Thứ Bảy, 1 tháng 2, 2025

KIÊN ĐỊNH MỤC TIÊU XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 KIÊN ĐỊNH MỤC TIÊU XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Qua các kỳ đại hội, Ðảng ta luôn nghiêm túc nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, đề ra những quan điểm chỉ đạo đúng đắn, phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn nhằm xây dựng, hoàn thiện mô hình nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam mang bản chất dân chủ, ưu việt, tốt đẹp.
Trong bối cảnh đất nước sẵn sàng tiến bước vào kỷ nguyên mới và trong không khí hào hứng hướng tới kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Ðảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta cần ý thức sâu sắc về mục tiêu kiên định xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ của thời đại.
Với mục tiêu xây dựng, hoàn thiện một nhà nước dân chủ để thực hiện và bảo vệ ngày càng tốt các quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân, Hội nghị giữa nhiệm kỳ Khóa VII năm 1994 của Ðảng chính thức đề cập đến nội dung xây dựng “Nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân và vì dân”.
Ðây là lần đầu tiên trong văn kiện của Ðảng, thuật ngữ “nhà nước pháp quyền” được sử dụng. Ðến Ðại hội IX, Ðảng ta xác định rõ: Phải xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên tinh thần chỉ đạo ấy, những năm qua, nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đã từng bước được xây dựng, hoàn thiện.
Nhờ đó, Việt Nam đã gặt hái nhiều thành tựu quan trọng, to lớn trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước; cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam cũng vì thế mà ngày càng được khẳng định, củng cố và nâng cao.
Tuy nhiên, với nhãn quan phiến diện, thù địch, các thế lực phản động, cực đoan, suốt nhiều năm qua, nhất là giai đoạn hiện nay, trong bối cảnh đại hội đảng các cấp chuẩn bị diễn ra, càng tăng cường chống phá, đưa ra nhiều luận điệu xuyên tạc, phủ nhận nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam.
Các đối tượng rêu rao rằng Việt Nam hiện nay không coi trọng dân chủ, không quan tâm đến quyền và lợi ích của nhân dân. Nhà nước Việt Nam không thực hiện tam quyền phân lập, không đề cao pháp trị. Do đó, không thể được gọi là nhà nước pháp quyền. Các thế lực thù địch ra sức phủ nhận năng lực và bản chất dân chủ của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
Chúng vin vào hoặc cố tình thổi phồng một số vụ việc, hiện tượng tiêu cực, hạn chế trong công tác quản lý, điều hành của hệ thống chính trị để phủ nhận bản chất dân chủ ưu việt tốt đẹp của nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam. Chúng đổ lỗi, xuyên tạc rằng, sở dĩ Việt Nam mãi không thể phát triển dù có rất nhiều tiềm năng, lợi thế (về tài nguyên, con người, vị thế địa chính trị...) là do sự yếu kém, mất dân chủ, tham ô, tham nhũng trong bộ máy nhà nước.
Ði đôi với đó, các đối tượng ra sức lăng xê, ca ngợi chỉ có nhà nước pháp quyền tư sản mới thực sự dân chủ, tiến bộ, văn minh, mới có thể đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho dân; từ đó, tuyên truyền rằng, Việt Nam muốn “bứt phá”, “cất cánh”, “vươn mình” như mục tiêu đặt ra hiện nay thì phải đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền tư sản.
Không khó để nhận ra rằng, mục đích của tất cả những luận điệu xuyên tạc này nhằm thực hiện mưu đồ chính trị đen tối hòng thay đổi thể chế chính trị, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Ðảng cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ XHCN mà Việt Nam đang xây dựng, hướng lái Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Trước hết, cần hiểu rõ, Việt Nam lựa chọn xây dựng nhà nước pháp quyền là lựa chọn đúng đắn giúp bảo đảm và nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành xã hội của Nhà nước, cũng như thực hiện tốt các quyền, lợi ích, bảo đảm công bằng, bình đẳng, dân chủ cho mọi tầng lớp nhân dân.
Tuy nhiên, nhà nước pháp quyền mà Việt Nam lựa chọn xây dựng không phải là nhà nước pháp quyền tư sản mà là nhà nước pháp quyền XHCN. Ðó là nhà nước khác biệt hoàn toàn về bản chất so với nhà nước pháp quyền tư sản ở các quốc gia tư bản chủ nghĩa hiện nay vì đó là “Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”, “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”.
Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam do nhân dân bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, “phục vụ lợi ích của nhân dân”. Nhà nước “lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân là trung tâm”, “lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”.
Nhà nước “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân”, tạo điều kiện để nhân dân tham gia đóng góp ý kiến, quyết định những vấn đề lớn của đất nước trên tinh thần “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát”. Nhà nước luôn cố gắng nỗ lực “không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”, để mọi người dân đều có cơ hội được cống hiến và thụ hưởng những thành quả phát triển kinh tế-xã hội.
Nhà nước chú trọng “thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam”, “trợ giúp cho các nhóm đối tượng yếu thế” để không ai bị bỏ lại sau trong tiến trình phát triển đất nước...
Bản chất dân chủ ưu việt của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Ðảng không chỉ được ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật; thông qua những nỗ lực không ngừng của Nhà nước khi điều hành, quản lý đất nước, mà còn được minh chứng bằng những thành quả phát triển tốt đẹp mà đất nước đã đạt được.
Cụ thể, nền kinh tế Việt Nam đã đạt những thành tựu bứt phá ngoạn mục, rất đáng tự hào. Từ một nước kém phát triển, nghèo nàn, lạc hậu, bị bao vây cấm vận, đời sống nhân dân thiếu thốn mọi mặt, đến nay, quy mô nền kinh tế Việt Nam năm 2023 đạt 430 tỷ USD (tăng gấp 96 lần so với năm 1986).
Việt Nam đã được xếp hạng thuộc nhóm 40 nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới với mức tăng trưởng kinh tế đều trong nhiều năm và đạt mức tăng trưởng cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Ðời sống của các tầng lớp nhân dân được cải thiện rõ rệt với GDP bình quân đầu người lên mức khoảng 4.300 USD năm 2023 (tăng 58 lần so với những năm đầu đổi mới).
Tiềm lực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học-công nghệ, quốc phòng, an ninh… của đất nước không ngừng được nâng cao. Việt Nam đã tích lũy được “thế và lực” và sẵn sàng cho sự phát triển “bứt phá và cất cánh” của đất nước trong kỷ nguyên mới-kỷ nguyên vươn mình của dân tộc để hoàn thành mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu”.
Với bản chất dân chủ ưu việt, nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam luôn chú trọng chăm lo, bảo đảm đời sống mọi mặt của nhân dân, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, nỗ lực không ngừng để đem lại cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.
Nhờ đó, Việt Nam đã trở thành một trong số ít các quốc gia được đánh giá là điểm sáng của thế giới vì đã hoàn thành sớm các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ như: Giảm nghèo, thực hiện tốt chăm sóc y tế, giáo dục, bình đẳng giới,... Ngay cả trong những giai đoạn khủng hoảng kinh tế, thiên tai, dịch bệnh kéo dài, nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam vẫn luôn đồng hành, kề vai sát cánh cùng nhân dân.
Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế đánh giá cao vì những nỗ lực huy động mọi nguồn lực để chăm lo, bảo vệ các quyền và lợi ích của người dân, bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người dân, kịp thời cung ứng lương thực, thực phẩm, khám, chữa bệnh miễn phí cho nhân dân,...
Trong khi đó, nhà nước pháp quyền tư sản dù luôn được quảng bá, tuyên truyền là nhà nước dân chủ, tiến bộ nhất, tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu nhận định, nhà nước tư sản chỉ tạo cơ hội cho 1% những ông chủ tư bản làm giàu, thu lợi trên mồ hôi và những tấm lưng còng của những người lao động.
Nhà nước đó, suy cho cùng, vẫn chỉ là công cụ quyền lực của giai cấp tư sản, bảo vệ và phục vụ lợi ích cho giai cấp tư sản. Ở nhiều nước tư bản chủ nghĩa, tình trạng mất công bằng trong tiếp cận và thụ hưởng thành quả phát triển xã hội cũng như các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm y tế; sự phân biệt đối xử thiếu công bằng với phụ nữ, người nghèo, người da màu,... không phải là hiếm thấy.
Ðể thực hiện bản chất dân chủ ưu việt của mình, nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam nhiều năm qua đã không ngừng đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm pháp luật là công cụ chủ yếu, hiệu quả để Nhà nước quản lý, điều hành xã hội, đồng thời là công cụ để nhân dân làm chủ, kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước; bảo đảm, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân.
Nhà nước kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, coi thường pháp luật, hoặc sử dụng pháp luật để xâm phạm các quyền dân chủ và lợi ích chính đáng của nhân dân. Song song đó, Ðảng ta cũng chú trọng tăng cường sự lãnh đạo đối với Nhà nước để bảo đảm bản chất dân chủ của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
Bởi lẽ, Ðảng ta là Ðảng của nhân dân, ra đời từ nhân dân, gắn bó mật thiết với quyền và lợi ích của nhân dân. Mọi sự chỉ đạo, lãnh đạo của Ðảng đối với Nhà nước đều vì yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân để xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Thực tế cho thấy, với sự lãnh đạo đúng đắn, tài tình của Ðảng ta, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam ngày càng được hoàn thiện và hoạt động ngày càng hiệu quả, đáp ứng ngày càng tốt quyền dân chủ của nhân dân. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam không thực hiện tam quyền phân lập là do mọi quyền lực của Nhà nước đều là của nhân dân, tập trung ở nhân dân nên không thể phân chia, tách rời.
Tuy nhiên, để bảo đảm hiệu quả hoạt động của Nhà nước nhằm bảo vệ và thực hiện tốt nhất các quyền dân chủ của nhân dân, giữa 3 quyền: Lập pháp, hành pháp, tư pháp vẫn có sự phân công, phối hợp, và tăng cường kiểm soát một cách hiệu quả. Như vậy, nhà nước mà Việt Nam đang xây dựng và hoàn thiện có đầy đủ các đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền, hơn thế còn mang những đặc trưng ưu việt khác biệt để bảo đảm đó là nhà nước pháp quyền XHCN dân chủ, tiến bộ, văn minh, thật sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân./.
Có thể là đồ họa về văn bản
Tất cả cảm xúc:
1

