Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NHỮNG THÁCH THỨC LỚN ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TRONG NHIỆM KỲ ĐẠI HỘI XIV “NHÌN THẲNG ĐỂ BỨT PHÁ TRONG KỶ NGUYÊN MỚI”!

     Khi Đại hội XIV của Đảng đang đến gần, chúng ta không chỉ chuẩn bị cho một sự chuyển giao giữa hai nhiệm kỳ, mà thực sự đang đứng trước một bước ngoặt mang tính bản lề của lịch sử phát triển quốc gia.

Chưa bao giờ đất nước ta cùng lúc hội tụ nhiều yếu tố chuyển động lớn như hiện nay: Cải cách thể chế mạnh mẽ theo tinh thần Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế sâu rộng, khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực then chốt, và kinh tế tư nhân được xác định là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Trên nền những chuyển động ấy, văn hóa được đặt lại ở vị trí trung tâm. Nhưng để biến những định hướng và lợi thế ấy thành hiện thực trong nhiệm kỳ Đại hội XIV, chúng ta cần thẳng thắn nhìn nhận 15 thách thức lớn đang đặt ra cho sự phát triển văn hóa Việt Nam hôm nay từ đó tìm đường bứt phá cho phát triển văn hóa và đất nước.

1. Khoảng cách giữa nhận thức - chính sách - hành động - kết quả trong lĩnh vực văn hóa

Trong tất cả các văn kiện lớn của Đảng, văn hóa đã được khẳng định nhiều lần là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển. Nhưng nhìn vào thực tiễn, có thể thấy khoảng cách từ nhận thức đúng đến hành động đúng, từ chính sách đúng đến kết quả đúng vẫn còn khá xa.

Ngân sách cho văn hóa tuy đã có bước tăng, nhưng tỷ trọng trong tổng chi ngân sách vẫn còn khiêm tốn; nhiều địa phương vẫn khó đạt mức khoảng 2% chi cho văn hóa – con số vốn đã không phải là cao nếu so với tầm quan trọng của lĩnh vực này. Trong không ít báo cáo phát triển kinh tế – xã hội, văn hóa vẫn thường xuất hiện ở phần cuối, với những dòng tổng kết chung chung, thiếu những chỉ tiêu đo lường cụ thể: Tỷ lệ người dân tham gia hoạt động văn hóa, mức độ hài lòng về đời sống tinh thần, số lượng doanh nghiệp sáng tạo, chỉ số sức mạnh mềm địa phương…

Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Chúng ta chưa quan tâm tương xứng đến văn hóa so với kinh tế, chính trị, xã hội”, và yêu cầu phải tạo “chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện” trong nhận thức và hành động. Điều đó có nghĩa là, thách thức đầu tiên không nằm ở chỗ chúng ta chưa nói đủ về văn hóa, mà ở chỗ chưa làm đủ, làm đến nơi đến chốn để văn hóa thực sự trở thành nền tảng và động lực phát triển.

2. Quản trị văn hóa trong bối cảnh bộ máy tinh gọn và chính quyền địa phương hai cấp

Từ ngày 1-7-2025, Việt Nam chính thức vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, gắn với việc sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp tỉnh và cấp huyện, hướng tới 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, thành trong thời gian tới. Đây là một trong những cuộc cải cách mạnh mẽ nhất về tổ chức bộ máy trong nhiều thập niên.

Tinh gọn bộ máy giúp giảm tầng nấc, tăng hiệu lực, hiệu quả quản lý, nhưng cũng đồng nghĩa với việc khối lượng công việc của mỗi đơn vị, mỗi cán bộ tăng lên, trong khi nhân lực không tăng, thậm chí còn giảm. Ở cấp cơ sở, nhiều cán bộ văn hóa phải kiêm nhiệm: Văn hóa – thông tin – thể thao – du lịch – gia đình – phong trào… Điều đó đòi hỏi họ không chỉ nắm vững chuyên môn, mà còn phải có kỹ năng quản trị, điều phối, huy động xã hội, xử lý khủng hoảng truyền thông, ứng dụng công nghệ số.

Trong khi đó, nhiều khảo sát nội bộ cho thấy tỷ lệ cán bộ quản lý văn hóa được đào tạo đúng ngành, có trình độ sau đại học, am hiểu về công nghiệp văn hóa, văn hóa số… còn thấp; độ chênh giữa trung ương – địa phương, đô thị – nông thôn rất lớn. Nếu không kịp thời có chiến lược bồi dưỡng, tái đào tạo, thì bộ máy tinh gọn có nguy cơ trở thành “bộ máy quá tải”, làm công tác văn hóa nặng về sự vụ, phong trào, thiếu chiều sâu.

Thách thức ở đây là phải xây dựng năng lực quản trị văn hóa phù hợp với mô hình chính quyền hai cấp, trong khi nguồn nhân lực và nguồn lực tài chính không phải vô hạn.

3. Chất lượng đội ngũ cán bộ văn hóa chưa theo kịp yêu cầu phát triển mới

Nhân lực là “linh hồn” của mọi chiến lược văn hóa. Trong kỷ nguyên công nghiệp văn hóa – kinh tế sáng tạo – chuyển đổi số – trí tuệ nhân tạo, người làm văn hóa không chỉ cần hiểu truyền thống, di sản, nghệ thuật, mà còn phải biết xây dựng chiến lược, quản trị dự án, hiểu biết thị trường, sử dụng thành thạo công cụ số, có tư duy liên ngành và năng lực truyền thông.

Trong khi đó, hệ thống đào tạo cán bộ văn hóa hiện nay vẫn thiên về hành chính, quản lý sự vụ, chậm cập nhật các tri thức mới về kinh tế sáng tạo, quản trị sáng tạo, thiết kế trải nghiệm, phân tích dữ liệu văn hóa… So với những nước đã thành công trong công nghiệp văn hóa như Hàn Quốc, Anh, Pháp, Singapore – nơi nhân lực văn hóa được đào tạo theo mô hình liên ngành (culture + management + technology + marketing) – chúng ta đang đi sau một quãng đáng kể.

