Thứ Hai, 23 tháng 6, 2025

Bác bỏ luận điệu xuyên tạc “Việt Nam tham gia chạy đua vũ trang, đi ngược lại chính sách hòa bình”

 Xuyên tạc đường lối, chính sách quốc phòng của Đảng, Nhà nước ta là thủ đoạn vô cùng nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Hiện nay, lợi dụng chủ trương củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới, các thế lực thù địch, phản động ra sức tuyên truyền rằng “Việt Nam đang tập trung nguồn lực lớn cho quốc phòng, an ninh, nhất là chi ngân sách nhà nước để phát triển công nghiệp quốc phòng, mua sắm vũ khí, trang bị hiện đại, tạo ra cuộc chạy đua vũ trang, đe dọa đến hòa bình, ổn định ở khu vực, đi ngược lại chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ đã tuyên bố”.

Đây là luận điệu thù địch, xuyên tạc có chủ đích, vô căn cứ. Bởi lẽ:

Thứ nhất, chính sách quốc phòng của Việt Nam là hòa bình và tự vệ.

Tự vệ chính đáng là quyền tự nhiên của mọi quốc gia, dân tộc, được thừa nhận trong Điều 51 của Hiến chương Liên hợp quốc và tồn tại trong tập quán quốc tế. Trong bối cảnh tình hình hiện nay, tự vệ chính đáng của một quốc gia bao gồm những hoạt động cần thiết để phòng ngừa, chống trả những mối đe dọa, hành vi, hoạt động xâm phạm đến lợi ích chính đáng của quốc gia mình.

Là một dân tộc có truyền thống hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình và tôn trọng luật pháp quốc tế, vì vậy, đặc trưng bản chất chính sách quốc phòng của Việt Nam là hòa bình và tự vệ. Điều này đã được công khai, minh bạch hóa trong các văn kiện của Đảng, Hiến pháp và hệ thống pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Điều 4, Luật Quốc phòng năm 2018 khẳng định: “Củng cố, tăng cường nền quốc phòng toàn dân, sức mạnh quân sự để xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới...; thực hiện chính sách hòa bình, tự vệ; sử dụng các biện pháp chính đáng, thích hợp để phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi, đánh bại mọi âm mưu và hành vi xâm lược”. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 nhấn mạnh: “Chính sách quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ. Việt Nam phản đối các hoạt động chạy đua vũ trang”. Như vậy, chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ, chống chiến tranh, phản đối các hoạt động chạy đua vũ trang dưới mọi hình thức của Việt Nam đã luôn được khẳng định công khai, minh bạch, rõ ràng.

Những năm qua, Việt Nam phải đối mặt với những thách thức, mối đe dọa không nhỏ về quốc phòng, an ninh từ các thế lực thù địch, phản động. Trong bối cảnh đó, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới xác định quyết tâm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta là: Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ thành quả cách mạng, sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nền văn hóa và uy tín, vị thế quốc tế của đất nước; bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; triệt tiêu các nhân tố gây mất ổn định chính trị từ bên trong; dập tắt nguy cơ xung đột, chiến tranh; giữ vững, củng cố môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước; đóng góp tích cực vào gìn giữ hòa bình thế giới.

Để thực hiện mục tiêu đó, tất yếu đòi hỏi Việt Nam phải có sự quan tâm, đầu tư đúng mức để củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, bảo đảm đủ sức mạnh để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Ngoài mục đích đó, quốc phòng Việt Nam không có mục đích khác, không can thiệp vào công việc nội bộ, đe dọa hoặc xâm lược bất kỳ một quốc gia nào khác, bằng bất kỳ một hình thức, tính chất nào. Như vậy, có thể thấy rõ với chính sách quốc phòng như vậy, Việt Nam không trở thành mối đe dọa đối với bất cứ quốc gia nào trong khu vực và trên thế giới.

Thứ hai, Việt Nam đã và đang nỗ lực tạo lập, gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định của khu vực và trên thế giới.

Những năm qua, Việt Nam tích cực, chủ động nỗ lực ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế.

Cụ thể là Việt Nam cùng các nước láng giềng đã có nhiều nỗ lực trong việc áp dụng có hiệu quả luật pháp và thông lệ quốc tế để giải quyết các bất đồng, tranh chấp đặt ra. Trong đó, Việt Nam đã ký với Lào Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia; ký với Campuchia Hiệp định về vùng nước lịch sử trên biển và Hiệp ước về nguyên tắc giải quyết các vấn đề về biên giới; ký với Malaysia Thỏa thuận về hợp tác thăm dò, khai thác chung vùng chồng lấn; ký với Thái Lan Hiệp định về phân định ranh giới biển; ký với Trung Quốc Hiệp ước về biên giới trên đất liền và Hiệp định về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ; ký với Indonesia Hiệp định về phân định ranh giới thềm lục địa...

Hiện nay, việc giải quyết các tranh chấp giữa Việt Nam với các quốc gia khác, trong đó có vấn đề chủ quyền trên Biển Đông, Việt Nam luôn kiên định, kiên trì lập trường giải quyết bất đồng thông qua biện pháp hòa bình, đối thoại, trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế; trước hết là thực thi hiệu quả và đầy đủ Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), Tuyên bố 6 điểm ngày 20-7-2012 của ASEAN về Biển Đông; đồng thời, Việt Nam đang tích cực hợp tác, đàm phán, tiến tới cùng các nước hữu quan xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) nhằm duy trì hòa bình, ổn định, bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không; tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.

Thứ ba, Việt Nam là một dân tộc hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình, phản đối xung đột quân sự, chiến tranh, chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Việt Nam đã phải tiến hành nhiều cuộc chiến tranh chống xâm lược trong suốt chiều dài mấy nghìn năm lịch sử để có được độc lập, tự do, toàn vẹn lãnh thổ và môi trường hòa bình, ổn định như ngày nay. Vì thế, Đảng, Nhà nước Việt Nam nhận thức rất rõ sự cần thiết và thấu hiểu được giá trị to lớn của hòa bình, ổn định đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Dân tộc Việt Nam luôn mong muốn được chung sống hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển với các dân tộc khác và cần có môi trường hòa bình, ổn định để tiếp tục xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Nhân dân Việt Nam không muốn có xung đột, chiến tranh vì điều đó dẫn đến những tổn thất, đau thương, mất mát to lớn cho không chỉ một phía. Việt Nam đang nỗ lực tạo lập, gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định cho đất nước và khu vực; song Việt Nam cũng quyết không sợ chiến tranh xâm lược từ nước khác, sẵn sàng tiến hành các hoạt động quốc phòng, quân sự cần thiết để tự vệ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.

Trong bối cảnh phức tạp của tình hình quốc tế hiện nay, Việt Nam nhận thức rõ trong mỗi đối tác có thể có mặt mâu thuẫn với lợi ích của quốc gia, dân tộc, cần phải đấu tranh; trong mỗi đối tượng có thể có mặt cần tranh thủ hợp tác, thuyết phục, nỗ lực thúc đẩy hợp tác, giảm bất đồng, xung đột để đạt lợi ích cao nhất cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Việt Nam thực hiện phương châm "bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy"; chủ động phòng ngừa, ngăn ngừa nguy cơ xung đột, chiến tranh, làm thất bại âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước.

Thứ tư, Việt Nam tăng cường tiềm lực, sức mạnh quốc phòng, an ninh một cách hợp lý, chính đáng, không cổ xúy chạy đua vũ trang.

Quốc phòng, an ninh luôn là những lĩnh vực trọng yếu, quyết định đến thành bại, thịnh suy của mỗi quốc gia, dân tộc, không phân biệt thể chế chính trị và trình độ phát triển.

Là một quốc gia đang phát triển, có độ mở của nền kinh tế cao, sức chống chịu và khả năng cạnh tranh còn hạn chế, lại luôn phải đối mặt với những khó khăn, thách thức trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, Việt Nam xác định phát triển đất nước nhanh, bền vững, gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hóa là nền tảng, bảo đảm quốc phòng, an ninh và đối ngoại là trọng yếu, thường xuyên.

Trong những năm gần đây, xuất phát từ yêu cầu cấp bách của nhiệm vụ củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, phát triển công nghiệp quốc phòng, hiện đại hóa LLVT; xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, vì vậy, Việt Nam có sự quan tâm đúng mức, hợp lý trong đầu tư ngân sách và các nguồn lực khác cho củng cố quốc phòng, an ninh.

Từ những lý giải trên, cần khẳng định Việt Nam là một dân tộc hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế. Trong bối cảnh phải đối phó với nhiều thách thức, mối đe dọa về quốc phòng, an ninh từ cả bên ngoài và bên trong, để bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa, Việt Nam đã và đang đầu tư một nguồn lực nhất định, phù hợp với nhu cầu và khả năng của đất nước để tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh. Điều này là hoàn toàn chính đáng và phù hợp với chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ của Việt Nam. Do đó, mọi luận điệu xuyên tạc, bịa đặt xoay quanh việc chi ngân sách quốc phòng, an ninh của Việt Nam đều là những trò hề, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và không hề lừa gạt được những người Việt Nam yêu nước chân chính.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang

 Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng LLVT là nội dung quan trọng, cốt lõi trong di sản tư tưởng quân sự mà Người để lại cho Đảng và cách mạng Việt Nam; góp phần quan trọng vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và tiếp tục là kim chỉ nam cho sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong kỷ nguyên mới.