GIỮ TRỌN NIỀM TIN CỦA NHÂN DÂN VÀO ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 GIỮ TRỌN NIỀM TIN CỦA NHÂN DÂN VÀO ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Nhìn lại chặng đường lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam trong 95 năm qua, Đảng ta luôn được nhân dân tin yêu, đùm bọc, giúp đỡ, thừa nhận là Đảng của chính mình, trìu mến gọi bằng hai chữ thân thương “Đảng ta”. Với vị trí, vai trò to lớn của Đảng và những thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo, không một thế lực thù địch nào có thể xuyên tạc, phủ nhận được niềm tin vững chắc của nhân dân với Đảng trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta.
🇻🇳 1. Niềm tin chính trị của nhân dân là sự tin tưởng, kỳ vọng vào đảng phái chính trị nhất định, cụ thể là vào chủ trương, đường lối của đảng chính trị, truyền thống và những giá trị của đảng chính trị cũng như uy tín lãnh tụ của đảng. Niềm tin đó từ phía quần chúng nhân dân được hình thành qua đời sống chính trị của đất nước, qua hoạt động thực tiễn của chính đảng trong nỗ lực để bảo đảm rằng niềm tin đó sẽ được đền đáp.
👉 Niềm tin chính trị của nhân dân gồm những yếu tố cơ bản sau đây.
Trước hết, đó là sự hiểu biết về chính trị của quần chúng nhân dân ngày càng tăng lên. Đây là điều kiện cần. Điều này chính là sự giải thích cho quyết định của quần chúng nhân dân rằng, nên đi theo đảng chính trị nào và chủ trương, đường lối của đảng đó có lợi hay không có lợi cho mình.
Thứ hai, những kinh nghiệm chính trị của nhân dân trong thực tiễn cách mạng ngày càng trở nên phong phú. Đây là điều kiện đủ. Khi sự hiểu biết về chính trị của quần chúng nhân dân là điều kiện cần của niềm tin chính trị, thì kinh nghiệm chính trị của họ chính là điều kiện đủ, quyết định họ sẽ kiên định đi theo sự lãnh đạo của đảng; đồng thời thể hiện đảng đã thành công trong việc cuốn hút họ theo đường lối của mình. Những trải nghiệm chính trị, những bài học kinh nghiệm xương máu được quần chúng nhân dân đúc rút từ thực tiễn cách mạng dưới sự lãnh đạo của đảng khiến cho nhận thức chính trị của họ càng thêm sâu sắc, từ đó niềm tin chính trị vào đảng càng thêm sâu nặng.
Thứ ba, thực tiễn lãnh đạo chính trị thuyết phục của đảng cộng sản. Đây là điều kiện quyết định, thể hiện năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đảng, thông qua tính đúng đắn của các chủ trương, đường lối lãnh đạo cách mạng của đảng đem lại những thành công nhất định trên các lĩnh vực, qua đó thu hút càng nhiều quần chúng nhân dân đi theo đảng. Bên cạnh đó, những hy sinh, phấn đấu vì độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân của đội ngũ đảng viên và lãnh tụ của đảng; sự hòa quyện bởi nhân cách cá nhân người đảng viên với uy tín chính trị của đảng đã thực sự thuyết phục và củng cố niềm tin chính trị của nhân dân với đảng. Điều này rất quan trọng từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, thể hiện qua sự đúc kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong câu nói: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Chính những hy sinh, phấn đấu của đội ngũ đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam đã góp phần quan trọng nâng cao uy tín chính trị của Đảng ta trong nhân dân.
Thứ tư, sự tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân vào sự nghiệp cách mạng. Đây là điều kiện bảo đảm cho tính bền vững của niềm tin chính trị của nhân dân. Niềm tin chính trị của nhân dân được hình thành bởi quá trình hoạt động có chủ đích của Đảng Cộng sản Việt Nam, đó là vì hạnh phúc của nhân dân; đồng thời, nhân dân cũng tích cực tham gia vào quá trình đó để theo đuổi lý tưởng của mình, hiện thực hóa lý tưởng đó, nên chính nhân dân đã góp phần xây dựng niềm tin chính trị của mình.
🇻🇳 2. Thực tiễn cho thấy, niềm tin của nhân dân với Đảng được hình thành, củng cố ngày càng vững chắc hơn gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển của Đảng suốt chặng đường 95 năm qua. Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam giành được nhiều thắng lợi to lớn. Ngay sau khi ra đời ngày 3-2-1930, Đảng đã lãnh đạo phong trào cách mạng Xô viết Nghệ Tĩnh; tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, lập nên nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á; lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mà đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, tạo điều kiện cơ bản để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước Việt Nam. Cùng với những thành tựu của sự nghiệp gần 40 năm đổi mới mà toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đạt được là hết sức to lớn, có ý nghĩa lịch sử, để đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.
Với vai trò to lớn của mình, Đảng ta đã tạo được niềm tin yêu sâu sắc trong lòng nhân dân. Tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã một lòng đi theo Đảng; biến những nhận thức, niềm tin thành hành động cách mạng, thành ý chí quyết tâm; phát huy cao độ tinh thần và lực lượng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó, để đáp ứng yêu cầu từ thực tiễn hiện nay đòi hỏi Đảng phải không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn để thật sự xứng đáng với niềm tin của nhân dân và dân tộc.
Thực tiễn 95 năm qua của cách mạng Việt Nam cho thấy, Đảng ta luôn quán triệt sâu sắc Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đó là nhiệm vụ then chốt, thường xuyên, liên tục, xuyên suốt các thời kỳ cách mạng, quyết định đến sức mạnh, uy tín của Đảng. Từ khi bước vào công cuộc đổi mới, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, như: Hội nghị Trung ương 3 khóa VII năm 1992, về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng; Hội nghị Trung ương 6 lần 2 khóa VIII năm 1999, về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Đại hội XII của Đảng (năm 2016) nhấn mạnh: “Tập trung thực hiện mục tiêu xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức”. Xây dựng Đảng về đạo đức luôn gắn liền và nằm trong xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, nhưng nay được định danh, được đặt ngang hàng với các mặt công tác xây dựng Đảng khác, đã thể hiện ý chí của Đảng là đề cao, coi trọng yếu tố đạo đức trong xây dựng Đảng. Đây là một trong những điểm mới, rất căn bản và trọng yếu trong việc mở rộng nội dung xây dựng Đảng.
🇻🇳 3. Chúng ta thừa nhận thực tế về hiện tượng một bộ phận cán bộ, đảng viên sa sút phẩm chất, thoái hóa, chưa được ngăn chặn triệt để. Một số cán bộ lãnh đạo chẳng những không gương mẫu mà còn nêu gương xấu trước quần chúng. Một số người vô tổ chức, vô kỷ luật, kéo bè kéo cánh, nịnh bợ cấp trên, chèn ép quần chúng và cấp dưới, cơ hội, thực dụng, gây mất đoàn kết nội bộ. Một số cán bộ đã lợi dụng chức quyền để tham ô, trục lợi, ăn cắp của công, ăn hối lộ, thông đồng với kẻ xấu để làm giàu bất chính. Điều nghiêm trọng là có không ít cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ cao cấp, bị những ham muốn vật chất cám dỗ cũng chạy theo tiền tài, địa vị, sống ích kỷ, buông thả, tự do chủ nghĩa, không còn tư cách đảng viên.
Nhìn thẳng vào sự thật đó, Đảng ta đã tiến hành nhiều cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, khắc phục những hiện tượng hư hỏng trong bộ máy nhà nước, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Đảng yêu cầu phải làm tốt việc giáo dục, nâng cao phẩm chất cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, coi đây là một nội dung trọng yếu của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Việc xử lý cán bộ sai phạm đang diễn ra quyết liệt và có sức lan tỏa vô cùng mạnh mẽ, được đông đảo quần chúng nhân dân đồng tình ủng hộ, đánh giá cao. Những nỗ lực của Đảng, Nhà nước trong xử lý cán bộ sai phạm do tham nhũng, tiêu cực được thể hiện rõ cả trong quan điểm chỉ đạo và thực tiễn triển khai.
Về quan điểm chỉ đạo, có thể thấy rõ từ khi đổi mới đến nay, nhiệm kỳ nào Trung ương Đảng cũng có những nghị quyết chuyên đề liên quan đến công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Về thực tiễn triển khai, việc xử lý cán bộ sai phạm ở nước ta hiện được thực hiện theo đúng phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Bằng chứng là, thời gian qua, nhiều vụ án nghiêm trọng đã được đưa ra xét xử kịp thời, đúng người, đúng tội. Điều đó cho thấy rõ quyết tâm rất lớn cũng như năng lực, bản lĩnh của Đảng, Nhà nước ta trong việc phát hiện, xử lý những sai phạm của cán bộ, đảng viên, kể cả những người đã và đang giữ chức vụ quan trọng trong hệ thống chính trị.
Theo báo cáo của cơ quan chức năng, chỉ tính năm 2024, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 709 tổ chức đảng và 24.097 đảng viên vi phạm; Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 68 cán bộ diện Trung ương quản lý; trong đó, lần đầu tiên Bộ Chính trị đã thi hành kỷ luật 2 nguyên lãnh đạo chủ chốt.
Có thể khẳng định rằng, việc xử lý quyết liệt các vụ án tham nhũng không chỉ ngăn chặn tình trạng thất thoát nguồn tài sản lớn của Nhà nước mà quan trọng hơn cả là góp phần củng cố niềm tin của nhân dân, tạo thêm xung lực mới để cổ vũ, động viên, khích lệ nhân dân tiếp tục đóng góp cho sự phát triển đất nước. Đây chính là thực tiễn lãnh đạo chính trị thuyết phục của Đảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, khẳng định tính đúng đắn của các chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng, qua đó làm nhân dân thêm tin tưởng, đi theo Đảng.
Nhìn lại chặng đường lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam trong 95 năm qua, Đảng ta luôn được nhân dân tin yêu, đùm bọc, giúp đỡ, thừa nhận là Đảng của chính mình, trìu mến gọi bằng hai chữ thân thương “Đảng ta”. Đây là niềm vinh dự, tự hào lớn của Đảng mà không phải đảng chính trị nào trên thế giới cũng có được. Cũng chính điều đó đã tạo nên sức mạnh để Đảng ta không ngừng lớn mạnh, trưởng thành và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc giành những thắng lợi to lớn. Với vị trí, vai trò to lớn của Đảng và những thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo, không một thế lực thù địch nào có thể xuyên tạc, phủ nhận được niềm tin vững chắc của nhân dân với Đảng trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta./.
(Nguồn: Báo QĐND)
Có thể là hình ảnh về cái bục và văn bản
Tất cả cảm xúc:
4

