Thứ Ba, 6 tháng 5, 2025

Nội dung kinh tế của cách mạng xã hội chủ nghĩa

 


Đây là nội dung có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi vững chắc của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Bởi vì, chủ nghĩa xã hội muốn chiến thắng chủ nghĩa tư bản thì phải tạo ra năng suất lao động cao hơn, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân lao động: “Xét đến cùng thì năng suất lao động là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất cho sự thắng lợi của xã hội mới… Chủ nghĩa tư bản có thể bị đánh bại hẳn vì chủ nghĩa xã hội sẽ tạo ra năng suất lao động mới cao hơn nhiều”[1]. Cách mạng xã hội chủ nghĩa, về thực chất là có tính kinh tế. Nhiệm vụ trọng tâm có ý nghĩa quyết định cho sự thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa là phải tổ chức phát triển kinh tế, không ngừng nâng cao năng suất lao động, cải thiện đời sống nhân dân.

Nội dung cách mạng xã hội chủ nghĩa về kinh tế là xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, chế độ áp bức, bóc lột. Xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Không ngừng nâng cao năng xuất lao động, cải thiện đời sống nhân dân. Để thực hiện thắng lợi nội dung cách mạng về kinh tế, trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa ở mỗi nước đòi hỏi giai cấp công nhân phải giải quyết tốt mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất; tận dụng thành tựu khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất; khơi dậy nguồn lực con người trong xã hội; giải quyết hài hòa các mối quan hệ lợi ích, giữa lợi ích cá nhân - tập thể - xã hội và giữa lợi ích quốc gia với lợi ích quốc tế; phát huy sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế: “Giai cấp vô sản sẽ dùng sự thống trị chính trị của mình để từng bước một đoạt lấy toàn bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản, để tập trung tất cả những công cụ sản xuất vào tay nhà nước... để tăng thật nhanh số lượng những lực lượng sản xuất[2].



[1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 39, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 25.

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 626.

Mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa

 


Cách mạng xã hội chủ nghĩa hướng đến mục tiêu cao nhất là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người thoát khỏi áp bức, bóc lột, bất công, xây dựng xã hội mới công bằng, bình đẳng, trong đó, con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Giai cấp công nhân muốn hoàn thành sự nghiệp cách mạng cao cả đó phải xác định đúng đắn, thực hiện thắng lợi cả mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài của cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Mục tiêu trước mắt của cách mạng xã hội chủ nghĩa là giành chính quyền về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Mục tiêu trước mắt của cách mạng xã hội chủ nghĩa gắn với giai đoạn thứ nhất trong tiến trình cách mạng của giai cấp công nhân - giai đoạn xây dựng thành giai cấp thống trị xã hội (tức là cách mạng xã hội chủ nghĩa theo nghĩa hẹp). Mục tiêu trước mắt của cách mạng xã hội chủ nghĩa rất quan trọng, bởi vì, vấn đề giành chính quyền nhà nước là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội. Chính quyền nhà nước là công cụ thống trị xã hội, là nền tảng để giai cấp thống trị duy trì sự thống trị và bảo vệ chế độ xã hội. Đây là điều kiện, tiền đề tiên quyết để thực hiện mục tiêu tiếp theo của cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Mục tiêu lâu dài của cách mạng xã hội chủ nghĩa là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi từng nước và toàn thế giới. Đây là mục tiêu gắn với giai đoạn thứ hai trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, do giai cấp công nhân thông qua đội tiền phong là đảng cộng sản lãnh đạo quần chúng nhân dân lao động sử dụng nhà nước chuyên chính vô sản tiến hành cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới không còn áp bức, bóc lột và con người có điều kiện phát triển toàn diện. Mục tiêu lâu dài của cách mạng xã hội chủ nghĩa phản ánh tập trung, sâu sắc tính chất cách mạng triệt để và tính nhân văn, nhân đạo khác hoàn toàn về chất so với tất cả các cuộc cách mạng trước đây. Mục tiêu này đồng thời còn chỉ ra tính chất khó khăn, phức tạp, gay go và quyết liệt của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Trách nhiệm của Quân đội trong thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam

 


Quân đội nhân dân Việt Nam là một tổ chức chính trị - xã hội đặc thù, một tổ chức công cụ bạo lực của giai cấp công nhân Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục, rèn luyện và lãnh đạo. Chức năng, nhiệm vụ của quân đội ta là đội quân vũ trang và lực lượng chính trị, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi, để bảo vệ thành quả cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân ta đã giành được; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, bảo vệ sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam. Để hoàn thành nhiệm vụ của mình, phải xây dựng quân đội theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Tăng cường giáo dục, rèn luyện bản chất giai cấp công nhân cho cán bộ, chiên sĩ, công nhân viên trong quân đội. Chăm lo xây dựng đội ngũ công nhân quốc phòng vững mạnh. Tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiên đại hóa đất nước. Đồng thời, Quân đội phải tích tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối, quan điểm của Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi và làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù.

 

 

 


 

Bổ sung, sửa đổi, xây dựng và thực hiện nghiêm hệ thống chính sách, pháp luật để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân.


Rà soát, bổ sung, sủa đổi, xây dựng các chính sách, pháp luật về lao động, việc làm và đời sống vật chất, tinh thần; tập trung trước hết vào những chính sách liên quan trực tiếp đến những vấn đề bức xúc đang đặt ra về việc làm và đời sống của công nhân. Bổ sung, sửa đổi, xây dựng các chính sách để phát huy các nguồn lực và trách nhiệm của cả Nhà nước, người sử dụng lao động, các tổ chức chính trị - xã hội, của toàn xã hội và của công nhân trong việc chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân tương xứng với năng suất lao động và những đóng góp của công nhân. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, nhà ở và phúc lợi xã hội cho công nhân; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân[1].



