Hiện nay, các thế lực thù
địch không ngừng thực hiện âm mưu “Diễn biến hòa bình” nhằm chống phá Đảng, Nhà
nước và chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa trên nhiều lĩnh vực.
Mục tiêu xuyên suốt vàkhông thay đổi của chủ nghĩa
đế quốc và các thế lực thù địch là xóa bỏ vai trò
lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN). Thời gian gần đây,
chúng đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn
biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” một cách toàn
diện, trong đó tập trung vào các lĩnh vực tư tưởng chính trị, kinh tế, pháp
luật, quốc phòng, an ninh, nguyên tắc tổ chức, cán bộ, công tác chống tham
nhũng, chống dịch...
Lực lượng của chúng là ai? Chủ nghĩa đế quốc
là lực lượng đi đầu thúc đẩy chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam rất quyết liệt,
nhưng không ra mặt trực diện, mà hoạt động ngấm ngầm thông qua lôi kéo, liên
kết, hợp tác để từng bước “thẩm thấu, chuyển hóa” (hợp tác để
chuyển hóa), sử dụng thế lực phản động ngoài nước câu kết với nhóm phản động và
những kẻ cơ hội trong nước để chống phá cách mạng Việt Nam. Ngoài ra, một số
đảng viên thoái hóa, biến chất, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối
sống cũng hùa theo các luận điệu của các thế lực thù địch, phản động để làm cho
tình hình an ninh chính trị ở Việt Nam ngày càng trở nên phức tạp.
Nội dung chống phá: Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị triệt để sử dụng hàng trăm website, blog, mạng xã hộiđểtăng cường các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước; tập trung phản
bác chủ nghĩa Mác - Lênin, đòi sửa đổi Cương lĩnh chính trị của Đảng, phủ nhận
tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng
tấn công vào vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi xóa bỏ Điều 4
trong Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ nước
ngoài tiếp tục xuyên tạc tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tôn
giáo, tự do đi lại, hoạt động trong tình hình dịch bệnh Covid - 19 phức tạp tại
Việt Nam.
Chúng ta cần tập trung thực hiện một số giải pháp:Nghiên cứu và vận dụng sáng tạo, phát
triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với bối cảnh mới của
tình hình thế giới và trong nước theo Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 9/2/2018 của
Ban Bí thư khóa XII về “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học
tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh trong tình hình mới”, gắn với Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 9/10/2014 của Bộ
Chính trị khóa XI về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030 để
triển khai nghiên cứu lý luận. Chú trọng công tác tư tưởng, gắn thực hiện Chỉ
thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị, khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư
tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” với Nghị quyết Trung ương 4 khóa
XII; triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính
trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác
các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Nhận diện và kiên quyết
phòng, chống và ngăn chặn các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ;
cảnh giác trước thủ đoạn thổi phồng những sơ hở, yếu kém trong công tác lãnh
đạo, quản lý kinh tế - xã hội của các thế lực thù địch, phản động nhằm kích
động tâm lý bất mãn, chống đối, chia rẽ nội bộ, chia rẽ khối đoàn kết toàn dân
để tăng cường sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội.
Thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, người
đứng đầu, ban chỉ đạo 35, cơ quan chức năng các cấp, nhất là vai trò, trách
nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; quan tâm lãnh đạo toàn diện lý luận
chính trị, tư tưởng, văn hóa, văn học nghệ thuật, báo chí; tích cực đấu tranh
trên các phương tiện truyền thông, mạng xã hội; quản lý chặt chẽ tình hình
chính trị nội bộ, nắm, dự báo, xử lý kịp thời những vấn đề tư tưởng nảy sinh.
Bám sát các vấn đề, sự kiện, cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng, tạo thế
chủ động trong mặt trận đấu tranh trên internet, mạng xã hội.Với phương châm
chỉ đạo công tác tư tưởng phải đi trước, đón đầu; không để “khoảng trống” thông
tin để các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc chống phá, Cơ quan Thường trực
Ban Chỉ đạo 35 các cấp cần quan tâm biên soạn các tài liệu chuyên khảo, tham
khảo, xây dựng ngân hàng comment làm tài liệu phục vụ tuyên truyền, giáo dục
nâng cao nhận thức, kỹ năng đấu tranh cho các lực lượng, tạo sự đồng thuận về
nhận thức và hành động. Lực lượng đấu tranh rà
soát, phát hiện, gỡ bỏ các trang web, blog, mạng xã hội mạo danh lãnh đạo Đảng,
Nhà nước. Chủ động, phối hợp đấu tranh, bóc gỡ, vô hiệu
hóa các tài khoản, trang MXH đưa tin sai trái, thù địch; đấu tranh xử lý đối
tượng đăng tải, cung cấp tin bài, cấu kết chống phá Đảng, Nhà nước. Nắm chắc tình hình cán bộ, đảng viên, phóng viên tham gia các nhóm,
diễn đàn chống đối, viết bài đăng tải thông tin sai trái; phối hợp với BCĐ35 Bộ
Thông tin và Truyền thông, Hội Nhà báo Việt Nam có biện pháp xử lý. Lực lượng đấu tranh nòng cốt chuyên
sâu phải thường xuyên được trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ lý luận, bổ
sung kinh nghiệm thực tiễn. Các thông tin đấu tranh phải trung thực, khách
quan, vì lợi ích lâu dài của dân tộc, của đất nước, mang tính Đảng, tính khoa
học, tính xây dựng cao. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân
tạo, quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị điện tử phục vụ nhiệm vụ
đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội.
Đấu tranh chống
“Diễn biến hòa bình” là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng đối với cấp ủy, tổ
chức đảng, của cả hệ thống chính trị và mọi cán bộ, đảng viên cần được triển
khai đồng bộ, có hệ thống các chủ trương, giải pháp. Thực hiện tốt những vấn đề
cơ bản trên sẽ góp phần ngăn chặn hữu hiệu, giảm tác hại từ những luận điệu
xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động trên internet, mạng xã hội và các
phương tiện truyền thông, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng./.
Có thể phân tích ý kiến
đó từ những nguyên nhân sau: Trước hết là mơ hồ về lập trường chính trị; thứ
hai là sợ (cũng mơ hồ) ta sẽ bị “cô lập” không thực sự hòa nhập với thế giới
bên ngoài, từ đó sẽ bị tụt hậu; thứ ba, cho là nêu đề vấn đề này thì ta sẽ
“nhìn đâu cũng thấy địch”; thứ tư, cho rằng thực chất chống diễn biến hòa bình
chỉ là chủ trương của “những người bảo thủ”; thứ năm, khi tăng cường đấu tranh
chống diễn biến hòa bình thì sẽ “siết chặt” quản lý thông tin, không mở rộng
dân chủ, tự do báo chí.
Cần nhắc lại rằng, diễn
biến hòa bình là sản phẩm của chính sách xâm lược và lật đổ, nó ra đời khi
phương thức xâm lược bằng vũ lực, bằng chiến tranh không thể đem lại kết quả mà
kẻ thù và bọn phản động mong muốn. Trong thực tế, diễn biến hòa bình ngày càng
được nâng cao, hoàn chỉnh, tinh vi và vô cùng đa dạng.
Nắm vững nội dung cơ bản đó mới nhìn rõ những âm mưu
của kẻ thù, không mơ hồ, không lẫn lộn bạn - thù, không lẫn lộn sự giao lưu,
quan hệ lành mạnh bình thường và hành động có tính xâm lược.
Nắm vững nội dung cơ
bản đó mới thấy hết tính chất thâm độc của diễn biến hòa bình để cảnh giác,
ngăn ngừa và làm thất bại âm mưu của địch, để củng cố nội bộ, nâng cao sức
chiến đấu, tăng sức mạnh, tăng sức đề kháng từ bên trong, về mọi mặt
Những thủ đoạn thông tin
mà các lực lượng thù địch thường sử dụng trên mạng internet là: Một là, lập lờ,
lấp lửng, làm ra vẻ khách quan; hai là, cắt xén sự thật, lấy hiện tượng làm bản
chất, lấy cục bộ, tiểu tiết làm toàn thể, tổng thể; ba là, tập trung tìm đúng
“chỗ ngứa” của đối tượng để “gãi”; bốn là, sử dụng, xoáy sâu vào những khuyết
điểm sai lầm, yếu kém của ta; năm là, kích động với thái độ khác nhau làm cho
đối tượng hoài nghi, hoang mang với tình hình đất nước và cuộc sống, xúi giục
thái độ phi chính trị, gây tâm lý chán chường, bất mãn, đi tới chống đối chính
quyền; sáu là, chú ý tác động hòng chinh phục những phần tử thoái hóa, biến
chất, tham nhũng, những kẻ bất mãn cơ hội, nhiều tham vọng cá nhân chủ nghĩa
bằng cách đề cao cái “tôi” kiểu phương Tây gắn với tự do, dân chủ kiểu phương
Tây; bảy là, triệt để sử dụng “miệng” của ta, “tay” của ta để lung lạc, ly
gián, chống phá; tám là, thông tin rất nhanh về cái gọi là “tình hình nội bộ”
của ta, làm cho đối tượng tin tưởng về sự “nhanh nhạy” của mạng, nghi ngờ ta
bưng bít thông tin; chín là, liên tục cải tiến “thực đơn diễn biến hòa bình”
trên mạng internet ngày càng đa dạng, nhiều màu sắc, lắm ngón nghề. Chúng không
chỉ nói đến chính trị mà đề cập cả khoa học, văn chương, nghệ thuật, sản phẩm
hàng hóa và cả những cái gọi là “sưu tầm”, “chuyện lạ” để “câu view”, gây hoang
mang, chia rẽ.