ĐỂ VIỆT NAM VƯƠN MÌNH TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

 Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từng bước trở thành các yếu tố quan trọng mang tính quyết định đối với sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước, đóng góp thiết thực, toàn diện trên mọi lĩnh vực, như y tế, nông nghiệp, công nghiệp, công nghệ thông tin, quốc phòng - an ninh... Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đặc biệt là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công tác phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là nhiệm vụ tiên quyết, tạo nền tảng, thời cơ tốt nhất để xây dựng đất nước phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng ta luôn xác định, “cùng với giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội”(15). Do đó, nhiều chủ trương, cơ chế, chính sách được ban hành nhằm thúc đẩy phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, nhiệm vụ phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của nước ta chưa đạt được kết quả kỳ vọng, nhận thức về vị trí, vai trò của khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được nâng lên nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu trở thành nền tảng, quốc sách, động lực cho phát triển kinh tế - xã hội; tốc độ phát triển của nước ta còn chậm, còn khoảng cách so với nhóm các nước phát triển; nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo chưa có đột phá, chưa làm chủ được công nghệ chiến lược, công nghệ cốt lõi; thể chế pháp luật, cơ chế, chính sách chưa đáp ứng yêu cầu, nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu…

Năm 2024, ngành khoa học và công nghệ tiếp tục tập trung vào công tác hoàn thiện môi trường thể chế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ. Khoa học và công nghệ tiếp tục có đóng góp thiết thực vào sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, cải thiện an sinh xã hội và chất lượng cuộc sống nhân dân; tiềm lực khoa học và công nghệ quốc gia được tăng cường. Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo Việt Nam tiếp tục phát triển năng động, tạo ra một thế hệ doanh nghiệp mới kinh doanh dựa trên tài sản trí tuệ và đủ năng lực tiếp cận thị trường toàn cầu.

Với vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của khoa học - công nghệ trong sự phát triển của quốc gia, để có thể vươn mình, nước ta bắt buộc phải tiến hành cuộc cách mạng, đổi mới tư duy, tháo gỡ điểm nghẽn, kiến tạo để thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trên tinh thần đó, ngày 22-12-2024, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”.

Với 5 quan điểm, 5 nhóm mục tiêu cụ thể đến 2030 và 7 nhóm giải pháp, Nghị quyết số 57-NQ/TW thể hiện tầm nhìn, chiến lược phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia thành động lực hiện thực hoá khát vọng vươn mình của dân tộc: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.

Nghị quyết số 57-NQ/TW thể hiện quyết tâm của Ban Chấp hành Trung ương, của Bộ Chính trị và cả hệ thống chính trị. Việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, do đồng chí Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng làm Trưởng Ban là sự cam kết, sự quyết tâm lớn nhất, mạnh mẽ nhất. Trong đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định “Tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sự tham gia tích cực của doanh nhân, doanh nghiệp và nhân dân đối với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Xác định đây là cuộc cách mạng sâu sắc, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực; được triển khai quyết liệt, kiên trì, đồng bộ, nhất quán, lâu dài với những giải pháp đột phá, mang tính cách mạng”(18). Mặt khác, thống nhất tinh thần chuyển đổi tư duy từ quản lý khoa học và công nghệ sang quản trị khoa học và công nghệ. Quan điểm này đã giải quyết rất nhiều hạn chế lâu nay trong việc phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Bên cạnh đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW đã góp phần giải quyết những vấn đề then chốt, yêu cầu cấp bách của đội ngũ trí thức, nhà khoa học, đặc biệt là các nhà khoa học trẻ, doanh nghiệp và nhân dân.

Trong bối cảnh mới, nước ta cần vận dụng sáng tạo, cho phép thí điểm đối với vấn đề thực tiễn mới đặt ra. Bởi, thực tiễn luôn biến đổi không ngừng, luôn đặt ra vấn đề mới. Đổi mới sáng tạo, khoa học - công nghệ góp phần giải quyết vấn đề mới đó, và đôi khi, dẫn dắt vấn đề mới phát sinh. ChatGPT, Gemini,... là các ví dụ điển hình của khoa học - công nghệ dẫn đắt vấn đề mới phát sinh của thực tiễn.

Trên thực tế, quản lý nhà nước luôn mang tính kế thừa và chịu sự tác động của các yếu tố xã hội, như văn hóa, lịch sử, truyền thống, tập quán, thói quen…, theo đó, thường không theo kịp vấn đề thực tiễn mới đặt ra. Do đó, cần vận dụng sáng tạo, cho phép thí điểm để giải quyết vấn đề mới phát sinh sẽ giúp tăng cường quản trị đất nước, nhưng quan trọng hơn đó là sẽ tạo nền tảng, hành lang pháp lý để khuyến khích, thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Bên cạnh đó, nước ta cần có cơ chế đầu tư kinh phí phù hợp, chấp nhận “độ trễ” trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo. Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi nhất, nhân dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể, nguồn lực, động lực chính. Thực tiễn trên thế giới cho thấy, sáng tạo, đột phá thường đến từ xã hội và chỉ một phần đến từ đầu tư của nhà nước. Nhà nước chỉ khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi, để nghiên cứu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của kết quả nghiên cứu đó. Việc khơi thông nguồn lực xã hội trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, tạo thành phong trào trong toàn xã hội sẽ là yếu tố quyết định thành công cho cuộc cách mạng này.