[1]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội dại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 166. 

Liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa về kinh tế


Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, liên minh về kinh tế là nội dung cơ bản quyết định nhất, bảo đảm sự bền vững của liên minh. Bởi vì, thực hiện nội dung kinh tế nhằm thỏa mãn các nhu cầu, lợi ích kinh tế thiết thân của các giai tầng trong liên minh và các tầng lớp xã hội khác nhằm tạo động lực và cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết cho chủ nghĩa xã hội.

Nội dung liên minh về kinh tế được thể hiện trước hết ở chỗ giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức cùng nhau hợp tác thực hiện quyền sở hữu và sử dụng các tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội, tài nguyên của đất nước để phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động và thu nhập, giải quyết thỏa đáng mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa các giai tầng trong liên minh; sự hợp tác giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức cùng nhau làm chủ và đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ tiên tiến vào quá trình sản xuất kinh doanh nông nghiệp, công nghiệp nhằm gắn kết chặt chẽ ba lĩnh vực kinh tế cơ bản, qua đó gắn bó chặt chẽ công nhân, nông dân, trí thức.

Nội dung liên minh về kinh tế còn được thể hiện ở chỗ giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức cùng nhau xây dựng và thực thi cơ chế quản lý, hoạch định chiến lược và các chính sách phát triển kinh tế; xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý; từng bước xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất; khoa học và hiệu quả trong quá trình tổ chức, quản lý sản xuất và trong phân phối sản phẩm đảm bảo sự công bằng, bình đẳng xã hội.

Nội dung liên minh kinh tế thể hiện vai trò của Nhà nước, đặc biệt là đối với nông dân thông qua chính sách khuyến nông, tổ chức khuyến nông. Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân, hiện đại hóa nông nghiệp, gắn phát triển nền nông nghiệp chất lượng cao. Đối với trí thức, liên minh về kinh tế thể hiện ở vai trò của Nhà nước trong việc đổi mới, hoàn chỉnh các chính sách liên quan đến sở hữu trí tuệ như chính sách về phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục đào tạo, về bản quyền tác giả, báo chí, xuất bản. Hướng các hoạt động của trí thức vào việc phục vụ công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, gắn với cơ sở sản xuất và đời sống xã hội. 

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của tổ chức công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội khác trong xây dựng giai cấp công nhân.


Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng trong xây dựng giai cấp công nhân. Khẩn trương xây dựng và lãnh đạo thực hiện có hiệu quả chiến lược về giai cấp công nhân gắn với chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, bao gồm các chủ trương, chính sách lớn về đào tạo, trí thức hóa công nhân; về vấn đề xuất khẩu lao động, kể cả ở các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư kinh doanh ở nước ngoài; vấn đề tạo nguồn để phát triển đảng và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị, trong quản lý sản xuất kinh doanh xuất thân từ công nhân; vấn đề nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của công nhân.

Phát huy mạnh mẽ vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước để giai cấp công nhân là nòng cốt, cùng với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, tăng cường liên minh công nhân - nông dân - trí thức, thực sự là nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Phát huy mạnh mẽ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng giai cấp công nhân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tăng cường lãnh đạo Nhà nước trong xây dựng và thực thi các chính sách, pháp luật để xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh; giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức xúc của giai cấp công nhân. 

Tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

 


Giai cấp công nhân là sản phẩm của nền đại công nghiệp, ngày càng phát triển cùng với đại công nghiệp. Do đó, để phát triển giai cấp công nhân Việt Nam lớn mạnh cần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong thời gian tới, trên cơ sở tiêu chí nước công nghiệp, Đảng và Nhà nước cần lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện một cách quyêt liệt việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại - như mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định. Theo đó, cần tập trung xây dựng nền công nghiệp và thương hiệu công nghiệp quốc gia với tầm nhìn trung, dài hạn, có lộ trình cho từng giai đoạn; phát triên có chọn lọc một số ngành công nghiệp chế tạo, chế biên, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp sạch, công nghiệp năng lượng, cơ khí, điện tử, hóa chất, công nghiệp xây dựng, xây lắp, công nghiệp quốc phòng, an ninh.

Quan tâm bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, ý thức giai cấp, tinh thần dân tộc cho giai cấp công nhân.

Cần nâng cao trình độ chính trị, ý thức giai cấp và bản lĩnh chính trị, ý thức công dân, tinh thần dân tộc, gắn bó thiết tha với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, với chế độ xã hội chủ nghĩa, ý chí vươn lên thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, tinh thần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tinh thần phấn đấu vươn lên ngang tầm thời đại trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế, quyết tâm chiến thắng trong cạnh tranh, tinh thần đấu tranh xây dựng, tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động, lương tâm nghề nghiệp... cho công nhân.Đại hội XIII, Đảng ta đã nhấn mạnh: “Tăng cường tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng cho giai cấp công nhân”[1].



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội dại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 166.

Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng đào tạo nghề, từng bước trí thức hóa giai cấp công nhân.