Thứ nhất, xây dựng LLVT làm nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là một tất yếu khách quan

Thấm nhuần quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về xây dựng LLVT cách mạng, kế thừa những bài học kinh nghiệm của ông cha ta về xây dựng tổ chức quân sự trong lịch sử giữ nước của dân tộc, đồng thời đi sâu phân tích bản chất của chủ nghĩa thực dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm chỉ ra rằng: “Chế độ thực dân, tự bản thân nó, đã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu rồi”. Vì vậy, đối với các dân tộc thuộc địa muốn chiến thắng kẻ thù hung bạo thì không có sự lựa chọn nào khác là phải “dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền”.

Trong điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, Người khẳng định: “Muốn giải phóng thì phải đánh phát xít Nhật và Pháp. Muốn đánh chúng thì phải có lực lượng quân sự”. Do đó, tổ chức và xây dựng LLVT là một tất yếu khách quan trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền cách mạng cũng như trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ hai, xây dựng lực lượng chính trị, các tổ chức và đoàn thể cách mạng làm cơ sở để xây dựng LLVT nhân dân

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, bạo lực cách mạng ở Việt Nam phải là bạo lực của quần chúng có tổ chức đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bạo lực đó bao gồm lực lượng chính trị của quần chúng và LLVT nhân dân, với hai hình thức đấu tranh là đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang. Trong đó, lực lượng chính trị là cơ bản, nền tảng của cách mạng và là cơ sở để xây dựng, phát triển LLVT nhân dân. Lực lượng chính trị theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh bao gồm mọi người dân trong các giai cấp, các tầng lớp nhân dân đã được giác ngộ, được tập hợp thông qua các tổ chức, các đoàn thể cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng là mối quan tâm hàng đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người chỉ rõ: “Muốn có đội quân vũ trang, phải có đội quân tuyên truyền vận động, đội quân chính trị trước đã, nên phải làm ngay, sao cho đội quân chính trị ngày càng đông. Phải có quần chúng giác ngộ chính trị, tự nguyện vác súng thì mới thắng được”.

Để xây dựng LLVT trong điều kiện hoàn cảnh của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định phải sớm hình thành các đoàn thể cứu quốc, thông qua hoạt động của các tổ chức, đoàn thể đó mà lựa chọn những người ưu tú nhất để thành lập các đội tự vệ, đội du kích; thông qua hoạt động của các đội tự vệ, đội du kích mà “chọn lọc số cán bộ và đội viên kiên quyết nhất, hăng hái nhất... để lập ra đội chủ lực”. Người kêu gọi: “Dân ta phải mau mau tổ chức lại. Nông dân phải vào “Nông dân Cứu quốc hội”. Thanh niên phải vào “Thanh niên Cứu quốc hội”. Phụ nữ vào “Phụ nữ Cứu quốc hội”. Trẻ con vào “Nhi đồng Cứu quốc hội”. Công nhân vào “Công nhân Cứu quốc hội”. Binh lính vào “Binh lính Cứu quốc hội”. Các bậc phú hào văn sĩ vào “Việt Nam Cứu quốc hội”. Từ những hội đó mà thức tỉnh, rèn luyện quần chúng trên đường đấu tranh, dần dần tổ chức LLVT cách mạng.

Được tổ chức và xây dựng trên cơ sở phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng, LLVT tuy mới ra đời còn non trẻ, biên chế tổ chức còn nhỏ bé, vũ khí, trang bị còn thô sơ, huấn luyện quân sự còn đơn giản, nhưng do thường xuyên bám chắc và phát triển mở rộng trên cơ sở lực lượng chính trị hùng hậu của quần chúng rộng khắp, được các tổ chức, đoàn thể cách mạng đùm bọc, nuôi dưỡng, cho nên đã trưởng thành nhanh chóng, trở thành lực lượng xung kích đi đầu trong đấu tranh giành độc lập dân tộc cũng như xây dựng nền quốc phòng toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Ba là, LLVT cách mạng phải được xây dựng vững mạnh toàn diện, lấy vững mạnh về chính trị làm cơ sở

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng LLVT cách mạng trong điều kiện Việt Nam từ một nước thuộc địa và phong kiến, giai cấp công nhân còn nhỏ bé, đòi hỏi phải coi trọng xây dựng vững mạnh toàn diện, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở. Đó vừa là yêu cầu cơ bản vừa là vấn đề nguyên tắc trong xây dựng tổ chức vũ trang cách mạng, đồng thời đây là sự sáng tạo lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc vận dụng lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin về chiến tranh nhân dân và xây dựng tổ chức quân sự của giai cấp vô sản nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của LLVT cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định phải coi trọng xây dựng sức mạnh toàn diện của LLVT nhân dân. Bởi theo Người: “Tư tưởng vững, chính trị vững, kỹ thuật khá, thân thể khỏe mạnh thì nhất định thắng”, còn nếu “chính trị khá, nhưng quân sự kém, hoặc chính trị quân sự đều khá nhưng thân thể yếu đuối thì cũng không thắng được”. Sức mạnh của LLVT nhân dân Việt Nam là sức mạnh toàn diện về bản chất cách mạng và khả năng sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu thắng lợi. Nhưng đối với LLVT cách mạng ở một nước vốn là thuộc địa nửa phong kiến, quá trình xây dựng lực lượng đi từ không đến có, từ nhỏ đến lớn thì sự vững mạnh toàn diện theo Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có thể có được trên cơ sở vững mạnh về chính trị. Người luôn xác định chính trị là “cái gốc”, là nền tảng quan trọng để xây dựng và phát triển LLVT cách mạng, “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”. Quá trình xây dựng LLVT về chính trị thực chất là quá trình tăng cường bản chất giai cấp công nhân, bảo đảm cho LLVT mang bản chất giai cấp công nhân, trung thành tuyệt đối với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, với lợi ích của nhân dân và dân tộc...

Nghiên cứu, vận dụng tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh vào xây dựng LLVT nhân dân trong tình hình hiện nay mang ý nghĩa về lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đây chính là quy luật tất yếu khách quan, là nguyên tắc khoa học về xây dựng LLVT nhân dân cách mạng, góp phần để Quân đội hoàn thành xuất sắc hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Tiếp tục quán triệt tư duy đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay


Năm 1986, Đảng ta tiến hành công cuộc đổi mới đất nước dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là tư duy đổi mới sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về kinh tế, chính trị, chính sách đối nội, đối ngoại,… với những giá trị vượt thời gian. Qua gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới với nhiều thành tựu đạt được, nhận thức của chúng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đã ngày càng sáng tỏ hơn. Hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta bước đầu được hình thành trên những nét cơ bản.

Kế thừa tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục xác định độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Đảng ta luôn đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, biển đảo của Tổ quốc.

Tại Đại hội XI, Đảng ta đã xác định 8 đặc trưng cơ bản về xã hội mà chúng ta đang xây dựng, dựa trên sự kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”.

Kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện thực tiễn mới, Đảng ta xác định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó: kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”. Qua gần 40 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta được kỳ vọng sẽ có những thay đổi mang tính “đột phá” bởi sự quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong việc cải cách, đổi mới, sáng tạo. Đây là con đường đúng đắn để đất nước ta phát triển bền vững.

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong sự nghiệp đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế đã đưa Việt Nam thoát khỏi nhóm các nước nghèo để bước vào nhóm các nước phát triển trung bình. Tại Đại hội XIII, Đảng ta khẳng định: “Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”Những thành tựu của công cuộc đổi mới là kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Giữ vững bản chất cách mạng, thực hiện sứ mệnh định hướng tư tưởng của báo chí


Báo chí cách mạng Việt Nam, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, là “vũ khí sắc bén” của Đảng, giữ vai trò tiên phong trên mặt trận tư tưởng - văn hóa. Trong bối cảnh công nghệ số phát triển mạnh mẽ và các phương tiện truyền thông xã hội trở thành diễn đàn đa chiều, báo chí cách mạng càng cần khẳng định vai trò định hướng, kiên định lập trường chính trị.

Việc vận dụng công nghệ số nhằm tăng cường sức mạnh và phạm vi tuyên truyền không được làm thay đổi bản chất và sứ mệnh của báo chí cách mạng. Thay vào đó, công nghệ phải là công cụ giúp báo chí tập trung truyền tải chủ trương, đường lối của Đảng, đồng thời đấu tranh mạnh mẽ, khoa học và kiên quyết với những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc trên không gian mạng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong bức thư “Gửi anh em văn hóa và trí thức Nam Bộ”, trong đó có các nhà báo, ngày 25-5-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính, trừ tà, mà anh em văn hóa và trí thức phải làm cũng như là những chiến sĩ anh dũng trong công cuộc kháng chiến để tranh lại quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc”.

Như vậy, để giữ vững bản chất cách mạng, báo chí phải là lực lượng tiên phong tham gia chống lại “bọn phản động và bọn cơ hội” trên mặt trận tư tưởng, góp phần quan trọng bảo vệ sự ổn định chính trị và phát triển bền vững của đất nước.