Tổng Bí thư Tô Lâm, trong phát biểu kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống ngành Văn hóa, đã đặt kỳ vọng lớn vào đội ngũ này, coi trí thức, văn nghệ sĩ là “những kỹ sư tâm hồn của nhân dân” và mong muốn họ tiếp tục bền bỉ sáng tạo, góp phần bồi đắp sức mạnh tinh thần dân tộc. Kỳ vọng đó chỉ có thể trở thành hiện thực nếu đội ngũ cán bộ văn hóa, văn nghệ sĩ, nhà quản lý văn hóa được tạo điều kiện phát triển toàn diện, cả về chuyên môn, chính trị, lẫn kỹ năng nghề nghiệp mới.

4. Hoàn thiện thể chế văn hóa theo tinh thần Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Nghị quyết 66 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đặt ra yêu cầu rất cao đối với mọi lĩnh vực, trong đó có văn hóa: Hoạt động văn hóa phải vận hành trên nền tảng pháp luật minh bạch, đồng bộ, hiện đại, phù hợp với thực tiễn và cam kết hội nhập.

Nhưng văn hóa lại là lĩnh vực biến đổi nhanh, đa dạng, nhạy cảm. Nhiều dạng thức mới xuất hiện: Nghệ thuật đương đại, nghệ thuật đường phố, không gian sáng tạo độc lập, sản phẩm số, nội dung do người dùng tạo ra (UGC), nội dung AI, kinh tế di sản, du lịch trải nghiệm… Trong khi đó, hệ thống pháp luật chưa theo kịp, còn khoảng trống trong khung pháp lý cho công nghiệp văn hóa, cơ chế hợp tác công - tư trong văn hóa, chính sách ưu đãi tài chính, thuế, đất đai cho dự án văn hóa, tiêu chí và định mức đánh giá hiệu quả đầu tư văn hóa, quy định về dữ liệu văn hóa, nội dung số, bản quyền trong môi trường số.

Thách thức của nhiệm kỳ Đại hội XIV là phải chuyển tinh thần đó thành những đạo luật, nghị định, thông tư cụ thể, tạo được hành lang pháp lý thông thoáng nhưng chặt chẽ, vừa khuyến khích sáng tạo, vừa bảo vệ các giá trị tốt đẹp của dân tộc.

5. Chuyển đổi số trong văn hóa còn chậm - trong khi công chúng đã “đi rất nhanh”

Với hơn 70-80% dân số sử dụng Internet, thời gian trung bình lên mạng xã hội nhiều giờ mỗi ngày, không gian số đã trở thành không gian văn hóa thứ hai của người Việt Nam. Người trẻ tiếp nhận phần lớn thông tin, tri thức, giải trí, giao tiếp trên môi trường số. Ở đó, sản phẩm văn hóa của thế giới tràn ngập, trong khi sản phẩm văn hóa Việt Nam vẫn còn khiêm tốn về số lượng lẫn chất lượng, đặc biệt là chất lượng số.

Nhiều bảo tàng, thư viện, nhà hát, di tích, không gian văn hóa… vẫn đang ở giai đoạn đầu của quá trình số hóa, mới chỉ dừng ở mức website, fanpage, vài tour ảo, chưa có hệ sinh thái văn hóa số quốc gia với cơ sở dữ liệu mở, nền tảng chung, chuẩn dữ liệu thống nhất để chia sẻ, kết nối, sản xuất sản phẩm mới.

Nếu trong giai đoạn chiến tranh, đó là “văn hóa kháng chiến - kiến quốc”, thì hôm nay, chúng ta có thể nói đến “văn hóa số - kiến tạo tương lai”. Thách thức là làm sao đưa toàn bộ tài nguyên văn hóa dân tộc bước vào không gian số một cách hiện đại, hấp dẫn, có khả năng lan tỏa mạnh mẽ, thay vì chỉ là sao chép hình thức từ thế giới.

6. Công nghiệp văn hóa chưa trở thành trụ cột kinh tế đúng với tiềm năng

UNESCO ước tính các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo đóng góp hơn 6% GDP toàn cầu, tạo hàng chục triệu việc làm. Ở Hàn Quốc, Indonesia, Anh, Pháp…, công nghiệp văn hóa không chỉ tạo ra giá trị kinh tế, mà còn định hình hình ảnh quốc gia, sức mạnh mềm và khả năng dẫn dắt xu hướng.

Việt Nam đã có Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, đặt mục tiêu đến năm 2030 đóng góp khoảng 7% GDP, xây dựng một số thành phố sáng tạo, hình thành các trung tâm công nghiệp văn hóa, tăng giá trị xuất khẩu sản phẩm văn hóa. Tuy nhiên, đến nay, đóng góp thực tế vẫn còn ở mức khiêm tốn, nhiều ngành mũi nhọn như điện ảnh, âm nhạc, trò chơi điện tử, thiết kế, thời trang, quảng cáo… chưa phát huy hết tiềm năng.

Nguyên nhân không chỉ do thiếu vốn, thiếu hạ tầng, mà sâu xa hơn là thiếu những “luật chơi” rõ ràng, thiếu những nhà đầu tư chiến lược, thiếu cơ chế bảo vệ nhà sáng tạo, khiến doanh nghiệp khó yên tâm đầu tư dài hạn.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Văn hóa là hồn cốt của dân tộc. Văn hóa còn thì dân tộc còn” - và nhấn mạnh văn hóa phải được gắn với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội. Điều đó đặt ra yêu cầu phải xem công nghiệp văn hóa không chỉ là câu chuyện của ngành văn hóa, mà là của cả nền kinh tế.

7. Bản quyền trong môi trường số - “vết thương hở” kéo dài của sáng tạo Việt Nam

Không bảo vệ được bản quyền thì không thể có công nghiệp văn hóa bền vững. Trong môi trường số, vi phạm bản quyền diễn ra với tốc độ và quy mô lớn hơn rất nhiều: Phim lậu, nhạc lậu, livestream trái phép, sử dụng trái phép hình ảnh, nội dung… Một bộ phim chiếu rạp có khi vừa công chiếu đã xuất hiện bản lậu trên mạng; một ca khúc, một chương trình nghệ thuật bị sao chép, sử dụng mà không trả tiền cho tác giả.

