thân quá cao so với thực tế, tự cho mình là nhất, không ai sánh bằng; chỉ nhìn thấy ưu điểm của mình mà không nhìn thấy ưu điểm của người khác, chỉ nhìn thấy những việc mình làm được mà không nhìn thấy những việc người khác cũng làm được, chỉ nhìn thấy khuyết điểm của người khác mà không nhìn thấy khuyết điểm của mình.

Trong thái độ, họ luôn lên mặt là bậc thầy của người khác, coi thường đồng chí, thường xuyên phô trương những ưu điểm, thành tích của mình, coi lời nói, việc làm của người khác không có giá trị và ý nghĩa bằng của mình. Trong các hội nghị, người mắc bệnh kiêu ngạo thường không thừa nhận ý kiến hợp lý của người khác, luôn cho ý kiến của mình là hoàn hảo. Trong công việc, khi phải ra quyết định thì luôn theo quyết định của mình mặc dù nó còn chưa hợp lý. Trong sơ kết, tổng kết, họ thường cho rằng đóng góp của mình rất to lớn, còn cao hơn tập thể.

Bệnh kiêu ngạo không phải mới xuất hiện trong Đảng. Bệnh này luôn là vấn đề mà sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm phòng, chống trong suốt quá trình xây dựng, rèn luyện Đảng ta. Ngay từ khi chuẩn bị thành lập Đảng, trong các bài giảng cho cán bộ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, khi nói về tư cách của một người cách mạng, Người đã khẳng định: “Tự mình phải: Cần kiệm. Hòa mà không tư. Cả quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại (chịu khó). Hay nghiên cứu, xem xét. Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo”. Sau này, khi Cách mạng Tháng Tám, kháng chiến chống Pháp thành công và trước lúc đi xa, Người luôn đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng và luôn nhắc nhở, yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên phải tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phòng, chống bệnh kiêu ngạo.

Thực tiễn sau nhiều năm đổi mới, đến Đại hội XIII của Đảng, cùng với các mặt khác, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã đạt được những thành tựu quan trọng, là nguyên nhân “then chốt” của thành tựu toàn diện trong công cuộc đổi mới đất nước. Bên cạnh đó, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng vẫn còn tồn tại những hạn chế, khuyết điểm cần khắc phục triệt để, đặc biệt là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, với 27 biểu hiện đã được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng chỉ ra.

Bệnh kiêu ngạo là một trong những biểu hiện đó. Đó là: “Duy ý chí, áp đặt, bảo thủ, chỉ làm theo ý mình; không chịu học tập, lắng nghe, tiếp thu ý kiến hợp lý của người khác”; “Trong tự phê bình còn giấu giếm, không dám nhận khuyết điểm”. Những năm qua, với sự kiên quyết, kiên trì, quyết liệt trong thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã góp phần đấu tranh, ngăn chặn một bước quan trọng về tình trạng suy thoái trong Đảng, góp phần làm cho Đảng trong sạch hơn, vững mạnh hơn. Song, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” vẫn tiếp tục diễn ra, bệnh kiêu ngạo ở một số cán bộ, đảng viên vẫn chưa chấm dứt.

2. Bệnh kiêu ngạo trong Đảng do nhiều nguyên nhân. Trước hết, ảnh hưởng từ mặt trái của cơ chế thị trường cùng với lối sống thực dụng, hưởng thụ, đề cao cá nhân đang từng ngày, từng giờ tác động đến nhận thức, thái độ và hành vi của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nếu không có bản lĩnh, không thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện sẽ rất dễ phai nhạt mục tiêu, lý tưởng, nhận thức, đánh giá sai lệch về bản thân. Cùng với đó là những lỗ hổng trong hệ thống pháp luật, những tiêu cực trong công tác đã tạo ra một số cán bộ, đảng viên có “hồ sơ, lý lịch rất đẹp” nhưng thiếu tích lũy, tu dưỡng, rèn luyện trong thực tiễn, từ đó làm cho họ ngộ nhận và ảo tưởng về bản thân, sinh ra hàng trăm thứ bệnh, trước hết là bệnh kiêu ngạo. Bên cạnh đó là sự tâng bốc, nịnh bợ của những cán bộ, đảng viên không chân chính cùng với một tập thể cấp ủy, tổ chức đảng không vững mạnh, không thực hiện tốt chế độ phê bình và tự phê bình. Theo đó, những cán bộ, đảng viên sinh hoạt, công tác trong môi trường “ít lời nói thật” rất khó nhận thức đúng về mình và dễ chuyển sang kiêu ngạo.

Về chủ quan, bệnh kiêu ngạo có nguồn gốc từ việc thiếu tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên và rơi vào chủ nghĩa cá nhân, tham vọng, háo danh. Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập đến trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”. Người khẳng định, chủ nghĩa cá nhân sinh ra hàng trăm thứ bệnh nguy hiểm, trong đó có bệnh kiêu ngạo: “Có một số ít đảng viên bị chủ nghĩa cá nhân trói buộc mà trở nên kiêu ngạo, công thần, tự cao tự đại”.

Kiêu ngạo nếu không được ngăn chặn sẽ dẫn đến những quyết định sai lầm của người đứng đầu, gây tổn thất cho tổ chức. Người mắc bệnh kiêu ngạo thường xem mình là nhất, luôn ở trên mọi người, thậm chí trên cả tập thể, tự cho mình là đúng, sinh ra chủ quan, duy ý chí, thường không tôn trọng tập thể, không phát huy trí tuệ tập thể. Trong khi đó, thực tiễn luôn vận động, yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao, nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh. Để đưa ra được những quyết định chính xác, kịp thời, đòi hỏi người lãnh đạo, quản lý phải có trình độ, năng lực, phẩm chất toàn diện, nhất là năng lực đoàn kết, phát huy trí tuệ tập thể, phát huy nhân tố con người. Tuy nhiên, người kiêu ngạo thì không thể đoàn kết, không thể phát huy trí tuệ tập thể và cũng không thể phát huy nhân tố con người, từ đó dễ đưa ra những quyết định sai lầm.