Các lực lượng thù địch
tìm mọi cách để tạo nên tác động “dây chuyền” từ các hành vi diễn biến hòa
bình, xuyên qua các đối tượng ở bên trong ta, làm cho hành vi diễn biến hòa
bình càng xa “gốc” càng có tác dụng nhưng càng mờ đi “nhãn hiệu” của chúng!
Những kẻ chủ mưu diễn biến hòa bình tìm mọi cách giữ cho chúng “sáng mặt, sạch
tay”. Điều quan trọng nhất là chúng mưu toan biến yếu tố bên ngoài thành tác nhân
bên trong, làm cho bên trong “tự diễn biến”! Đây là âm mưu vô cùng thâm độc của
các lực lượng thù địch! Đành rằng, nếu bên trong ta mạnh thì thế lực thù địch
từ bên ngoài không thể làm ta “tự diễn biến”./.
“Diễn biến hòa bình” là chiến lược
cực kỳ thâm độc và nham hiểm của các thế lực thù địch và phản động nhằm chống
phá cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa,
kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh... Trong đó, tư tưởng, văn hóa
được xác định là mặt trận hàng đầu, là khâu đột phá và có ý nghĩa quyết định
trong tổng thể chiến lược. Vì vậy, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải tự trang
bị cho mình những kỹ năng căn bản để không bị chi phối.
Trong quá trình
tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, cuộc đấu tranh phòng, chống
“diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa của Đảng luôn diễn ra
trong bối cảnh phức tạp, khó khăn. Trong từng thời điểm cụ thể, các thế lực thù
địch triệt để lợi dụng những khó khăn, vướng mắc, những vấn đề mới nảy sinh để
tăng cường, quyết liệt chống phá ta bằng hàng loạt các luận điệu, thủ đoạn mới,
tinh vi, xảo quyệt. Đặc biệt, trong thời gian gần đây, khi Đảng và Nhà nước ta
chủ động đấu tranh phòng, chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính
trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng và
xã hội, các thế lực thù địch đã tìm mọi cách để bóp méo, bịa đặt với mục đích
cản trở sự nghiệp cách mạng và công cuộc đổi mới của đất nước; xuyên tạc chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với
Nhân dân.
Tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường;
tình hình tranh chấp chủ quyền biển, đảo ở biển Đông; âm mưu chống phá của kẻ
thù sẽ trực tiếp tác động đến công cuộc đổi mới đất nước, làm nảy sinh nhiều
vấn đề mới phức tạp trong đời sống xã hội của đất nước.
Để chủ động nâng cao hiệu quả của công tác phòng chống, đấu tranh, ngăn
chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của địch trong LLVT tỉnh, cần quan tâm,
xác định rõ và tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp. Trong đó, phải xác định, đấu
tranh chống “Diễn biến hòa bình” là cuộc đấu tranh giai cấp gay go, phức tạp và
lâu dài; coi đây là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh
đạo của Đảng. Phải quán triệt phương châm phòng ngừa bên trong là chính, kết
hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” trong các giải pháp. Cần tuân thủ sự lãnh
đạo trực tiếp, tuyệt đối của Đảng; tiếp tục tập trung làm tốt công tác giáo dục
chính trị, tư tưởng, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về xây dựng, chỉnh đốn Đảng
theo tinh thần Nghị quyết TW 4 (khóa XII); nâng cao năng lực lãnh đạo, sức
chiến đấu của các tổ chức đảng; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững
mạnh; củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước, các tổ chức
chính trị - xã hội, đảm bảo mở rộng dân chủ. Tăng cường công tác bảo vệ chính
trị nội bộ; mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; tăng cường
công tác lãnh đạo, quản lý báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ; nâng cao chất
lượng, hiệu quả công tác thông tin đối ngoại.
Với sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận của toàn xã hội,
nhất định toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta sẽ đấu tranh làm thất bại mọi mưu
đồ, âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, góp phần giữ vững ổn
định chính trị, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế, tăng
cường quốc phòng - an ninh, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững
chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Gần
80 năm qua, sự ra đời và phát triển của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) với những thành tựu to lớn đạt được đã
khẳng định tính cách mạng, khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu
mới ở Việt Nam. Thế nhưng, các thế lực thù địch luôn tìm cách bóp méo, xuyên
tạc tư tưởng, phủ nhận công lao của Người về vấn đề này. Đó là dã tâm đen tối,
luận điệu trơ trẽn, phản động cần phải vạch trần, bác bỏ.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới là hệ thống luận
điểm về bản chất, tính chất và yêu cầu xây dựng một nhà nước phục vụ lợi ích và
nguyện vọng chính đáng của nhân dân, đối lập với mô hình nhà nước của thiểu số
kẻ thống trị. Với khát vọng tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đến
với chủ nghĩa Mác - Lênin, thấm nhuần quan điểm “chính quyền là vấn đề cơ bản
của mọi cuộc cách mạng xã hội”, nhưng theo Người, vấn đề quan trọng là bản chất
của chính quyền nhà nước đó. Trên cơ sở dày công nghiên cứu các mô hình nhà
nước đương thời, nhất là nhà nước tư sản ở Mỹ, Pháp. Người nhận thấy, mặc dù mô
hình nhà nước tư sản có những bước tiến bộ hơn so với nhà nước phong kiến
chuyên chế, nhưng về bản chất, các nhà nước đó vẫn chỉ là sự thay thế ách thống
trị của giai cấp bóc lột này bằng giai cấp bóc lột khác. Chỉ sau khi nghiên cứu
về nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Người khẳng định: “Sau khi đánh đuổi
được đế quốc Pháp, Nhật, sẽ thành lập một chính phủ nhân dân của Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa lấy lá cờ đỏ ngôi sao vàng năm cánh làm lá cờ toàn quốc. Chính phủ
ấy do quốc dân đại hội cử ra sẽ thi hành những nhiệm vụ”1. Người cũng chỉ rõ
“Nước ta là một nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích là vì dân, bao nhiêu quyền hạn
đều là của dân, chính quyền từ xã đến chính phủ trung ương đều do dân cử ra”2.
Điều này có nghĩa là mọi lợi ích, quyền hành, lực lượng đều thuộc về dân và
trách nhiệm xây dựng nhà nước là của toàn dân. Trên thực tế, ngay sau thắng lợi
của Cách mạng Tháng Tám, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã khẩn trương chỉ đạo tổ chức tổng tuyển cử, chỉ đạo xây dựng hệ thống
pháp luật, đặc biệt là xây dựng Hiến pháp để đảm bảo cho Nhà nước ta là nhà
nước dân chủ, pháp quyền. Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí
Minh mang bản chất giai cấp công nhân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, hoạt
động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thể hiện sự thống nhất chặt chẽ giữa
bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc.
Chủ tịch Hồ Chí
Minh là một nhà cách mạng chân chính, cả cuộc đời luôn phấn đấu vì dân, vì nước
và thực tiễn trong suốt 24 năm đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch nước, Người đã cống
hiến hết mình vì dân tộc, cùng toàn Đảng, toàn dân đạt được những thắng lợi to
lớn. Mong muốn tột bậc của Người là “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc
lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng
được học hành”4, và “tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây
giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm,
cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ
đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui”5. Dù có nhìn ở khía cạnh nào đi
chăng nữa, thì thực tế lịch sử đã chứng minh rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là
tấm gương sáng ngời, tận trung với nước, tận hiếu với dân, không như những gì
các thế lực thù địch bôi nhọ, xuyên tạc.
Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta một sự nghiệp cách mạng vĩ đại, cùng
di sản tư tưởng vô giá, trong đó có tư tưởng về nhà nước kiểu mới. Nắm vững tư
tưởng của Người, vận dụng và phát triển sáng tạo trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc không chỉ là trách nhiệm, nghĩa vụ, mà còn là niềm vinh dự, tự
hào của mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Đó là hành động thiết
thực nhất phản bác, đập tan mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch,
bảo vệ bản chất khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ vững chắc
nền tảng tư tưởng của Đảng, quyết tâm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam trong sạch vững mạnh, thực sự là nhà nước của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân, vững bước trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội./.
Trong
công tác tư tưởng, phương tiện giữ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng. Nó
không trừu tượng như các yếu tố khác cấu thành nên công tác tư tưởng, mà thường
được biểu hiện dưới các dạng vật chất cụ thể trở thành cầu nối để chủ thể và
đối tượng chuyển tải và tiếp thu nội dung của công tác tư tưởng.
Trong đấu
tranh ngăn chặn quan điểm sai trái, thù địch (QĐSTTĐ), các phương tiện công tác
tư tưởng (PTCTTT) có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát hiện và nhận
diện các QĐSTTĐ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí
thư, Ban Chấp hành Trung ương và cấp ủy các cấp, trong đó nòng cốt là Ban Tuyên
giáo, Ban Chỉ đạo 35 các cấp, các PTCTTT thực hiện chuyển tải những nội dung
quan trọng về đặc điểm nhận diện QĐSTTĐ một cách toàn diện, trên mọi mặt của đời
sống xã hội. Trên cơ sở đó, mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, tùy
vào tình hình thực tiễn tại địa phương, cơ sở, cơ quan, đơn vị để tích cực phát
hiện mầm mống của những QĐSTTĐ để kịp thời đấu tranh và phản ánh đến các cấp ủy
có thẩm quyền.
Hiện nay,
trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Cách mạng chuyển đổi số đang
diễn ra hết sức mạnh mẽ, mau chóng, một số PTCTTT có khả năng tự động thu thập
và xử lý thông tin, cung cấp thông tin tự động theo chủ đề, theo sở thích và
nhu cầu đến từng đối tượng một cách chính xác. Đặc biệt, đơn vị cung cấp dịch
vụ mạng xã hội có khả năng điều chỉnh, tăng hoặc giảm từng loại thông tin đến
với từng loại đối tượng khác nhau. Ở Việt nam hiện có trên 70% dân số sử dụng
interent, đây là một lượng rất lớn đối tượng của công tác tư tưởng. Bên cạnh
đó, đối tượng sử dụng internet, mạng xã hội của công tác tư tưởng hiện nay có
xu hướng chia nhỏ thời gian cho nhiều nội dung thông tin. Do đó, vai trò phân
tích và dự báo thông tin, đặc biệt là dự báo xu hướng hình thành và sự phát
triển của các QĐSTTĐ ở nước ta hiện nay, của các PTCTTT ngày càng chiếm vị trí
quan trọng.