Điều này không chỉ gây thiệt hại kinh tế, mà còn làm nản lòng người sáng tạo, khiến nhà đầu tư cân nhắc khi bỏ vốn vào những dự án văn hóa - nghệ thuật quy mô lớn. Thách thức ở đây không chỉ là siết chặt chế tài, mà còn là xây dựng văn hóa tôn trọng bản quyền trong xã hội, để người dân hiểu rằng: Trả tiền cho sản phẩm văn hóa chính là trả tiền cho tri thức, cho tài năng và mồ hôi của người sáng tạo, từ đó tạo ra một thị trường văn hóa lành mạnh hơn.

8. Mức hưởng thụ văn hóa giữa các vùng miền còn chênh lệch đáng kể

Một xã hội văn minh là xã hội mà mọi người dân, ở mọi vùng miền, đều có cơ hội tiếp cận và tham gia đời sống văn hóa một cách bình đẳng. Nhưng hiện nay, vẫn còn khoảng cách khá lớn giữa thành thị-nông thôn, vùng thuận lợi-vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Nhiều nơi, nhà văn hóa xã hoạt động cầm chừng, thư viện cấp huyện nghèo nàn, rạp chiếu phim vắng bóng, sân chơi văn hóa dành cho thanh thiếu niên ít ỏi. Trong khi đó, ở các đô thị lớn, hoạt động sáng tạo, trình diễn, triển lãm, giao lưu văn hóa diễn ra sôi động.

Tại nhiều diễn đàn, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau”, trong đó có quyền tiếp cận văn hóa, giáo dục. Điều này đặt ra yêu cầu phải điều tiết nguồn lực, ưu tiên đầu tư, đa dạng hóa mô hình thiết chế, tăng cường đưa các chương trình văn hóa chất lượng về cơ sở, và nhất là trao quyền cho cộng đồng tự tổ chức, tự vận hành các hoạt động văn hóa.

9. Xây dựng thương hiệu văn hóa - hình ảnh quốc gia còn manh mún, thiếu hệ thống

Ở thời đại “sức mạnh mềm”, hình ảnh quốc gia là tài sản vô hình vô cùng quan trọng. Nhật Bản với “Cool Japan”, Hàn Quốc với “Hallyu - Làn sóng Hàn Quốc”, Thái Lan với “Amazing Thailand” đã chứng minh: Một chiến lược thương hiệu quốc gia bài bản có thể thúc đẩy du lịch, xuất khẩu hàng hóa, thu hút đầu tư và lan tỏa giá trị văn hóa.

Việt Nam có đầy đủ điều kiện: Lịch sử lâu đời, văn hóa đa sắc thái, di sản phong phú, ẩm thực hấp dẫn, con người thân thiện, giàu nghị lực. Nhưng cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có một chiến lược thương hiệu văn hóa - hình ảnh quốc gia thật sự đồng bộ, liên ngành, dài hạn. Các chiến dịch quảng bá còn rời rạc, theo từng ngành, từng địa phương, từng sự kiện.

Trong bối cảnh đó, những phát biểu như của Thủ tướng Phạm Minh Chính - “Văn hóa là nền tảng, thông tin là mạch dẫn, thể thao là sức mạnh, du lịch là nhịp cầu kết nối” - không chỉ là khẩu hiệu, mà có thể trở thành trục tư duy để xây dựng hình ảnh Việt Nam là một đất nước văn hóa - sáng tạo - năng động - đáng sống.

Thách thức là: Từ những trục tư duy đó, ai sẽ là đầu mối chiến lược, cơ chế phối hợp nào, nguồn lực nào, công cụ nào để cấu trúc lại toàn bộ hoạt động quảng bá hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế?

10. Áp lực hội nhập quốc tế sâu rộng - phép thử bản lĩnh văn hóa Việt Nam

Việt Nam là một trong những quốc gia có độ mở kinh tế cao, tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Hàng hóa, dịch vụ, dòng vốn, dòng người và đặc biệt là dòng chảy thông tin, sản phẩm văn hóa ra vào biên giới với tốc độ chưa từng có.

Đây là cơ hội để văn hóa Việt Nam bước ra thế giới, nhưng đồng thời cũng là thách thức: Sản phẩm văn hóa nước ngoài với lợi thế vốn, công nghệ, marketing, thương hiệu dễ dàng chiếm lĩnh thị trường trong nước, nhất là với giới trẻ.

Văn hóa là “mặt trận” quan trọng, gắn với sự tồn vong của dân tộc. Điều này càng đúng trong hội nhập: Nếu không giữ được ngôn ngữ, ký ức, bản sắc, hệ giá trị, chúng ta rất dễ bị hòa tan trong “biển lớn” toàn cầu hóa. Thách thức của nhiệm kỳ mới là phải biến hội nhập thành động lực chứ không phải sức ép, bằng cách làm mới truyền thống, nâng chất lượng sản phẩm văn hóa nội địa, tăng năng lực cạnh tranh của công nghiệp văn hóa, và có chiến lược xuất khẩu văn hóa chủ động.

11. Sức đề kháng văn hóa trước tác động tiêu cực của không gian mạng

Không gian mạng vừa là môi trường sáng tạo, vừa là “chiến trường” của thông tin, giá trị, quan điểm, lối sống. Tin giả, bạo lực ngôn từ, nội dung độc hại, cực đoan, giật gân… nếu không được kiểm soát tốt sẽ tác động tiêu cực đến tâm lý xã hội, đặc biệt là giới trẻ.

Tổng Bí thư Tô Lâm, trong các phát biểu gần đây, luôn nhấn mạnh yêu cầu giữ vững chủ động trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, coi văn hóa là sức mạnh tinh thần, là tấm lá chắn mềm trước những tác động phức tạp của môi trường quốc tế và không gian mạng.

Sức đề kháng văn hóa không thể chỉ xây dựng bằng các biện pháp hành chính, mà phải được bồi đắp từ bên trong mỗi con người, thông qua giáo dục, truyền thông lành mạnh, hoạt động văn hóa-nghệ thuật chất lượng, kỹ năng số và kỹ năng truyền thông cho công dân.