Kiêu ngạo luôn gắn liền với thói xu nịnh, tâng bốc, gắn liền với thoái bộ và bất mãn. Kiêu ngạo chính là ảo tưởng về mình, không nhận thức đúng về mình dẫn đến chủ quan, duy ý chí, thường mắc sai lầm trong công tác và trong ứng xử. Tập thể sẽ nhận ra điều đó, những người thẳng thắn thường trao đổi, đóng góp ý kiến. Người kiêu ngạo do không nhận thức đúng về bản thân nên dễ dẫn đến phủ nhận những đóng góp chân thành và từ đó có thái độ thù ghét, trù dập người thẳng thắn. Trái lại, người kiêu ngạo lại thích những người tâng bốc, xu nịnh mình. Vì kiêu ngạo nên không hiểu chính mình, không nhận thức đúng ưu, khuyết điểm của mình nên không thể phát huy ưu điểm, không thể tự sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, không thực sự cố gắng trong tự học tập, tự tu dưỡng, tự rèn luyện hoàn thiện bản thân nên từng bước tụt lùi, dần dần sẽ không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Từ đó sinh ra tư tưởng chán nản, tiêu cực, cho rằng tập thể đã không ghi nhận mình, dẫn đến có thái độ bất mãn với tổ chức.

Kiêu ngạo sinh ra bè phái, mất đoàn kết. Khi kiêu ngạo, người ta thường cho mình là đúng nên gạt bỏ ý kiến chân thành, hợp lý, hợp tình từ người khác, từ đó ngay trong tư tưởng đã có những mâu thuẫn. Đặc biệt, đối với cán bộ, đảng viên có chức, có quyền khi kiêu ngạo thường sử dụng quyền lực của mình để buộc người khác phải thừa nhận mình, sử dụng lời nói, việc làm của mình để bôi nhọ, xuyên tạc, hạ thấp uy tín của những người không cùng quan điểm với mình. Trong tập thể sẽ hình thành nên những nhóm có quan điểm trái ngược nhau, từng bước gây ra những xung đột, tạo ra bầu không khí ngột ngạt, u ám. Chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan, đơn vị, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng vì đó sẽ ngày càng đi xuống.

Kiêu ngạo nếu không được cảnh tỉnh, ngăn chặn sẽ dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Kiêu ngạo sinh ra tự tung tự tác, dẫn đến ảo tưởng đòi ưu đãi, đòi danh dự và địa vị. Khi không được thỏa mãn thì họ quay sang bất mãn, oán trách tổ chức, thậm chí theo đuôi và cổ xúy cho những đối tượng phản động, cơ hội nhằm bôi đen sự thật, chống phá Đảng và chế độ. Đó là con đường đi đến “trở cờ”, “chuyển hóa” từ cách mạng sang phản động. Trong thực tiễn đã có nhiều cán bộ, đảng viên trước kia là anh hùng, có công với cách mạng, sau đó do kiêu ngạo, công thần đã trở thành kẻ phản bội lại Đảng, Tổ quốc, nhân dân và chế độ.

3. Để điều trị hiệu quả bệnh kiêu ngạo trong Đảng, đặt ra yêu cầu đối với các cấp ủy, tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức sâu sắc, nghiêm túc thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII, khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Từ đó có cơ sở vững chắc cho việc nhận diện, tự phê bình, tự tu dưỡng, tự rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống của bản thân. Đồng thời có cơ sở trong đấu tranh phòng, chống các hiện tượng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và bệnh kiêu ngạo trong tập thể.

Cùng với đó, cần phát huy được vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng trong phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, chủ nghĩa cá nhân và bệnh kiêu ngạo. Trách nhiệm phòng, chống trước hết là của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, của đội ngũ cán bộ, đảng viên, của cả hệ thống chính trị. Do đó, cần triển khai, tổ chức thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị, chương trình, kế hoạch cụ thể về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; thực hiện tốt công tác giáo dục, quản lý, rèn luyện, kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng viên, trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Song song với đó, cần thực hiện tốt chế độ tự phê bình và phê bình, chống bệnh hình thức trong quá trình thực hiện, đề cao dân chủ trong sinh hoạt Đảng. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức rõ vị trí, vai trò, chức trách, nhiệm vụ, đánh giá đúng phẩm chất, năng lực của bản thân, thực sự khiêm tốn, cầu thị, kiên quyết, kiên trì phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Chống tư tưởng công thần, kinh nghiệm chủ nghĩa, “bệnh ngôi sao”, “mũ ni che tai” trong mọi công việc./.

Sưu tầm

Trí tuệ nhân tạo và những nguy cơ, thách thức đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay

Sự ra đời của phần mềm Chat GPT đã tạo nên cơn sốt trên toàn cầu và cả ở Việt Nam. Điều này khẳng định xu thế của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là không thể đảo ngược, đang có tác động cả tích cực và tiêu cực đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - chính trị thế giới. Đây cũng là thách thức lớn đối với Việt Nam trước nguy cơ các thế lực thù địch, phản động sử dụng thành tựu này để chống phá, kích động, xuyên tạc con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, ảnh hưởng lớn đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

TRÍ TUỆ NHÂN TẠO VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG KHÔNG MONG MUỐN ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

Sự bùng nổ của Chat GPT làm nhiều người bắt đầu chú ý tới trí tuệ nhân tạo (AI), mặc dù các công cụ dò tìm đường, công cụ dịch thuật, công cụ chỉnh sửa ảnh tự động… đã được ứng dụng AI từ rất lâu. Tuy nhiên, người ta mới chỉ nhìn thấy phần nổi của tảng băng chìm và chưa nhận thức rõ những thách thức của AI đối với đời sống xã hội. Thực tế, AI hoàn toàn có thể ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh… của quốc gia, thậm chí là toàn nhân loại.