Trong đấu
tranh tư tưởng, việc các PTCTTT tích cực, chủ động phối hợp với nhau để tổ chức
lực lượng và phương tiện giữ vai trò quan trọng và trực tiếp góp phần ngăn chặn
các QĐSTTĐ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Điều đó được thể hiện rất rõ
trên thực tế. Bởi sự phối hợp các PTCTTT sẽ làm gia tăng khả năng tác động đến
nhận thức của đối tượng khi thông tin xuất hiện trên nhiều loại hình PTCTTT khác
nhau. Đồng thời, sự phối hợp đó sẽ làm tăng khả năng tác động rộng rãi đến đông
đảo các tầng lớp trong xã hội. Một điều quan trọng là việc các PTCTTT phối hợp,
cùng tổ chức lực lượng và phương tiện sẽ tạo ra một hệ sinh thái thông tin, qua
đó hình thành điểm tựa tin cậy về thông tin, là địa chỉ kiểm chứng các thông
tin trong đời sống xã hội.
Một mặt,
việc duy trì hoạt động phối hợp của các PTCTTT cũng chính là duy trì những dòng
chảy thông tin chính thống, duy trì bảo vệ không gian thông tin và duy trì,
củng cố mối quan hệ gắn bó của chủ thể công tác tư tưởng với đối tượng. Điều đó
giúp cho chủ thể công tác tư tưởng không bị động, bất ngờ và không bị mất trận
địa thông tin trước những QĐSTTĐ có thể xuất hiện bất cứ lúc nào. Để giữ vững
vai trò này đòi hỏi các PTCTTT không những phải phối hợp chặt chẽ mà còn phải
thường xuyên chủ động và tích cực cung cấp những nội dung tư tưởng quan trọng,
những thông tin đáp ứng nhu cầu của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Điều đó góp
phần củng cố và tăng cường lá chắn bảo vệ đời sống tinh thần và nhận thức của
mỗi người dân, giữ vững ổn định chính trị - xã hội.
Mặt khác,
các thế lực thù địch, phản động bằng mọi phương thức, thủ đoạn không ngừng chĩa
mũi nhọn vào nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó, việc bảo vệ
nền tảng tư tưởng của Đảng là đòi hỏi cấp bách, thường xuyên, liên tục. Quan
điểm của Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh yêu cầu “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa;
giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Điều kiện khách quan đó đặt ra cho công tác tư
tưởng nói chung và các PTCTTT nói riêng yêu cầu rất cao về tính sẵn sàng chiến
đấu và chiến thắng trước những QĐSTTĐ của các thế lực thù địch, phản động. Do
đó, việc duy trì hoạt động phối hợp của các PTCTTT một cách thường xuyên, liên
tục là hết sức cần thiết và là yêu cầu bắt buộc trong đấu tranh ngăn chặn các
QĐSTTĐ./.
Trước thềm Đại hội các thế lực thù địch phản động càng ra sức,
ráo riết chống phá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có đạo đức.
Nhận diện âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng trên lĩnh vực đạo đức, qua đó nêu ra
một số giải pháp đột phá đấu tranh phòng ngừa có hiệu quả là vấn đề có ý nghĩa
quan trọng.
“Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhất là trong
tình hình hiện nay diễn ra hết sức phức tạp, vẫn là một trong những nguy cơ mà
Đảng ta đã chỉ ra. Âm mưu, thủ đoạn của chúng thực hiện ở tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội, trong lĩnh vực đạo đức cũng vậy, tính chất cũng hết sức
tinh vi, xảo quyệt và nguy hiểm. Có thể nhận diện âm mưu, thủ đoạn của các thế
lực thù địch chống phá Đảng trong lĩnh vực đạo đức, lối sống ở cán bộ, đảng
viên trước thềm Đại hội.
Nền tảng tư tưởng đạo đức của Đảng là hệ tư tưởng, bản chất cách
mạng và mục tiêu lý tưởng của Đảng. Trong Dự thảo các văn kiện trình Đại hội
XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh; Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ
xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam”.
Chúng tìm mọi cách để cổ súy một số cán bộ, đảng viên nhìn nhận
đạo đức cách mạng, lối sống xã hội chủ nghĩa sai lệch, chỉ thấy tiêu cực, mặt
xấu, không thấy những giá trị đạo đức, lối sống tốt đẹp của dân tộc, của cách
mạng. Qua đó, làm mất dần cái tốt, cái tiến bộ, làm tăng dần cái xấu, cái lạc
hậu, làm chậm lại quá trình phát triển dẫn đến sự yếu kém, hư hỏng, thoái hóa,
biến chất của chính bản thân con người và tổ chức về đạo đức, lối sống. Do suy
thoái cho nên, những cán bộ, đảng viên này đổ lỗi cho đạo đức, lối sống truyền
thống của dân tộc.
Mục đích của chúng nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng với xã
hội và thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Các
thế lực thù địch xuyên tạc mối quan hệ trong nội bộ quân đội, rằng quan hệ cấp
trên - cấp dưới, cán bộ - chiến sĩ đã “không còn như trước nữa, vì mức sống đã
quá chênh lệch”, rằng cán bộ, sĩ quan “chỉ biết lo cho bản thân”; chúng triệt
để lợi dụng khuyết điểm, hạn chế, những hiện tượng tiêu cực ở một số ít cán bộ,
chiến sĩ để xuyên tạc mối quan hệ máu thịt quân - dân; rêu rao “quân đội không
còn gần gũi, gắn bó với nhân dân nữa”; đã “không thực hiện đúng” nhiệm vụ bảo
vệ nhân dân, “chỉ lo bảo vệ Đảng, Nhà nước”. Các thế lực thù địch cố tình làm
biến dạng, méo mó bản chất các mối quan hệ của quân đội. Đây là một điểm mấu
chốt để cổ súy cho suy thoái đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên.
Chủ động ngăn chặn, khắc phục có hiệu quả những biểu hiện suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng
viên. Các cơ quan, đơn vị cần phát huy vai trò, trách nhiệm của cán bộ, đảng
viên, quần chúng trong đấu tranh phòng, chống suy thoái đạo đức, lối sống. Tăng
cường công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng; thực hiện tốt tự
phê bình và phê bình; đề cao tính nêu gương của đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là
cán bộ chủ trì, chủ chốt. Kiên quyết ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; tình trạng quan liêu, tham
nhũng, tiêu cực trong cơ quan, đơn vị.
Thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, giữ vững kỷ
cương, giữ nghiêm kỷ luật; xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh,
để tăng “sức đề kháng”, nâng cao khả năng tự bảo vệ của mỗi cán bộ, đảng viên
và từng cơ quan, đơn vị.
Từng cán bộ, đảng viên phải biết tự bảo vệ mình, nâng cao trình
độ, năng lực, tình cảm và lập trường cách mạng, bản lĩnh chính trị trước âm
mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Không vì lý do nào đó mà “vô
tình” hay “cố ý” phai nhạt mục tiêu, lý tưởng của Đảng rơi vào suy thoái đạo
đức, lối sống./.
Cách
mạng màu (tiếng Anh là Colour Revolution) là thuật ngữ chỉ các cuộc bạo lực
chính trị có tổ chức, chính biến phi vũ trang ở quốc gia có chủ quyền nhằm lật
đổ nhà nước đương nhiệm, gây ra khủng hoảng chính trị bằng phương thức bất bạo
động, có sự kết hợp giữa những kẻ chủ mưu trong nước và thế lực bên ngoài,
thông qua cái gọi là “giương cao ngọn cờ dân chủ”, lôi kéo người dân tuần hành,
biểu tình, bạo loạn lật đổ.
Hiện
nay, đối tượng của “cách mạng màu” hết sức đa dạng. Nếu như trước đây, đối
tượng nhắm đến là các quốc gia theo chế độ XHCN thì hiện nay “cách mạng màu”
còn diễn ra ở các nước có chế độ đa nguyên, đa đảng với mục tiêu phá hoại nền
độc lập của các quốc gia, lập ra đảng phái chính trị đi theo quỹ đạo do Mỹ và
phương Tây định đoạt. Từ việc thay đổi đối tượng nên trong những năm cuối thế
kỷ XX đầu thế kỷ XXI, thế giới chứng kiến hàng loạt cuộc “cách mạng màu” nổ ra
ở các nước có thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng thuộc Trung Đông và Bắc Phi
hay khu vực Đông Âu là Gruzia, Ukaraine… dẫn đến các quốc gia đó rơi vào tình
trạng bất ổn chính trị và hệ quả của nó vẫn kéo dài đến tận bây giờ.
Thời
gian qua, thông tin, hình ảnh về biểu tình, bạo loạn tại Venezuela, Bangladesh
và đặc biệt là Myanmar, từ biểu tình chống chính phủ sang xung đột vũ trang và
sắc tộc tràn lan trên không gian mạng thông qua các nền tảng như Facebook,
Telegram, Youtube… Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu
vong, các đối tượng chống đối đã triệt để lợi dụng những vụ việc trên để tiến
hành các hoạt động xuyên tạc thông tin và hướng lái dư luận theo mục đích khác.