Báo chí cách mạng Việt Nam - vũ khí chiến đấu trên mặt trận tư tưởng văn hoá


Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, báo chí không chỉ là phương tiện thông tin đơn thuần mà còn là vũ khí sắc bén, công cụ đấu tranh hiệu quả trên mặt trận tư tưởng - văn hóa. Người khẳng định: “Bài báo là tờ hịch cách mạng để động viên quần chúng đoàn kết đấu tranh, chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, chống chủ nghĩa đế quốc (…), vì độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội và hòa bình thế giới”(2). Đồng thời, tính chiến đấu thể hiện báo chí cách mạng phải làm cho quần chúng hiểu rõ đường lối của Đảng, làm cho cán bộ hiểu rõ nhiệm vụ, làm cho kẻ thù khiếp sợ…

Luận điểm trên không chỉ nhấn mạnh tính chiến đấu cao của báo chí, mà còn đặt ra yêu cầu về sức thuyết phục mạnh mẽ, khả năng xây dựng và củng cố lòng tin, tạo sự thống nhất cao trong nhận thức và hành động của toàn Đảng, toàn dân; là công cụ tuyên truyền hiệu quả, cổ vũ tinh thần cách mạng, động viên nhân dân trong công cuộc giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đại biểu dự Đại hội lần thứ III Hội Nhà báo Việt Nam (tháng 9-1962)_Ảnh: hoinhabaovietnam.vn

Chủ động thích ứng và đổi mới phương thức hoạt động trên mặt trận tư tưởng của Đảng


Trong kỷ nguyên số với tác động của trí tuệ nhân tạo, việc thích ứng của các tạp chí khoa học lý luận chính trị không đơn thuần là chuyển đổi hình thức truyền thông, mà là một cuộc cải tổ toàn diện cả về tư duy, mô hình tổ chức lẫn phương thức vận hành. Việc chủ động thích ứng và đổi mới không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu sống còn để bảo đảm hiệu quả truyền thông, tư tưởng trong thời đại mới.

Thứ nhất, chuyển đổi số (digital transformation) trong công tác tạp chí: từ mô hình truyền thống sang nền tảng đa phương tiện. Việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo vào quy trình vận hành tạp chí cần được thực hiện theo hướng hệ thống, lâu dài. Mỗi tạp chí cần có nền tảng số hiện đại, bao gồm: website có tính tương tác cao, giao diện thân thiện, công cụ tìm kiếm thông minh, tích hợp video, podcast, infographic lý luận và cơ chế phản hồi độc giả. Các bài viết lý luận cần được số hóa dưới nhiều định dạng phù hợp với các nhóm đối tượng khác nhau: bản in truyền thống, bản điện tử (PDF, HTML), bản nghe, nhìn (podcast, video lý luận ngắn) (podcasts, short theoretical videos), bản rút gọn (bản tin tóm tắt, Infographic, dữ kiện số) (summaries, infographics, data digests)Công nghệ AI có thể hỗ trợ trong khâu gợi ý chủ đề nóng, phân tích hành vi độc giả, định hướng cá nhân hóa nội dung và dự đoán xu hướng truyền thông tư tưởng. Việc ứng dụng AI không nhằm thay thế người làm công tác lý luận, mà nhằm hỗ trợ làm việc hiệu quả hơn và phù hợp hơn với nhu cầu của độc giả đương đại.

Thứ hai, đổi mới nội dung, hình thức theo hướng gần gũi, hiện đại, dễ lan tỏa. Một trong những hạn chế của các tạp chí khoa học lý luận chính trị là thiếu tính gắn kết với độc giả trẻ, đặc biệt là trong môi trường truyền thông phi truyền thống với các thông điệp ngắn, trực quan và dễ hiểu lại có khả năng lan tỏa mạnh mẽ. Vì vậy, các tạp chí cần đầu tư mạnh vào các định dạng truyền thông mới, có tính “mở” và sáng tạo, nhưng vẫn giữ được tính chuẩn mực khoa học, lý luận. Các chuyên mục như: “Hỏi - đáp lý luận”, “Lý luận qua tình huống thực tiễn”, “Thế giới nhìn từ chủ nghĩa Mác - Lênin”, (“Q&A on Theory”, “Theory through Practical Cases”, “The World Through the Lens of Marxism - Leninism”)… nên được xây dựng theo cách dễ tiếp cận, ngắn gọn, có thể chia sẻ trên các phương tiện truyền thông xã hội. Bên cạnh đó, các chuyên đề học thuật dài kỳ cần được thiết kế linh hoạt, chia nhỏ theo loạt bài, có dẫn giải đa phương tiện, giúp người đọc không bị “ngợp” trong lượng kiến thức học thuật quá lớn.

Thứ ba, xây dựng hệ sinh thái tác giả, độc giả, cộng tác viên có năng lực công nghệ. Để vận hành mô hình tạp chí số, cần hình thành đội ngũ biên tập viên và cộng tác viên đa năng, am hiểu lý luận chính trị và công nghệ truyền thông số. Việc đào tạo lại, bồi dưỡng kỹ năng công nghệ số, kỹ năng truyền thông trên các phương tiện truyền thông xã hội, kỹ năng thiết kế trực quan là bắt buộc đối với đội ngũ làm tạp chí hiện nay. Song song với đó, cần chủ động xây dựng cộng đồng độc giả lý luận số - những người sẵn sàng chia sẻ nội dung, phản hồi học thuật, tham gia tương tác hai chiều với tạp chí. Ngoài ra, các tạp chí cần tăng cường liên kết, hình thành mạng lưới hợp tác giữa các cơ quan báo chí lý luận, trường đại học, học viện chính trị, để cùng sản xuất, chia sẻ nội dung, đồng thời bảo đảm thống nhất tư tưởng, đa dạng hình thức, liên thông chiến lược.

Nhìn chung, việc đổi mới phương thức hoạt động của tạp chí khoa học lý luận chính trị không chỉ là kỹ thuật số hóa, mà là một quá trình tái cấu trúc tư duy, nội dung và tổ chức. Bước vào kỷ nguyên số với tinh thần chủ động, sáng tạo, hội nhập, các tạp chí khoa học lý luận chính trị mới có thể đảm đương sứ mệnh làm chủ trận địa tư tưởng của Đảng trong môi trường thông tin hiện đại

Tăng cường hiểu biết, hữu nghị với bạn bè quốc tế


Tâm sự với chúng tôi sau gần hai tháng tham gia duyệt binh, Bùi Quang Linh kể: “Sau khi hoàn thành nhiệm vụ tham gia duyệt binh tại Liên bang Nga trở về, chúng tôi đang chạy đua với thời gian để nhanh chóng bắt nhịp trở lại cùng đồng đội. Khi chúng tôi thực hiện nhiệm vụ duyệt binh, đồng đội đã học xong các môn học theo kế hoạch của Nhà trường. Do vậy, không kể ngày nghỉ, giờ nghỉ, chúng tôi nỗ lực để hoàn thành các môn học bảo đảm thời gian”.

Tăng cường hiểu biết, hữu nghị với bạn bè quốc tế
Các thành viên đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam giao lưu với các đoàn bạn. Ảnh: HÀ PHƯƠNG 

Khi hỏi về kỷ niệm những ngày đoàn công tác ở Liên bang Nga, Linh cùng đồng đội háo hức như được trở lại những kỷ niệm tươi đẹp trong một khoảng thời gian rất ngắn. Với Linh và các thành viên, đây là quãng thời gian đẹp nhất. Những buổi tối, sau một ngày tập luyện vất vả, Linh cùng đồng đội giao lưu, trao đổi các hoạt động văn hóa với các nước Lào, Myanmar, Trung Quốc... Đây là một trong những hoạt động được nước chủ nhà tổ chức nhằm tăng cường sự hiểu biết, tinh thần đoàn kết, hữu nghị giữa các nước.

Ngồi cạnh Linh, học viên Nguyễn Hữu Quân hào hứng kể thêm: “Chúng tôi ấn tượng nhất với những màn giao lưu văn nghệ, giao lưu với đoàn Quân đội Lào. Chúng tôi cùng nhau hát nhiều bài ca về tình hữu nghị đặc biệt của hai nước, cùng tham gia những điệu nhảy, hoạt động té nước, buộc chỉ cổ tay, cùng hát vang ca khúc Hà Nội-Vientiane... Do có nhiều học viên Quân đội nhân dân Lào đang học tập, rèn luyện tại Trường Sĩ quan Lục quân 1 nên chúng tôi phần nào hiểu văn hóa nước bạn. Vì vậy, màn giao lưu nghệ thuật của đoàn Việt Nam-Lào tại Liên bang Nga rất nhịp nhàng, ăn ý, được các đoàn bạn ngưỡng mộ, đánh giá cao”.

Được biết, khi giao lưu với đoàn Trung Quốc, các thành viên của đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam đã tìm hiểu rất kỹ về văn hóa nước bạn. Vì vậy, khi đoàn bạn mời giao lưu bài hát bằng tiếng Trung, dưới sự cổ vũ, ủng hộ nhiệt tình của đồng đội, Bùi Quang Linh đã thể hiện rất thành công, được các thành viên nước bạn hưởng ứng nhiệt tình. Linh hồ hởi khoe: “Từ khi học phổ thông, tôi đã hay nghe các bài hát tiếng Trung. Khi rảnh, tôi thường xem phim Trung Quốc, nghe nhạc và hát theo. Ở đơn vị, ngoài giờ học tập, rèn luyện, vào ngày nghỉ, giờ nghỉ, tôi hay bật những ca khúc tiếng Trung mình yêu thích. Tôi rất bất ngờ khi sang xứ sở bạch dương lại có cơ hội được giao lưu, học hỏi với các đoàn nước bạn và được mời hát ca khúc bằng tiếng Trung. Khi đó, tôi đã thể hiện bằng tất cả tinh thần trách nhiệm và cảm xúc của mình”. Bùi Quang Linh cho biết, tại các buổi giao lưu mang đậm bản sắc văn hóa, các cán bộ, học viên Trường Sĩ quan Lục quân 1 còn mang theo những món quà lưu niệm, đó là các bức tranh in hình ảnh chùa Một Cột, Chủ tịch Hồ Chí Minh, quang cảnh Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh... tặng các đoàn bạn và được các đoàn hào hứng đón nhận.