 


Đảng, Nhà nước cần có chủ trương, chính sách đồng bộ, cụ thể để đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho công nhân, không ngừng “trí thức hoá” giai cấp công nhân là nhiệm vụ chiến lược. Đặc biệt, quan tâm xây dựng thế hệ công nhân trẻ có trình độ học vấn, chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp cao, ngang tầm khu vực và quốc tế, có lập trường giai cấp công nhân và bản lĩnh chính trị vững vàng, thích ứng nhanh với cơ chế thị trường và tham gia hội nhập quốc tế. Quan tâm quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng những nhà kinh doanh có tài, có đức, các nhà quản lý giỏi và các cán bộ khoa học - kỹ thuật xuất thân từ công nhân có trình độ cao, có khả năng tiếp cận với công nghệ và phương thức kinh doanh hiện đại trong nền kinh tế thị trường, hội nhập. Quy hoạch nguồn nhân lực, đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân có trình độ cao để đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp mới, hiện đại. Chú trọng đào tạo đội ngũ công nhân trong các dân tộc thiểu số, ở miền núi, vùng sâu, vùng xa. Chú trọng đào tạo và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên dạy nghề. Có chính sách để các thành phần kinh tế tham gia đầu tư các cơ sở đào tạo nghề với phương tiện kỹ thuật hiện đại. Có chính sách khuyến khích liên kết các cơ sở đào tạo nghề và các doanh nghiệp trong đào tạo, đào tạo lại. “Xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư”[1].



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiên Đại hội đai biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 166.

Tiếp tục nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về giai cấp công nhân trong tình hình hiện nay

 


Đổi mới tổ chức, tăng cường đầu tư, đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về giai cấp công nhân, hướng vào giải đáp những vấn đề thực tiễn đặt ra: Về xu hướng phát triển của giai cấp công nhân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; về vấn đề trí thức hóa công nhân; về mối quan hệ giữa giai cấp công nhân với các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội, đặc biệt là trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; về sự phân hóa và mối quan hệ trong nội bộ giai cấp công nhân; về vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ mới; về mối quan hệ đoàn kết, hợp tác giữa giai cấp công nhân Việt Nam và giai cấp công nhân các nước trong điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế; về những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch đối với giai cấp công nhân. Qua đó cung cấp cơ sở lý luận, thực tiễn để đề ra chủ trương, giải pháp xây dựng giai cấp công nhân phát triển toàn diện trong thời kỳ mới.

Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế tạm lâm vào thoái trào, nhưng đang có sự phục hồi và tạo được bước phát triển mới.

 


Sự sụp đổ chế độ chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu là tổn thất nghiêm trọng của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Sự cân bằng về lực lượng chiến lược bị phá vỡ Các thế lực đế quốc đã chớp thời cơ đẩy mạnh cuộc phản kích nhằm xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại. Cục diện thế giới đổi thay có lợi cho chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động. Sự thay đổi về so sánh lực lượng đó đã tác động tiêu cực đến toàn bộ phong trào cách mạng thế giới. Các lực lượng cách mạng và tiến bộ thế giới đang đứng trước những khó khăn và thử thách rất nghiêm trọng.

Sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu phản ánh khúc quanh của lịch sử. Nhưng đó chỉ là sự đổ vỡ của một mô hình xã hội cụ thể tồn tại nhiều khuyết tật. Ở những nước xã hội chủ nghĩa còn lại, công cuộc cải cách, đổi mới, mở cửa đã thu được những thành tựu quan trọng. Chế độ xã hội chủ nghĩa vẫn đứng vững, chứng tỏ sức sống và tính ưu việt của mình. Dù còn khó khăn, hạn chế nhất định, nhưng gần 1/4 dân số thế giới vẫn đang được hưởng thành quả tốt đẹp do chủ nghĩa xã hội mang lại. Các lực lượng xã hội chủ nghĩa không bị tiêu diệt như mong muốn của chủ nghĩa tư bản.

Các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc.


Sau sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, thế đối đấu giữa hai hệ thống tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa không còn, thay vào đó là sự phát triển đa dạng của các mối quan hệ quốc tế gắn với quá trình toàn cầu hóa. Sự khác biệt về chế độ chính trị - xã hội giữa các quốc gia tuy là một rào cản, nhưng không phải là yếu tố không thể vượt qua để tạo lập nên các mối quan hệ, hợp tác. Thay vì chỉ thiết lập quan hệ với các nước có cùng chế độ chính trị như trước đây, các quốc gia ngày càng chủ động tìm kiếm các cơ hội hợp tác với cả các nước có sự khác biệt về chế độ chính trị - xã hội.

Thế giới hiện nay tồn tại đa dạng các kiểu chế độ chính trị xã hội, cùng những trình độ phát triển rất khác nhau. Do tính chất quá độ của thời đại nên vẫn còn tồn tại nhiều nước có chế độ chính trị, xã hội khác nhau cùng tồn tại. Sự tác động của các xu thế thời đại và chế độ chính trị cũng như lợi ích khác biệt nên các nước vừa hợp tác vừa đấu tranh. Trong vòng xoáy toàn cầu hóa, mối quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc ngày càng được thúc đẩy mạnh mẽ, nhưng luôn diễn ra trong sự tương tác giữa hợp tác và đấu tranh. Hợp tác để thúc đẩy lợi ích, đấu tranh để bảo vệ lợi ích khi có sự khác biệt, mâu thuẫn.

Trong những điều kiện nhất định, những mối quan hệ xác định, hợp tác hay đấu tranh, mặt này có thể nổi trội hơn mặt kia. Sau các cuộc đấu tranh quyết liệt, chiều hướng hợp tác thường biểu hiện ra bên ngoài mạnh mẽ hơn. Đồng thời, dưới cái vỏ bọc của “hợp tác”, các đối tác đều nhằm vào mục tiêu tăng cường nội lực của chính mình, chờ sự “tự suy yếu tương đối” của các đối tác khác để tìm kiếm những hình thức và mức độ tập hợp lực lượng mới, tăng thêm thế và lực về chính trị cũng như an ninh, từng bước điều chỉnh chính sách và mối quan hệ đối với các đồng minh và đối tác. Chính vì thế, bất luận trong hoàn cảnh nào, vấn đề lợi ích quốc gia, dân tộc luôn được đặt lên trên hết, trước hết. 

Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam

 


Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, khẳng định: Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to lớn, là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng[1].

Trong điều kiện hiện nay, nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam được cụ thể hóa trên các nội dung chủ yếu sau:

Về kinh tế, giai cấp công nhân là lực lượng tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đại hội XIII khẳng định: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn tới là tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng của tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Điều chỉnh, bổ sung, nâng cao chất lượng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển nền kinh tế, các ngành, lĩnh vực, các vùng phù hợp với thực tiễn đất nước và trình độ phát triển khoa học, công nghệ hiện đại trên thế giới. Đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng, phát triển, làm chủ công nghệ hiện đại; phát triển một số sản phẩm chủ lực có thương hiệu mạnh, có uy tín trong khu vực và trên thế giới.”[2]. 

Ba lĩnh vực mà quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần tập trung là: Xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chủ trương cơ cấu lại nông nghiệp, phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới theo hướng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh… Phát triển mạnh khu vực dịch vụ dựa trên nền tảng ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, nhất là các dịch vụ có giá trị gia tăng cao[3].

Về chính trị - xã hội, để tiếp tục hoàn thành sứ mệnh là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản, là giai cấp tiên phong trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và là lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp, đại đoàn kết toàn dân tộc, cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau: 

Cùng với nhiệm vụ giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng thì  nhiệm vụ “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy bản chất giai cấp công nhân của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng” và “xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiệt với nhân dân”[4] là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến thành công của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, nhà ở, phúc lợi xã hội cho công nhân; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân[5].

Về văn hóa, tư tưởng, giai cấp công nhân là lực lượng quan trọng trong xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; chuyển dần từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Quá trình phát triển giai cấp công nhân Việt Nam là quá trình xây dựng hệ tư tưởng của giai cấp công nhân hiện đại, cách mạng và sáng tạo ngày càng giữ vai trò chủ đạo vững chắc. Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc có nội dung cốt lõi là xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, giáo dục đạo đức cách mạng, rèn luyện lối sống, tác phong công nghiệp, văn minh, hiện đại, xây dựng và hoàn thiện hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị và nhân cách con người Việt Nam. Giai cấp công nhân còn tham gia vào cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng lý luận để bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chống lại những quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, kiên định lý tưởng, mục tiêu và con đường cách mạng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Để thực hiên được sứ mệnh lịch sử này, giai cấp công nhân Việt Nam phải thường xuyên được giáo dục về ý thức giai cấp, bản lĩnh chính trị, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế, củng cố mối liên hệ mật thiết giữa giai cấp công nhân với dân tộc, đoàn kết giai cấp gắn liền với đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế. Đó chính là sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong thời đại hiện nay.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 28/01/2008 Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương khóa X về “tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2008, tr. 1.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 122-123.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 123-125.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 111.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 166.

Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

 

Hệ thống chính trị ở Việt Nam là một chỉnh thể bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp, cùng với cơ chế vận hành và mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận này nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước, đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. 

Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu. Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. 

Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị ở nước ta, là công cụ tổ chức thực hiện ý chí và quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân để quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội. Đó chính là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Mặt khác, Nhà nước chịu sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, thực hiện đường lối chính trị của Đảng. Đảng lãnh đạo Nhà nước thực hiện và đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân. Nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là cơ quan quyền lực, vừa là bộ máy chính trị, hành chính, vừa là tổ chức quản lý kinh tế, văn hoá, xã hội của nhân dân. Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Các tổ chức chính trị xã hội là các tổ chức hợp pháp được tổ chức để tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản đại diện cho lợi ích của nhân dân, tham gia vào hệ thống chính trị, tuỳ theo tính chất, tôn chỉ, mục đích của mình nhằm bảo vệ quyền lợi dân chủ của nhân dân. Các tổ chức chính trị - xã hội của nhân dân có nhiệm vụ giáo dục chính trị tư tưởng, động viên và phát huy tính tích cực xã hội của các tầng lớp nhân dân, góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị; chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng và hợp pháp của nhân dân; tham gia vào công việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, giữ vững và tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần thực hiện và thúc đẩy quá trình dân chủ hoá và đổi mới xã hội, thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.


Đặc điểm chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa


Trong chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền lực xã hội thực sự thuộc về đại đa số nhân dân lao động. Ở các chế độ dân chủ khác, chủ thể quyền lực là thiểu số hoặc chỉ của riêng giai cấp bóc lột. Trong chủ nghĩa xã hội, toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân là người làm chủ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Các quyền dân chủ, làm chủ đó được thể chế hóa bằng pháp luật và các quy chế dân chủ, được pháp luật bảo vệ và hiện thực hóa từng bước thông qua hoạt động thực thi dân chủ của chính nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến. Tuy nhiên, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa không phải là nền dân chủ phi giai cấp, siêu giai cấp, dân chủ cho tất cả mọi người. Đây là nền dân chủ của đa số, vì lợi ích của đa số nhân dân, nhưng thực hiện chuyên chính với những phần tử chống đối, phá hoại dân chủ, pháp luật, kỷ luật, kỷ cương xã hội.