Thông qua các hình thức bình luận chuyên đề, hội luận, họ lồng ghép ý đồ xuyên
tạc, bịa đặt, bóp méo lịch sử, bôi nhọ lãnh tụ dân tộc và vai trò lãnh đạo của
Đảng, tiến tới kích động bạo loạn, biểu tình tại Việt Nam. Các trang như Việt
Tân hay Chân trời mới Media thì tung hứng kiểu “Liệu Việt Nam có giống như
Venezuela”; “chúc mừng người dân Bangladesh thay đổi chế độ độc tài, bao giờ
tới Việt Nam”…
Qua
những cuộc biểu tình, bạo loạn, xung đột vũ trang theo hướng “cách mạng màu”
nói trên, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng, chính không gian mạng là một trong
những phương tiện truyền thông quan trọng được các thế lực thù địch và các đối
tượng chống đối triệt để lợi dụng nhằm tung tin xuyên tạc, kêu gọi, tổ chức tập
hợp người dân, ban đầu là theo các phong trào đường phố, tiến tới đi đến bạo
loạn, tấn công lực lượng cảnh sát, quân đội, gây tê liệt, sụp đổ chính quyền.
Từ đó, các thế lực thù địch dựng lên những chính quyền tay sai không có quyền
lực thực tế hoặc đất nước bị xâu xé bởi những phe phái chính trị, vũ trang sắc
tộc, tôn giáo… Còn tại Việt Nam, từ lâu các thế lực thù địch cũng đã triệt để
lợi dụng không gian mạng nhằm thực hiện âm mưu “cách mạng màu” và đã gây ra một
số vụ việc phức tạp, gây rối an ninh, trật tự. Điều dễ nhận thấy là các hoạt
động của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong và đối tượng
chống đối đều thể hiện có mục tiêu tôn chỉ được tổ chức khá chặt chẽ, bài bản.
Lợi
dụng những vấn đề nóng trong đời sống xã hội như ô nhiễm môi trường, khiếu kiện
đất đai, chủ quyền biển đảo, các đối tượng đưa ra các thông tin sai trái, xuyên
tạc “chính quyền đàn áp dân”, từ đó kêu gọi tụ tập gây rối, biểu tình, bạo
loạn, đập phá trụ sở, tài sản, tấn công cảnh sát, thực hiện âm mưu “diễn biến
hòa bình”, phá hoại sự ổn định phát triển đất nước. Hầu hết các tổ chức phản
động đều xây dựng tài khoản mạng xã hội tổ chức thành hệ thống các kênh truyền
thông, chỉ đạo chặt chẽ từ bên ngoài thông qua các phần tử chống phá bên trong.
Với
những hoạt động chống phá thời gian qua của các thế lực thù địch, các tổ chức
phản động lưu vong và đối tượng chống đối có thể nhận thấy các chiêu trò, thủ
đoạn như: Xuyên tạc phá hoại nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối của Đảng,
chính sách của Nhà nước; gây mâu thuẫn nội bộ, công kích, bôi nhọ và hạ uy tín
các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước; thông qua truyền thông mạng
xã hội để kêu gọi, kích động biểu tình, gây mất an ninh, trật tự an toàn xã
hội.
Chỉ
trích Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, tự do Internet, khuyến khích các
đối tượng trong nước sử dụng không gian mạng để tiến hành các hoạt động chống
phá quyết liệt hơn bằng cách trao các giải thưởng, đề cử vinh danh hay đưa Việt
Nam vào danh sách “kẻ thù của Internet”, vi phạm tự do dân chủ, nhân quyền. Bên
cạnh đó, các tổ chức phản động lợi dụng không gian mạng để tiến hành các hoạt
động gián điệp, thu thập tin tức chống Việt Nam thông qua việc tung ra những
phần mềm chứa các mã độc, phần mềm gián điệp được cài sẵn, các ứng dụng miễn
phí trên điện thoại. Chúng sử dụng kỹ thuật hiện đại, lợi dụng lỗ hổng bảo mật
để xâm nhập chiếm đoạt bí mật nhà nước, lấy cắp thông tin nội bộ, các phát
minh, sáng chế nhằm gây thiệt hại cho kinh tế nước ta.
Đối
tượng mà các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong nhắm đến là số
đối tượng chống đối trong nước, những người có định kiến với Đảng, Nhà nước, có
biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đồng thời, các tổ chức phản động
tuyên truyền, lôi kéo người dân tham gia vào các hội nhóm do chúng lập ra; thâm
nhập vào các diễn đàn, mạng xã hội, nhất là đối với giới trẻ để phát hiện, tập
hợp lực lượng, xây dựng ngọn cờ, tiến tới hình thành và công khai hóa tổ chức
núp dưới danh nghĩa các tổ chức xã hội dân sự hay tổ chức phản biện xã hội.
Thông qua các diễn đàn trên các mạng xã hội
với nhiều hình thức phong phú để thu hút cộng đồng trẻ tham gia. Tại các diễn
đàn đó, cần cung cấp thường xuyên dưới nhiều hình thức hấp dẫn như hỏi - đáp,
thi tìm hiểu... về đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thành
tựu của công cuộc đổi mới đất nước, đặc biệt là thông tin về bản chất, âm mưu,
thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch... ểu bản chất của "cách mạng
màu" là điều hết sức quan trọng để mỗi người Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ
Việt Nam ngày hôm nay hiểu được giá trị vĩ đại của các cuộc cách mạng giải
phóng dân tộc và sự nghiệp đổi mới. Đó cũng là cơ sở để giới trẻ không bị mơ hồ,
ảo tưởng bởi những luận thuyết kêu gọi cách mạng đường phố, phản kháng phi bạo
lực, xúi giục đấu tranh đòi lật đổ chế độ mà kẻ địch rêu rao “vì tương lai tốt
đẹp”!
Thời gian qua, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã ban
hành và hiện thực hóa các chủ trương, chính sách nhằm khắc phục những mặt trái
của nền kinh tế thị trường, bảo đảm công bằng xã hội, đem lại cuộc sống ấm no,
hạnh phúc cho nhân dân. Vậy nhưng bất chấp những thành tựu mà Việt Nam đạt được
trong bảo đảm công bằng xã hội, các thế lực thù địch, phản động lại vẽ ra những
bức tranh xám xịt, tung các luận điệu sai trái, xuyên tạc. Các thế lực thù địch,
phản động đã phát tán nhiều thông tin xấu độc xuyên tạc vấn đề công bằng xã hội
ở Việt Nam. Lợi dụng một bộ phận người dân gặp khó khăn trong đời sống xã hội
như nhà ở, việc làm, lao động, thu nhập…, các đối tượng thổi phồng để bôi nhọ
thể chế. Họ vu cáo rằng, chế độ độc đảng ở Việt Nam gây ra tồn tại bất công xã
hội, người dân bị phân biệt, đối xử; chính quyền không quan tâm đến các đối tượng
yếu thế; công bằng xã hội chỉ dành cho quan chức chứ không thuộc về “dân đen”…
Họ công kích việc thực hiện mục tiêu công bằng
xã hội chỉ là khẩu hiệu suông, không có trong hiện thực; đồng thời ca ngợi thể
chế chính trị ở phương Tây, cho rằng chỉ có chủ nghĩa tư bản mới có công bằng
xã hội, mới là đích đến còn CNXH “chỉ là hư ảo, lừa mị dân”. Các đối tượng suy
diễn, ngụy biện xảo trá rằng, do chế độ “độc tài”, “toàn trị” nên xã hội không
có quyền bình đẳng, người dân không có quyền đòi hỏi, chỉ biết chấp nhận “an phận”.
Từ đó, các đối tượng kích động trên mạng xã hội, kêu gọi người dân muốn có cơm
no, áo ấm, muốn có công bằng, dân chủ, văn minh thì phải đấu tranh để thực hiện
đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, phải “xoá bỏ độc tài”... Trong dịp kỷ niệm
Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 năm nay, các luận điệu công kích, xuyên tạc
trên lại tái diễn với nhiều phương thức truyền bá khác nhau.
Không khó để nhận ra âm mưu,
thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch nhằm kích động tâm lý hoài nghi,
lung lay niềm tin về con đường đi lên CNXH, nhất là đối với giới trẻ. Từ đó, họ
hướng tới phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc; làm suy giảm ý chí đồng lòng, quyết
tâm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, hướng
tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ chế độ XHCN ở
nước ta.
Thực tế cho
thấy, công tác đảm bảo an sinh xã hội tương đối toàn diện, hiệu quả, điển hình
là chính sách xóa đói, giảm nghèo đạt thành tựu nổi bật. Tỉ trọng chi ngân sách
cho an sinh xã hội tăng dần trong các năm qua, từ 2,85% GDP năm 2005 lên 4,14%
GDP năm 2010 và 4,67% GDP năm 2011 và khoảng 6,7% GDP năm 2021. Chỉ số thu nhập
bình quân đầu người tăng nhanh (năm 2020, đạt 3.512 USD), tăng hơn 31,5 lần
trong vòng hơn ba thập niên. Tuổi thọ trung bình cũng tăng nhanh, từ 70,5 (năm
1990) lên 75,4 (năm 2019), cao nhất trong các quốc gia nằm trong khu vực có mức
thu nhập tương đương. Các đối tượng yếu thế trong xã hội luôn được Đảng, Nhà nước và
cộng đồng xã hội quan tâm. Trong năm 2023, 100% số đối tượng bảo trợ xã hội
được hưởng trợ cấp hằng tháng; 100% số người dân bị thiệt hại do thiên tai,
thiếu đói được trợ giúp kịp thời, không để ai bị đói; 99% số hộ người có công
có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của người dân nơi cư trú, 99%
số xã, phường làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ; hơn 90% số người khuyết
tật khó khăn được trợ giúp xã hội, chăm sóc, phục hồi chức năng; hơn 90% số
người cao tuổi khó khăn được trợ giúp xã hội, phụng dưỡng, chăm sóc. Cơ cấu
mạng lưới cơ sở trợ giúp xã hội của cả nước ngày càng mở rộng đáp ứng nhu cầu
sử dụng dịch vụ trợ giúp xã hội của đối tượng cần trợ giúp xã hội.