Chuyến công tác thực hiện nhiệm vụ đầy vinh dự, đặc biệt của đoàn Trường Sĩ quan Lục quân 1 dịp kỷ niệm 80 năm Ngày Chiến thắng trong Chiến tranh vệ quốc vĩ đại tại Liên bang Nga đã để lại tình cảm, ấn tượng sâu sắc đối với bạn bè thế giới. Mỗi thành viên trong đoàn, bằng tình cảm, trách nhiệm đã luôn nỗ lực để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tham gia duyệt binh. Không chỉ hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị trung tâm, các thành viên trong đoàn còn là sứ giả mang thông điệp của nhân dân Việt Nam luôn yêu chuộng hòa bình, hữu nghị, hợp tác với bạn bè các nước. Họ thực sự là những sứ giả, cầu nối để lan tỏa và đưa nét đẹp văn hóa dân tộc Việt Nam đến với bạn bè thế giới.

Kiên định và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mac-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới


Trước những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường của tình hình thế giới, khu vực và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng tiếp tục khẳng định: Đảng lấy CNM-LN và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta và là yếu tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Thực tế cho thấy, từ Cách mạng Tháng Tám đến Đại thắng mùa Xuân năm 1975, từ công cuộc Đổi mới năm 1986 đến sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với việc kiên định, vận dụng đúng đắn và phát triển sáng tạo nền tảng tư tưởng của Đảng. Điều đó khẳng định rõ, không có con đường nào khác ngoài con đường mà Đảng ta, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, đó là con đường cách mạng vô sản. Chính CNM-LN đã soi đường để Đảng ta xác định rõ mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

Bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, thù địch chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng
Tranh cổ động của Lưu Yên Thế. 

Tư tưởng Hồ Chí Minh giúp Đảng và nhân dân ta kiên trì con đường cách mạng, đặt lợi ích dân tộc, quyền làm chủ của nhân dân lên hàng đầu, từ đó tạo nên sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc. Nhờ vận dụng đúng đắn và sáng tạo nền tảng lý luận đó, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, từng bước đưa đất nước tiến lên CNXH, phát triển toàn diện, để đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cùng với những tác động đa chiều của mặt trái kinh tế thị trường, sự chống phá của các thế lực thù địch,… đòi hỏi chúng ta càng phải kiên định, bảo vệ và vận dụng sáng tạo CNM-LN, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới. 

Nhận diện âm mưu xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh của thế lực phản động


Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo CNM-LN vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về đạo đức cách mạng cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh...”[2].

Các thế lực thù địch, phản động đã nêu các quan điểm xuyên tạc, bóp méo, thậm chí vu cáo, dựng chuyện, nhằm bôi nhọ đời tư, hạ thấp uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Họ xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh trong nền tảng tư tưởng của Đảng.

Họ còn xuyên tạc, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với CNM-LN. Trắng trợn, quy chụp, áp đặt một cách vô căn cứ rằng CNM-LN là “chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan” đối lập với tư tưởng “đoàn kết và thống nhất của học thuyết Hồ Chí Minh” và cho rằng, hiện nay CNM-LN đã “lỗi thời”, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, phù hợp với dân tộc Việt Nam. Do vậy, họ “khuyên” chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh, đề cao “Chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế CNM-LN. Từ đó, họ đòi đưa CNM-LN ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng. Điều này, mới nghe qua có người nhẹ dạ, cả tin dễ lầm tưởng, đó là sự “đánh giá đúng” tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng đây thật sự là một chiêu trò rất nguy hiểm để thực hiện mục tiêu phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, cắt rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với CNM-LN. Thực chất của luận điệu trên không chỉ là sự phủ nhận CNM-LN, mà còn xuyên tạc, bóp méo, cô lập tư tưởng Hồ Chí Minh.

Từ luận giải ở trên cho thấy, các luận điệu sai trái, thù địch chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam rất đa dạng, tinh vi và thâm độc. Nhận diện đúng và bóc trần bản chất những luận điệu sai trái, thù địch là cơ sở quan trọng để chúng ta kịp thời có những biện pháp đấu tranh phản bác không khoan nhượng, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

Việt Nam là một dân tộc hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình, phản đối xung đột quân sự, chiến tranh


Việt Nam đã phải tiến hành nhiều cuộc chiến tranh chống xâm lược trong suốt chiều dài mấy nghìn năm lịch sử để có được độc lập, tự do, toàn vẹn lãnh thổ và môi trường hòa bình, ổn định như ngày nay. Vì thế, Đảng, Nhà nước Việt Nam nhận thức rất rõ sự cần thiết và thấu hiểu được giá trị to lớn của hòa bình, ổn định đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Dân tộc Việt Nam luôn mong muốn được chung sống hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển với các dân tộc khác và cần có môi trường hòa bình, ổn định để tiếp tục xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Nhân dân Việt Nam không muốn có xung đột, chiến tranh vì điều đó dẫn đến những tổn thất, đau thương, mất mát to lớn cho không chỉ một phía. Việt Nam đang nỗ lực tạo lập, gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định cho đất nước và khu vực; song Việt Nam cũng quyết không sợ chiến tranh xâm lược từ nước khác, sẵn sàng tiến hành các hoạt động quốc phòng, quân sự cần thiết để tự vệ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.

Trong bối cảnh phức tạp của tình hình quốc tế hiện nay, Việt Nam nhận thức rõ trong mỗi đối tác có thể có mặt mâu thuẫn với lợi ích của quốc gia, dân tộc, cần phải đấu tranh; trong mỗi đối tượng có thể có mặt cần tranh thủ hợp tác, thuyết phục, nỗ lực thúc đẩy hợp tác, giảm bất đồng, xung đột để đạt lợi ích cao nhất cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Việt Nam thực hiện phương châm "bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy"; chủ động phòng ngừa, ngăn ngừa nguy cơ xung đột, chiến tranh, làm thất bại âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước.



Chính sách quốc phòng của Việt Nam là hòa bình và tự vệ


Tự vệ chính đáng là quyền tự nhiên của mọi quốc gia, dân tộc, được thừa nhận trong Điều 51 của Hiến chương Liên hợp quốc và tồn tại trong tập quán quốc tế. Trong bối cảnh tình hình hiện nay, tự vệ chính đáng của một quốc gia bao gồm những hoạt động cần thiết để phòng ngừa, chống trả những mối đe dọa, hành vi, hoạt động xâm phạm đến lợi ích chính đáng của quốc gia mình.

Là một dân tộc có truyền thống hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình và tôn trọng luật pháp quốc tế, vì vậy, đặc trưng bản chất chính sách quốc phòng của Việt Nam là hòa bình và tự vệ. Điều này đã được công khai, minh bạch hóa trong các văn kiện của Đảng, Hiến pháp và hệ thống pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Điều 4, Luật Quốc phòng năm 2018 khẳng định: “Củng cố, tăng cường nền quốc phòng toàn dân, sức mạnh quân sự để xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới...; thực hiện chính sách hòa bình, tự vệ; sử dụng các biện pháp chính đáng, thích hợp để phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi, đánh bại mọi âm mưu và hành vi xâm lược”. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 nhấn mạnh: “Chính sách quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ. Việt Nam phản đối các hoạt động chạy đua vũ trang”. Như vậy, chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ, chống chiến tranh, phản đối các hoạt động chạy đua vũ trang dưới mọi hình thức của Việt Nam đã luôn được khẳng định công khai, minh bạch, rõ ràng.

Bác bỏ luận điệu xuyên tạc “Việt Nam tham gia chạy đua vũ trang, đi ngược lại chính sách hòa bình”

 Việt Nam rất tích cực trong việc tham gia vào các hoạt động gìn giữ hòa bình quốc tế. Ảnh: Phái đoàn thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc 

Những năm qua, Việt Nam phải đối mặt với những thách thức, mối đe dọa không nhỏ về quốc phòng, an ninh từ các thế lực thù địch, phản động. Trong bối cảnh đó, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới xác định quyết tâm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta là: Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ thành quả cách mạng, sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nền văn hóa và uy tín, vị thế quốc tế của đất nước; bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; triệt tiêu các nhân tố gây mất ổn định chính trị từ bên trong; dập tắt nguy cơ xung đột, chiến tranh; giữ vững, củng cố môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước; đóng góp tích cực vào gìn giữ hòa bình thế giới.

Để thực hiện mục tiêu đó, tất yếu đòi hỏi Việt Nam phải có sự quan tâm, đầu tư đúng mức để củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, bảo đảm đủ sức mạnh để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Ngoài mục đích đó, quốc phòng Việt Nam không có mục đích khác, không can thiệp vào công việc nội bộ, đe dọa hoặc xâm lược bất kỳ một quốc gia nào khác, bằng bất kỳ một hình thức, tính chất nào. Như vậy, có thể thấy rõ với chính sách quốc phòng như vậy, Việt Nam không trở thành mối đe dọa đối với bất cứ quốc gia nào trong khu vực và trên thế giới.