Quyền lợi và nghĩa vụ, quyền hạn và trách nhiệm, cống hiến và hưởng thụ của mọi công dân gắn bó chặt chẽ với nhau. Mọi công dân có đều bình đẳng trước pháp luật. Họ có quyền bình đẳng trong hưởng thụ các giá trị vật chất và tinh thần của xã hội, đồng thời họ cũng phải bình đẳng trong sự đóng góp sức mình vào việc tạo ra các giá trị đó; có quyền được hưởng cuộc sống hoà bình, an toàn thì họ cũng phải có trách nhiệm làm tròn nghĩa vụ công dân ở vị trí xã hội mà họ đảm nhiệm, có nghĩa vụ trong việc tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân, lực lượng vũ trang nhân dân. Họ có quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, đồng thời cũng phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đảm bảo cho sự quản lý đó thực hiện một cách có hiệu quả. Hiến pháp, pháp luật, cơ chế, quy chế trong nền dân chủ bảo đảm cho mọi công dân ngày càng thuận lợi hơn trong thực hiện các quyền dân chủ và ngăn ngừa lạm dụng, hoặc xâm phạm quyền dân chủ của công dân.

Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa có nội dung toàn diện và có tính hiện thực. Đây là chế độ dân chủ bảo đảm đầy đủ các quyền dân chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực. Các nội dung dân chủ trên các lĩnh vực có xu hướng ngày càng hoàn thiện và mở rộng, đi vào chiều sâu và mang tính thực tế, gắn với sự phát triển của xã hội xã hội chủ nghĩa. Dân chủ trên các lĩnh vực được thực hiện thông qua hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, các thành tố cấu thành hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa chính là các thiết chế duy trì, thực thi và bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân lao động. Do đó, đảng và nhà nước xã hội chủ nghĩa coi việc đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị là một trong những biện pháp thực hành mở rộng dân chủ.

Trong chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền dân chủ, làm chủ của nhân dân không ngừng mở rộng và thực hiện thông qua nhiều hình thức dân chủ. Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất để nhân dân lao động thực hiện các quyền và nghĩa vụ công dân của mình, không ngừng mở rộng và hoàn thiện các hình thức dân chủ như dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp, dân chủ tự quản của các cộng đồng dân cư cùng với việc sử dụng, phát huy các tổ chức, lực lượng xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức nhiều hình thức kiểm tra, kiểm soát mạnh mẽ có hiệu lực của nhân dân từ dưới lên để nhân dân lao động thực hiện và phát huy dân chủ.

Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng hoàn thiện và tự tiêu vong trong xã hội cộng sản chủ nghĩa. Về đặc điểm này, V.I.Lênin đã viết: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới có thể đưa lại một chế độ dân chủ thực sự hoàn bị và nó càng hoàn bị bao nhiêu thì lại càng trở nên thừa và tự tiêu vong bấy nhiêu”[1]. Bời vì, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa là hình thức nhà nước xã hội chủ nghĩa, vì vậy khi nhà nước tự tiêu vong thì chế độ xã hội chủ nghĩa cũng tự tiêu vong.



[1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 33, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 110. 

Bản chất chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa

 


Là quyền làm chủ thực tế của nhân dân trên các lĩnh vực đời sống xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, sự quản lý tập trung, thống nhất của nhà nước xã hội chủ nghĩa và phát huy vai trò các tổ chức chính trị - xã hội thông qua các hình thức dân chủ. Bản chất của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự thống trị (làm chủ) của đa số nhân dân lao động mà giai cấp công nhân là người đại biểu đối với thiểu số giai cấp thống trị bóc lột tư sản và địa chủ. Nhờ đó mà nó thực hiện mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa xã hội là giải phóng triệt để giai cấp, xã hội và con người khỏi mọi áp bức bóc lột, bất công, khỏi mọi tình trạng nghèo nàn lạc hậu và cuối cùng khỏi mọi sự phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp. Bản chất chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa thể hiện sâu sắc trên các lĩnh vực:

Trên lĩnh vực chính trị: Là sự lãnh đạo về mặt chính trị của giai cấp công nhân trong việc thực hiện quyền lực và lợi ích của toàn thể nhân dân trên mọi lĩnh vực, thông qua Đảng Cộng sản đối với toàn xã hội. Quyền lực này của giai cấp công nhân được thể hiện ở các quyền dân chủ, làm chủ, quyền con người được thoả mãn ngày càng cao hơn.

Trên lĩnh vực kinh tế, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu của toàn xã hội đáp ứng sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất dựa trên cơ sở khoa học - công nghệ hiện đại nhằm thoả mãn ngày càng cao những nhu cầu vật chất và tinh thần của toàn thể nhân dân lao động. Chế độ công hữu về tư liệu sản xuất càng hoàn thiện bao nhiêu thì càng làm cho nền tảng của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa vững chắc bấy nhiêu. Việc xoá bỏ mâu thuẫn đối kháng trong kinh tế quy định sự thống nhất về chính trị, tinh thần của các lực lượng trong xã hội - xã hội chủ nghĩa.

Trên lĩnh vực văn hóa - tư tưởng, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa lấy hệ tư tưởng Mác - Lênin làm nền tảng, chủ đạo đối với mọi hình thái ý thức xã hội khác trong xã hội mới (như văn học nghệ thuật, giáo dục, đạo đức, lối sống, văn hoá, xã hội, tôn giáo...). Đồng thời, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa kế thừa, phát huy những tinh hoa văn hoá truyền thống các dân tộc; tiếp thu những giá trị tư tưởng - văn hoá, văn minh, tiến bộ xã hội... mà nhân loại đã tạo ra ở tất cả các quốc gia, dân tộc. Do đó, đời sống tư tưởng - văn hoá của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa rất phong phú, đa dạng, toàn diện và ngày càng trở thành một nhân tố quan trọng hàng đầu, thành mục tiêu và động lực cho quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Vai trò của Đảng Cộng sản trong thực hiện sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân

 


Trong lịch sử xã hội có giai cấp, không một giai cấp nào giữ vai trò lãnh đạo xã hội mà lại không thông qua chính đảng của mình. Giai cấp công nhân phải có một đảng chính trị thật sự vững vàng, kiên định và sáng suốt, có đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn thể hiện lợi ích của giai cấp và toàn thể dân tộc mới có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử. Đảng Cộng sản là nhân tố giữ vai trò quyết định đối với việc thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân.