Mỹ là quốc gia có nền công nghệ phát triển hàng đầu thế giới, nơi sở hữu nhiều công ty công nghệ hùng mạnh về AI đã bắt đầu quan tâm đến tác động từ sự phát triển của AI. Tháng 8-2023, Tổng thống Mỹ Joe Biden đã có buổi làm việc với bảy công ty công nghệ hàng đầu của Mỹ là Amazon, Anthropic, Google, Inflection, Meta, Microsoft và OpenAI tại Nhà Trắng. Cuộc gặp này diễn ra sau những lo ngại về việc các công ty đang chạy đua với nhau bằng các phiên bản AI có thể tự sáng tạo văn bản, ảnh, nhạc và video mà không cần một hình mẫu con người cụ thể. Sự bùng nổ của các phiên bản AI này dẫn đến nguy cơ lan truyền những thông tin sai lệch và những cảnh báo nghiêm trọng về các rủi ro khi AI trở nên tinh vi và giống con người hơn. Tháng 10-2023, Chính phủ Mỹ đã ban hành sắc lệnh nhằm giảm thiểu rủi ro mà công nghệ AI có thể gây ra, thiết lập các tiêu chuẩn mới về an toàn và bảo mật, bảo vệ quyền riêng tư của người dùng, thúc đẩy đổi mới và cạnh tranh trong lĩnh vực AI. Không chỉ trong lĩnh vực an ninh con người, Mỹ đang lo ngại về các nguy cơ của AI trong lĩnh vực quốc phòng. Đơn cử như, nếu một quả tên lửa hay máy bay không người lái (UAV hoặc Drone) được điều khiển bởi AI tham gia các hoạt động chiến tranh, quân sự hoặc có thể là khủng bố thì khó có thể lường hết hậu quả. Theo Diễn đàn Quốc phòng Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, tháng 11-2023, Bộ Ngoại giao Mỹ đã công bố Tuyên bố chính trị về việc sử dụng có trách nhiệm trí tuệ nhân tạo và công nghệ tự hành trong quân sự nhằm thiết lập các quy tắc sử dụng. Từ tháng 1-2024 đến nay, đã có 51 quốc gia tán thành tuyên bố trên, đồng thuận cùng tham gia xây dựng các quy tắc, hướng dẫn để bảo đảm việc sử dụng AI và các hệ thống vũ khí tự hành, cũng như các ứng dụng quân sự sử dụng AI khác.

Việt Nam cũng đang phải đối mặt với những nguy cơ trực tiếp đến từ sự bùng nổ của AI, đặc biệt là làn sóng tội phạm sử dụng công nghệ AI. Phổ biến nhất có thể kể đến Deepfake đang được các đối tượng lừa đảo sử dụng khá phổ biến. Các sản phẩm âm thanh, hình ảnh, video, clip… giả mạo do Deepfake tạo ra thường nhằm giả mạo các cơ quan chức năng hoặc người thân của mục tiêu để thực hiện việc lừa đảo. Các thông tin về số căn cước công dân, số tài khoản ngân hàng, số điện thoại, địa chỉ, các mối quan hệ trên trang mạng xã hội… dễ bị lộ lọt là kẽ hở lớn để các đối tượng lừa đảo nhắm tới. Thông qua sức mạnh của AI đến từ khả năng thu thập, xử lý dữ liệu khổng lồ và phân tích các mẫu phức tạp, các đối tượng xấu có nhiều chiêu trò để thuyết phục nạn nhân tin vào nội dung lừa đảo, qua đó chiếm đoạt tài sản hoặc thực hiện các mục đích xấu khác. Theo thống kê của Cục An toàn thông tin, Bộ Thông tin và truyền thông, trong 11 tháng đầu năm 2023, đã có 15.900 phản ánh về trường hợp lừa đảo do người dùng internet Việt Nam gửi đến qua các hệ thống cảnh báo, trong đó hơn 91% cảnh báo này liên quan đến giả mạo, lừa đảo trong lĩnh vực ngân hàng - tài chính. Theo báo cáo của Liên minh chống lừa đảo toàn cầu (GASA) và dự án xã hội Chống lừa đảo (Việt Nam), năm 2023, trung bình mỗi người Việt tham gia khảo sát phải đối mặt với 0,8 vụ lừa đảo; trong đó, có 71% số người được gọi gặp phải lừa đảo trên hai nền tảng lớn là Facebook và Gmail, các nền tảng khác như Telegram (28%), Google (13%) và TikTok (13%).

NGUY CƠ, THÁCH THỨC TỪ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO ĐẾN CÔNG TÁC BẢO VỆ NỀN TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Rõ ràng không thể phủ nhận lợi ích mà AI mang đến cho cuộc sống và sự phát triển của các quốc gia, nhưng những nguy cơ, thách thức mà nó mang lại rất cần được nghiên cứu, dự báo và chủ động phòng ngừa. Trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay, AI mặc dù chưa ảnh hưởng sâu rộng và gây ra những thách thức trực diện, song cần nghiên cứu, dự báo và có những biện pháp chủ động ứng phó với sự phát triển của các công cụ này, với một số nguy cơ, thách thức chính sau:

Một là, nguy cơ thế hệ trẻ lệ thuộc vào AI. Giới trẻ hiện nay trưởng thành cùng sự phát triển của AI, họ tiếp nhận AI theo cách tự nhiên, không bị “sốc văn hóa” như các nhóm đối tượng khác, đặc biệt là nhóm trung niên và người cao tuổi. Do vậy, giới trẻ là đối tượng sử dụng chính của AI, đồng thời họ cũng đối mặt nhiều nhất với các nguy cơ đến từ AI, khi họ ngày càng lệ thuộc vào AI trong việc tiếp nhận thông tin, nhất là các thông tin về lịch sử, chính trị, nền tảng tư tưởng của Đảng.