Chủ Nhật, 22 tháng 6, 2025

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: QUYỀN LỰC CAO NHẤT CỦA MỘT QUỐC GIA!

     Tối 22/6, Campuchia ra đòn mạnh nhất kể từ đầu căng thẳng: ngừng toàn bộ hoạt động nhập khẩu xăng dầu và khí đốt từ Thái Lan. Thủ tướng Hun Manet tuyên bố thẳng trên Facebook cá nhân. Không chỉ dừng ở năng lượng, Campuchia còn khuyến cáo công dân không nên du lịch sang Thái nếu không thực sự cần thiết. Phía Thái Lan đáp trả bằng cách triệu hồi đại sứ tại Phnom Penh về nước.

Những gì đang diễn ra ở biên giới Thái - Campuchia không đơn thuần là mâu thuẫn thương mại. Đây là cuộc đấu căng thẳng giữa nhà nước dân sự và quân đội Thái Lan, giữa chính phủ mới của Campuchia và ảnh hưởng kéo dài từ quá khứ. Một cửa khẩu bị đóng hôm trước, hai cửa khẩu bị trả đũa hôm sau. Bây giờ, nhiên liệu bị cắt, dòng chảy lao động bị đe dọa, và lòng tin song phương đang rạn nứt theo từng lời phát biểu.

Cựu Thủ tướng Hun Sen không đứng ngoài. Ông cảnh báo nếu Campuchia rút toàn bộ lao động về nước, thì kinh tế Thái Lan sẽ "lao đao vì thiếu nhân lực". Nếu các trạm xăng do PTT - tập đoàn dầu khí nhà nước Thái Lan phải ngưng hoạt động ở Campuchia, thì không chỉ là cú đòn ngoại giao mà là sự sụp đổ thật sự của một mắt xích thương mại xuyên biên giới. Những lời nói đó không phải chỉ để dọa dẫm. Chúng là chỉ dấu cho thấy Đông Nam Á không còn yên ả như cách đây vài năm.

Và rồi, khi khu vực còn đang loay hoay vì giá năng lượng, chuỗi cung ứng, và các động thái ăn miếng trả miếng ở cấp chính phủ, thì một góc khác của thế giới bỗng vang lên tiếng nổ sâu trong lòng đất Iran. Mỹ đánh trúng Fordow cơ sở hạt nhân được coi là "bất khả xâm phạm" của Tehran. Cú đánh không chỉ là đòn quân sự mà là tuyên bố rõ ràng rằng Washington sẵn sàng bước vào chiến tranh nếu cần, bất chấp hậu quả lan rộng.

Iran giờ đây không chỉ mất đi một phần năng lực hạt nhân mà còn bị đẩy vào thế không thể lùi. Từ Fordow đến Natanz, từ Isfahan đến các cơ sở chỉ huy quân sự, những gì bị phá hủy không đơn thuần là hạ tầng mà là khả năng mặc cả còn sót lại trên bàn đàm phán. Mỹ không hành động nhất thời. Họ chọn thời điểm, chọn mục tiêu, chọn thông điệp. Và thông điệp đó là: không ai được phép thách thức lại trật tự mà họ dựng nên.

Nhưng cuộc chiến ấy không dừng lại ở biên giới Iran. Nó lan vào giá dầu thế giới, vào từng container hàng hóa, vào các hợp đồng vận chuyển, và vào từng gia đình phải trả thêm tiền điện, tiền xăng, tiền chợ. Giống như quyết định cắt nguồn nhiên liệu giữa Campuchia và Thái Lan, một quả bom hạt nhân rơi trúng nhà máy giữa sa mạc có thể khiến người dân ở cách đó nửa vòng trái đất phải sống tằn tiện hơn vào tháng sau.

Thế giới hôm nay không còn chịu được những cú va đập quyền lực thiếu kiểm soát. Không phải cứ có bom xuyên boongke hay trạm xăng ở nước ngoài là có thể duy trì ảnh hưởng. Trong thời đại rối loạn chuỗi cung ứng, khủng hoảng khí hậu và kinh tế hậu COVID, quyền lực không nằm ở khả năng giáng đòn, mà ở năng lực ngăn một cú đòn xảy ra.

Và có lẽ cũng vì vậy mà có những quốc gia chọn cách im lặng mà vững, chọn nguyên tắc hơn ồn ào, chọn duy trì quan hệ thay vì phá vỡ liên minh. Không cần khoe vũ khí, không tranh ghế lãnh đạo khu vực, không lao vào trò chơi của những ông lớn. Chỉ cần giữ được một trật tự ổn định, một xã hội yên ổn, một biên giới thông suốt.

Bởi vì họ hiểu rất rõ: khi thế giới rung chuyển vì hỏa tiễn, thì giữ được một mái nhà yên ấm mới là quyền lực cao nhất của một quốc gia./.

SƯU TẦM!

VẠCH TRẦN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ VIỆC CHẶN TELEGRAM!

     Khi Việt Nam thực hiện các chế tài cần thiết đối với ứng dụng Telegram, các thế lực thù địch, phản động lập tức suy diễn, xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước ta.

Đây là chiêu trò không mới và sẽ còn tiếp tục được chúng sử dụng trước mỗi động thái quản lý bình thường của cơ quan chức năng VN.

1. Vừa qua, Cục Viễn thông (Bộ Khoa học và Công nghệ) đã có văn bản về việc ngăn chặn hoạt động của dịch vụ viễn thông cơ bản trên internet có dấu hiệu vi phạm pháp luật, cụ thể là ứng dụng Telegram. Cục Viễn thông yêu cầu, các doanh nghiệp viễn thông khẩn trương thực hiện các biện pháp ngăn chặn, báo cáo phương án và kết quả thực hiện về Cục trước ngày 2-6-2025.

Ngay khi các văn bản liên quan được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng, lập tức các thế lực thù địch, phản động loan tin, đồng thời bình luận, suy diễn, xuyên tạc đủ kiểu nhằm gán ghép việc này với tự do ngôn luận, với năng lực quản lý của cơ quan nhà nước...

Trang phản động RFA tiếng Việt suy diễn rằng: “Việt Nam chặn app nhắn tin Telegram với lý do chống phản động”, trong khi BBC Vietnamese thể hiện rõ ý đồ “không đàng hoàng” khi gán ghép việc chặn Telegram là hành động khác với chủ trương "dứt khoát bỏ tư duy không quản được thì cấm" mà lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam gần đây hay nhắc đến. A dua theo là hàng chục bình luận thể hiện rõ bản chất phản động, chống đối với những câu từ vu khống kiểu “lo ngại quyền lực lung lay chỉ vì cái app”, “cái gì nói đúng sự thật thì chặn”, “nói tự do, dân chủ là vậy đó hả”...

Đây đều là những luận điệu xuyên tạc, suy diễn vô căn cứ và có ý đồ xấu nhằm lợi dụng một công việc quản lý, một hoạt động thực thi pháp luật bình thường để bôi nhọ uy tín của Đảng, Nhà nước ta. Suy cho cùng là nhằm thay đổi nhận thức, tạo ra những suy nghĩ, tình cảm tiêu cực trong nhân dân về cơ quan quản lý nhà nước, sâu xa là sự xúi giục tư tưởng chống đối, một kiểu “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng.

Như chúng ta đã biết, Telegram là một dịch vụ nhắn tin tức thời miễn phí, đa nền tảng, mã hóa. Ứng dụng này còn cung cấp các cuộc trò chuyện được mã hóa đầu cuối, thường được gọi là trò chuyện bí mật và gọi điện video, VoIP, chia sẻ tệp và một số tính năng khác.

Lợi dụng những tính năng này, nhiều kẻ xấu đã dùng Telegram để tạo kênh, nhóm xấu độc nhằm thực hiện những hành vi như lừa đảo, môi giới mại dâm, mua bán chất cấm, rao bán thông tin cá nhân.... Thậm chí, còn có nhiều ổ, nhóm do các đối tượng phản động tạo lập, phát tán tài liệu chống phá Đảng, Nhà nước ta; có trường hợp nghi vấn liên quan đến khủng bố...

Theo thống kê của Cục An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (Bộ Công an), liên quan đến ứng dụng Telegram có tới 68% kênh, nhóm xấu độc vi phạm pháp luật trong tổng số 9.600 kênh, nhóm Telegram tại Việt Nam.

Những vi phạm của Telegram không chỉ được các cơ quan chức năng của Việt Nam phát hiện, ghi nhận bằng chứng, mà đông đảo “cư dân mạng” chân chính cũng thấy rõ đây là một ứng dụng nguy hiểm. Ngay dưới những bài đăng của các trang phản động, trang tin xấu độc như đã dẫn ở trên, có đến 2/3 số bình luận ủng hộ việc Việt Nam chặn ứng dụng này với những ý kiến như: “lừa đảo hoạt động rất mạnh ở app này”, “cấm chất độc làm nguy hại đến trẻ em, an ninh quốc gia. Đúng quá còn gì”... Có thể nói, chính thực tiễn và dư luận khách quan trên mạng đã chứng minh những luận điệu xuyên tạc nêu trên là sai trái.