12. Văn hóa công vụ và văn hóa kinh doanh chưa trở thành chuẩn mực phổ quát

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện đại và phát triển kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết 68 đòi hỏi một nền văn hóa công vụ và văn hóa doanh nghiệp thực sự vững chắc. Nhưng trên thực tế, vẫn còn hiện tượng thiếu minh bạch, thiếu tinh thần phục vụ nhân dân, lợi ích nhóm, vi phạm đạo đức kinh doanh, gian lận, lừa dối người tiêu dùng… Những hiện tượng ấy, nếu không được chấn chỉnh, sẽ làm xói mòn niềm tin xã hội, làm suy yếu sức mạnh nội sinh của quốc gia. Văn hóa, trong trường hợp này, không còn là khái niệm trừu tượng, mà là thước đo hàng ngày của mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi doanh nhân, mỗi tổ chức.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh “đức là gốc”, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; vì thế, văn hóa trong Đảng, văn hóa trong kinh doanh, văn hóa trong thực thi pháp luật…, phải trở thành chuẩn mực tự thân, không chỉ là khẩu hiệu.

13. Việc gắn văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội còn thiên về hình thức

Trong nhiều chiến lược, quy hoạch, văn hóa đã được đưa vào như một trụ cột. Nhưng khi triển khai, không ít dự án vẫn đặt lợi ích kinh tế ngắn hạn lên trên giá trị văn hóa lâu dài. Quy hoạch đô thị đôi khi chưa chú ý bảo tồn ký ức không gian; phát triển du lịch đôi lúc làm nghèo đi di sản, tạo nên những sản phẩm na ná nhau, thiếu bản sắc.

Các nghiên cứu quốc tế cho thấy, mỗi 1 đồng đầu tư vào di sản có thể tạo ra nhiều đồng giá trị gia tăng cho các ngành khác, từ du lịch, dịch vụ, đến sáng tạo và giáo dục. Nhưng để khai thác được điều này, phải có tư duy tích hợp văn hóa trong mọi chính sách phát triển, chứ không coi văn hóa là “phần thêm vào” sau cùng. Chúng ta phải đưa văn hóa vào trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội.

14. Hạn chế trong huy động nguồn lực xã hội cho văn hóa

Ngân sách nhà nước là nguồn lực quan trọng, nhưng không thể và không nên là nguồn duy nhất cho phát triển văn hóa. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nơi nào huy động tốt nguồn lực xã hội - doanh nghiệp - cộng đồng - quỹ tư nhân cho văn hóa, nơi đó đời sống văn hóa – sáng tạo phong phú, đa dạng hơn.

Ở ta, nhiều doanh nghiệp muốn đầu tư cho văn hóa, nhưng thiếu khung pháp lý rõ ràng, thiếu ưu đãi về thuế, đất đai, thủ tục phức tạp, rủi ro cao. Không ít mô hình hợp tác công - tư trong văn hóa còn lúng túng, chưa tạo được niềm tin cho nhà đầu tư.

Thủ tướng Phạm Minh Chính trong nhiều phát biểu đều nhấn mạnh cần phát huy sức mạnh của “ba trụ cột”: Nhà nước - thị trường - xã hội, trong đó văn hóa là lĩnh vực rất cần sự đồng hành của doanh nghiệp, trí thức, văn nghệ sĩ, cộng đồng. Thách thức là thiết kế chính sách đủ thông minh, đủ minh bạch để mọi chủ thể đều muốn và dám đầu tư cho văn hóa.

15. Xây dựng và lan tỏa hệ giá trị Việt Nam trong kỷ nguyên mới – thách thức lớn nhất nhưng cũng căn bản nhất

Cuối cùng, thách thức lớn nhất của văn hóa Việt Nam trong nhiệm kỳ Đại hội XIV chính là xây dựng và lan tỏa hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Yêu nước - nhân ái - đoàn kết - nghĩa tình - trung thực - trách nhiệm - kỷ cương - sáng tạo; khát vọng vươn lên; ý thức thượng tôn pháp luật; lối sống nhân văn, lành mạnh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong “Đời sống mới” và nhiều bài viết, bài nói chuyện, luôn nhấn mạnh vai trò của văn hóa, đạo đức, lối sống. Tư tưởng ấy được Đảng ta kế thừa và phát triển qua các thời kỳ, nhất là trong bối cảnh hiện nay, khi thế hệ trẻ lớn lên trong một thế giới đa giá trị, đa nguồn ảnh hưởng.

Tổng Bí thư Tô Lâm, tại Lễ kỷ niệm 80 năm ngành Văn hóa, nhấn mạnh văn hóa xây nên dáng hình của dân tộc, định hình hệ giá trị Việt Nam trong thời kỳ mới, củng cố sức mạnh đoàn kết, bồi đắp lòng tin và khát vọng phát triển. Hệ giá trị đó không thể chỉ “nằm trên giấy”, mà phải thấm vào từng chính sách, từng ngôi trường, từng gia đình, từng sản phẩm văn hóa, từng hành vi công vụ, từng hoạt động kinh doanh. Đây vừa là thách thức, vừa là tiêu chí để đánh giá thành công của nhiệm kỳ Đại hội XIV trên mặt trận văn hóa.

*

* *

Nhìn lại 15 thách thức trên, chúng ta thấy một bức tranh vừa nhiều cơ hội, vừa nhiều yêu cầu mới, vừa nhiều việc phải làm ngay. Nhưng lịch sử dân tộc cho thấy, mỗi khi đối mặt với những thời khắc khó khăn, văn hóa và con người Việt Nam luôn là nguồn sức mạnh quyết định.

Từ tư tưởng Hồ Chí Minh “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”, đến khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “Văn hóa là hồn cốt của dân tộc. Văn hóa còn thì dân tộc còn”, rồi những chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm về việc để truyền thống 80 năm ngành Văn hóa thật sự tỏa sáng trong giai đoạn mới, và thông điệp của Thủ tướng Phạm Minh Chính “Văn hóa là nền tảng - Thông tin là mạch dẫn - Thể thao là sức mạnh - Du lịch là nhịp cầu kết nối - Vững bước vào kỷ nguyên mới” - tất cả đang tạo nên một trường lực tư tưởng mạnh mẽ, đặt văn hóa vào trung tâm của tầm nhìn phát triển đất nước.