Với sự phát triển của các công cụ như Chat GPT, Bing chat, AI TensorFlow, Amazon Machine Learning…, giới trẻ có thể tìm hiểu, giải đáp những khúc mắc; thực hiện các bài luận, bài nghiên cứu; hỗ trợ đưa ra các ý tưởng sáng tạo. Nếu những thông tin mà các công cụ trên tổng hợp được dựa trên những nền tảng, kho dữ liệu đáng tin cậy thì kết quả được cung cấp có giá trị tham khảo tốt, song kết quả sẽ bị sai lệch nếu AI dựa trên các nền tảng thiếu tin cậy, thậm chí là những trang mạng phản động, chống phá. Đơn cử như, khi một sinh viên đặt câu hỏi về một vị lãnh tụ cho nền tảng Chat GPT, sẽ nhận được thông tin về thân thế, cuộc đời, sự nghiệp của vị lãnh tụ đó. Tuy nhiên, bên cạnh những thông tin chính thống, chính xác, vẫn còn có những thông tin gây nhiễu, hiểu sai, chưa đúng...

Các đối tượng xấu cố tình gài những câu hỏi không đầy đủ, không hợp lý để Chat GPT cho ra phần trả lời sai lệch, âm mưu tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, như: “Không thể tồn tại nền kinh tế thị trường mà lại định hướng xã hội chủ nghĩa phải không?”; “Khi nào chủ nghĩa xã hội về đích?”; “Lúc nào thì làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu?”… Đáng chú ý, nếu khi đặt câu hỏi mà Chat GPT đưa ra câu trả lời hợp lý thì các đối tượng sẽ tìm mọi cách thêm thắt chữ nghĩa, sửa câu hỏi, sửa cách hỏi để hòng tìm ra câu trả lời thiếu hoặc sai, lấy cớ để xuyên tạc. Như vậy, việc lệ thuộc vào AI sẽ rất nguy hại nếu thanh niên, sinh viên, thế hệ trẻ không kiểm chứng các thông tin mà mình tiếp nhận được, đặc biệt là những thông tin về những vấn đề cốt lõi thuộc nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) cũng đã cảnh báo về nguy cơ giới trẻ bị phụ thuộc thông tin và bị thao túng thông tin bởi AI. Trong một báo cáo khảo sát được dẫn chứng, chỉ 2% số trẻ em và thanh thiếu niên tại Anh có đủ khả năng để phân biệt giữa một bài báo thật và bài báo giả. Bà Henrietta Fore - Giám đốc Điều hành UNICEF - kêu gọi trong Báo cáo 30 năm Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em (năm 2019): “Chúng ta cần nỗ lực hơn nữa để chuẩn bị cho các công dân trẻ tuổi am hiểu về công nghệ này khả năng chống lại sự thao túng và gìn giữ niềm tin đối với các nguồn kiến thức đáng tin cậy và có thể xác minh”. Rõ ràng, đây là nguy cơ đáng lo ngại đối với giới trẻ Việt Nam và cần có những giải pháp hữu hiệu để ứng phó với sự lệ thuộc này ở hiện nay và trong tương lai.

Hai là, tác động của AI đối với tư tưởng và hành vi của người dân trong xã hội. Các thuật toán được các nền tảng mạng xã hội, các công ty công nghệ lớn sử dụng thường hướng đến cá nhân hóa nội dung. AI được sử dụng để tạo nên các “buồng vọng âm - echo chamber”. Đây là hình ảnh ẩn dụ ám chỉ một môi trường mà ở đó, người dùng chỉ được tiếp xúc với những thông tin, quan điểm đồng thuận với ý kiến của họ. Những quan điểm khác, sai biệt sẽ bị AI thanh lọc để tránh ảnh hưởng đến người dùng, do đó, các công ty công nghệ lớn sử dụng thuật toán này để tránh người dùng tiếp xúc với những thông tin mà họ không ưa thích, dẫn đến từ bỏ sử dụng dịch vụ. Tuy nhiên, đây lại là thách thức lớn đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng. Khi các thế lực thù địch, phản động thực hiện hoạt động chống phá, họ sử dụng đa nền tảng mạng xã hội với nhiều thông tin sai trái về nhiều lĩnh vực. Người dùng chỉ cần chú ý đến một tin giả, dành thời gian đọc nhiều hơn so với các loại thông tin khác, ngay lập tức AI sẽ nhận định loại thông tin đó cần được ưu tiên và sẽ đề xuất nhiều nội dung tương tự. “Buồng vọng âm” khiến các định kiến và quan điểm sai lệch được củng cố mạnh mẽ hơn. Người dùng sẽ trở nên tự tin hơn về tính đúng đắn của các quan điểm đó, mặc dù thông tin này có thể không chính xác, đi ngược lại đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Đồng thời, các thuật toán AI không chỉ phản ánh lựa chọn ưa thích của người dùng, mà còn có thể bị thao túng bởi các cá nhân hoặc tổ chức có ý đồ xấu. Họ có thể lợi dụng các thuật toán của các trang mạng xã hội đang sử dụng AI để lan truyền thông tin sai lệch, khuếch đại các quan điểm cực đoan và kích động xung đột xã hội.

Ba là, nguy cơ về phát tán, lan truyền thông tin sai lệch, thông tin không chính thống, chưa được xác thực. Gần đây, không ít người dùng các nền tảng mạng xã hội và các trang báo điện tử đã đăng tải nội dung thông tin sai lệch với việc ứng dụng được tạo ra từ AI. Thực tế này cho thấy, AI mà trực tiếp là công cụ Deepfake với những phiên bản ngày càng cao cấp sẽ dấy nên nguy cơ lớn đối với trật tự, an toàn xã hội, an ninh không gian mạng nếu mục tiêu bị giả mạo là các chính trị gia, những người có uy tín trong xã hội. Với sự bùng nổ công nghệ, AI hoàn toàn dễ dàng bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để tạo ra những sản phẩm văn hóa, sản phẩm tinh thần sai trái, phản động, từ đó tạo hiệu ứng xấu, độc trong dư luận xã hội. Các công nghệ như Deepfake và các hệ thống tạo nội dung tự động có thể tạo ra các video, hình ảnh và bài viết giả mạo, làm ảnh hưởng đến nhận thức của người dân về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nguy cơ này đặt ra thách thức không nhỏ cho lực lượng chức năng trong quản lý, phòng ngừa, ngăn chặn.