Đảng Cộng sản là lãnh tụ chính trị, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân.

Vai trò này của Đảng được quy định từ mối quan hệ khách quan vốn có giữa Đảng Cộng sản với giai cấp công nhân, trong đó giai cấp công nhân là cơ sở xã hội - giai cấp của Đảng Cộng sản, nơi xuất phát hình thành ra đội tiền phong của giai cấp và là nguồn bổ sung lực lượng bảo đảm cho Đảng Cộng sản tồn tại và phát triển về mọi mặt. Đảng Cộng sản giữ vai trò là hạt nhân lãnh đạo của giai cấp, là lãnh tụ chính trị, bộ tham mưu dẫn dắt, tập hợp và tổ chức giai cấp thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Đảng có trình độ lý luận và tổ chức cao hơn bộ phận còn lại của giai cấp để lãnh đạo giai cấp và dân tộc; là lực lượng đi đầu nắm bắt, tiếp thu những tinh hoa, trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân để định ra cương lĩnh, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đồng thời Đảng Cộng sản còn là một tổ chức thống nhất về ý chí, hành động, kỷ luật và đoàn kết để làm tròn vai trò của lãnh tụ chính trị, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân.

Đảng cộng sản ra đời làm chuyển biến phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân từ tự phát lên tự giác.

Có Đảng Cộng sản lãnh đạo, tổ chức, tuyên truyền và giáo dục giai cấp công nhân mới đạt tới trình độ tự giác bằng việc tiếp thu lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, làm cho phong trào của giai cấp công nhân vươn tới trình độ nhận thức lý luận và trở thành một phong trào chính trị. Trình độ lý luận được Đảng cộng sản trang bị cho giai cấp là nguồn định hướng, dẫn dắt toàn bộ giai cấp công nhân trong quá trình đấu tranh cách mạng, cho phép giai cấp công nhân nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò của mình trong xã hội. Qua đó, làm cho phong trào công nhân ngày càng phát triển với sự tăng thêm của sức mạnh đoàn kết giai cấp, đoàn kết dân tộc, nhận rõ mục tiêu, con đường và biện pháp đúng đắn để giải phóng giai cấp, dân tộc, xã hội và nhân loại.

Đảng Cộng sản tuyên truyền, vận động, thu hút tập hợp, tổ chức các giai tầng xã hội khác, tạo nên sức mạnh tổng hợp để giai cấp công nhân thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình.

Để thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân phải tập hợp, đoàn kết các giai tầng xã hội khác, nhất là giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức. Liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, do giai cấp công nhân lãnh đạo là một tất yếu, một vấn đề có tính quy luật của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Liên minh giai cấp này được thực hiện bằng đường lối và chính sách đoàn kết. Đó là phương thức tập hợp lực lượng cách mạng và phát huy vai trò tiên phong của giai cấp công nhân, phát huy ảnh hưởng của Đảng Cộng sản trong xã hội để thực hiện sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân.

Đảng Cộng sản triệt để đấu tranh, loại trừ chủ nghĩa cơ hội, xét lại và các khuynh hướng sai trái dưới mọi hình thức trong phong trào công nhân.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế vừa phải tập trung đấu tranh chống lại giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản để thực hiện mục tiêu cuối cùng giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, vừa phải tiến hành cuộc đấu tranh quyết liệt, phức tạp và lâu dài chống chủ nghĩa chống cộng, chủ nghĩa cơ hội, xét lại và các khuynh hướng sai trái dưới mọi hình thức trong phong trào công nhân, bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin - nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là khách quan, nhưng vô cùng khó khăn, phức tạp và lâu dài, với những nhiệm vụ nặng nề và phải trải qua nhiều giai đoạn cách mạng mới hoàn thành. Chỉ dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản với đường lối chiến lược, sách lược, với những phương hướng, biện pháp đúng đắn trong từng giai đoạn cụ thể, mới dẫn dắt giai cấp công nhân đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, làm cho sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trở thành hiện thực.

Tính tất yếu ra đời của Đảng Cộng sản

 


Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là khách quan, song để biến khả năng khách quan đó thành hiện thực phải thông qua nhân tố chủ quan, trong đó, việc tổ chức ra một chính Đảng mác xít chân chính, trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân là nhân tố quyết định nhất.

Nền sản xuất đại công nghiệp ngày càng phát triển hiện đại, thì năng lực lao động trí tuệ và trình độ mọi mặt của giai cấp công nhân càng được nâng cao. Trong xu thế phát triển khách quan ấy đã quy định giai cấp công nhân là lực lượng xã hội có đủ khả năng để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, đại biểu cho xu hướng phát triển của lịch sử vượt qua giới hạn của chủ nghĩa tư bản để tiến lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới. Với tư cách là chủ thể của sứ mệnh lịch sử, giai cấp công nhân cần phải đạt tới trình độ giác ngộ cao về chính trị. Phẩm chất này được thể hiện trước hết ở trình độ giác ngộ về giai cấp. Giai cấp công nhân phải hiểu biết ở tầm lý luận về “mình là gì và cần phải làm gì với lịch sử” được tập trung trong nhận thức về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Sự phát triển của phong trào công nhân phụ thuộc vào sự truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin trong phong trào công nhân. Nó sẽ đạt tới trình độ tự giác chỉ khi phong trào công nhân thực sự là một phong trào chính trị có mục tiêu đấu tranh thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, việc giai cấp công nhân tổ chức được một chính đảng của mình là dấu hiệu đã trở thành giai cấp tự giác và trưởng thành về chính trị, tư tưởng và tổ chức để thực hiện sứ mệnh lịch sử. Về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên. Về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản[1].