Nhiệm kỳ Đại hội XIV phải là giai đoạn mà thể chế văn hóa được hoàn thiện thực chất, công nghiệp văn hóa trở thành một trụ cột kinh tế - văn hóa, chuyển đổi số văn hóa diễn ra sâu rộng, có hệ thống, thương hiệu văn hóa - hình ảnh quốc gia được định hình rõ nét, nguồn nhân lực văn hóa - sáng tạo được đầu tư chiến lược, và trên hết, hệ giá trị Việt Nam được nuôi dưỡng, lan tỏa trong đời sống xã hội.

Bởi suy cho cùng, văn hóa, cũng giống như giáo dục, chính là “nguyên khí của quốc gia”: Nếu nguyên khí vượng thì đất nước hưng thịnh; nếu nguyên khí suy thì phát triển không thể bền vững. Trước thềm Đại hội XIV, nhìn thẳng vào 15 thách thức ấy cũng là cách chúng ta chuẩn bị hành trang tinh thần cho một chặng đường mới - tự tin hơn, bản lĩnh hơn, nhân văn hơn, sáng tạo hơn để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, soi đường cho dân tộc Việt Nam vươn mình trong kỷ nguyên mới./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TRIỂN LÃM "QUỐC HỘI VIỆT NAM - 80 NĂM ĐỒNG HÀNH CÙNG DÂN TỘC": CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VÀ CUỘC TỔNG TUYỂN CỬ ĐẦU TIÊN!

     Ngược dòng thời gian trở về những ngày đầu lập quốc, qua các tài liệu, hình ảnh, hiện vật quý, triển lãm “Quốc hội Việt Nam - 80 năm đồng hành cùng dân tộc” diễn ra ngày 6/1/2026 tại Nhà Quốc hội sẽ làm nổi bật vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh với cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội nước Việt Nam năm 1946!

“Tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử…”

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời ngày 2/9/1945 trong bối cảnh nhiều khó khăn, thách thức. Nhân dân và chính quyền cách mạng phải chống lại âm mưu của các thế lực đế quốc muốn thủ tiêu nền độc lập của dân tộc vừa giành được.

Ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ và trình bày “Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, gồm 6 vấn đề cấp bách hơn cả, trong đó có nội dung “…Chúng ta phải có Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu…”

Người cũng tạo hành lang pháp lý cho thành công của Tổng tuyển cử bằng Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/10/1945, ấn định ngày Tổng tuyển cử và thể lệ cuộc Tổng tuyển cử.

Trong bài viết “Ý nghĩa Tổng tuyển cử” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên báo Cứu quốc số 130, ngày 31/12/1945, Người viết: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công việc nhà nước. Trong Tổng tuyển cử, hễ là những người lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử. Không chia trai gái, giàu nghèo, tôn giáo, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó…”

Trước giờ phút lịch sử, “Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu” của Người (đăng trên báo Cứu Quốc, số 134 ra ngày 5/1/1946) đã truyền đi ngọn lửa sục sôi: “Ngày mai mồng 6 tháng Giêng năm 1946. Ngày mai là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ. Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình.

Ngày mai, dân ta sẽ tỏ cho các chiến sĩ ở miền Nam rằng: Về mặt trận quân sự, thì các chiến sĩ dùng súng đạn mà chống quân thù. Về mặt chính trị, thì nhân dân dùng lá phiếu mà chống với quân địch. Một lá phiếu cũng có sức lực như một viên đạn.

Ngày mai, quốc dân ta sẽ tỏ cho thế giới biết rằng dân Việt Nam ta đã: Kiên quyết đoàn kết chặt chẽ, Kiên quyết chống bọn thực dân, Kiên quyết tranh quyền độc lập. Ngày mai, dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình, và gánh vác việc nước…”

Hiện thân sống động nhất cho tinh thần dân chủ

Ngày 6/1/1946, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên đã diễn ra trong cả nước, kể cả các vùng đang có chiến sự ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên… Ở Hà Nội, 91,95% của 74 khu nội thành và 118 làng ngoại thành đã đi bỏ phiếu trong không khí tràn đầy phấn khởi của ngày hội dân chủ. Kết quả 6/74 ứng cử viên đã trúng cử đại biểu Quốc hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh trúng cử với số phiếu cao nhất (98,4%).

Ở các địa phương khác, cuộc Tổng tuyển cử cũng được tiến hành sôi nổi. Trong cả nước, số cử tri đi bỏ phiếu đạt tỉ lệ 89%, 333 đại biểu được bầu vào Quốc hội Khóa I, là minh chứng hùng hồn cho sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc và niềm tin tuyệt đối vào chế độ mới.

Tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946 đã khẳng định quyền làm chủ của Nhân dân và sức mạnh nhân dân, tinh thần đoàn kết và vai trò của một hệ thống chính trị xây dựng trên nền tảng dân chủ, pháp quyền. Thắng lợi ấy là minh chứng rõ rệt cho ý chí độc lập, tinh thần yêu nước và khát vọng dân chủ của dân tộc Việt Nam ngay từ buổi đầu dựng nước trong thời đại mới.

Ở đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người thiết kế, tổ chức mà còn là hiện thân sống động nhất cho tinh thần dân chủ ấy. Người đã chứng minh rằng: Một dân tộc chỉ thực sự tự do khi mỗi người dân đều ý thức được quyền lợi và trách nhiệm của mình đối với vận mệnh đất nước.

Những giá trị về dân chủ, pháp quyền và đại đoàn kết mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt nền móng từ 80 năm trước vẫn còn nguyên giá trị, tiếp tục soi sáng con đường phát triển của Quốc hội và đất nước trong kỷ nguyên mới./.
Yêu nước ST.

MỐI NGUY HẠI KHÔN LƯỜNG TỪ TƯ TƯỞNG XÉT LẠI LỊCH SỬ!

     Trên thực tế, đa số các quan điểm xét lại, phủ nhận lịch sử đều xuất phát từ những thế lực chống đối, thành phần bất mãn chính trị và cơ hội chính trị. Tuy vậy, vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân chưa nhận thức đầy đủ về tính nghiêm trọng của vấn đề, thiếu cảnh giác, vô hình trung đã để cho các quan điểm, tư tưởng xét lại lịch sử lan truyền trong đời sống xã hội, từ đó gây ra nhiều hệ lụy.

1. “Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”.