Bốn là, nguy cơ mất kiểm soát từ chính phủ đối với AI. Nguy cơ mất kiểm soát đối với AI đã được nhiều quốc gia đề cập đến. Tháng 10-2023, tại Hội nghị cấp cao đầu tiên về an toàn AI được tổ chức tại Bletchley Park, Thủ tướng Anh Rishi Sunak đã bày tỏ lo ngại “nhân loại có thể mất hoàn toàn quyền kiểm soát AI” nếu công nghệ này không được giám sát thích hợp, ngay cả khi nó tạo ra những cơ hội mới. Những lo ngại này hoàn toàn có cơ sở bởi: Trước hết, AI có khả năng tự học và cải tiến, khiến việc kiểm soát ngày càng trở nên khó khăn hơn. Các hệ thống AI có thể phát triển khả năng mới mà con người không dự đoán trước được, dẫn đến tình trạng vượt quá tầm kiểm soát. Thứ hai, AI có thể bị lạm dụng bởi các tổ chức và cá nhân có ý đồ xấu, từ việc tấn công mạng, lan truyền thông tin sai lệch đến việc sử dụng trong các hoạt động quân sự và gián điệp. Khi AI trở nên mạnh mẽ hơn, việc ngăn chặn các hành động này trở nên phức tạp và yêu cầu sự hợp tác quốc tế chặt chẽ, điều này không phải lúc nào cũng dễ dàng thực hiện được. Thứ ba, sự phát triển nhanh chóng của AI đang vượt qua khả năng lập pháp của nhiều chính phủ. Luật pháp và quy định thường chậm và không theo kịp tốc độ tiến bộ công nghệ. Điều này tạo ra lỗ hổng pháp lý mà các công ty và cá nhân có thể lợi dụng để phát triển và triển khai công nghệ AI mà không bị kiểm soát chặt chẽ.

Đối với Việt Nam, nguy cơ trên thực sự hiện hữu khi chúng ta chưa có văn bản quy phạm pháp luật cụ thể nào về AI. Thêm vào đó, việc kiểm soát các công ty công nghệ, đặc biệt là các công ty nước ngoài là rất khó khăn. Việc sửa đổi luật khó theo kịp sự phát triển của công nghệ. Nguy cơ này càng cao hơn khi mà các công ty công nghệ lớn có nguồn lực và sự linh hoạt để phát triển AI mạnh mẽ hơn Nhà nước, điều này không chỉ đúng với một nước đang phát triển như Việt Nam mà ngay cả những nước phát triển cũng phải đối mặt. Theo đó, có thể dẫn đến tình trạng chính phủ phải phụ thuộc vào các công ty công nghệ để triển khai và quản lý AI, làm giảm khả năng tự chủ và kiểm soát. Từ đó có thể đặt ra mối lo ngại về sự suy yếu quyền lực nhà nước trong việc điều tiết và kiểm soát AI.

Năm là, nguy cơ về tư cách pháp nhân của AI. Đây là vấn đề được tranh luận từ rất lâu. AI có tư cách pháp nhân hay không? Nhiều quan điểm cho rằng cần trao tư cách pháp nhân, quyền công dân, quyền tự do… cho AI. Năm 2017, Chính phủ Arab Saudi đã trao quyền công dân cho robot Sophia do David Hanson Jr (một nhà chế tạo robot người Mỹ, đồng thời là người sáng lập và Giám đốc điều hành (CEO) của Hanson Robotics) tạo ra. Sự kiện này tạo tiền lệ và lý do cho hàng loạt quan điểm, ý kiến về cấp quyền công dân cho robot có trí tuệ nhân tạo.

Tuy nhiên, trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, cần nhận thức rõ rằng, AI hay bất cứ sản phẩm công nghệ nào khác đều do con người lập trình, là sản phẩm có nguồn gốc từ quá trình lao động của con người, do đó phục vụ cho mục đích nào đó của chủ thể tạo ra. Cần ý thức rằng, mỗi sản phẩm AI đều mang ý kiến chủ quan và sự sắp đặt của chủ thể tạo ra nó và chủ thể đó phải chịu trách nhiệm pháp lý do những hành vi vi phạm pháp luật mà AI thực hiện.

MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ GÓP PHẦN BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRƯỚC NHỮNG NGUY CƠ, THÁCH THỨC TỪ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

Từ những nguy cơ đến từ sự bùng nổ của AI đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cần lưu ý một số nội dung sau:

Một là, tăng cường hợp tác quốc tế về AI. Việt Nam cần chủ động và tích cực tham gia các diễn đàn quốc tế về AI, đồng thời phát huy vai trò và vị thế quốc gia trong việc thúc đẩy sử dụng AI một cách có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Điều này không chỉ giúp Việt Nam nắm bắt các xu hướng công nghệ mới nhất và học hỏi kinh nghiệm, mà còn đóng góp vào việc xây dựng các quy chuẩn quốc tế về AI. Bằng cách tham gia sâu rộng và tích cực, Việt Nam có thể chia sẻ những kinh nghiệm, đồng thời học hỏi từ các quốc gia tiên tiến khác. Điều này tạo cơ hội để Việt Nam khẳng định vị thế trong cộng đồng quốc tế, thúc đẩy hợp tác và đối thoại nhằm bảo đảm rằng AI được phát triển và sử dụng một cách an toàn, minh bạch và hiệu quả. Hướng tới các quy chuẩn quốc tế về AI cũng giúp Việt Nam bảo đảm công nghệ này mang lại lợi ích toàn diện cho xã hội, thúc đẩy sự phát triển bền vững và giảm thiểu rủi ro tiềm ẩn. Việc này không chỉ là một nhiệm vụ chiến lược, mà còn là cơ hội để Việt Nam tạo dấu ấn trong lĩnh vực công nghệ toàn cầu.