Với những kết quả đạt được sau gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, với khát vọng sánh vai với các cường quốc năm châu, Việt Nam chúng ta đang trên đường băng của kỷ nguyên vươn mình. Để thực sự cất cánh, nước ta phải thực hiện thành công cuộc cách mạng phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt của toàn Đảng, Nhà nước, sự chỉ đạo mạnh mẽ của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm - Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số - trong thời gian tới, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia sẽ có bước tiến mạnh mẽ, phát triển nhảy vọt, trở thành động lực chính để đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam./.

 

TĂNG CƯỜNG Ý THỨC CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT VÀ BẢO VỆ SỰ THẬT TRƯỚC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ NGHỊ ĐỊNH 168

 Nghị định 168 được ban hành với mục tiêu nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về giao thông của người dân, góp phần xây dựng một xã hội an toàn và giảm thiểu tai nạn giao thông. Đây là một bước tiến quan trọng trong việc thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước nhằm đảm bảo an toàn cho người dân và xây dựng trật tự xã hội. Tuy nhiên, thời gian gần đây, một số tổ chức và cá nhân trên mạng xã hội đã cố tình bóp méo sự thật, lan truyền thông tin sai lệch về Nghị định 168. Những hành động này không chỉ làm sai lệch bản chất của chính sách mà còn gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng tiêu cực đến sự đoàn kết và niềm tin của nhân dân vào chính quyền.

Chúng ta cần tiếp tục:

1. *Tăng cường tuyên truyền chính sách*: Các cơ quan chức năng, báo chí và truyền thông cần phối hợp chặt chẽ để giải thích rõ ràng, chi tiết những điểm quan trọng của Nghị định 168, giúp người dân hiểu đúng và thực hiện nghiêm túc.

2. *Xử lý nghiêm các hành vi xuyên tạc*: Những đối tượng cố tình bóp méo sự thật, lan truyền thông tin sai lệch cần bị xử lý theo pháp luật để răn đe và bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng.

3. *Nâng cao ý thức cộng đồng*: Mỗi người dân cần tỉnh táo trước thông tin trên mạng xã hội, không chia sẻ hoặc lan truyền những nội dung chưa được kiểm chứng, góp phần xây dựng một môi trường thông tin lành mạnh. Đảng và Nhà nước luôn đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu. Vì vậy, việc bảo vệ sự thật, đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc chính là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Hãy cùng nhau hành động vì một Việt Nam phát triển, an toàn và văn minh.

 

SỨC MẠNH TRƯỜNG TỒN CỦA ĐẢNG LÀ NIỀM TIN CỦA NHÂN DÂN

 Niềm tin của nhân dân đối với Đảng là niềm tin khoa học, được thực tiễn thử thách, rèn đúc mà nên. Đảng ta xác định niềm tin của nhân dân đối với Đảng là tài sản vô giá, là nhân tố làm nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Điểm tựa của niềm tin

Lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam cho thấy, khi nào “vua sáng, tôi hiền”, trên dưới “hòa mục”; vua quan tâm đến dân, lấy dân làm gốc, thực thi chính sách “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc”… thì khi ấy vương triều được dân tin, nước nhà vững mạnh. Khi lòng dân đã tin theo thì “xã tắc yên như núi Thái Sơn, cơ đồ vững như bàn thạch”. Trái lại, khi nào triều chính nhiễu nhương, gian thần lộng hành, ăn chơi sa đọa, tham lam vơ vét, coi thường dân chúng... Nghĩa là khi “chính sự phiền hà”, “để trong nước lòng dân oán hận” thì khi đó vương triều đã không được lòng dân, đánh mất niềm tin nơi dân và tất yếu vận nước lâm nguy.

Ví như, dù nhà Hồ có thành cao, hào sâu, quân đông đến trăm vạn mà “lòng dân không theo”, nên không chỉ đại bại trước quân Minh xâm lược, mà cơ nghiệp cũng mất, xã tắc cũng chẳng còn như lời của Tả tướng Hồ Nguyên Trừng đã chỉ ra. Thấm thía bài học thất bại của nhà Hồ, Nguyễn Trãi không chỉ lấy đó làm răn cho sự nghiệp gây dựng, mở mang nhà Hậu Lê, mà còn đúc kết thành bài học sâu sắc: “Lật thuyền mới biết sức dân như nước”.

Khắc ghi những lời dặn của cha ông và thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, ngay từ khi ra đời, Đảng ta đã lấy mục tiêu vì dân, vì nước mà chiến đấu hy sinh. Do vậy, Đảng đã khẳng định được uy tín, niềm tin trong nhân dân, xứng đáng với truyền thống con cháu Rồng - Tiên; đã trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng và được nhân dân thừa nhận.

95 năm sự nghiệp cách mạng Việt Nam đã chứng minh một chân lý, Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền không phải tự nhiên mà có, không phải tự nhận mà được, càng không phải được do tranh cử như các đảng cầm quyền ở nhiều nước mà nên. Sự cầm quyền, lãnh đạo của Đảng ta là do có đường lối chính trị đúng đắn, bản lĩnh chính trị kiên cường; là kết quả của cả quá trình Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên đã nêu gương chiến đấu hy sinh, nếm mật nằm gai để chứng tỏ được uy tín, niềm tin của mình đối với nhân dân và được nhân dân thừa nhận.

Thực tiễn những thành quả mà Đảng đem lại, được người dân thấu hiểu chỉ có Đảng lãnh đạo, đất nước ta mới giành được độc lập dân tộc, dân ta mới thật sự được tự do, mới có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Gần 40 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng ta, đã tạo nên dấu ấn, một niềm tin mãnh liệt trong nhân dân. Đó là niềm tin khoa học và cách mạng của nhân dân vào sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đạt được những thành tựu rực rỡ, đưa đất nước ta vững bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Không mơ hồ, khoan nhượng với “thứ giặc” làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng

Một bài học đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết, đó là: “Càng gần thắng lợi thì càng gặp nhiều khó khăn”. Soi chiếu bài học đó vào công cuộc đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới hiện nay cũng vậy. Khi đất nước càng đạt được những kỳ tích trong sự nghiệp đổi mới, Việt Nam phát triển và lớn mạnh không ngừng, được cả thế giới ngưỡng mộ… thì cả giặc “nội xâm” và “ngoại xâm” dưới những biểu hiện mới lại xuất hiện với tính chất gay go, phức tạp và nguy hiểm hơn. Nếu bản lĩnh không vững vàng, nhận thức không đúng đắn sẽ dẫn đến mất niềm tin và bị kẻ địch lợi dụng thì sự nghiệp cách mạng của Đảng, thành quả của nhân dân, cơ đồ của đất nước và chế độ sẽ trở nên nguy cấp.

Đó là tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực lại nảy sinh từ một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống. Họ không giữ mình được trong sạch trước những “viên đạn bọc đường”, nên đã sa vào chủ nghĩa cá nhân. Hệ quả đề cao lợi ích cá nhân nên đã không chỉ gây nên những thiệt hại kinh tế, xã hội, mà còn là nguyên nhân của sự giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Điều lo lắng hơn hết là những thông tin, vụ việc nổi cộm khó tránh khỏi những bàn tán, dư luận nhiều chiều, gây tác động không nhỏ đến tư tưởng, tình cảm, niềm tin của nhân dân đối với cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, nhất là đối với công tác chuẩn bị nhân sự cho Đại hội XIV của Đảng. Và nguy hại hơn là những vụ việc này luôn bị các thế lực thù địch, cơ hội chính trị “chộp lấy”, “té nước theo mưa” để thổi phồng, xuyên tạc, bôi nhọ sự lãnh đạo của Đảng, hòng mục đích gây xói mòn niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ. Đây thực sự là những cơn “sóng dữ”, liên tiếp tác động vào niềm tin của nhân dân.

Nếu mỗi người dân thiếu tỉnh táo, không nhận rõ các “thứ giặc” cố tình chia rẽ Đảng với nhân dân, không “vững tay chèo” vượt qua “thác ghềnh” thì niềm tin sẽ bị giảm sút, nguy hiểm hơn là “mất niềm tin”. Nếu vậy, thì những mục tiêu mà Đảng, Nhà nước, nhân dân ta đề ra sẽ không thể đạt được và đó sẽ là cơ sở để các thế lực thù địch lợi dụng triệt để chống phá, mà bài học xương máu về sự thiếu tỉnh táo, bình tĩnh trong xử lý của nhân dân đã gây nên sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vẫn còn nguyên giá trị với mỗi người dân và cả dân tộc ta hiện nay.

Quyết tâm giữ vững niềm tin của nhân dân với Đảng

Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó dự báo; trong nước, bên cạnh những thành tựu đạt được của công cuộc đổi mới, Đảng, nhân dân ta đang đứng trước nguy cơ lớn là tình trạng quan liêu, xa rời nhân dân; một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, tham nhũng, tiêu cực gây bất bình trong xã hội, làm xói mòn lòng tin của nhân dân với Đảng; các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề này tìm đủ mọi chiêu trò phá hoại, công kích hòng gây chia rẽ, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng.