Như vậy, hệ thống chính sách
xã hội được thực hiện về cơ bản đã bảo đảm được tính công bằng, bao trùm, tiệm
cận các tiêu chuẩn quốc tế, góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế, đời
sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng cao, không để ai bị bỏ lại phía
sau. Thực tiễn luôn có các tồn tại, khiếm khuyết và sự bất bình đẳng, bất công
vẫn xảy ra trong đời sống, ở một số lĩnh vực và đơn vị, địa phương. Tuy nhiên,
sự bất bình đẳng, bất công đó là do một số cá nhân, cấp lãnh đạo thực hiện chưa
đúng hoặc vì các động cơ khác nhau chứ không phải nguyên do chủ trương, đường
lối của Đảng, Nhà nước. Điều quan trọng là quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà
nước ta trong kiểm tra, xử lý, chấn chỉnh những cá nhân, tổ chức để xảy ra các
hiện tượng tiêu cực nhằm thực hiện công bằng xã hội được đầy đủ, đúng nghĩa.Do
đó, người dân cần tỉnh táo nhận diện, đấu tranh với chiêu trò chống phá, xuyên
tạc của các thế lực xấu; đoàn kết đồng lòng, quyết tâm thực hiện thắng lợi các
mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước.
KIÊN ĐỊNH MỤC TIÊU, CON ĐƯỜNG ĐÃ CHỌN, LẼ SỐNG CAO ĐẸP CỦA “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”
Kiên định và hiện thức hóa mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH) mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là mục tiêu, lẽ sống cao đẹp của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Suốt 80 năm qua, nhờ sự kiên định, vững vàng mục tiêu, lẽ sống đã lựa chọn, Quân đội ta đã một lòng một dạ đi theo Đảng làm cách mạng; trở thành lực lượng nòng cốt cho toàn dân đánh giặc; đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp cách mạng, cùng toàn Đảng, toàn dân ta hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng cao cả ấy bằng Đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước; đưa cả nước đi lên CNXH; tiến hành sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Lịch sử truyền thống vẻ vang của Quân đội ta là lịch sử thực hiện hóa mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH với những chiến công chói lọi, vô cùng tươi đẹp và rạng rỡ: Mới thành lập sau hai ngày, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân - Tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam đã chiến đấu và chiến thắng vẻ vang trong hai trận Phai Khắt và Nà Ngần. Mười năm sau ngày thành lập đã trải qua nhiều chiến dịch lớn, giành nhiều thắng lợi vẻ vang và rất đỗi tự hào. Trong đó, nổi bật là thắng lợi của Chiến dịch Thu Đông 1947, Chiến dịch Biên giới 1950, để từ đó làm nên Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”; buộc thực dân Pháp phải cuốn cờ về nước.
Dấu ấn sâu đậm và thành tích đặc biệt xuất sắc, hết sức vẻ vang của cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đã được nhân dân yêu quý, tin tưởng, dành cho những tình cảm tốt đẹp; đã khen tặng danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” - Bộ đội của nhân dân. Hiếm có quân đội nào trên thế giới lại có được niềm vui, hạnh phúc thiêng liêng, cao cả ấy, khi nhân dân lấy tên lãnh tụ kính yêu của mình đặt tên cho Quân đội cách mạng. Đây là niềm cổ vũ, động viên vô cùng to lớn, giúp Quân đội ta vượt ngàn chông gai, chịu đựng mọi gian khổ, hy sinh; đã anh dũng chiến đấu, làm thất bại tất cả các chiến lược chống phá Việt Nam của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, được nhân dân chở che, cưu mang, giúp đỡ, chúng ta đã đi từ những thắng lợi giòn giã, đập tan các cuộc “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hóa chiến tranh” để sau đó, đi đến Chiến thắng 30/4/1975 lịch sử, thực hiện trọn vẹn Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ “đánh cho Mỹ cút; đánh cho ngụy nhào”.
Với lịch sử truyền thống vẻ vang, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đã cùng nhân dân cả nước giành chiến thắng trong Cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc những năm 1978 - 1979. Hơn thế, chúng ta đã phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, cùng nhân dân cả nước hiện thực hóa mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH qua 40 năm đổi mới, hoàn thành xuất sắc các chức năng, nhiệm vụ của mình; cùng nhân dân cả nước làm nên thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta chưa bao giờ có được tiền đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế quốc tế to lớn như ngày nay.
Điều đó là hiện thực khách quan vô cùng sinh động, đã bác bỏ mọi quan điểm sai trái cho rằng, Việt Nam “đang đi theo vết xe đổ của Liên Xô”, “Việt Nam cần phải lựa chọn con đường khác chứ không phải là tiếp tục đi theo con đường CNXH, không nên tiếp tục thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH”. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta bác bỏ quan điểm sai trái, cho rằng: “Việt Nam phải thay đổi mục tiêu, con đường, định hướng phát triển; từ bỏ CNXH lúc này là rất cần thiết”; “có thay đổi thì mới có sự đổi mới; người Việt Nam sẽ có điều kiện để hòa nhập, hội nhập quốc tế, Việt Nam mới mau chóng trở thành con rồng, con hổ ở châu Á”.
Phải nói cho rõ rằng, những người phủ nhận thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà nhân dân ta bằng xương máu, mồ hôi, nước mắt mới dành được trong suốt 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng là sự phủ định sạch trơn, nói càn, viết bậy; hoàn toàn không thể chấp nhận.
Những lời lẽ chua cay, nghiệt ngã, phê phán, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được tuôn ra từ sự thâm thù, âm mưu chống phá của các thế lực thù địch cốt để gây sự nghi ngờ, phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng, giá trị và ý nghĩa của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; về sự lựa chọn con đường đi lên CNXH ở nước ta; tạo ra “một khoảng trống về chính trị” trong lòng nhân dân; cố tình phân hóa các lực lượng “trung thành” với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đó, kêu gọi người dân từ bỏ mục tiêu, con đường đi lên CNXH. Đó là quan điểm sai trái, đã lún sâu vào “vũng bùn” của nhận thức sai lầm và những hành vi sai trái chống Đảng, Nhà nước, chống phá quân và dân ta thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng; cản trở quân và dân ta thực hiện hóa mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, cần phải loại bỏ.
Lúc này đây, cán bộ, chiến sĩ Quân đội và nhân dân ta cần đẩy mạnh tuyên truyền lý luận về đường lối đổi mới của Đảng, đọc kỹ tác phẩm của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” để củng cố niềm tin tất thắng vào đường lối xây dựng CNXH ở nước ta. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là tiếng gọi từ trái tim, mệnh lệnh của cuộc sống.
Cùng với đó, phải làm cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, hiểu rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch để có biện pháp đối phó hiệu quả. Đồng thời, giúp người dân nhận thức đúng bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Đây là biện pháp hữu dụng nhất để giúp nhân dân “miễn dịch” trước các đòn tấn công ác hiểm, thâm độc của các thế lực thù địch cả trong lý luận và trong thực tiễn; luôn tự tin, chủ động và tích cực tham gia cuộc đấu tranh bảo vệ cái đúng, cái tốt; lấy cái đẹp dẹp cái xấu.
Đối với quân và dân ta, gần 80 năm cách mạng Việt Nam đã chứng minh đầy thuyết phục rằng, chỉ có đi theo con đường CNXH thì mới xóa bỏ được tệ nạn người áp bức, bóc lột người, mới thực hiện được lý tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng xã hội; chỉ có CNXH mới là cái bảo đảm chắc chắn nhất cho sự phát triển tự do, toàn diện của mỗi người và mọi người.
Rõ ràng là, đi theo con đường CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là thực hiện chủ nghĩa nhân đạo hiện thực, bởi vì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sự khái quát cao nhất cái đẹp của cuộc sống, hạnh phúc của con người, là sự chung đúc tất cả lý tưởng giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội. Vì vậy, sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng và nhân dân ta vẫn tiếp tục, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH không thể đổi khác, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn phải là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam. Đây là niềm tin, ánh sáng và con đường chúng ta đi đến thắng lợi vẻ vang.
Cán bộ, chiến sĩ Quân đội và nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trước sau như một, đều nhất quán, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, nhất định chúng ta sẽ hoàn thành các chỉ tiêu, mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định. Đây là sự chuẩn bị tốt nhất các điều kiện cần thiết để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tổ chức đại hội thành công đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030; tiến tới Đại hội XIV của Đảng vào đầu năm 2026. Đồng thời, là sự đáp trả đanh thép nhất, hiệu quả nhất để bác bỏ mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN ở nước ta của các thế lực thù địch./.
Vào thời chiến, có những người
mà ai cũng biết tên, danh tính, biết rõ công việc rất quan trọng, mỗi khi đi
qua là ai cũng ngoái lại nhìn với ánh mắt lặng thinh. Gia đình nào hoặc người
dân nào cũng muốn người này đừng đến và đừng nhắc đến nhà mình hay những người
thân của mình. Một người mà không ai muốn “gặp gỡ” mặc dù biết rằng là không thể
tránh khỏi. Một con người mà nếu như đến khi đất nước toàn thắng mà “không phải
gặp”, thì đó chính là hạnh phúc.
Đó chính là người mang điện, giấy
báo tử của các liệt sĩ đã hy sinh trong chiến tranh về cho địa phương, gia
đình.
Trong bộ phim Thương nhớ ở ai có
khắc họa về những người như thế này, họ là những người đưa thư ở các làng quê.