Hai là, bảo đảm sự phát triển và ứng dụng AI một cách có trách nhiệm, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, theo đó cần xây dựng các thiết chế mạnh mẽ và tăng cường quản lý nhà nước đối với các công ty công nghệ, đặc biệt là các công ty nước ngoài. Cần ban hành luật về AI và kịp thời sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật hiện hành, quy định rõ ràng về trách nhiệm, chế tài và nghĩa vụ của các công ty công nghệ. Các chính sách và pháp luật này nhằm kiểm soát chặt chẽ việc phát triển và ứng dụng AI, bảo đảm rằng các thuật toán được sử dụng để khuyến khích thông tin tích cực, đúng đắn và phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Các công ty công nghệ cần rà soát quy trình của mình để tránh tạo ra kẽ hở để các thế lực thù địch, phản động có thể lợi dụng hòng phát tán thông tin sai lệch. Việc này không chỉ giúp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, mà còn góp phần vào sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước.

Ba là, cần tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục và nâng cao nhận thức về AI. Việc phổ biến kiến thức về AI sẽ giúp người dùng hiểu rõ hơn về công nghệ này, từ đó họ có thể tránh các “buồng vọng âm” và thông tin sai lệch. Các chương trình giáo dục, công tác tuyên truyền cần tập trung vào việc giải thích cách thức hoạt động của các thuật toán AI, những nguy cơ tiềm ẩn của việc tiếp xúc với thông tin được cá nhân hóa quá mức và cách nhận diện thông tin giả mạo liên quan đến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Ngoài ra, cần khuyến khích người dùng tiếp cận với các nguồn thông tin đa dạng và đáng tin cậy, đồng thời phát triển kỹ năng tư duy phản biện để họ có thể đánh giá thông tin một cách chính xác. Bằng cách này, người dùng sẽ được trang bị đầy đủ kiến thức để bảo vệ bản thân. Việc tuyên truyền, giáo dục nên được tích hợp vào chương trình giáo dục từ sớm, giúp thế hệ trẻ nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng AI một cách có trách nhiệm và an toàn.

Bốn là, khuyến khích sự tham gia của các doanh nghiệp, công ty và các startup khởi nghiệp về AI. Làm tốt giải pháp này có thể tăng cường sự tự chủ, tránh sự lệ thuộc, mất kiểm soát đối với các công ty công nghệ nước ngoài. Qua đó, gián tiếp tăng cường sức mạnh trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đặc biệt là trên không gian mạng. Chính phủ có thể cung cấp các ưu đãi về thuế, tài chính và hỗ trợ kỹ thuật; đầu tư vào hạ tầng công nghệ, mạng lưới internet tốc độ cao, các cơ sở dữ liệu lớn và hệ thống máy tính mạnh mẽ, để hỗ trợ việc nghiên cứu và triển khai AI cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các startup, nhằm thúc đẩy sáng tạo và ứng dụng AI trong đa dạng các lĩnh vực. Điều này không chỉ giúp tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển, mà còn khuyến khích họ tự chủ trong việc nghiên cứu và áp dụng công nghệ AI. Bằng cách này, các doanh nghiệp có thể đóng góp vào việc xây dựng một hệ sinh thái AI đa dạng, hướng tới phát triển bền vững, đồng thời bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng bằng cách kiểm soát và thúc đẩy việc sử dụng AI một cách có trách nhiệm, an toàn.

Năm là, cần xây dựng các cơ chế giám sát và kiểm tra chặt chẽ đối với các công ty công nghệ, các tổ chức, cá nhân sử dụng sản phẩm AI. Bảo đảm rằng các công nghệ này không gây ảnh hưởng tiêu cực đến nền tảng tư tưởng của Đảng và xã hội. Đồng thời, cần thiết kế các cơ chế kiểm tra để bảo đảm tính minh bạch và trách nhiệm trong quản lý dữ liệu và thông tin. Việc này giúp ngăn chặn việc lạm dụng dữ liệu và thông tin để lan truyền các thông tin sai lệch, gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng tới nền tảng tư tưởng của Đảng./.

Sưu tầm

Hà Nội những ngày đầu sau tiếp quản.

 

Sau ngày tiếp quản, quân và dân Thủ đô Hà Nội phải gánh chịu hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh xâm lược và sự phá hoại của quân Pháp trước khi rút chạy.

Những khó khăn sau ngày tiếp quản

Nông nghiệp ngoại thành gần 2.000ha ruộng bỏ hoang. Giao thông vận tải đều bị phá huỷ hoặc hư hỏng nặng. Đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Hơn 7 vạn người không có việc làm[1]. Hàng nghìn người tàn tật, cơ nhỡ và trẻ em mồ côi. Khi ta vào tiếp quản cũng là lúc nạn đói đang xảy ra trầm trọng. Nhiều gia đình phải đứt bữa. Chế độ thực dân phong kiến còn để lại cho thành phố nhiều tệ nạn phức tạp...

Lợi dụng những khó khăn về kinh tế của ta sau giải phóng, thực dân Pháp và chính quyền Sài Gòn ra sức xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, gây hoang mang trong nhân dân. Bằng nhiều thủ đoạn, chúng dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào di cư vào Nam. Ở các sân bay Bạch Mai và Gia Lâm, các máy bay vận tải cỡ lớn như C46, DC3, DC4 của Pháp và Mỹ luôn chờ sẵn để chở đồng bào di cư vào Nam. Về quân sự, chúng chú trọng điều tra lực lượng, trang bị, địa điểm các đơn vị đóng quân của ta, tìm cách đánh cắp tài liệu bí mật quốc phòng. Những hoạt động chống phá của địch gây cho ta nhiều khó khăn trong việc ổn định xã hội, phục hồi kinh tế sau tiếp quản.

Về phía ta, chính quyền cách mạng vừa mới được lập lại, còn khó khăn thiếu thốn nhiều mặt. Các tổ chức quần chúng đang trong quá trình củng cố. Đối với lực lượng vũ trang Hà Nội, sau khi tiếp quản, lực lượng của Mặt trận Hà Nội từ ngoài trở về thành phố còn mỏng, tổng quân số chưa tới 100 người; lực lượng tự vệ trong thành phố thì mới được khôi phục, nhưng số lượng và chất lượng đều rất hạn chế, tập trung chủ yếu trong một số xí nghiệp quan trọng. Ban Chỉ huy Mặt trận do đồng chí Trần Vĩ, Ủy viên Thường vụ Thành ủy làm Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy.