2. Phải khẳng định rằng, quyết định chặn ứng dụng Telegram là việc quản lý bình thường trên tinh thần khách quan, công khai, minh bạch và công bằng đối với mọi đối tượng theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Việc lợi dụng hoạt động viễn thông thực hiện các hành vi chống phá, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự xã hội là hành vi bị nghiêm cấm tại Khoản 1, Điều 9, Luật Viễn thông. Khi xảy ra trường hợp vi phạm, doanh nghiệp viễn thông có nghĩa vụ thực hiện các biện pháp ngăn chặn dịch vụ (Điểm đ, Khoản 2, Điều 13, Luật Viễn thông); đồng thời phải có trách nhiệm thông báo thông tin liên hệ cho cơ quan quản lý; kiểm tra giám sát, loại bỏ, ngăn chặn thông tin, dịch vụ, ứng dụng vi phạm pháp luật liên quan khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền như Cục An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao hay Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử.

Trường hợp tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài cung cấp thông tin xuyên biên giới (như Telegram) vi phạm quy định của pháp luật Việt Nam, không hợp tác với cơ quan có thẩm quyền trong việc xử lý thông tin vi phạm pháp luật, thì các cơ quan chức năng của Việt Nam triển khai các biện pháp kỹ thuật để "ngăn chặn những hành vi lợi dụng internet gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục và vi phạm quy định của pháp luật; áp dụng các biện pháp bảo vệ trẻ em, thanh thiếu niên khỏi tác động tiêu cực của internet". Telegram bị xử lý theo đúng quy định trong trường hợp này.

Chưa kể, căn cứ theo pháp luật về viễn thông, từ ngày 1-1-2025 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông cơ bản trên internet phải thực hiện thủ tục thông báo cung cấp dịch vụ viễn thông. Telegram cũng chưa thực hiện quy định này. Việc cung cấp dịch vụ viễn thông khi chưa được phép là hành vi bị nghiêm cấm theo Khoản 4, Điều 9, Luật Viễn thông.

Có thể nói, việc chặn Telegram trước hết là hành động được thực hiện trên tinh thần thượng tôn pháp luật. Đây là việc làm bình thường và tất yếu không chỉ ở Việt Nam mà ở bất kỳ nhà nước pháp quyền nào trên thế giới. Ngay như ở Mỹ, cách đây không lâu, ứng dụng TikTok cũng từng bị chính quyền nước này cấm hoạt động khi chưa đáp ứng đủ các điều kiện và quy định pháp luật.

Trên thực tế, việc chặn Telegram không chỉ thực hiện đúng quy định pháp luật hiện hành, mà còn là việc làm thể hiện trách nhiệm cao của các cơ quan chức năng nhằm giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, vì sự an toàn và cuộc sống bình yên của người dân.

3. Trở lại những luận điệu xuyên tạc gán ghép việc chặn Telegram với quan điểm “không quản được thì cấm”, dễ thấy đây là cách hiểu hoàn toàn sai trái của chính kẻ xuyên tạc.

Bởi "chặn" ở đây là một biện pháp chế tài áp dụng khi đối tượng không đáp ứng các điều kiện theo quy định pháp luật đề ra; không phải là cấm hay chặn bừa, vô căn cứ. Đi kèm với chế tài trên, cơ quan chức năng đã yêu cầu đơn vị chủ sở hữu Telegram thực hiện các quy định pháp luật của Việt Nam.

Thực tế, ngay sau khi cơ quan chức năng Việt Nam áp dụng biện pháp chặn theo quy định pháp luật, đại diện phía Telegram đã gửi email tới Cục Viễn thông (Bộ Khoa học và Công nghệ), trong đó khẳng định sẵn sàng hợp tác và tuân thủ quy định của nước ta. Đơn vị này còn thông báo họ sẽ đến Việt Nam làm việc trực tiếp với cơ quan quản lý nhà nước. Nếu Telegram thực hiện đúng quy định như cam kết, thì đương nhiên, cơ quan chức năng sẽ xem xét và không tiếp tục áp dụng chế tài chặn như hiện nay.

Để không bị ảnh hưởng bởi những luận điệu xuyên tạc về việc chặn ứng dụng Telegram hay bất kỳ trường hợp tương tự nào khác trong thời gian tới, các cấp ủy Đảng, nhất là các chi bộ có thể đưa nội dung này vào các buổi sinh hoạt định kỳ hằng tháng hoặc hội nghị chuyên đề để thông tin, trao đổi thảo luận nhằm thống nhất nhận thức.

Trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên cần hiểu rằng, đây là việc thực thi pháp luật một cách công bằng và bảo đảm theo đúng thông lệ quốc tế. Nhiều doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông cơ bản trên internet, có lượng người dùng lớn như Zalo, Viber đã làm thủ tục thông báo cung cấp dịch vụ viễn thông. Các doanh nghiệp như Meta (quản lý các nền tảng Facebook Messenger, WhatsApp) cũng đang thực hiện thủ tục tương tự.

Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên cũng như người dân cần nâng cao hiểu biết và tinh thần cảnh giác khi sử dụng các ứng dụng mạng xã hội, nhắn tin; tránh để bị lôi kéo vào các nhóm lừa đảo, phản động, chống phá Đảng, Nhà nước hoặc có các hành vi vi phạm đạo đức, vi phạm pháp luật khác...

Bởi trong kỷ nguyên số với sự thay đổi từng phút từng giờ, các ứng dụng như Telegram không thiếu, mà thậm chí chặn một ứng dụng sẽ có nhiều ứng dụng thay thế mọc lên. Cho nên, một trong những điểm mấu chốt và là biện pháp tự bảo vệ trước tiên của mỗi người là chỉ sử dụng ứng dụng nào đáp ứng đủ các điều kiện, thực hiện đúng quy định pháp luật, được cơ quan quản lý Việt Nam cho phép. Đó chính là cách để mỗi chúng ta cùng đóng góp xây dựng một xã hội văn minh, không dung dưỡng cho những thứ đứng ngoài vòng pháp luật, cho dù đó là con người, trang mạng xã hội hay một ứng dụng tin nhắn internet...

Làm được như vậy, chúng ta đã thiết thực đóng góp xây dựng và bảo vệ nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, duy trì sự tôn nghiêm của văn hóa, đạo đức và thực hiện tinh thần thượng tôn pháp luật./.
Yêu nước ST.
CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: TRUMP CHƠI NƯỚC CỜ NÀY LIỀU THẬT!

         Trump không thông qua Quốc hội mà đánh Iran. Lần này hành vi giống lần giết tướng Soleimani của Iran hồi 2020 nhưng lại có nhiều điểm khác. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ lên tiếng đại ý “khi Tổng thống ra lệnh là phải hành động và mệnh lệnh được đưa ra khi đối tác, hoặc nhân dân Mỹ, hoặc quyền lợi của nước Mỹ bị xâm phạm”. Lý giải của Bộ trưởng QP Mỹ đã lật ra lý do thật sự mà Trump quyết tẩn Iran lần này.

Việc đánh Iran nặng thì có thể dẫn tới chuyện Iran đóng eo biển Hormuz, nhẹ thì hoạt động vận tải dầu biển bị đình trệ, ảnh hưởng đến thị trường dầu toàn cầu. Và đây chính là điều Trump cần.

Mỹ mở màn thương chiến với Trung Quốc ngay khi Trump mới nhận chức và quá trình chiến qua chiến lại cho thấy Mỹ không ăn được đối thủ dễ dàng. Thậm chí, phía Trung Quốc còn tỏ thái độ kiểu “thích chơi nhiêu, tôi chơi nhiêu” hoặc có khi Trump đánh tiếng, Tập Cận Bình tảng lờ kiểu “bố mày không chấp thằng điên”. Điều đó có thể dẫn tới bế tắc tình thế và hoàn toàn có thể biến nhiệm kỳ của Trump trở thành nhiệm kỳ thất bại trong kinh tế.

Không thắng được bằng đối đầu trực diện, Trump chơi trò đánh dưới thắt lưng. Trung Quốc là quốc gia nhập khẩu dầu Iran nhiều nhất, 80-90% số dầu Iran xuất những năm gần đây. Mua dầu Iran thì giá rẻ vì Iran buộc phải bán rẻ trong tình thế bị cấm vận như thế này. Chính vì thế, với Trung Quốc, nguồn dầu Iran là lợi thế lớn trong phát triển kinh tế giai đoạn này.

Kết thúc năm tài chính gần nhất (03/2025), tổng doanh thu dầu Iran đạt tới 67 tỷ USD. Chính vì lẽ đó, Trump cần cắt nguồn dầu rẻ này của TQ ít nhất là một thời gian (cho tới khi đàm phán xong về thương mại cái đã). Cắt được nguồn này, Trump sẽ đẩy TQ vào thế khó khi TQ thiệt hại nhiều về chi phí nhập khẩu, khiến các nhà máy lọc dầu ở Sơn Đông phải đình trệ, giá cả trong nước và xuất khẩu của TQ cũng sẽ tăng… Đó là lý do tại sao sau khi Israel đánh Iran, máy bay vận tải TQ bí mật bay sang Iran nhiều thế.