Họ vừa làm nhiệm vụ chuyển thư từ, kỉ niệm… giữa các chiến sĩ và gia đình,
nhưng cũng kiêm luôn nhiệm vụ gửi giấy báo tử của các anh hùng liệt sĩ về cho
chính quyền địa phương, các đội trưởng, phụ trách quân sự địa phương…
Mỗi khi những người này xuất hiện,
ai cũng ngừng làm việc và ngóng chờ một điều gì đó, ai cũng mong là những người
này đừng nhắc đến tên người thân của mình. Câu nói “Thay mặt Ủy ban nhân dân….”
đã từng làm rất nhiều gia đình, người thân đau lòng. Làm gì có ai muốn thấy sự
mất mát đâu?
Hơn 1 triệu liệt sĩ đã hy sinh
trong suốt những cuộc kháng chiến, bảo vệ Tổ Quốc, đồng nghĩa với đó là hơn 1
triệu giấy, điện, thông tin báo tử gửi về cho những gia đình… Thậm chí, sau khi
kết thúc chiến tranh, có những trường hợp mãi không thấy tin tức gì, lắm lúc chỉ
“muốn” được gặp những người này để biết được tin tức, sống hay chết, hy sinh
hay mất tích…
Có bác cựu chiến binh từng làm
"nghề" này kể lại rằng, cứ đi đến đâu là người ta lại ngoái lại nhìn,
hỏi lại xem có tên của chồng, con mình không... Nhiều khi biết đấy, nhưng không
dám nói, nhiều khi là chính con cháu, bạn bè của mình hy sinh nhưng vừa đạp xe,
vừa không được khóc... Nhiều khi cũng có gia đình "nhầm", mình dừng lại
nghỉ ngơi, uống nước, họ lại nghĩ rằng là đưa giấy báo tử...
Chiến tranh đã lùi xa nhiều năm,
những con người này đã không còn xuất hiện ở ngoài đời thực nữa. Nhưng họ đã từng
là minh chứng cho những năm tháng ác liệt nhất, đau thương nhất, hào hùng nhất
của Tổ Quốc./.
Đảng nhà nước ta có nhiều chính
sách ưu việt nhưng vẫn có kẻ vô ơn như anh Ngô Bảo Châu thế là cùng.
Về chính sách của Đảng, Nhà nước,
tôi lấy ví dụ:
Trẻ em miễn hoàn bộ học phí mẫu
giáo, bảo hiểm y tế toàn phần đến hết 6 tuổi. Người khuyết tật có đủ giấy tở thủ
tục pháp lý, tùy theo mức độ khuyết tật được trợ cấp từ 600 ngàn đến trên 1 triệu
đồng/ tháng.
Học sinh vùng đồng bào dân tộc
thiểu số được chu cấp toàn phần gạo ăn, sách vở, một khoản tiền đủ để chi phí
cho sinh hoạt, miễn toàn phần học phí, vào đại học được ưu tiên xét tuyển.
Người già không phải đối tượng hưu
trí thì 75 tuổi trở lên được trợ cấp khoảng 600 ngàn đến trên 1 triệu đồng/tháng,
tùy mức tuổi: 75, 80,85, 90....theo quy định.
Hàng triệu gia đình có công,
thương binh, liệt sĩ đều được hưởng các chính sách ưu Việt của Nhà nước.
Ngoài ra, nhiều chính sách khác
cho người dân vùng sâu, vùng xa, người nghèo, người cận nghèo, người đau ốm bệnh
tật hiểm nghèo, dài ngày đều có chính sách hỗ trợ của Nhà nước.
Khi đất nước từ chiến tranh đổ
nát, Bắc - Nam chia cắt, bị Mỹ và phương Tây cấm vận, Nhà nước vẫn có nhiều
chình sách thu hút người tài và hỗ trợ sinh viên đi đào tạo nước ngoài về phục
vụ Tổ quốc. Ngay cả khi đất nước có chiến tranh nhưng các vị Mạc Văn Trang,
Nguyễn Quang A, Nguyễn Khắc Mai, Nguyễn Ngọc Chu....vẫn không phải ra chiến trường
cầm súng mà đi du học một mạch thẳng như cái mực cưa. Rồi thời bình, dân đói phải
ăn bo bo, khoai độn sắn nhưng những sinh viên như Ngô Bảo Châu cũng được chu cấp
ăn học cho đến khi thành giáo sư tiến sĩ. Khi về nước còn được cấp cả cái biệt
thự to đùng, rồi cho anh làm Viện trưởng Viện toán cao cấp.Vậy mà vẫn chỉ là
phường "giá áo túi cơm" chưa có cống hiến gì cho đất nước nhân dân,
Thế thì, đã khi nào Ngô Bảo Châu
tự hỏi: "Mình đã thành đạt và mình đã làm được gì cho Tổ quốc này
chưa???"
Lênin là lãnh tụ mạng lại độc lập,
tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam, tư tưởng của Người là tư tưởng
lãnh đạo của Đảng CSVN. Vì thế, nếu phải bỏ tiền ra xây tượng đài Lênin vẫn phải
xây mà chính sách an sinh xã hội vẫn phải làm, mà Đảng và Nhà nước ta đã làm và
đang làm mạnh hơn vì sự phồn vinh của dân tộc chứ đã bao giờ ngưng nghỉ đâu! Đó
là trách nhiệm của Đảng CSVN gần 100 năm qua với dân tộc.
Anh là giáo sư, nhờ ơn của Đảng
anh mới trưởng thành. Thế nên anh đừng làm cái kiểu " vừa đỗ ông nghè đã
đe đất nước", đừng làm cái kiểu "có tài mà không có đức", bất hiếu,
vô dụng; đừng thao túng tâm lý hướng lái dư luận suy nghĩ siêu hình, đạo đức giả
tạo, dắt mũi đồng bào, làm thằng phản động tuyên truyền chống phá, hết xuyên tạc
Bác Hồ giờ anh lại xuyên tạc Lênin như thế. Nếu anh làm thế mời anh sang
Ucraina mà sống thưa anh Ngô Bảo Châu./.
TCCS - Tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quan điểm xuyên suốt, nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Cá nhân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; không ai có quyền xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quốc gia, dân tộc, lợi ích cộng đồng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Thế nhưng, thời gian qua, các báo cáo nhân quyền, tôn giáo của một số nước phương Tây thường xuyên có nội dung xuyên tạc, vu cáo “chính quyền Việt Nam giới hạn tự do tôn giáo”. Đây là sự bịa đặt, vu cáo trắng trợn hòng phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Vì vậy, việc làm rõ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động về thành tựu của Việt Nam trong bảo đảm và thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch, phản động không từ bỏ bất cứ thủ đoạn thâm hiểm nào nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Một trong những thủ đoạn thâm hiểm đó là lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá, coi đây là “mũi đột phá” hướng đến xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Trong những năm gần đây, Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ (USCIRF) - cơ quan tham vấn được thành lập theo Luật về Tự do tôn giáo quốc tế năm 1998, vẫn định kỳ đưa ra báo cáo nhận xét, đánh giá, phê phán về tình hình nhân quyền và tự do tôn giáo của một số quốc gia, trong đó có Việt Nam. Theo USCIRF, việc “cải thiện nhân quyền” ở một số nước không đi theo quỹ đạo của Mỹ nên “cần được quan tâm đặc biệt”. Từ năm 2012 đến nay, USCIRF liên tục đề nghị đưa Việt Nam vào danh sách “các nước cần quan tâm đặc biệt, viết tắt là CPC” bất chấp thành tựu về bảo đảm các quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Tháng 5-2023, USCIRF tiếp tục khuyến nghị Bộ Ngoại giao Mỹ đưa Việt Nam vào “danh sách CPC”, khi cho rằng Việt Nam đã “tăng cường kiểm soát và đàn áp”, “đàn áp tôn giáo một cách nghiêm trọng”, “sách nhiễu, bức hại”, “ép buộc”, “tước đoạt tài sản”...
Sự tiếp cận, đánh giá thiếu thiện chí, thiếu khách quan của một số cá nhân trong Bộ Ngoại giao Mỹ và các đối tượng thù địch, phản động trong USCIRF đã vi phạm Khoản 7, Điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc: “Tổ chức Liên hợp quốc không có quyền can thiệp vào công việc thực chất thuộc thẩm quyền nội bộ của bất kỳ quốc gia nào”. Theo đó, đòi hỏi không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác cũng là nghĩa vụ đặt ra cho tất cả thành viên cộng đồng quốc tế(1).
Những luận điệu xuyên tạc, vu cáo trắng trợn trên không những không phản ánh đúng sự ghi nhận và bảo đảm của luật pháp Việt Nam về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; không phản ánh đúng bản chất tình hình thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, mà còn cố tình phớt lờ thành tựu của Việt Nam trong tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Âm mưu sâu xa, mục đích chính trị đen tối của các thế lực thù địch, phản động là tiến hành tổng thể biện pháp nhằm tạo dựng nhiều điểm nóng về tín ngưỡng, tôn giáo để gây ra bất ổn về chính trị, văn hóa, xã hội ở các địa phương trong cả nước. Cùng với đó, lợi dụng “ngòi nổ” tín ngưỡng, tôn giáo để kích động mâu thuẫn giữa các tôn giáo với nhau, giữa người theo đạo và người không theo đạo, giữa các tôn giáo với chính quyền các cấp; từ đó, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tiến tới can thiệp vào công việc nội bộ, chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam, gây tổn hại đến công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay.
Thực tế cho thấy, thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm và thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được dựa trên các cơ sở khoa học sau:
Thứ nhất, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam luôn được tôn trọng và bảo vệ, thể hiện rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam từ ngày thành lập nước đến nay, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế.