Lời căn dặn năm xưa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của lịch sử đối với sự tồn vong của đất nước. Lịch sử là tập hợp những sự kiện đã xảy ra, hàm chứa nhiều bài học sâu sắc trong tiến trình vận động và phát triển của cả một dân tộc. Vì lẽ đó, lịch sử không bao giờ chỉ đơn thuần là câu chuyện trong quá khứ mà còn là mối dây liên kết bền chặt giữa các thế hệ, đúc kết kinh nghiệm của cha ông để kiến tạo con đường phát triển cho hôm nay và mai sau.

Đất nước Việt Nam có bề dày lịch sử dựng nước và giữ nước đáng tự hào. Nhân dân Việt Nam có truyền thống trọng đạo nghĩa, luôn ghi nhớ công lao của các thế hệ đi trước, giữ gìn và phát huy những giá trị cao đẹp được tích lũy xuyên suốt chiều dài lịch sử. Nhận thức được điều đó, kể từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng lịch sử truyền thống dân tộc, coi đó là nguồn lực nội sinh, kết hợp với ánh sáng soi đường của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để lãnh đạo đất nước đi qua bao cuộc “thử lửa” của thời đại, viết tiếp những trang sử hào hùng của dân tộc.

Việc tìm hiểu, khai thác giá trị lịch sử có mối quan hệ khăng khít với sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang thực hiện. Có lẽ vì thế mà lịch sử cũng trở thành một nội dung chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị với nhiều thủ đoạn tinh vi, nham hiểm.

2. Trong đời sống xã hội ở nước ta hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm sai trái, tư tưởng lệch lạc nhằm cắt đứt con đường tìm về với ngọn nguồn lịch sử, tiếp sức cho những mưu đồ phá hoại thâm độc.

Thứ nhất, những quan điểm, tư tưởng xét lại về vai trò của lịch sử, gạt bỏ sức ảnh hưởng của lịch sử khỏi đời sống xã hội dần làm phai nhạt lòng yêu nước, ý chí cách mạng, bản sắc văn hóa dân tộc trong quần chúng nhân dân. Những người theo tư tưởng này cho rằng lịch sử không có nhiều ý nghĩa trong điều kiện nền kinh tế thị trường và cách mạng khoa học-công nghệ, do đó cần giảm bớt sự quan tâm đến lịch sử để tập trung cho các lĩnh vực khác, đồng thời giảm bớt hoặc bỏ môn học Lịch sử trong chương trình giáo dục ở các cấp học.

Quan điểm sai trái này đánh vào tâm lý thực dụng của một bộ phận quần chúng, nhất là đối tượng thanh thiếu niên vì họ tuy có sự năng động, nhiệt huyết nhưng chưa có bản lĩnh vững vàng, thường gặp khó khăn trong việc tiếp thu giá trị sâu sắc của bài học lịch sử. Quan điểm phủ nhận vai trò của lịch sử rất phổ biến trên không gian mạng với hình thức chủ yếu là những bài viết mang tính định hướng dư luận, kích động tâm lý đám đông. Tư tưởng phủ nhận vai trò của lịch sử vẫn rất nguy hiểm, đánh trực diện vào tư duy của nhiều người trẻ-thế hệ tương lai của đất nước, khiến họ lãng quên lịch sử dân tộc, vô cảm với vận mệnh quốc gia, lâu dài sẽ dẫn tới nguy cơ đánh mất độc lập, tự chủ, phụ thuộc vào kẻ khác.

Thứ hai, các quan điểm xuyên tạc, xét lại lịch sử đến từ nhiều loại đối tượng khác nhau, chủ yếu từ các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Thủ đoạn quen thuộc của các đối tượng xuyên tạc lịch sử là viết sách, viết báo, đăng tải bài viết dưới danh nghĩa “công trình nghiên cứu” để đưa số liệu, thông tin sai trái, đổi trắng thay đen, xuyên tạc trắng trợn những sự kiện lịch sử đã xảy ra; xoáy sâu vào một vài hạn chế của cách mạng Việt Nam trong những thời kỳ trước đây. Các đối tượng tập trung vào những sự kiện từ năm 1945 trở về sau vì đây là quãng thời gian Đảng ta nắm quyền lãnh đạo công cuộc kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu của thủ đoạn xuyên tạc lịch sử là nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng.

Bên cạnh thủ đoạn xuyên tạc lịch sử, các đối tượng chống phá còn sử dụng một chiêu bài tinh vi hơn, đó là xét lại lịch sử. Hoạt động xét lại lịch sử có phạm vi rộng hơn, không chỉ hướng đến các sự kiện trong lịch sử hiện đại mà còn nhắm vào các thời kỳ lịch sử trung đại, cận đại. Thay vì trực tiếp xuyên tạc, các đối tượng theo khuynh hướng xét lại lịch sử đi sâu vào phân tích, lật lại những vấn đề chưa rõ ràng, tính chính nghĩa của các nhân vật lịch sử và tính đúng đắn của sự kiện lịch sử; đặt ra giả thuyết để tạo sự nghi ngờ ở người đọc, người nghe đối với nguồn lịch sử chính thống; ca ngợi phồn vinh giả tạo của chế độ ngụy quyền để khơi gợi tư duy xét lại, phủ định sự nghiệp đấu tranh cách mạng; tạo ra sản phẩm giải trí, sáng tác văn học-nghệ thuật mượn chất liệu lịch sử để cài cắm thông điệp với dụng ý xấu. Hoạt động xét lại lịch sử có mục đích chính là phủ nhận quan điểm lịch sử chính thống đã được Đảng, Nhà nước ta công nhận và cũng không nằm ngoài mục đích chống phá Đảng, cách mạng và chế độ ta.