Giải pháp quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa sống còn đối với công tác xây dựng Đảng và củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng là phải tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; Đảng xứng đáng là người lãnh đạo, đại biểu trung thành cho lợi ích của toàn thể dân tộc.

Thực tiễn cho thấy, việc xây dựng chỉnh đốn Đảng, chỉnh huấn Đảng là nhiệm vụ then chốt, trọng yếu thường xuyên qua từng thời kỳ cách mạng với những mục tiêu, nhiệm vụ, phương pháp thực hiện khác nhau. Đảng ta nhận thức rất rõ vai trò quan trọng, to lớn của nhân dân, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong toàn hệ thống chính trị, ở mọi cấp, ngành, địa phương, đơn vị để tổ chức triển khai thực hiện trong thực tế.

Sắp xếp tổ chức bộ máy, nhất là đối với các cơ quan Trung ương tinh, gọn, mạnh, hiệu quả với phương châm “Trung ương làm gương - Địa phương hưởng ứng”; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; phát huy vai trò của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân. Mỗi cán bộ, đảng viên là một tấm gương nói đi đôi với làm, thân dân và trọng dân. Người cán bộ, đảng viên thật sự xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ của nhân dân. Gần dân là để học dân, nghe dân nói, đó là phương châm của người cán bộ, đảng viên. Gần dân sẽ tránh được căn bệnh quan liêu, hách dịch, mệnh lệnh, lắng nghe tâm tư, ý kiến của dân. Từ đó xây dựng tinh thần đoàn kết, đồng thuận để mọi người dân chung sức, đồng lòng thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước với kết quả cao nhất…

Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Cơ chế đó phải quy định trách nhiệm cụ thể của tổ chức Đảng các cấp, của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, chủ trì, chủ chốt cơ quan, đơn vị, địa phương trong việc dựa vào dân để xây dựng Đảng. Tổ chức cho nhân dân tham gia đóng góp ý kiến xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng và của địa phương, thực hiện tốt phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân thụ hưởng”. Mỗi người dân là một chiến sĩ, xung kích, đấu tranh với các tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch là cách thể hiện niềm tin của mình với Đảng, với tương lai của mình và tiền đồ tươi sáng của dân tộc.

Vấn đề quan trọng là, phải làm cho mỗi cán bộ, đảng viên hiểu rõ tham nhũng, tiêu cực là căn bệnh nguy hiểm, là “giặc nội xâm”, gây bất bình, mất niềm tin trong nhân dân, đe dọa đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Do đó, cần kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, với quyết tâm chính trị cao nhất, mạnh mẽ, quyết liệt, triệt để và hiệu quả hơn nữa. Kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh các hành vi bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần cảnh giác hơn nữa, tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; chủ động đấu tranh phòng ngừa, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”...

Lịch sử dân tộc đã chứng minh, những lúc vận mệnh dân tộc “ngàn cân treo sợi tóc”, cảnh đất nước bị chia cắt, kẻ thù hung bạo bủa vây bốn phía hay trong lúc sự nghiệp đổi mới vừa mới đơm hoa, kết trái thì chủ nghĩa xã hội ở các nước trên thế giới và ở nước ta bị uy hiếp nghiêm trọng… mà dân ta vẫn một lòng sắt son với Đảng, đồng lòng hướng theo ngọn cờ “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” và chủ nghĩa xã hội. Vậy nên, khi cơ đồ, thế và lực của nước ta ngày nay đã lớn mạnh hơn gấp nhiều lần thì tất yếu niềm tin vào Đảng không thể bị chuyển lay.

 

“TẾT QUANG TRUNG" Ở TRƯỜNG SƠN

 Gần như đã thành nếp, cánh lái xe Trường Sơn chúng tôi thường được đơn vị tổ chức cho ăn Tết sớm, nhanh gọn nhất có thể trước khi bước vào đợt tổng công kích mỗi mùa khô. Chính vì thế, chúng tôi vẫn tự hào nói với nhau rằng năm nào cũng được ăn "Tết Quang Trung" như thuở người anh hùng áo vải Quang Trung-Nguyễn Huệ tiến đánh đuổi quân Thanh ra khỏi bờ cõi

Tôi có hơn mười năm gắn bó trên tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với bao kỷ niệm vui buồn, sinh tử. Nhớ nhất là lần được đón Tết sớm để chuẩn bị bước vào mùa vận chuyển cao điểm phục vụ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 tại Tiểu đoàn 52, Binh trạm 32, Bộ tư lệnh 559.

Năm ấy, kết thúc tổng công kích đợt 1 vào ngày 28-12-1967, Binh trạm 32 chúng tôi dẫn đầu toàn tuyến, vận chuyển được trên một vạn tấn hàng vượt Đường 9 an toàn trong thời gian một tháng. Bộ tư lệnh đã tặng đơn vị danh hiệu "Binh trạm vạn tấn". Những điển hình mà đại đội, tiểu đoàn chọn xây dựng như: Kim Ngọc Quản, Nguyễn Xuân Lục, Hoàng Văn Bản của Tiểu đoàn 52 chúng tôi, Lê Quang Biện của Tiểu đoàn 102, Hà Văn Tơ của Tiểu đoàn 51, qua tổng công kích đợt đầu đều được tặng danh hiệu "Dũng sĩ lái xe vạn tấn" và Huân chương Chiến công. Riêng những tay lái của Tiểu đoàn 52 còn được Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên gọi với cái tên trìu mến "Đại bàng Trường Sơn".

Tôi nhớ, đêm 29-1-1968, Binh trạm phát động tổng công kích đợt 2. Sau này, chúng tôi mới biết, trên tổ chức tổng công kích liên tục nhằm phục vụ kế hoạch Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt trên toàn chiến trường miền Nam vào Tết Mậu Thân 1968. Nhưng khi đó, chúng tôi chỉ được quán triệt chủ trương của Bộ tư lệnh 559 là vừa đón Tết vừa ra quân thần tốc, quyết thắng lập thành tích mừng Xuân, mừng Đảng.

Lại thêm một cái Tết cổ truyền nữa chúng tôi ở lại với Trường Sơn bên vô lăng tay lái. Nhưng cái Tết này quả là đặc biệt. Tất cả bị cuốn vào không khí hối thúc khẩn trương và rạo rực vô cùng, như quên cả chuỗi dài ký ức và nỗi nhớ dung quê nhà, gia đình ở hậu phương.

Đêm giao thừa Tết Mậu Thân, có rất nhiều anh em vẫn rong ruổi cùng chiếc xe yêu quý trên những cung đường ra phía trước. Chúng tôi đón Tết đúng nghĩa "thần tốc" để kịp vận chuyển khối lượng lớn vật chất hậu cần và cả lực lượng chi viện cho các hướng chiến trường miền Nam.

Tất nhiên trước đó, để chuẩn bị cho việc đón Tết, trong thời gian củng cố sau tổng công kích đợt 1, Tiểu đoàn đã cho người về Quảng Bình, thậm chí cho xe ra Hà Nội mua sắm hàng Tết, từ thịt lợn, gạo nếp, lá dong, su hào, bắp cải, kẹo bánh, chè, thuốc lá... Sau đó, hậu cần tổ chức giết lợn, gói bánh, sắm cỗ "tất niên" khá chu đáo, rôm rả. Gần như thành nếp, lái xe Trường Sơn, thường được tổ chức ăn "Tết Quang Trung", tết "thần tốc". Do điều kiện chiến tranh, bữa cỗ tất niên diễn ra rất nhanh, không có đủ những món cổ truyền, nhưng vẫn có bánh chưng, giò, bắp cải, cà chua, kẹo, trà, thuốc lá… Thế cũng là đậm đà hương vị Tết rồi!

Chính Tết, chúng tôi vẫn thực hiện nhiệm vụ như bình thường, các đơn vị phân công lực lượng hoạt động mạnh hơn ngày thường. Bởi lúc này, đối phương cho rằng ta sẽ dành thời gian đón Tết cổ truyền theo phong tục nên lơi lỏng việc theo dõi, tiến công. Vì tiền tuyến, vì ngày chiến thắng, chúng tôi không từ nan. Được sự quan tâm của trên, anh em lái xe chạy đêm giao thừa còn được cấp hai điểu thuốc lá, hai viên kẹo chống ngủ nên ai nấy rất phấn khởi.