Cơ quan giúp việc Ban chỉ huy Mặt trận gồm có Ban Tham mưu, Ban Chính trị, Ban Cung cấp. Do yêu cầu của tình hình mới, Tiểu ban tổ chức dân quân, tự vệ và Tiểu ban huấn luyện đã được thành lập. Ban chỉ huy quân sự ngoại thành do đồng chí Thái Hy làm Trưởng ban, dưới có 4 quận đội là: Quảng Bá, Cầu Giấy, Ngã Tư Sở, Quỳnh Lôi và một số xã thuộc Gia Lâm. Cơ quan của Mặt trận đóng tại khu vực từ nhà số 14 đến nhà số 24 phố Tăng Bạt Hổ (thuộc quận Hai Bà Trưng ngày nay).

Hà Nội những ngày đầu sau tiếp quản

Sáng 10-10-1954, các cánh quân của Quân đội nhân dân Việt Nam từ các cửa ô vào tiếp quản Thủ đô trong rừng cờ hoa đón chào của hàng vạn người dân Hà Nội. Ảnh tư liệu TTXVN 

Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ từng cơ sở, lực lượng tự vệ được củng cố và mở rộng, đặc biệt tại các xí nghiệp. Tuy nhiên, trong tình hình phức tạp của Thủ đô mới giải phóng, việc kết nạp đội viên mới đều được các cấp ủy và Công đoàn cơ sở tiến hành thận trọng, chặt chẽ, chú trọng chất lượng. Trước ngày tiếp quản, toàn thành có 2.900 đội viên, sau tiếp quản phát triển lên hơn 3.800 người, trong đó ngoại thành có 3.300 người, nội thành có 520 người. Số đội viên tự vệ nội thành tập trung trong 16 đơn vị tự vệ trong khối các xí nghiệp quan trọng, vừa là lực lượng bảo vệ cơ sở của mình, đồng thời là lực lượng cơ động sẵn sàng chiến đấu của Ban chỉ huy Mặt trận Hà Nội khi có tình huống xảy ra.

Bên cạnh lực lượng vũ trang địa phương Hà Nội, Đại đoàn 308 sau khi hoàn thành nhiệm vụ tiếp quản được rút ra ngoài làm nhiệm vụ cơ động chiến lược của Bộ. Đại đoàn 350 trực thuộc Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh thay thế làm nhiệm vụ thường trực bảo vệ Thủ đô. Đồng chí Hà Kế Tấn làm Tư lệnh Đại đoàn 350[2]. Để thuận lợi cho việc thực hiện nhiệm vụ của Đại đoàn tại Hà Nội, đồng chí Hà Kế Tấn được chỉ định tham gia Thành ủy Hà Nội với cương vị Ủy viên Thường vụ Thành ủy.

Vai trò quan trọng của lực lượng vũ trang trong thời kỳ tổ chức và quản lý Thủ đô

Ngày 17-10-1954, Ban Chấp hành Đảng bộ Hà Nội họp đánh giá tổng quát tình hình thành phố sau khi hoàn thành thắng lợi công tác tiếp quản, quyết định chuyển sang thời kỳ tổ chức và quản lý thành phố. Hội nghị để ra 5 công tác lớn, trong đó nhiệm vụ giữ vững an ninh chính trị, trật tự và nhanh chóng khôi phục các mặt sinh hoạt bình thường của nhân dân được xác định là hai công tác chủ yếu trước mắt[3].

Quán triệt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi vào tiếp quản Thủ đô: “Nay chúng ta về thành thị, các chú cũng phải làm kiểu mẫu đúng đắn, để tranh lấy thắng lợi trong hòa bình”[4], thực hiện nghị quyết Thành ủy, Bộ tư lệnh Đại đoàn 350 chủ trì cùng Ban Chỉ huy Mặt trận Hà Nội xây dựng phương án chiến đấu bảo vệ Thủ đô. Trong đó, Đại đoàn 350 đảm nhiệm bảo vệ các cơ quan Trung ương, các đại sứ quán của nước ngoài, các mục tiêu quan trọng về quân sự, kinh tế, xã hội ở Thủ đô như sân bay, nhà ga, cầu Long Biên, các nhà máy điện, nước, Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam. Lực lượng tự vệ phối hợp với công an đảm nhiệm bảo vệ các cơ sở nhà máy, xí nghiệp, đường phố, thôn xã của mình.

Trong khi Pháp vẫn còn đóng quân tại khu vực sát với Thủ đô trong thời gian 300 ngày, các lực lượng vũ trang bảo vệ Thủ đô không ngừng nêu cao tinh thần cảnh giác, chống mọi âm mưu phá hoại của kẻ thù. Các mục tiêu chính trị, quân sự, kinh tế quan trọng đều có phương án bảo vệ cụ thể. Mỗi mục tiêu thường được bố trí nhiều trạm gác, mỗi trạm có từ 3 đến 4 cán bộ, chiến sĩ phụ trách.

Riêng cầu Long Biên, bố trí tới một đại đội bảo vệ, tổ chức thành 11 trạm gác (trên cầu 6 trạm, dưới chân cầu 5 trạm). Các chiến sĩ bảo vệ vừa canh gác vừa tuần tra liên tục 24 giờ trong ngày, giữ cho mạch máu giao thông được thông suốt. Nhà máy điện Yên Phụ, nơi cung cấp điện duy nhất cho Hà Nội, cũng được bảo vệ nghiêm ngặt. Đại đoàn 350 bố trí 18 trạm gác từ ngoài vào trong, đến từng cầu dao điện, từng tuốc-bin máy phát. Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam - nơi hằng ngày cập nhật tin tức thời sự trong nước và quốc tế, truyền đi các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với nhân dân cả nước và bầu bạn xa gần trên thế giới, việc đảm bảo an toàn cho các máy móc thiết bị, các cột ăng-ten phát sóng, các đường cáp ngầm, phòng phát thanh đòi hỏi chiến sĩ ta phải có kế hoạch bảo vệ tỉ mỉ và thận trọng. Đối với sân bay phải đảm bảo an toàn cho các máy bay khi đỗ, cất cánh, khu nhiên liệu, đài chỉ huy, đài định hướng, dẫn đường. Các đoàn tàu hỏa mỗi khi rời ga cũng có 1 tổ chiến sĩ bảo vệ[5].