Trong luật pháp và thông lệ quốc tế, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo thuộc nhóm quyền dân sự, chính trị và là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận trong luật pháp, thông lệ quốc tế cũng như trong pháp luật nhiều nước trên thế giới. Khoản 3, Điều 1, Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 nhấn mạnh: “Thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế về kinh tế, xã hội, văn hóa và nhân đạo và khuyến khích phát triển sự tôn trọng các quyền của con người và các tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo”. Tuyên ngôn thế giới về quyền con người được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1948 - một văn kiện quan trọng trong lịch sử hình thành quy định về quyền con người, được soạn thảo bởi các đại diện có nền tảng pháp lý và văn hóa khác nhau từ các khu vực trên thế giới, được coi như một tiêu chuẩn chung cho tất cả quốc gia, dân tộc và mọi người, lần đầu tiên đặt ra các quyền cơ bản của con người phải được bảo vệ trên toàn cầu, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 không chỉ áp dụng với các quốc gia thành viên Liên hợp quốc, mà còn áp dụng với các vùng lãnh thổ thuộc quyền tài phán của các quốc gia này. Điều 18 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 nêu rõ: “Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo; quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự giảng dạy, hành đạo, thờ phụng và nghi lễ, hoặc riêng mình hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng”. Khoản 1 và Khoản 2, Điều 18 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1966 mà Việt Nam đã phê chuẩn năm 1982, nêu rõ:“Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo. Quyền này bao gồm tự do có hoặc theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng do mình lựa chọn, và tự do bày tỏ tín ngưỡng hoặc tôn giáo một mình hoặc trong cộng đồng với những người khác, công khai hoặc kín đáo, dưới các hình thức như thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và truyền giảng. Không ai bị ép buộc làm những điều tổn hại đến quyền tự do lựa chọn hoặc tin theo tôn giáo hoặc tín ngưỡng của họ”.
Nhìn tổng quát, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã được các văn bản quốc tế quy định ở các nội dung, như tuyên bố sự tồn tại của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; mọi người được thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo một cách công khai một mình hay trong cộng đồng; nghiêm cấm sự phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo.
Đại lễ Hội Yến Diêu Trì Cung - Nét đẹp văn hóa của tôn giáo Cao Đài (ảnh: Lê Tấn Phát) _Nguồn: nhiepanhdong.vn
Chiểu theo pháp luật và thông lệ quốc tế về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, các văn bản quy phạm pháp luật mà Việt Nam đã phù hợp với quy định của pháp luật và thông lệ quốc tế về quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo. Cụ thể, về phương diện Hiến pháp, Điều 10 Hiến pháp năm 1946 nhấn mạnh: “Công dân Việt Nam có quyền: tự do ngôn luận; tự do xuất bản; tự do tổ chức và hội họp; tự do tín ngưỡng; tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”; Điều 26 Hiến pháp năm 1959 quy định: “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có các quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”. Điều 68 Hiến pháp năm 1980 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”. Điều 70 của Hiến pháp năm 1992 khẳng định: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật”. Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung các quy định về quyền con người, trong đó khẳng định rõ hơn việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, được ghi tại Điều 16: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội” và tại Khoản 1, 2, Điều 24 khẳng định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Đây là cơ sở pháp lý cao nhất của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời, là cơ sở để Nhà nước Việt Nam ban hành các văn bản pháp luật trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên thực tế.
Các văn bản quy phạm pháp luật dưới Hiến pháp cũng thể hiện sự nhất quán trong việc tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Đơn cử như, Điều 1 Sắc lệnh số 234/SL, ngày 14-6-1955, về vấn đề tôn giáo, do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành, khẳng định: “Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân. Không ai được xâm phạm đến quyền tự do ấy. Mọi người Việt Nam đều có quyền tự do theo một tôn giáo hoặc không theo một tôn giáo nào”; Điều 15 Sắc lệnh số 234/SL nêu rõ: “Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là một quyền lợi của nhân dân. Chính quyền dân chủ cộng hòa luôn luôn tôn trọng quyền lợi ấy và giúp đỡ nhân dân thực hiện”. Điều 1 Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo, được Quốc hội thông qua ngày 18-6-2004, nêu rõ: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy”. Đây là văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất điều chỉnh trực tiếp lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo kể từ sau Sắc lệnh số 234/SL. Để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013, ngày 18-11-2016, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được thông qua tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa XIV với 9 chương, 8 mục và 68 điều quy định rõ về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; tổ chức tôn giáo; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo, áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm và thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Thậm chí, những người đang bị tạm mất quyền công dân cũng có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tại Khoản 5, Điều 6, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 chỉ rõ: “Người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo”.
Có thể thấy, hệ thống chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam thể hiện sự liên tục, nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam, phù hợp với các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên, đồng thời đáp ứng nguyện vọng của người theo tín ngưỡng, tôn giáo.
Thứ hai, hệ thống văn bản, quy định về tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam ngày càng hoàn thiện hơn, dân chủ hơn, tôn trọng, tạo điều kiện tốt nhất cho các chức sắc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo và tổ chức tôn giáo hợp pháp phát triển một cách lành mạnh, công bằng, bình đẳng trước pháp luật.
Ngày 3-9-1945, chủ trì phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời bàn về sáu vấn đề cấp bách, trong đó có vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào giáo và đồng bào lương, để dễ thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: TÍN NGƯỠNG TỰ DO và lương giáo đoàn kết”(2). Tiếp đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký hai sắc lệnh về tín ngưỡng, tôn giáo, bao gồm Sắc lệnh số 35/SL, ngày 20-9-1945, quy định “Đền chùa, lăng tẩm, nhà thờ, tất cả các nơi có tính cách tôn giáo, bất cứ tôn giáo nào, nhân dân đều phải tôn trọng không được xâm phạm” và Sắc lệnh số 65/SL, ngày 23-11-1945, ấn định nhiệm vụ cho Đông phương Bác Cổ học viện nhiệm vụ bảo tồn tất cả cổ tịch trong toàn cõi Việt Nam.
Tiếp nối Sắc lệnh số 35/SL và Sắc lệnh số 65/SL, đến nay, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã ban hành hơn 30 văn bản về tín ngưỡng, tôn giáo nhằm đáp ứng nhu cầu về đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Để khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Việt Nam ở tính pháp lý cao nhất, kể từ khi Quốc hội được thành lập đến nay, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân đã được khẳng định tại 5 bản Hiến pháp, bao gồm Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013. Nhiều văn bản quan trọng khác đã được ban hành (3). Đặc biệt, tại kỳ họp thứ hai, khóa XIV, ngày 18-11-2016, Quốc hội đã ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (có hiệu lực từ năm 2018). Đây là sự cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về các điều, khoản quy định về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Với 9 chương, 8 mục và 68 điều quy định rõ về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động của tín ngưỡng, tôn giáo; tổ chức tôn giáo; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm và thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định cụ thể trách nhiệm, thẩm quyền của Chính phủ, bộ, ngành, Ủy ban nhân dân, cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo các cấp trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong việc tập hợp đồng bào theo tín ngưỡng, tôn giáo và đồng bào không theo tín ngưỡng, tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh đó, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo cũng quy định về nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo...
Từ những vấn đề trên, có thể khẳng định hệ thống văn bản, quy định về tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam ngày càng hoàn thiện hơn, dân chủ hơn, đáp ứng nhu cầu đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của mọi công dân Việt Nam; đồng thời, thể hiện chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam về tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tạo điều kiện tốt nhất cho các chức sắc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo và tổ chức tôn giáo hợp pháp phát triển một cách lành mạnh, công bằng và bình đẳng trước pháp luật.
Thứ ba, để bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và ước nguyện sống “tốt đời, đẹp đạo” của mỗi tín đồ tôn giáo, pháp luật Việt Nam thể hiện tính nghiêm trị hành vi lợi dụng tôn giáo, xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người khác.
Ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đều được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, không thể có sự tự do vô chính phủ, tự do vô nguyên tắc(4). Điều này thể hiện rõ trong Khoản 3, Điều 18 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên hợp quốc năm 1966. Điều này cho thấy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là vấn đề gắn với thể chế chính trị - xã hội và điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội ở từng quốc gia, dân tộc cụ thể, không thể tồn tại một khái niệm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo chung chung, trừu tượng. Cũng không thể đem giá trị, quan niệm về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở một quốc gia, dân tộc này để áp dụng, đo lường hoặc đánh giá mức độ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở một quốc gia, dân tộc khác. Trên phương diện đối ngoại giữa các quốc gia, dân tộc, không thể đem tiêu chuẩn về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở quốc gia, dân tộc này để áp đặt lên một quốc gia, dân tộc khác và buộc họ tuân theo.
Theo đó, Khoản 3, Điều 24, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, quy định tại Khoản 1, Điều 3: “Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật”; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 cũng quy định rõ tại Điều 5 về các hành vi bị nghiêm cấm đối với tín ngưỡng, tôn giáo, như phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo...
Việc xác định tội xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người khác được quy định tại Điều 164 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): 1- Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác ngăn cản hoặc ép buộc người khác thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm; 2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 1 năm đến 3 năm: có tổ chức; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; phạm tội 2 lần trở lên; dẫn đến biểu tình; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; 3- Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm.
Thứ tư, những năm gần đây,quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được bảo đảm trên thực tếlà minh chứng sinh động về sự tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.
Trong đời sống thực tế của xã hội Việt Nam hiện nay thể hiện rõ sự đa dạng, hòa hợp và bình đẳng tôn giáo, được pháp luật bảo vệ, tôn trọng; mọi người hoàn toàn tự do lựa chọn theo hoặc không theo một tín ngưỡng, tôn giáo nào; không có tôn giáo nào giữ vị trí độc tôn, mà đều tồn tại đan xen với nhau; các chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo tích cực tham gia các phong trào xã hội, từ thiện xóa đói, giảm nghèo, đóng góp thiết thực vào sự phát triển chung của đất nước.