Đêm giao thừa năm đó, trước hàng quân và 39 xe của đại đội tôi, hàng hóa bốc xếp cẩn thận, đội hình nghiêm ngắn hùng dũng, khí thế bừng bừng. Thay mặt Ban chỉ huy đại đội, Chính trị viên Trần Quốc Vịnh phát biểu động viên anh em ra quân giành chiến thắng, thực hiện thắng lợi chỉ tiêu tổng công kích đợt 2 mà Bộ tư lệnh phát động. Tôi nhìn sang cánh rừng bên cạnh, đội hình xe Đại đội 5 cũng trong tư thể sẵn sàng chờ lệnh. Chứng kiến không khí ra quân của các đại dội, Chính trị viên tiểu đoàn Nguyễn Tiến Du và Trợ lý chính trị Nguyễn Văn Thủy-người Sơn Đông, Sơn Tây (nay thuộc Hà Nội), bạn đồng ngũ với tôi không nén nổi xúc động. Anh Du quả quyết, nếu cứ đà này, Binh trạm 32 chúng tôi không chỉ dừng ở vạn tấn mà còn có thể hơn thế nữa. "Chúng em cũng tin như vậy", tôi và các chiến sĩ cùng trả lời. Nói rồi mấy anh em ôm chặt nhau, bắt tay thật chặt thể hiện quyết tâm.

Với tác phong gọn gàng, nhanh nhẹn, anh Phạm Thành Vinh, anh Trần Quốc Vịnh nhảy lên xe trước. Cả đoàn xe nổ máy, rùng rùng chuyển động. Chuyến này, tôi và anh Liệu - Chính trị viên phó đại đội được phân công ở nhà tổ chức đón giao thừa cho số anh em trong đại đội còn lại và chuẩn bị sẵn sàng cứu kéo phòng khi lực lượng vận chuyển gặp sự cố.

Xong xuôi mọi việc, tôi cho tập trung anh em ở nhà tại hầm chỉ huy đại đội để đón giao thừa. Hầm có cấu trúc hình vuông ở giữa, hai đầu có hai hầm chữ A khá kiên cố, có thể hạn chế được sát thương nếu trúng rốc-két của địch.

Giao thừa đến, cả hầm lắng lại, nghe Bác Hồ đọc thơ chúc Tết:

"Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua

Thắng trận tin vui khắp nước nhà.

Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.

Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!"

Lời của Bác là lời đất nước, vượt muôn trùng đêm tối đến với chúng tôi giữa đại ngàn Trường Sơn. Tiếng thơ cũng là nỗi lòng của Bác, tình thương của Bác sưởi ấm trái tim chiến sĩ, động viên cổ vũ chúng tôi quyết giành thắng lợi, để thỏa lòng mong mỏi của Người.

Cũng thời khắc này, qua làn sóng của Đài tiếng nói Việt Nam, chúng tôi mới biết, thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị chuyển cách mạng miền Nam sang giai đoạn mới, giai đoạn giành thắng lợi quyết định. Quân và dân ta đã tiến hành Tổng tiến công và nổi dậy trên khắp miền Nam, đồng loạt tiến công vào Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng và hầu hết các thành phố, thị xã trên toàn Miền. Trong thời khắc này, từ sâu thẳm lòng mình, tôi cảm thấy xúc động tự hào: Bằng tổng công kích đợt 1 giành thắng lợi và bằng những "chiến mã Trường Sơn" mang nặng hàng đang vượt suối, băng đèo, băng băng tiến ra phía trước, chúng tôi góp một phần nhỏ bé của mình cho sự kiện Tết Mậu Thân 1968 ở miền Nam. Giữa rừng Trường Sơn hùng vĩ, trong những ngày Tết truyền thống, với niềm tin tưởng sâu sắc chúng tôi tổ chức cho bộ đội liên hoan văn nghệ và chờ tin thắng lợi của đơn vị!

 

ĐẢNG ĐÃ CHO TA NHỮNG MÙA XUÂN ĐẦY ƯỚC VỌNG

 Trong suốt chiều dài lịch sử, hình ảnh mùa Xuân không chỉ là sự chuyển mình của đất trời mà còn là biểu tượng của sự đổi mới, của những khát vọng to lớn được khơi lên. Và nếu lịch sử Việt Nam là một bản trường ca, thì Đảng Cộng sản Việt Nam chính là người nhạc trưởng đã dẫn dắt cả dân tộc vươn tới những mùa Xuân rạng ngời, đong đầy ước vọng.

Khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào mùa Xuân năm 1930, đất nước ta đang chìm trong bóng tối của ách đô hộ thực dân. Những phong trào yêu nước tuy sục sôi nhưng thiếu sự dẫn dắt thống nhất, khiến cho các cuộc khởi nghĩa dù anh dũng nhưng đều thất bại. Trong bối cảnh đó, sự xuất hiện của Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự sáng lập và lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thắp lên ánh sáng soi đường, dẫn dắt nhân dân ta đến bến bờ độc lập.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chính là minh chứng cho tài năng lãnh đạo và tầm nhìn chiến lược của Đảng. Từ một quốc gia thuộc địa, Việt Nam đã tự mình đứng lên, lật đổ chế độ thực dân phong kiến và tuyên bố độc lập. Thắng lợi này không chỉ là sự kiện trọng đại của dân tộc mà còn là nguồn cảm hứng cho các phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Ngày 2-9-1945, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, không chỉ là một thời khắc lịch sử mà còn là mùa Xuân rực rỡ của cả dân tộc.

Không dừng lại ở đó, Đảng tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta vượt qua những thử thách lớn lao của lịch sử. Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 là một dấu son chói lọi, khẳng định sức mạnh của một dân tộc nhỏ bé nhưng kiên cường. Và đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân năm 1975, kết thúc hơn 20 năm chiến tranh khốc liệt, thống nhất đất nước và đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới.

Nếu những năm tháng đấu tranh giành độc lập là mùa Xuân của tinh thần yêu nước và khát vọng tự do, thì công cuộc Đổi mới (bắt đầu từ năm 1986) là mùa Xuân của sự sáng tạo, đổi mới và hội nhập. Sau chiến tranh, đất nước phải đối mặt với vô vàn khó khăn, từ nền kinh tế kiệt quệ đến những thách thức trong việc xây dựng xã hội chủ nghĩa. Chính trong bối cảnh đó, Đảng đã đưa ra quyết sách lịch sử - khởi xướng công cuộc Đổi mới, mở ra một trang mới cho đất nước.

Đổi mới không chỉ đơn thuần là cải cách kinh tế mà còn là cuộc cách mạng toàn diện về tư duy và phương pháp lãnh đạo. Dưới ánh sáng của Đổi mới, Việt Nam từ một nước nghèo nàn, lạc hậu đã từng bước vươn lên trở thành một nền kinh tế đang phát triển. Những thành tựu về tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân và mở rộng quan hệ quốc tế là minh chứng rõ nét cho sự thành công của đường lối này.

Trong gần bốn thập kỷ qua, Đổi mới đã giúp Việt Nam đạt được những bước tiến dài trên mọi lĩnh vực. Đặc biệt, sự hội nhập quốc tế sâu rộng đã nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Đảng không chỉ dẫn dắt nhân dân vượt qua nghèo đói mà còn khơi dậy niềm tự hào dân tộc, niềm tin vào một tương lai tốt đẹp hơn.

Niềm tin của nhân dân vào Đảng không phải tự nhiên mà có. Đó là kết quả của cả một quá trình đấu tranh gian khổ, hy sinh và cống hiến. Đảng đã chứng minh vai trò lãnh đạo không chỉ trong những thời điểm lịch sử cam go mà còn trong việc xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Trong thời đại ngày nay, khi thế giới đối mặt với nhiều biến động khó lường, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng lại càng thể hiện rõ giá trị. Từ việc ứng phó với đại dịch Covid-19 đến những quyết sách kinh tế, xã hội quan trọng, Đảng luôn đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu. Những thành tựu mà Việt Nam đạt được không chỉ là kết quả của sự nỗ lực chung mà còn là minh chứng cho sự đúng đắn trong đường lối lãnh đạo của Đảng.

Đặc biệt, tinh thần đoàn kết và ý chí vươn lên của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng chính là ngọn lửa thắp sáng những mùa Xuân mới. Đó là mùa Xuân của niềm tin, của khát vọng đưa đất nước ngày càng phát triển, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Dưới ánh sáng của Đảng, dân tộc Việt Nam đã đi qua nhiều mùa Xuân lịch sử. Nhưng những mùa Xuân ấy không chỉ là đích đến mà còn là nền tảng để chúng ta vươn tới những tầm cao mới. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, Việt Nam đứng trước những cơ hội lớn nhưng cũng không ít thách thức.

Để hiện thực hóa khát vọng phát triển, Đảng đã đề ra những chiến lược dài hạn, từ việc nâng cao chất lượng giáo dục, phát triển khoa học - công nghệ đến xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Những mục tiêu như “không để ai bị bỏ lại phía sau” hay “phát triển bền vững”... chính là lời cam kết mạnh mẽ của Đảng đối với nhân dân.

Hơn bao giờ hết, mỗi người dân Việt Nam cần nhận thức rõ vai trò của mình trong việc đóng góp vào sự phát triển chung. Đảng đã trao cho chúng ta niềm tin và hy vọng, trách nhiệm của chúng ta là biến niềm tin ấy thành hành động cụ thể, để mùa Xuân hôm nay mãi mãi rạng ngời.