3. Bảo vệ giá trị, tầm quan trọng của lịch sử, bảo vệ sự thật lịch sử là bộ phận không thể tách rời trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Để ngăn chặn những hậu quả nguy hại đến từ xu hướng xét lại lịch sử, trước hết cần sớm thống nhất những nội dung về lịch sử trong tài liệu được sử dụng ở các cấp học. Phải nhấn mạnh vai trò không thể thay thế của môn học Lịch sử trong chương trình giáo dục-đào tạo; không được phép hoài nghi về tầm quan trọng của lịch sử. Nội dung học tập cần có sự chọn lọc, bảo đảm cho người học nắm được sự kiện lịch sử và bài học lịch sử, đồng thời đáp ứng những yêu cầu về văn hóa, chính trị, ngoại giao, công tác dân tộc, tôn giáo trên cơ sở lợi ích quốc gia và duy trì, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Việc biên soạn, phát hành tài liệu lịch sử, sản phẩm giải trí, sáng tác văn học-nghệ thuật mượn chất liệu lịch sử phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và thường xuyên được kiểm tra, giám sát. Cho phổ biến rộng rãi những nguồn sử liệu chính thống đã được công nhận để sử dụng trong nghiên cứu khoa học. Với những vấn đề, sự kiện lịch sử chưa rõ ràng, cần tập trung đầu tư, huy động nguồn nhân lực, vật lực để nghiên cứu một cách căn cơ, thuyết phục, hiệu quả.

Trong tình hình hiện nay, cần tăng cường bồi dưỡng kiến thức, nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong đấu tranh với các quan điểm xét lại lịch sử. Trước hết, chú trọng vào học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà nền tảng là quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử vì đây là nguồn cung cấp thế giới quan, phương pháp luận chính xác khi nghiên cứu khoa học, là vũ khí để đấu tranh với những luận điệu đòi xét lại lịch sử. Bản thân cán bộ, đảng viên khi tiến hành đấu tranh cũng phải nắm được sự thật lịch sử, các bài học lịch sử để vô hiệu hóa những quan điểm thù địch, chống phá trên lĩnh vực này; phải lấy tinh thần bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc, lợi ích giai cấp, bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc làm định hướng khi tiến hành đấu tranh. Việc đấu tranh bảo vệ giá trị của lịch sử phải tuân thủ, chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

Bên cạnh đó, cần sớm phát hiện, ngăn chặn và có biện pháp xử lý phù hợp, thích đáng đối với những chủ thể có hành vi xuyên tạc, xét lại lịch sử. Trên thực tế, đa số các quan điểm xét lại, phủ nhận lịch sử đều xuất phát từ những thế lực chống đối, thành phần bất mãn chính trị và cơ hội chính trị. Tuy vậy, vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân chưa nhận thức đầy đủ về tính nghiêm trọng của vấn đề, thiếu cảnh giác, vô hình trung đã để cho các quan điểm xét lại lịch sử lan truyền trong đời sống xã hội. Do đó, thời gian tới, cần bảo đảm nghiêm túc, thực chất hơn nữa trong công tác đấu tranh, nhìn nhận đúng đắn về vấn đề này để bảo vệ lịch sử chân chính, bảo vệ thành quả cách mạng mà các thế hệ cha anh đi trước đã phải hy sinh biết bao xương máu để có được nền độc lập, tự do cho Tổ quốc hiện nay./.
Môi trường ST.

CHỚ ĐỂ BỊ... “DẮT MŨI”!

     Diễn biến hòa bình không ồn ào, không súng đạn. Nó bắt đầu từ những câu chuyện tưởng như vô thưởng vô phạt, rồi âm thầm làm lung lay niềm tin...

Chiều muộn, khi ông Ba ra tới quán nước đầu ngõ thì thấy Tuấn rời mắt khỏi màn hình điện thoại, quay sang cô Hương-chủ quán, nói với giọng phát hiện:

 - Này, cô đã đọc chưa? Trên mạng đang bàn tán rôm rả lắm. Kết quả Hội nghị Trung ương 15 cho thấy các phe phái trong nội bộ Đảng đấu đá nhau ghê lắm. Nhưng phe “quê cô” thắng lớn rồi.

Rót cốc trà mời ông Ba, quay sang Tuấn, cô Hương tò mò:

- Tôi cũng đọc mấy bài phân tích, nghe có vẻ... hợp lý. Họ nói đây toàn là “tin nội bộ” đấy.

Không vội phản bác, chậm rãi nhấp ngụm trà, ông Ba nêu vấn đề:

- Nếu là “tin nội bộ” thì sao lại đưa lên mạng công khai, ai cũng đọc được?

Tuấn cười xòa: Thời buổi này, “rò rỉ thông tin” là chuyện thường mà bác. Người ta phân tích sắc sảo lắm, thuyết phục lắm.

Nhìn thẳng vào mắt Tuấn, giọng ông Ba lớn hơn:

- Thuyết phục vì nó đánh trúng tâm lý tò mò của người đọc. Nhưng suy diễn khác với phân tích, các cháu ạ.

- Họ “đặt giả thiết”, “bình luận nhân sự”, “so sánh phe phái” chứ không chống phá gì đâu bác ạ! Tuấn đáp lời ông Ba.

- Đó mới là điều nguy hiểm nhất, bởi việc gieo rắc thông tin "đấu đá nội bộ" trong Đảng có thể gây nguy cơ làm xói mòn niềm tin.

Ông Ba chậm rãi nói tiếp:

- Hội nghị Trung ương 15 bàn nhiều việc lớn, trong đó có công tác nhân sự, nhưng đều dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ, thảo luận thẳng thắn, quyết định theo đa số và vì lợi ích chung. Trong khi đó, các thế lực thù địch cố tình cắt khúc thông tin, gán ghép động cơ, dựng chuyện để người đọc suy diễn, vô thức lan truyền thông tin.

Tuấn cau mày: Ý bác là... mình vô tình tiếp tay?

- Đúng vậy. Chia sẻ thông tin chưa kiểm chứng là giúp thế lực thù địch thực hiện mưu đồ xấu chống phá cách mạng. Thủ đoạn của chúng tinh vi, chỉ cần ta “hùa theo” là đủ.

Nhìn xuống màn hình điện thoại, giọng cô Hương chậm lại:

- Tôi cũng hay bị cuốn theo lượt xem, lượt chia sẻ. Đúng là nghĩ lại, ai cũng suy diễn, bàn tán kiểu “phe nọ, cánh kia” thì sự việc sẽ càng ngày càng phức tạp, nhân dân sẽ dao động, mất niềm tin trước mớ thông tin hỗn độn.

Gật đầu đồng ý, ông Ba tiếp lời: Đúng vậy. Đoàn kết trong Đảng là nền tảng của đoàn kết toàn dân. Các luận điệu kích động, chia rẽ khi khoác áo “phân tích”, “dự đoán” sẽ nguy hiểm hơn nhiều.