Quá trình ra đời của Đảng Cộng sản là quá trình thâm nhập chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân, làm cho một bộ phận công nhân tiên tiến nắm được lý luận, giác ngộ sứ mệnh lịch sử của giai cấp, dẫn tới sự hình thành chính Đảng cách mạng - lãnh tụ chính trị, bộ tham mưu chiến đấu, đội tiên phong của giai cấp công nhân. C.Mác đã nhấn mạnh: “Trong cuộc đấu tranh của mình chống lại quyền lực liên hợp của giai cấp hữu sản, giai cấp vô sản chỉ khi nào tự tổ chức được thành một chính đảng độc lập để đối lập với tất cả mọi chính đảng cũ do các giai cấp hữu sản lập ra, thì mới có thể hành động với tư cách giai cấp được”[2]. V. Lênin cũng đã chỉ ra rằng, Đảng Cộng sản là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân. Đó là quy luật chung, phổ biến cho sự ra đời Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân trên thế giới. Tuy nhiên, con đường kết hợp này lại phụ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể của từng nước. Theo V.Lênin, trong tất cả các nước, đã có thời kỳ phong trào công nhân và chủ nghĩa xã hội tồn tại biệt lập với nhau, mỗi bên đi theo con đường riêng biệt của mình và trong tất cả nước, sự biệt lập ấy đã làm yếu cả chủ nghĩa xã hội lẫn phong trào công nhân. Trong tất cả nước, chỉ có sự kết hợp chủ nghĩa xã hội với phong trào công nhân đem lại cơ sở vững vàng cho cả hai bên. Nhưng ở mỗi nước, sự kết hợp chủ nghĩa xã hội với phong trào công nhân đã được diễn ra với tính chất lịch sử, theo con đường riêng biệt, phụ thuộc vào những điều kiện địa phương và thời gian. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, ở Việt Nam “Chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương vào đầu năm 1930”[3].



[1] C.Mác và Ph.Ăng ghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 614-615.

[2] C.Mác và Ph.Ăng ghen, Toàn tập, tập 18, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 203.

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 406.

Đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc tiếp tục diễn ra gay gắt, phức tạp với những nội dung, hình thức, điều kiện mới.

 


Đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc phản ánh nội dung cơ bản của thời đại hiện nay. Đặc điểm này đang thể hiện ở các quốc gia và các khu vực khác nhau, với quy mô và mức độ khác nhau, với những hình thức và tính chất khác nhau, trên tất cả các lĩnh vực: quân sự, chính trị, xã hội, nhất là về kinh tế. Dù chịu ảnh hưởng nhiều của xu hướng hợp tác, song không làm mất đi tính gay gắt, phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc ở từng nước, từng khu vực cũng như trên phạm vi thế giới.

Trước đây, cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc được thể hiện rõ nét bằng các cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng giải phóng dân tộc, bằng các cuộc đấu tranh về dân chủ, dân sinh trong các nước tư bản chủ nghĩa với những hình thức đấu tranh chính trị và quân sự là chủ yếu, thì ngày nay cuộc đấu tranh đó đang diễn ra những nội dung rộng lớn hơn như chống cường quyền, chống sự áp đặt và các hình thức khác nhau của chủ nghĩa thực dân mới, giành độc lập dân tộc về kinh tế, thiết lập trật tự thế giới mới; giữ vững và phát triển bản sắc dân tộc, đòi dân chủ thực tế và quyền con người với những hình thức phong phú và đa dạng hơn cả về chính trị, quân sự, văn hóa, lối sống, nhất là về kinh tế.

Sau khi Liên Xô tan rã, mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn dân tộc càng phức tạp, đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc không dịu đi mà tiếp tục diễn ra gay gắt dưới những hình thức mới. Nhưng cuộc đấu tranh đó vẫn là động lực cho việc loại bỏ trật tự xã hội lỗi thời, bất công, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Ở các nước tư bản chủ nghĩa, nội dung đấu tranh giai cấp là phong trào công nhân và lao động chống lại chính sách bóc lột, xâm phạm lợi ích người lao động của chính quyền tư sản. Ở các nước xã hội chủ nghĩa cũ (Liên Xô và Đông Âu), quan hệ giai cấp đã thay đổi căn bản, đấu tranh giai cấp và dân tộc diễn ra dưới nhiều hình thức, chủ yếu là hợp pháp như biểu tình, bãi công, hội thảo, đấu tranh trên báo chí. Trong đó, đấu tranh nghị trường là hình thức quan trọng và phổ biến nhất.

Ở các nước đang phát triển, mâu thuẫn giai cấp, dân tộc đang diễn ra sâu sắc, nhưng đấu tranh dân tộc và đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản nước ngoài phát triển hơn so với đấu tranh giữa tư bản và lao động trong nội bộ quốc gia, dân tộc. Đa số các nước đang phát triển đứng trước hàng loạt các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội phức tạp như đói nghèo, thất học, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh. Vấn đề bảo vệ độc lập chủ quyền trước chủ nghĩa thực dân mới đang được đặt ra hết sức gay gắt. Độc lập dân tộc, bình đẳng dân tộc đang là vấn đề lớn nhất, bức xúc nhất của thời đại hiện nay. Sự phân cách giàu nghèo có xu hướng gia tăng hơn. Chủ nghĩa thực dân kiểu mới can thiệp ngày càng tinh vi hơn vào công việc nội bộ của các quốc gia dân tộc.

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại có bước phát triển nhảy vọt đạt được những kỳ tích to lớn.


Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ diễn ra mạnh mẽ, đạt được nhiều kỳ tích tác động đến tất cả các lĩnh vực. Đặc điểm nổi bật của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại là ở chỗ khoa học, công nghệ và sản xuất không còn là ba lĩnh vực tách rời nhau. Khoảng cách giữa các khâu nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu triển khai và ứng dụng vào sản xuất ngày càng rút ngắn. Những thành tựu khoa học và công nghệ được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhảy vọt, đồng thời bản thân nó là lực lượng sản xuất mới, hiện đại. Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất đã thay đổi căn bản.

Sự ra đời và phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang trở thành một trong những đặc điểm lớn nhất của thời đại trong giai đoạn hiện nay. So với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba - cuộc cách mạng của sản xuất tự động - vốn đã tạo ra những biến đổi kỳ diệu cho cuộc sống nhân loại, thì cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư - cuộc cách mạng của sản xuất thông minh - còn được dự báo là sẽ tạo ra những sự thay đổi mạnh mẽ và sâu sắc hơn gấp nhiều lần. Sự vận động, phát triển của cuộc cách mạng này đã và đang tạo ra những tác động mạnh mẽ, sâu sắc, toàn diện đến tất cả các quốc gia trên thế giới, ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã dẫn đến sự ra đời của nền kinh tế tri thức và giữ vai trò ngày càng quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Cách mạng khoa học và công nghệ dẫn đến những biến đổi khó lường về kinh tế - xã hội, văn hoá, tư tưởng, lối sống và cả kiến trúc thượng tầng chính trị của xã hội, buộc các quốc gia phải thay đổi cơ chế quản lý, từ bỏ cơ chế, mô hình quản lý không thích hợp. Sự phát triển của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, nhất là cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng tác động sâu sắc đến môi trường sinh thái, an ninh  - quốc phòng, giáo dục - đào tạo, văn hoá và lối sống. Cuộc chạy đua và cạnh tranh gay gắt về khoa học công nghệ, thông tin vừa tạo ra cơ hội vừa đặt ra những thách thức lớn đối với các nước, nhất là các nước đang phát triển và chậm phát triển. 

Đặc điểm của quản lý các quá trình xã hội trong Quân đội nhân dân Việt Nam

 


Quản lý các quá trình xã hội trong Quân đội nhân dân Việt Nam có sự thống nhất cao giữa tính chính trị, tính nhân văn và nhân đạo sâu sắc. Lao động quân sự là một loại hình lao động đặc biệt, không tạo ra của cải vật chất cho xã hội, nhưng đòi hỏi phải tiêu hao một lực lượng vật chất lớn, kể cả tiền bạc, của cải và thậm chí là sinh mạng con người. Lao động quân sự là một loại hình lao động tất yếu, bởi vì sự tồn tại của nhà nước không thể không cần đến Quân đội, vì còn chủ nghĩa đế quốc thì vẫn còn nguy cơ chiến tranh, chiến tranh là bạn đường của chủ nghĩa đế quốc.

Lao động quân sự đòi hỏi cường độ cao cả về thể lực, tinh thần và tâm lý, tâm trạng trong điều kiện khó khăn, gian khổ, ác liệt và khi cần sẵn sàng hi sinh cả tính mạng của mình. Nhưng sự hi sinh đó có ý nghĩa thiêng liêng, cao cả, vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì sự bình yên của xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân, trong đó có chính bản thân và gia đình mỗi cán bộ, chiến sĩ. Vì vậy, quản lý các quá trình xã hội trong Quân đội nhân dân Việt Nam có sự thống nhất cao giữa tính chính trị, tính nhân văn và nhân đạo sâu sắc. Do đó, hoạt động quản lý các quá trình xã hội trong Quân đội có những yêu cầu riêng, không thể hoạch toán như các đơn vị sản xuất, kinh doanh, cũng không thể hưởng lương theo sản phẩm, mà cần có chính sách ưu đãi và quản lý đặc biệt.

Quản lý các quá trình xã hội trong Quân đội nhân dân Việt Nam chịu sự chế định nghiêm ngặt của kỷ luật, pháp luật và tính tập thể cao. Xuất phát từ yêu cầu của hoạt động quân sự, nhất là trong tác chiến hiện đại, hiệp đồng quân binh chủng, vũ khí công nghệ cao. Từ đó, đòi hỏi phải có sự tập trung thống nhất cao độ, hiệp đồng chặt chẽ, chính xác, mau lẹ, quyết đoán, thông minh. Cán bộ, chiến sĩ phải chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, kỷ luật chiến trường, có tinh thần chiến đấu hiệp đồng, lập công tập thể.

Quản lý các quá trình xã hội trong Quân đội nhân dân Việt Nam mang tính biến động, linh hoạt và phức tạp. Đây là đặc điểm đặc thù của hoạt động quân sự, mang tính biến động, linh hoạt, phức tạp cả trong tổ chức, biên chế, nhiệm vụ, con người lẫn địa điểm, thời gian, không gian tác chiến. Cùng với diễn biến phức tạp của tâm lý, tư tưởng, đấu tranh gay gắt giữa cái sống và cái chết, giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa một bên là cuộc sống an nhàn và một bên là cuộc sống đầy cam go, thử thách, khó khăn. Điều đó đòi hỏi công tác quản lý các quá trình xã hội trong Quân đội nhân dân Việt Nam phải rất nhạy cảm, tinh tế, nắm bắt kịp thời diễn biến tư tưởng, tình cảm, tâm lý của từng quân nhân, có biện pháp động viên, khích lệ kịp thời, phù hợp, tránh những hậu quả không đáng có và hệ lụy tiêu cực ngoài mong đợi.