Đảng đã cho ta những mùa Xuân đầy ước vọng - mùa Xuân của độc lập, tự do, của đổi mới và phát triển. Mỗi mùa Xuân đi qua đều để lại những dấu ấn sâu sắc, là minh chứng cho sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Nhìn lại chặng đường đã qua, chúng ta không khỏi tự hào về những thành tựu vĩ đại mà Đảng và nhân dân đã đạt được. Hành trình phía trước còn dài, với nhiều cơ hội và thách thức đang chờ đón. Đảng đã cho ta những mùa Xuân đầy ước vọng, nhưng mùa Xuân ấy sẽ chỉ mãi tươi đẹp nếu chúng ta tiếp tục đoàn kết, nỗ lực và sáng tạo. Hãy cùng nhau biến mùa Xuân hôm nay thành bệ phóng cho những mùa Xuân rực rỡ hơn trong tương lai, để Việt Nam mãi mãi là một quốc gia độc lập, tự cường và phát triển bền vững./.

Thứ Sáu, 31 tháng 1, 2025

Đảng phải đổi mới để đưa dân tộc vào kỷ nguyên vươn mình

 

Yêu cầu lịch sử hàng đầu

Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định, trong 95 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng đã không ngừng phát triển, hoàn thiện phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền. Đây là yếu tố then chốt bảo đảm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua mọi thác ghềnh, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Tuy nhiên, Tổng Bí thư cũng khẳng định, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế. Ông nêu rõ, vẫn còn tình trạng ban hành nhiều văn bản, một số văn bản còn chung chung, dàn trải, trùng lắp, chậm bổ sung, sửa đổi, thay thế. Một số chủ trương, định hướng lớn của Đảng chưa được thể chế kịp thời, đầy đủ hoặc đã thể chế nhưng tính khả thi không cao.

Mô hình tổng thể của hệ thống chính trị chưa hoàn thiện; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của tổ chức, cá nhân, người đứng đầu có nội dung chưa rõ; phân cấp, phân quyền chưa mạnh.

Mô hình tổ chức của Đảng và hệ thống chính trị vẫn còn những bất cập, làm cho ranh giới giữa lãnh đạo và quản lý khó phân định, dễ dẫn đến bao biện, làm thay hoặc buông lỏng vai trò lãnh đạo của Đảng. Cải cách hành chính, đổi mới phong cách, lề lối làm việc trong Đảng còn chậm; hội họp vẫn nhiều.

Yêu cầu về đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng cũng đã được đặt ra tại Nghị quyết số 28 năm 2022 của Hội nghị T.Ư 6 khóa XIII, và trước đó là Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Song Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, yêu cầu này đang đặt ra cấp bách khi đất nước đang đứng trước thời điểm lịch sử: thời điểm đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, kỷ nguyên phồn vinh, hạnh phúc. Tổng Bí thư cũng xác định cải tiến phương thức lãnh đạo của Đảng là 1 trong 7 định hướng chiến lược đưa đất nước vào kỷ nguyên mới.

Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Kỷ nguyên được hiểu là một giai đoạn lịch sử được đánh dấu bởi những đặc điểm quan trọng hoặc sự kiện có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của xã hội - văn hóa - chính trị - tự nhiên. Kỷ nguyên vươn mình thể hiện sự chuyển động mạnh mẽ, tích cực, dựa trên các điều kiện chủ quan, khách quan thuận lợi để vượt qua thách thức, vượt qua chính mình, thực hiện khát vọng, vươn tới mục tiêu đặt ra. Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam chính là kỷ nguyên phát triển giàu mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng cao cho xã hội, đất nước.

Mục tiêu trước mắt trong kỷ nguyên mới là đến năm 2030, Việt Nam là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao; khơi dậy mạnh mẽ hào khí dân tộc, tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Thời điểm bắt đầu kỷ nguyên mới là Đại hội XIV của Đảng, mọi người dân Việt Nam đồng tâm hiệp lực, tranh thủ thời cơ, thuận lợi, đẩy lùi nguy cơ, thách thức, đưa đất nước phát triển toàn diện, mạnh mẽ, bứt phá và cất cánh.

Điều kiện để đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình có thể khái quát như sau: 1- Đó là những thành tựu đạt được sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, giúp nước ta tích lũy được thế và lực cho sự phát triển bứt phá trong giai đoạn tiếp theo. 2- Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; lợi ích quốc gia, dân tộc được bảo đảm. Quy mô nền kinh tế tăng gấp hàng chục lần so với năm bắt đầu đổi mới. Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 193 nước là thành viên Liên Hiệp Quốc; có các mối quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với tất cả các cường quốc trên thế giới và khu vực. 3- Tiềm lực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, quốc phòng, an ninh không ngừng nâng cao; tham gia đóng góp tích cực duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới. 4- Sự biến chuyển có tính thời đại của thế giới mang lại thời cơ, thuận lợi mới. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là trí tuệ nhân tạo và công nghệ số… đem đến cơ hội cho những quốc gia đang phát triển có thể nắm bắt để đi trước đón đầu để phát triển. Đây chính là thời điểm ý Đảng hòa quyện với lòng dân trong khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Đó chính là những điều kiện cần.

Bên cạnh đó là các điều kiện đủ cần phải có để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc tiếp sau kỷ nguyên độc lập, tự do, xây dựng chủ nghĩa xã hội và đổi mới.

Thứ nhất, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng. Thứ hai, xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, giải quyết điểm nghẽn lớn nhất là thể chế để mở đường cho phát triển. Thứ ba, tinh gọn bộ máy Đảng, các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội để tăng hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động. Thứ tư, đẩy mạnh phòng, chống lãng phí cũng như công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thực hành tiết kiệm. Thứ năm, đẩy mạnh chuyển đổi số để nắm bắt các cơ hội từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước văn minh, hiện đại, hội nhập sâu rộng quốc tế. Thứ sáu, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất đạo đức, năng lực, dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo, dám chịu trách nhiệm, đáp ứng tốt yêu cầu mới đặt ra. Thứ bảy, đẩy mạnh phát triển kinh tế, có năng suất lao động cao, hiệu quả lớn, chuyển đổi mô hình từ chiều rộng sang chiều sâu, tiếp tục coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng; coi trọng ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo là động lực chính cho phát triển.

Trên hành trình đó, kỷ nguyên độc lập tự do là cơ sở đảm bảo, là gạch nối đi tới kỷ nguyên vươn mình của dân tộc ta trong thời đại Hồ Chí Minh.

Việt Nam đang tràn đầy khát vọng và quyết tâm bước vào kỷ nguyên mới

Bước sang năm mới 2025, Thủ tướng khẳng định, Việt Nam đang tràn đầy khát vọng và quyết tâm bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình, phát triển giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng của dân tộc Việt Nam.

Để thực hiện thành công mục tiêu chiến lược phấn đấu đến năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, ngay từ năm 2025, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng khoảng hơn 8% và hai con số nếu điều kiện thuận lợi, tạo đà, tạo lực, tạo thế, tạo nhịp để đạt tăng trưởng 2 con số những năm tiếp theo.

Thủ tướng cho biết, để thực hiện được khát vọng đó, Việt Nam kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn tốt, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế vì mục tiêu hòa bình, hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới.

"Trên hành trình đó, chúng tôi mong muốn tiếp tục nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ, hợp tác chặt chẽ của bạn bè quốc tế", Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh.

Sát cánh cùng cộng đồng quốc tế, Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định Việt Nam sẽ đóng góp hơn nữa cho hòa bình, hợp tác, phát triển và giải quyết các vấn đề chung của toàn cầu, góp phần xây dựng một trật tự quốc tế công bằng, bình đẳng dựa trên luật pháp quốc tế, phục vụ lợi ích chung của nhân loại.

Bên cạnh đó, Thủ tướng cho biết, Việt Nam sẽ tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để các Đại sứ, Trưởng đại diện các tổ chức quốc tế không chỉ hoàn thành trọng trách của mình mà còn yêu mến đất nước, con người Việt Nam và coi Việt Nam như là ngôi nhà thứ 2.

Người đứng đầu Chính phủ Việt Nam chia sẻ, dù đón năm mới vào những thời khắc khác nhau nhưng mọi dân tộc đều chia sẻ nguyện vọng chung về hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển và về một thế giới phồn vinh, hạnh phúc, không ai bị bỏ lại phía sau.

"Chúng ta tin tưởng mạnh mẽ rằng, cùng nhau chúng ta sẽ vượt qua được mọi khó khăn, sẽ biến không thành có, biến khó thành dễ, biến điều không thể thành có thể và chúng ta sẽ cùng nhau xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn", Thủ tướng khẳng định.