Hà Nội những ngày đầu sau tiếp quản

Những người lính Pháp cuối cùng rút qua cầu Long Biên để xuống Hải Phòng, chiều 9-10-1954. Ảnh tư liệu TTXVN 

Trên các đường phố thường xuyên có các tổ tuần tra kiểm soát quân sự hoạt động liên tục để vừa giữ gìn trật tự trị an đường phố, vừa chấn chỉnh tư thế, tác phong cho các quân nhân qua lại Thủ đô. Các cơ quan, xí nghiệp, công trình công cộng, nhất là các mục tiêu quan trọng, đều được quân đội, công an phối hợp cùng với lực lượng tự vệ và công nhân tổ chức canh gác. Tính mạng, tài sản của công dân và ngoại kiều được bảo vệ. Nhân dân phấn khởi tin tưởng vào chính quyền thành phố và lực lượng vũ trang bảo vệ Thủ đô.

Phối hợp với công an, Mặt trận Hà Nội tổ chức đăng ký cho hơn 12.346 sĩ quan, binh lính địch còn ở lại thành phố ra trình diện chính quyền cách mạng[6]. Ban Chỉ huy Mặt trận tổ chức cuộc vận động thu hồi vũ khí đạn dược, vật liệu nổ còn sót lại sau chiến tranh trên toàn bộ địa bàn thành phố Hà Nội. Một số lượng lớn được thu hồi và tiêu hủy. Công tác đấu tranh chống địch dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào di cư được tiến hành tích cực, nhiều người bị dụ dỗ từ bỏ ý định di cư vào Nam, ở lại quê hương làm ăn sinh sống. Tự vệ tại các cơ sở tham mưu cho chính quyền các cấp và tham gia cùng công an giải quyết tệ nạn xã hội ở địa phương.

Sau khi ta tiếp quản, nhờ những đóng góp quan trọng của bộ đội, tự vệ và công an Thủ đô, bộ mặt thành phố thay đổi từng ngày, tình trạng hỗn loạn hầu như chấm dứt, đồng bào phấn khởi đi lại làm ăn buôn bán, hội họp. Ngoài nhiệm vụ chủ yếu là sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Thủ đô, các lực lượng vũ trang tích cực tham gia các hoạt động giúp đỡ nhân dân nhanh chóng phục hồi sản xuất, ổn định đời sống, phòng chống thiên tai, bão lụt, đào mương chống hạn, bảo vệ đê điều. Hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ với những phẩm chất cao đẹp để lại trong lòng người dân Hà Nội những ấn tượng sâu sắc, khác hẳn những người lính của chế độ cũ. Nhân dân càng thấy rõ vai trò của lực lượng vũ trang cách mạng trong kháng chiến cũng như trong đấu tranh hòa bình và kiến thiết đất nước.

Cuộc sống mới của Thủ đô sau gần một tháng tiếp quản

Sau gần một tháng kể từ khi tiếp quản, bộ máy chính quyền từ thành phố xuống cơ sở được củng cố. Ngày 4-11-1954, Ủy ban hành chính TP Hà Nội được thành lập do đồng chí Trần Duy Hưng làm Chủ tịch. Ủy ban hành chính TP Hà Nội thay thế cho Ủy ban quân chính Hà Nội, thành lập khi vào tiếp quản, là một thành công lớn về mặt chính trị của Đảng, Chính phủ và nhân dân ta. Các chi bộ cơ quan, xí nghiệp và các liên chi ủy được kiện toàn bổ sung. Ngay sau khi được kiện toàn, chính quyền thành phố thi hành một số biện pháp quan trọng như: Bãi bỏ những thứ thuế lạc hậu, thực hiện chính sách thuế mới, bước đầu phục hồi công, thương nghiệp, khuyến khích sản xuất.

Do có sự chuẩn bị chu đáo từ trước, lại được chi viện tích cực của các địa phương trên miền Bắc, thương nghiệp quốc doanh Hà Nội cung cấp kịp thời lương thực, chất đốt và hàng tiêu dùng cho nhân dân. Các mặt hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế, vệ sinh thành phố triển khai có nền nếp. Nạn thất nghiệp được tích cực giải quyết. Các công trường mới lập thu hút gần một vạn lao động. Gần hai vạn người lần lượt đi xây dựng các công trình mới. Cuộc sống mới ở Hà Nội nhanh chóng được phục hồi và khởi sắc cả về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội. Ở ngoại thành, nông dân tích cực thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, khai hoang phục hóa trên 30ha ruộng, khơi sông Tô Lịch, tưới nước cho hàng nghìn héc-ta lúa, khắc phục được một phần khó khăn do địch để lại và thiên tai gây ra.

Để động viên tinh thần phấn khởi, lạc quan tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chế độ mới, ngày 1-1-1955, cuộc mít tinh, diễu binh, diễu hành lớn được tổ chức tại Quảng trường Ba Đình, để chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng và Chính phủ về Thủ đô. Đây là một sự kiện có ý nghĩa chính trị đặc biệt từ sau ngày tiếp quản.

Như vậy, lực lượng vũ trang đã góp phần quan trọng trong tiếp quản và giải phóng Thủ đô, trong công tác giữ gìn trật tự trị an, bảo vệ tính mệnh, tài sản của nhân dân, phát huy tác dụng nòng cốt trên các mặt đấu tranh chống dịch phá hoại Hiệp định, phá hoại thành phố. Tiếp quản Hà Nội giành thắng lợi, tạo không khí phấn khởi, hân hoan trong mọi tầng lớp nhân dân Thủ đô, đồng thời góp niềm vui lớn với nhân dân cả nước; đập tan những luận điệu tuyên truyền xảo trá của địch, tăng cường hơn nữa uy tín của Chính phủ ta trên trường quốc tế.