Nhưng đòn của Trump tuy hiểm với TQ nhưng lại chứa đầy rủi ro với Mỹ. Lậm sâu vào cuộc chiến, lại thêm Israel đục nước béo cò dấn lên đánh tới, cái nhọt hôm nay ở Trung đông có thể thành ung thư. Sóng truyền hình phương Tây liên tục đưa ra chuyện thay đổi thể chế ở Iran như một câu hỏi cho các nhà phân tích nhưng nhìn thấy rõ Mỹ chưa có ý định này (ít nhất là đến lúc này). Nếu có, phương án thay thế đã phải được chuẩn bị, và lộ diện chứ không phải một ông Vua cũ kỹ mà dân Iran có khi cũng chẳng buồn nhắc lại tên. Tuy nhiên, với cách mà Israel và Mỹ đánh Iran tới tấp như thế, Iran và thế giới Hồi giáo cảm thấy bị xúc phạm thực sự. Cái lò lửa mà Trump mở ra chỉ để phục vụ cuộc thương chiến với TQ có thể sẽ không tắt nổi, nhất là khi các cơ sở chiến lược của Iran đã bị tấn công. Điều đó hoàn toàn có thể thúc đẩy Iran phát triển vũ khí hạt nhân nhanh hơn. Từ đó, chỉ cần một vài hành động thiếu kiềm chế của hai bên, một thảm hoạ là hoàn toàn có khả năng.

Nên nhớ, Iran không phải Iraq, với địa hình cực khó triển khai bộ binh đối với kẻ tấn công. Chiến tranh du kích lại là sở trường của người Hồi giáo và sự trả đũa từ phía Iran với Mỹ có thể không phải trực tiếp, mà từ các lực lượng uỷ nhiệm khác. Chính sự bất ổn đó có thể khiến Mỹ sa lầy (nếu tiếp tục tham chiến, tiếp tục đồn trú quân ở Trung Đông) và khiến chính kinh tế Mỹ bị ảnh hưởng trong chuỗi khủng hoảng kinh tế toàn cầu.

Nói chung, Trump có tướng bên ngoài giống một tổng thống nhưng không có tinh. Và ông ta sẽ đi vào lịch sử là một tổng thống tội đồ./.

SƯU TẦM!
TẬP TRUNG HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ SẮP XẾP TỔ CHỨC BỘ MÁY VÀ ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH!

     Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành Kết luận số 169-KL/TW (ngày 20-6-2025) của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tập trung hoàn thành nhiệm vụ sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính (gọi tắt là Kết luận số 169).

Kết luận số 169 nêu: Tại phiên họp ngày 20-6-2025, sau khi nghe Báo cáo của Ban Tổ chức Trung ương về tình hình, tiến độ thực hiện các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị về sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính từ ngày 13 đến 19-6-2025 (Báo cáo số 410-BC/BTCTW, ngày 19-6-2025) và Báo cáo giám sát tiến độ của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư kết luận như sau:

Cơ bản thống nhất với Báo cáo về tình hình, tiến độ thực hiện các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị về sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính (từ ngày 13-6 đến ngày 19-6-2025) do Ban Tổ chức Trung ương trình và Báo cáo đánh giá tiến độ của Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Bộ Chính trị, Ban Bí thư ghi nhận và đánh giá cao các Đảng ủy: Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương; Ban Tổ chức Trung ương; Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; các cơ quan chức năng của Trung ương; các tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương đã tích cực, khẩn trương, nỗ lực trong việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đúng yêu cầu, tiến độ và bảo đảm chất lượng, hiệu quả.

Các đồng chí Bộ Chính trị, Ban Bí thư, lãnh đạo các cơ quan, tổ chức ở Trung ương và địa phương (đã được phân công) tiếp tục tập trung cao độ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tăng cường đôn đốc, kiểm tra, hướng dẫn thực hiện chủ trương sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính (nhất là ở cấp xã, phường, đặc khu). Duy trì hiệu quả hoạt động của các tổ thường trực, bảo đảm kịp thời hỗ trợ, giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc nhanh nhất. Ủy ban Kiểm tra Trung ương tiếp tục theo dõi, nắm chắc tiến độ kiểm tra, giám sát phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương tiếp tục chỉ đạo quyết liệt triển khai các đề án về sắp xếp tổ chức theo từng lĩnh vực, bảo đảm chất lượng và tiến độ theo đúng yêu cầu.

* Hoàn thành và gửi "cẩm nang công tác của cấp xã" cho các địa phương trước ngày 1-7-2025

Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo 8 nội dung sau:

Tiếp tục theo dõi, đôn đốc việc triển khai các nghị định mới ban hành; kịp thời hướng dẫn bổ sung, điều chỉnh những vấn đề mới phát sinh, bảo đảm tổ chức hoạt động hiệu quả, thông suốt.

Các bộ, ngành khẩn trương hoàn thiện, ban hành ngay văn bản, thông tư hướng dẫn thực hiện các nghị định mới ban hành; tiếp tục khẩn trương rà soát các văn bản, thông tư hướng dẫn hiện hành để bổ sung, điều chỉnh, thay thế cho phù hợp theo đúng tiến độ, yêu cầu nêu tại Kết luận số 167-KL/TW, ngày 13-6-2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; giao Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các cơ quan hệ thống lại các quy định, hướng dẫn, quy trình của cấp xã để xây dựng "cẩm nang công tác của cấp xã" (cả bản điện tử và bản giấy) hoàn thành và gửi cho các địa phương trước ngày 1-7-2025.

Theo dõi, kiểm tra sát tình hình tổ chức thực hiện việc thành lập các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh theo đúng chủ trương của Trung ương, chỉ thành lập các sở đặc thù khi bảo đảm đáp ứng đầy đủ tiêu chí, điều kiện theo quy định.

Kiểm tra, rà soát kỹ lưỡng quy trình, thủ tục giữa các bộ, ngành chức năng, các địa phương trong việc tiếp nhận, đề xuất để giải quyết chi trả chế độ, chính sách cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ở các cơ quan Trung ương và địa phương nghỉ việc do sắp xếp, bảo đảm thủ tục rút gọn và thực hiện được ngay, hoàn thành việc chi trả trước ngày 30-6-2025.

Thực hiện nghiêm các chủ trương, kết luận, chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về việc trước mắt giữ nguyên số lượng tổ chức, số lượng cấp phó, biên chế cán bộ, công chức, viên chức sau sắp xếp, bảo đảm trong thời hạn 5 năm cơ bản bố trí theo đúng quy định.

Chỉ đạo Bộ Nội vụ khẩn trương ban hành văn bản hướng dẫn lộ trình kéo dài và bố trí, sử dụng người hoạt động không chuyên trách cấp xã theo tinh thần Kết luận số 163-KL/TW, ngày 6-6-2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, bảo đảm hoàn thành trước ngày 25-6-2025.

Tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo khẩn trương hoàn thành, đưa vào hoạt động tổ chức bộ máy hệ thống cơ quan thanh tra, thi hành án dân sự theo đúng kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Khẩn trương ban hành các quyết định chỉ định Chủ tịch, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân của 23 tỉnh, thành phố (mới) sau khi Bộ Chính trị, Ban Bí thư thông qua chủ trương.

* Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao Đảng ủy Quốc hội lãnh đạo, chỉ đạo:

Thông qua các luật, nghị quyết tại Kỳ họp thứ chín, Quốc hội khóa XV theo đúng kế hoạch, nhất là những văn bản liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính.

Chỉ đạo Ủy ban Thường vụ Quốc hội khẩn trương ban hành Nghị quyết chỉ định Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân, Trưởng các Ban của Hội đồng nhân dân, Trưởng đoàn, Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội của 23 tỉnh, thành phố (mới) sau khi Bộ Chính trị, Ban Bí thư thông qua chủ trương; chỉ đạo hướng dẫn việc tổ chức, hoạt động Hội đồng nhân dân các cấp bảo đảm thông suốt.

* Bộ Chính trị, Ban Bí thư yêu cầu các tỉnh ủy, thành ủy:

Tập trung cao độ, chủ động lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thiện các thủ tục theo quy định, thành lập tổ chức, sắp xếp nhân sự, bố trí trụ sở, điều kiện cơ sở vật chất để toàn bộ các tổ chức, cơ quan, đơn vị cấp tỉnh, cấp xã trên toàn quốc đi vào hoạt động đồng bộ từ ngày 1-7-2025 theo đúng chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư tại Kết luận số 167-KL/TW, ngày 13-6-2025.

Chỉ đạo cấp ủy cấp huyện ban hành quyết định kết thúc hoạt động của đảng bộ cấp xã cũ; ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy ban hành quyết định kết thúc hoạt động của đảng bộ cấp huyện, đồng thời ban hành quyết định thành lập đảng bộ cấp xã mới.

Các tỉnh ủy, thành ủy khẩn trương triển khai vận hành thử nghiệm hoạt động của các cơ quan đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể cấp xã, tổ chức rút kinh nghiệm, kịp thời điều chỉnh hợp lý, hoàn thiện tổ chức bộ máy, điều kiện làm việc, bảo đảm thông suốt khi đi vào hoạt động chính thức. Thực hiện nghiêm các chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong sắp xếp, bố trí cán bộ; kiên quyết phòng, chống tiêu cực, lợi ích cục bộ, xử lý nghiêm các sai phạm. Tập trung làm tốt việc bàn giao tài sản, tài chính, quản lý, bàn giao hồ sơ tài liệu… theo đúng quy định; tăng cường quản lý trật tự xây dựng, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Tổ chức Lễ công bố các nghị quyết, quyết định của Trung ương và địa phương về sáp nhập đơn vị hành chính, thành lập tổ chức đảng, chỉ định cấp ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố, xã, phường, đặc khu đồng bộ vào ngày 30-6-2025 (không tổ chức cấp xã trước, cấp tỉnh sau), bảo đảm trang trọng, thiết thực, tiết kiệm, tránh lãng phí và phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương.