 

 

 

Cơ hội lớn cho kỷ nguyên vươn mình

 Hiện nay, Việt Nam thực sự đang đứng trước ngưỡng cửa của một kỷ nguyên vươn mình, được đánh dấu bằng tầm nhìn rõ ràng và đầy tham vọng. Các mục tiêu dài hạn đặt ra cho giai đoạn 2030 và 2045, nhằm đưa đất nước trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao với nền công nghiệp hiện đại vào năm 2030 và trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, là táo bạo nhưng rất thực tế. Những mục tiêu này phản ánh ý chí của Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam trong việc củng cố vai trò của mình trên trường quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và củng cố vị thế đất nước như một cường quốc kinh tế, chính trị quan trọng.

Bối cảnh trong nước và quốc tế hiện tại mang lại nhiều cơ hội to lớn. Lực lượng lao động trẻ đông đảo, động lực chuyển đổi số ngày càng tăng, tiềm năng nông nghiệp và công nghiệp cùng vai trò chiến lược tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương đều là những yếu tố thuận lợi cho sự phát triển của Việt Nam trong thời đại mới. Tuy nhiên, những cơ hội này cũng đi kèm những thách thức đáng kể, chẳng hạn như tác động của biến đổi khí hậu, nguy cơ năng suất trì trệ, bất bình đẳng khu vực và nhu cầu đảm bảo nền kinh tế có khả năng phục hồi và cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu bất ổn.

Để vượt qua những thách thức này, điều cần thiết là phải duy trì tinh thần đổi mới, thúc đẩy phát triển bền vững và tăng cường gắn kết xã hội. Đảng đã chứng minh được khả năng vượt qua những khó khăn, thử thách trong quá khứ và với quyết tâm và tầm nhìn chiến lược đó, Việt Nam hoàn toàn có thể hiện thực hóa các mục tiêu trong giai đoạn tới, xây dựng tương lai thịnh vượng, văn minh và tự hào dân tộc.

Bí quyết thành công của Đảng Cộng sản Việt Nam

Bí quyết thành công của Đảng Cộng sản Việt Nam là kiên định đường lối chính trị thống nhất và được sự ủng hộ của nhân dân. 

Trên đây là khẳng định của ông Renato Darsie, Chủ tịch Chi hội Hữu nghị Italy - Việt Nam vùng Veneto, trong cuộc trao đổi với phóng viên TTXVN tại Italy nhân dịp kỷ niệm 95 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2025). 

Ông Darsie nhấn mạnh Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 với mục đích thống nhất đường lối chính trị cho đất nước để đánh đuổi thực dân Pháp đã chiếm đóng, làm nhục và gây đói nghèo cho nhân dân Việt Nam. Ngày nay, sau 95 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam là một đất nước thịnh vượng, tự do, thống nhất và hòa bình với tất cả các quốc gia trên thế giới.

Trong các giai đoạn khác nhau của quá trình này, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định một đường lối chính trị thống nhất với sự đại diện tối đa về mặt thể chế, xã hội và nhân dân nhằm thúc đẩy sự thống nhất các lợi ích khác nhau tạo nên xã hội Việt Nam, từ kinh tế đến lãnh thổ và xã hội.

Sau khi đất nước thống nhất, Việt Nam đã có sự phát triển nhân khẩu học đáng kể, từ năm 1975 đến nay dân số đã tăng từ 34 triệu lên 95 triệu người. Việc tìm kiếm sự thống nhất của người dân về tương lai đất nước đã tiếp tục trong suốt thời kỳ tái thiết nhằm mang lại nhà ở, thành phố, trường học và việc làm cho tất cả người dân. Điều này có nghĩa là cùng với nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thành công trong việc mang lại những chuyển biến tích cực to lớn cho chính người dân Việt Nam.

Tác phẩm "Một số vấn đề về lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam" của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng giúp những người cộng sản Italy và trên thế giới hiểu vì sao cần phải tổng kết thực trạng hiện nay về công cuộc hiện thực hóa nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và vì sao cần phải tổng kết quá trình này.

Đảng Cộng sản Việt Nam đang quyết tâm để đảm bảo rằng một số thay đổi đang diễn ra đã gây ra tham nhũng và việc sử dụng hình ảnh thể chế để trục lợi cá nhân không còn là trở ngại đối với việc hiện thực hóa đổi mới quốc gia và tinh gọn bộ máy nhà nước.

Theo ông Darsie, ngoài những nỗ lực nhằm tiếp tục thực hiện dịch vụ y tế công cộng quốc gia, đáp ứng các yêu cầu về mức lương cao hơn và một hệ thống giáo dục có khả năng đào tạo những người trẻ tuổi hướng tới tương lai với kiến thức tập thể và tổng quát, Việt Nam nên đấu tranh chính trị chống lại văn hóa phương Tây, vốn đã lôi kéo một bộ phận không nhỏ thanh niên và xã hội vào chủ nghĩa cá nhân thực dụng và vật chất như là hình thức cao nhất của khát vọng về một tương lai tốt đẹp hơn cho thế hệ trẻ. 

Ông bày tỏ tin tưởng Đảng Cộng sản Việt Nam chắc chắn tiếp tục thành công trong việc lãnh đạo đất nước trong kỷ nguyên đổi mới, nhờ sự ủng hộ và đồng lòng của nhân dân Việt Nam.

 

 

95 năm Ngày thành lập Đảng: Chặng đường vinh quang với những chiến công hiển hách

 Trả lời phỏng vấn của phóng viên TTXVN tại Buenos Aires nhân kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2025), ông Marcelo Rodriguez nhấn mạnh Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân tiến hành công cuộc cách mạng, đánh bại quân đội nhiều cường quốc như Pháp và Mỹ, giành độc lập, tự do và thống nhất đất nước. Những chiến công hiển hách này vẫn còn nguyên giá trị và tiếp tục được cả thế giới ngưỡng mộ.

Đề cập tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Argentina Marcelo Rodriguez đánh giá cao vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, thành viên sáng lập của Đảng Cộng sản Pháp, cũng như tầm nhìn cộng sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ nghĩa Marx cũng như phương thức tiến hành cuộc cách mạng ở Việt Nam chống chủ nghĩa thực dân và cuộc đấu tranh giành tự do cho nhân dân Việt Nam cũng như tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới.

Trong công cuộc tái thiết đất nước sau chiến tranh đầy thách thức và khó khăn, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã lãnh đạo nhân dân tiến hành thành công công cuộc Đổi mới và đạt được những thành tưu vô cùng ấn tượng. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam đã tăng trưởng trung bình hơn 5%/năm trong hơn 3 thập kỷ qua, với việc thúc đẩy nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, duy trì nguyên tắc công bằng trong phân phối của cải, nhờ đó chất lượng cuộc sống của người dân được cải thiện rõ rệt.

Ông Marcelo Rodriguez nhấn mạnh, nhờ những thành tựu nói trên, tỷ lệ đói nghèo ở Việt Nam đã giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 4,2% năm 2022, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm xuống dưới 1% năm 2024. Mặc dù Việt Nam vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức nhưng điều kiện sống của hàng triệu người Việt Nam đã được cải thiện nhờ vào quá trình cải cách do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng.

Về việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng XIII, ông Marcelo Rodriguez đề cao quyết tâm chống tham nhũng của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như trong việc giải quyết các vấn đề còn tồn tại, hướng tới mục tiêu tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước phát triển nhanh, bền vững, lấy sự phồn vinh của nhân dân làm trung tâm, tiến tới hoàn thiện khuôn khổ thể chế, đổi mới mô hình phát triển và hoàn thiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Hướng tới kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản vào năm 2030, Việt Nam đã đề ra mục tiêu là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, để kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mục tiêu tiếp theo của Việt Nam là sẽ trở thành nước phát triển có thu nhập cao. Theo ông Marcelo Rodriguez, người đồng thời cũng là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Chủ nghĩa Marx của Đảng Cộng sản Argentina, mặc dù Việt Nam đã có nhiều thành công trong phát triển kinh tế - xã hội nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của đất nước.

Ông Marcelo Rodriguez nhận định, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội vẫn là con đường mà Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ tiếp tục theo đuổi, gắn chặt với tầm nhìn của Đảng về củng cố vị thế quốc tế của đất nước nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. Ông đánh giá cao chính sách ngoại giao cây tre của Việt Nam, nhờ đó giúp Việt Nam tăng cường hiện diện chính trị và thương mại trên thế giới, thích ứng với những thay đổi trên bản đồ địa chính trị và cho phép điều chỉnh các mối quan hệ quốc tế theo tình hình thế giới, đồng thời cũng luôn duy trì độc lập tự chủ và bảo vệ chủ quyền. Ông nhấn mạnh chính sách ngoại giao của Việt Nam có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong bối cảnh tranh chấp phức tạp hiện nay về một trật tự quốc tế mới.

Ông Marcelo Rodriguez khẳng định, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách ngoại giao cây tre chính là chìa khóa thành công để định hướng chính sách đối ngoại của Việt Nam, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, đồng thời đóng góp đáng kể vào chủ nghĩa đa cực và hòa bình thế giới.