Nhân dân đón Giáng sinh tại khu vực Nhà thờ Lớn Hà Nội _Nguồn: toquoc.vn
Theo số liệu được công bố của Ban Tôn giáo Chính phủ cho thấy, bên cạnh việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân trên thực tế, đó là:
Tổ chức tôn giáo được tạo điều kiện hoạt động theo hiến chương, điều lệ và quy định của pháp luật Việt Nam nhằm bảo đảm và tạo điều kiện để các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo được diễn ra bình thường với quy mô lớn, thu hút đông đảo tín đồ tham dự. Hiện nay, cả nước đã có 3.700 điểm nhóm được chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, hơn 6.500 người được phong phẩm, suy cử làm chức sắc; 16.783 người được bổ nhiệm, bầu cử, suy cử làm chức việc; 62 cơ sở đào tạo tôn giáo tại 36 tỉnh, thành phố; 15 tờ báo và tạp chí của các tổ chức tôn giáo đang hoạt động, đồng thời phần lớn tổ chức tôn giáo đều có trang web riêng để phục vụ việc sinh hoạt đạo, truyền bá tôn giáo. Chức sắc, chức việc, nhà tu hành tôn giáo có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, được ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp như mọi công dân khác theo quy định của pháp luật. Quốc hội khóa XV có năm đại biểu là chức sắc, nhà tu hành tôn giáo. Theo số liệu thống kê của các tỉnh, thành phố, hiện nay có trên 10 nghìn chức sắc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo là đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026(5).
Tổ chức, cá nhân theo tôn giáo được tạo điều kiện tham gia hoạt động quốc tế. Tính từ năm 2011 đến nay, có khoảng gần 2.000 lượt cá nhân theo tôn giáo xuất cảnh tham gia khóa đào tạo ở nước ngoài, tham dự hội nghị, hội thảo quốc tế liên quan đến tôn giáo; gần 500 đoàn khách nước ngoài với hơn 3.000 lượt người vào Việt Nam để trao đổi, giao lưu, hướng dẫn đạo tại cơ sở tôn giáo ở Việt Nam, tham dự các sự kiện tôn giáo do các tổ chức tôn giáo Việt Nam tổ chức, trong đó có nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn được tổ chức trọng thể, thành công ở Việt Nam và được dư luận quốc tế đánh giá cao, như Hội nghị Liên hội đồng Giám mục Á Châu (năm 2012), Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc Vesak (ba lần: năm 2008, 2014, 2019 và dự kiến tổ chức vào năm 2025); Tổng hội Dòng Đa minh thế giới được tổ chức tại huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai (năm 2019)... Các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam còn tích cực tham gia các hội nghị, diễn đàn tôn giáo khu vực và quốc tế, như Đối thoại liên tín ngưỡng Á - Âu (ASEM), Đối thoại liên tín ngưỡng khu vực châu Á - Thái Bình Dương...
Các tổ chức, cá nhân theo tôn giáo được khuyến khích, tạo điều kiện tham gia các hoạt động an sinh xã hội. Hiện nay, cả nước có khoảng 300 trường mầm non, 2.000 lớp học tình thương, 12 cơ sở dạy nghề, trên 500 cơ sở khám, chữa bệnh từ thiện của các tổ chức tôn giáo, được thành lập dưới nhiều hình thức khác nhau; gần 800 cơ sở bảo trợ xã hội của các tổ chức Phật giáo, Công giáo, Cao đài,... đang nuôi dưỡng trên 12 nghìn trẻ em mồ côi, tàn tật, người già cô đơn, bệnh nhân tâm thần, HIV/AIDS(6). Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã gặp mặt, biểu dương các tổ chức tôn giáo có đóng góp trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (năm 2016, 2019, 2022). Tại các buổi gặp mặt, các tôn giáo bày tỏ sự nhất trí đồng thuận với Đảng, Nhà nước và mong muốn được đóng góp công sức trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững độc lập, chủ quyền lãnh thổ.
Mặt khác, nhiều sự kiện tôn giáo nổi bật đã được ghi nhận. Đơn cử như, đối với Phật giáo, năm đầu tiên của nhiệm kỳ IX (2022 - 2027), Hội đồng Trị sự cũng như Giáo hội Phật giáo Việt Nam các tỉnh, thành phố tích cực triển khai các công việc của năm cũng như kế hoạch hoạt động của cả nhiệm kỳ. Đối với hoạt động quốc tế, đoàn Giáo hội Phật giáo Việt Nam tham dự Hội nghị thượng đỉnh Phật giáo toàn cầu vào cuối tháng 4-2023 tại Ấn Độ do Bộ Văn hóa Ấn Độ phối hợp với Liên đoàn Phật giáo quốc tế tổ chức. Ngoài ra, Giáo hội Phật giáo Việt Nam còn cử nhiều đoàn ra nước ngoài tham dự hội nghị, hội thảo...
Đối với Công giáo, bên cạnh các hoạt động thường kỳ, như Hội nghị thường niên của Hội đồng Giám mục Việt Nam, một sự kiện nổi bật trong đời sống Công giáo ở Việt Nam những năm gần đây, cụ thể năm 2023 là việc nâng cấp quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Tòa thánh Va-ti-căng, với việc ký kết “Thỏa thuận về Quy chế hoạt động của Đại diện thường trú Tòa thánh và Văn phòng Đại diện thường trú của Tòa thánh tại Việt Nam”.
Đối với đạo Tin Lành, tháng 3-2023, đạo Tin Lành Việt Nam đã tổ chức Chương trình truyền giảng với chủ đề “Xuân yêu thương” tại Thành phố Hồ Chí Minh. Chương trình do các Hội Thánh Tin Lành tại Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với mục sư Ph. Gra-ham (Franklin Graham) tổ chức, cùng hơn 2.000 tình nguyện viên. Sự kiện đáng chú ý của đạo Tin Lành là một số Hội thánh Tin Lành có những hoạt động để tiến tới được công nhận là pháp nhân.
Đối với các tôn giáo nội sinh, các tôn giáo nội sinh hoạt động bình thường theo đúng chương trình hành đạo đã đăng ký với chính quyền. Đáng chú ý, năm 2023 là năm chuẩn bị các công việc cho đại lễ kỷ niệm lớn của một số tôn giáo nội sinh, như 100 năm ngày thành lập Minh lý đạo - Tam Tông miếu (năm 2024), các Hội thánh của đạo Cao Đài cũng sẽ kỷ niệm 100 năm ngày khai đạo (năm 2026) hay 90 năm của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam (năm 2024),... đồng thời, các tôn giáo nội sinh vẫn thực hiện các nghi lễ theo đúng lịch lễ nghi của đạo trong một năm. Các hoạt động tôn giáo ổn định, chấp hành tốt quy định của pháp luật của Nhà nước(7).
Như vậy, pháp luật Việt Nam về quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo không chỉ phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế, mà còn đáp ứng nguyện vọng của cá nhân tham gia đời sống tín ngưỡng, tôn giáo với ước nguyện sống “tốt đời, đẹp đạo”. Do đó, những hoạt động lén lút, lợi dụng tôn giáo, trái với văn hóa truyền thống Việt Nam, nhuốm màu mê tín dị đoan, có dấu hiệu trục lợi, vi phạm pháp luật, đi ngược lại đạo đức xã hội... phải bị lên án, xử lý nghiêm. Có thể khẳng định dứt khoát rằng, ở Việt Nam hoàn toàn không có chuyện “chính quyền Việt Nam giới hạn tự do tôn giáo”, “đàn áp tôn giáo” như các thế lực thù địch, phản động thường rêu rao. Những luận điệu xuyên tạc, vu cáo đó chỉ là chiêu trò mà các thế lực thù địch, phản động lợi dụng, sử dụng nhằm phục vụ âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam hiện nay. Chính vì vậy, cũng như các nước khác, Việt Nam không chấp nhận việc lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước hay kích động bạo lực, chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, tôn giáo, gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự và tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân... Chính sách đó luôn được Nhà nước Việt Nam khẳng định và thực hiện nhất quán.
Những luận cứ trên là cơ sở pháp lý và thực tiễn phong phú, sinh động về những thành tựu bảo đảm và thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, là điều không ai có thể xuyên tạc, phủ nhận được. Trong thư của Giáo hoàng Phan-xi-cô gửi công đoàn Công giáo Việt Nam nhân dịp công nhận Thỏa thuận về Quy chế cho Đại diện thường trú của Tòa thánh Va-ti-căng vào ngày 8-9-2023, đã viết: “Dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau được xây dựng từng bước trong nhiều năm qua, và được củng cố bằng các chuyến thăm thường niên của phái đoàn Tòa thánh cũng như các cuộc họp của nhóm làm việc chung giữa Việt Nam và Tòa thánh, cả hai bên đã có thể cùng nhau tiến tới và sẽ còn tiến nữa, nhờ nhìn nhận những điểm tương đồng và tôn trọng những khác biệt. Hơn thế nữa, hai bên đã có thể đồng hành, lắng nghe nhau và hiểu nhau. Dù mỗi bên có sự khác biệt về lịch sử và kinh nghiệm sống, điều đó không thể ngăn cản cùng nhau đi tìm con đường tốt nhất để phục vụ thiện ích của dân tộc Việt Nam và Hội Thánh”(8). Vì vậy, có thể khẳng định dứt khoát rằng, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam không những phù hợp với các quy định của pháp luật và thông lệ quốc tế về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mà còn đáp ứng tâm tư, tình cảm và nguyện vọng chính đáng của các chức sắc, chức việc tôn giáo và đồng bào theo đạo, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Các luận điệu của các thế lực thù địch, phản động về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam không chỉ là sự thiếu thiện chí, cố tình xuyên tạc, vu cáo trắng trợn, phủ nhận thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm và thực hiện quyền con người, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mà còn đi ngược với pháp luật và thông lệ quốc tế, phải bị lên án mạnh mẽ và bác bỏ./.