Bộ Chính trị, Ban Bí thư yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị khẩn trương quán triệt, triển khai thực hiện có hiệu quả Kế hoạch số 02-KH/BCĐ về thúc đẩy chuyển đổi số liên thông, đồng bộ, nhanh, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, bảo đảm các điều kiện để chính quyền địa phương 2 cấp hoạt động hiệu quả, cung cấp dịch vụ công đối với người dân, doanh nghiệp thông suốt, không gián đoạn. Các cơ quan, đơn vị theo lĩnh vực công tác khẩn trương rà soát, hướng dẫn thực hiện chế độ thông tin, báo cáo từ Trung ương tới cấp tỉnh, cấp xã và ứng dụng công nghệ để nâng cao hiệu quả thực hiện.

* Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao Văn phòng Trung ương Đảng: Phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương, Ủy ban Kiểm tra Trung ương trình Thường trực Ban Bí thư ký các quyết định chỉ định nhân sự ban chấp hành, ban thường vụ, bí thư, phó bí thư, ủy ban kiểm tra của 23 tỉnh, thành phố (mới); Hướng dẫn các cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện đồng bộ trong toàn quốc việc tổ chức Lễ công bố các nghị quyết, quyết định của Trung ương và địa phương về sáp nhập đơn vị hành chính, thành lập tổ chức đảng, chỉ định cấp ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố, xã, phường, đặc khu vào ngày 30-6-2025 để chính thức hoạt động từ ngày 1-7-2025.

Kết luận số 169 nêu: Các cơ quan, đơn vị, địa phương tăng cường công tác thông tin; tập trung làm tốt công tác chính trị, tư tưởng. Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương tập trung chỉ đạo làm tốt công tác tuyên truyền kết quả thực hiện các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính; trong đó, biểu dương các điển hình tiêu biểu, có thành tích xuất sắc, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước.

Ban Tổ chức Trung ương tiếp tục làm tốt vai trò Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết Nghị quyết 18, theo dõi sát tình hình thực hiện, phối hợp với Ủy ban Kiểm tra Trung ương kịp thời báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Thường trực Ban Bí thư những vấn đề nổi lên để chỉ đạo. Chuẩn bị nội dung báo cáo tổng kết việc triển khai Nghị quyết 18 từ tháng 11-2024 đến tháng 7-2025 trình Hội nghị Trung ương 12. Xây dựng kế hoạch tổng kết thực hiện Nghị quyết 18, trong đó tập trung đánh giá công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức thực hiện, bài học kinh nghiệm và đề xuất biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc./.

Theo QĐND.

Thứ Bảy, 21 tháng 6, 2025

TINH GỌN BỘ MÁY ”CẦN ĐƯỢC NHÌN NHẬN VÀ TIẾN HÀNH MỘT CÁCH ĐỒNG BỘ, TỔNG THỂ, HAI CHIỀU”!

     Tinh gọn bộ máy là công việc rất khó khăn phức tạp, cần làm từng bước, chắc chắn, có lộ trình, không nóng vội, duy ý chí, nhưng cũng không cầu toàn, trì trệ, chậm trễ, lơi lỏng, thiếu chính xác, thiếu đồng bộ, thiếu nhịp nhàng trên từng bước đi; đặc biệt, cần thực hiện triệt để và khoa học, với mục tiêu cao nhất là sớm hoàn thiện mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị Việt Nam “thà ít mà tốt”., bám sát Hiến pháp, Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nguyên tắc của Đảng, các Nghị quyết của Trung ương, phù hợp với cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ"!

Đồng thời bảo đảm chủ trương của Đảng được triển khai nhanh nhất sau khi được Trung ương thống nhất thông qua, giảm thiểu mọi chi phí cơ hội vĩ mô và vi mô, tạo thuận lợi cao nhất cho người dân và doanh nghiệp, đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụ trong bối cảnh phát triển và hội nhập mới… vì một Việt Nam hùng cường.

Những đổi mới về thể chế, trọng tâm là đổi mới công tác tổ chức bộ máy hệ thống chính trị (gồm 3 khối Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội) đã, đang và sẽ tiếp tục là một trong những yếu tố then chốt để Đảng ta không ngừng nâng cao uy tín, năng lực, hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, cũng như của hệ thống chính trị, giữ vững vai trò người dẫn dắt cách mạng Việt Nam vượt mọi thác ghềnh thành công và đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phù hợp với bối cảnh mới, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng; giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền; phát triển kinh tế-xã hội bền vững, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân.

Tinh gọn bộ máy là một quá trình, không thể tiến hành tùy tiện, cảm hứng nhất thời, “đầu voi đuôi chuột”, “đánh bùn sang ao”, mà cần sự thống nhất nhận thức và hành động, sự quyết tâm chính trị cao, dũng cảm “thà đau một lần” và sự nỗ lực không ngừng nghỉ để thực hiện các giải pháp thực sự triệt để và khoa học, đảm bảo chỉ làm một lần, phục vụ cho cả một quá trình dài….

Yêu cầu triệt để và khoa học đòi hỏi việc sắp xếp tổ chức bộ máy cần được nhìn nhận và tiến hành một cách đồng bộ, tổng thể, hai chiều, cả từ trên xuống và từ dưới lên, đi vào thực chất, không phải làm nhiều lần, không gây lãng phí và kém hiệu quả. Bắt đầu từ thu gọn các đầu mối bên trong các bộ, ngành, UBND các cấp, rồi thực hiện sáp nhập huyện, xã, sáp nhập bộ, ngành trên cơ sở làm rõ và phân định rõ địa vị pháp lý, trách nhiệm, phân cấp, phân quyền, yêu cầu, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, quan hệ từng vị trí công tác trong từng đơn vị và giữa các cơ quan, bộ phận thật đồng bộ, hợp lý, liên thông, gắn kết nhau.

Làm rõ phạm vi quản lý đa ngành, đa lĩnh vực của một số bộ, ngành, nhất là những bộ, ngành có chức năng, nhiệm vụ tương đồng, trùng lắp; kiên quyết cắt bỏ sự cồng kềnh, các tầng nấc, đầu mối và các khâu trung gian “ăn theo” không cần thiết, bảo đảm tính đảng, tính hợp lý, tính hợp pháp, tính tổng thể, đồng bộ, liên thông. Một cơ quan thực hiện nhiều việc, một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì và chịu trách nhiệm chính; vừa phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo và vai trò tự quản của địa phương, đơn vị, vừa khắc phục triệt để tình trạng chồng chéo và song trùng về chức năng, nhiệm vụ, chia cắt về địa bàn, lĩnh vực. Giảm thiểu tính ôm đồm, bao biện làm thay và tình trạng “bộ trong bộ”, “một cửa nhiều chìa khóa”, nhiều người có quyền can thiệp, mà không có ai chịu trách nhiệm cụ thể, cao nhất, “lấn sân”, cản trở, thậm chí “vô hiệu hóa” lẫn nhau, đùn đẩy trách nhiệm, “tranh công đổ tội”, “nói không đi đôi với làm”, phát sinh phiền nhiễu. Loại bỏ triệt để những biến tướng và tàn dư của cơ chế xin - cho, bịt chặt các kẽ hở thể chế dễ nảy sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực... cội nguồn làm giảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động, cản trở phát triển.

Đặc biệt, tính khoa học đòi hỏi cần xây dựng bộ máy trên cơ sở thực tiễn mới gắn với hội nhập quốc tế ngày càng đầy đủ, sâu rộng và toàn diện; chủ động tham chiếu và vận dụng kinh nghiệm quốc tế về tổ chức bộ máy của Chính phủ; tập trung hoàn thiện pháp luật về tổ chức, hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị, gắn với tinh thần đẩy mạnh phân cấp, phân quyền với phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, Trung ương, Chính phủ, Quốc hội tăng cường hoàn thiện thể chế, giữ vai trò kiến tạo và tăng cường kiểm tra, giám sát và cải cách tối đa thủ tục hành chính. Quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong bộ máy nhà nước, bảo đảm sự phân biệt rõ cấp ban hành chủ trương, chính sách, pháp luật với cấp tổ chức thực hiện, cũng như phân công “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ sản phẩm, rõ hiệu quả” trong quy trình công tác.

Đồng thời, gắn tinh gọn bộ máy với tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, chuẩn hóa chức danh và xác định vị trí việc làm theo khung tiêu chuẩn, tiêu chí ở từng cấp, từ Trung ương tới cơ sở, từng loại hình; tuyển dụng, đào tạo, đề bạt, bổ nhiệm, luân chuyển, điều động, đánh giá cán bộ theo hướng thực chất, “vì việc tìm người”; coi trọng sử dụng người có năng lực nổi trội, chủ động, sáng tạo và trách nhiệm công vụ cao; coi trọng chất lượng tham mưu, đề xuất và năng lực điều phối, hướng dẫn, tổ chức thực hiện; thanh lọc kịp thời những người không đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, không có vùng cấm, không có ngoại lệ trong đánh giá cán bộ./.
Ảnh: Người dân đến bộ phận “một cửa” của UBND phường Hưng Định, TP Thuận An, Bình Dương thực hiện thủ tục hành chính.
Yêu nước ST.