Để chiếc điện thoại sang một bên, Tuấn buông tiếng thở dài:

- Nghe bác phân tích, cháu thấy mình bị "dắt mũi" thật. Tưởng đọc để biết, nhưng thực ra là bị gieo rắc nghi ngờ.

Nhấp ngụm trà, ông Ba nói thêm: Diễn biến hòa bình không ồn ào, không súng đạn. Nó bắt đầu từ những câu chuyện tưởng như vô thưởng vô phạt, rồi âm thầm làm lung lay niềm tin. Trách nhiệm của mỗi người là tỉnh táo, chọn lọc thông tin, không suy diễn, không chia sẻ những thứ làm tổn hại sự đoàn kết chung của Đảng, của dân tộc các cháu nhé./.
Khuyết danh ST.

KHÔNG MƠ HỒ GIỮA TỰ DO DÂN CHỦ HỢP PHÁP VỚI LỢI DỤNG TỰ DO DÂN CHỦ ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ CHẾ ĐỘ!

     Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) không phải là “cái gậy” để đàn áp tự do ngôn luận như những gì mà thế lực thù địch bịa đặt, mà là tấm khiên cần thiết để bảo vệ quyền tự do dân chủ được thực thi một cách thực chất. Quyền tự do dân chủ đích thực luôn đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ tôn trọng pháp luật. Mọi sự xuyên tạc, lợi dụng các quyền tự do dân chủ để thực hiện các mưu đồ chính trị đen tối đều không xứng đáng được hưởng các quyền tự do dân chủ một cách hợp pháp, chính đáng.

Thời gian qua, lợi dụng các vụ án liên quan đến đối tượng có hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân theo Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025), những phần tử cơ hội chính trị, phản động và một số tổ chức thiếu thiện chí trong và ngoài nước đã quy chụp, xuyên tạc vấn đề quyền con người ở Việt Nam. Họ cho rằng quy định đó là công cụ để “đàn áp tiếng nói phản biện”, “bóp nghẹt tự do ngôn luận”.

Các luận điệu này được ngụy trang dưới chiêu bài “bảo vệ quyền con người”, “bảo vệ tự do ngôn luận” nhằm phủ nhận tính chính danh, tính hợp hiến, hợp pháp và sự cần thiết của quy định pháp luật quan trọng nhằm bảo vệ an ninh quốc gia và thể chế chính trị. Những thủ đoạn, chiêu trò “đánh lận con đen” này vẫn thường được các đối tượng sử dụng nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, gây bất lợi cho Việt Nam trong đối ngoại.

Bản chất pháp lý ưu việt của Việt Nam phù hợp với luật pháp quốc tế

Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã hiến định: “Các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (khoản 1, Điều 14). 

Khoản 2, Điều 14 Hiến pháp năm 2013 cũng hiến định, quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Quy định này một mặt nhằm tránh các cơ quan nhà nước xâm phạm quyền con người, quyền công dân; mặt khác cũng hạn chế khả năng lợi dụng vấn đề quyền con người, quyền công dân để thực hiện các hành vi ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.

Hiến pháp năm 2013 đã làm rõ hơn nguyên tắc quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân, trong đó mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội; việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (Điều 15). Quy định này hoàn toàn phù hợp với pháp luật nhân quyền quốc tế, như Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (Việt Nam là thành viên từ năm 1982) quy định việc thực hiện quyền tự do ngôn luận phải “kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt” và “có thể bị giới hạn bởi pháp luật” vì các lý do như tôn trọng quyền hoặc uy tín của người khác, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội.

Chính vì thế, Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) quy định về “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” là hoàn toàn phù hợp với pháp luật nhân quyền quốc tế và hợp hiến, hợp pháp ở Việt Nam.

Tội danh này quy định người phạm tội cố ý thực hiện các hành vi thể hiện dưới các phương thức, thủ đoạn lợi dụng các quyền tự do dân chủ như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền khác với mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, như: Viết, biên tập, đăng tải các bài đả kích, lăng mạ, bôi nhọ, nói xấu, xúc phạm danh dự, nhân phẩm cá nhân các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước trên internet và các phương tiện truyền thông khác làm ảnh hưởng, thiệt hại đến uy tín của các cá nhân, cơ quan, tổ chức, thanh danh của Đảng, Nhà nước, gây mất trật tự công cộng, tạo tâm lý hoang mang, lo lắng, bất an trong xã hội.

Các chế tài đối với người phạm tội này (bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 7 năm) là các biện pháp cần thiết để phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi nguy hiểm này đối với xã hội, bảo đảm, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các chủ thể và lợi ích quốc gia-dân tộc.

Thực tế pháp luật hầu hết các quốc gia dân chủ đều có quy định hình sự tương tự để xử lý các hành vi lạm dụng tự do ngôn luận gây hại nghiêm trọng, như: Tội phỉ báng, vu khống (Anh, Mỹ, Australia...); tội kích động thù hận (nhiều nước châu Âu); tội tán phát thông tin sai lệch gây hoang mang dân chúng (Pháp, Đức...); tội xúc phạm quốc kỳ, quốc huy (Mỹ, Ấn Độ...). Do vậy, Nhà nước quy định “tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” trong pháp luật hình sự hiện hành là phù hợp thông lệ pháp luật thế giới và thực tiễn đất nước.

Việc quy định “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” trong pháp luật hình sự hiện hành ở Việt Nam nhằm: 1) Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bao gồm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích kinh tế, văn hóa, xã hội... Những lợi ích này là nền tảng cho sự tồn vong và phát triển của quốc gia, dân tộc; 2) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, gồm uy tín, danh dự, nhân phẩm, bí mật kinh doanh, tài sản... của các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp; 3) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, gồm danh dự, nhân phẩm, uy tín, đời tư, bí mật cá nhân, gia đình, tài sản... của mỗi công dân; 4) Bảo vệ môi trường thông tin lành mạnh, gồm chống lại sự lan truyền thông tin giả mạo, độc hại, gây hoang mang, chia rẽ xã hội, phá hoại niềm tin.

Như vậy, việc quy định tội danh này không nhằm hạn chế tự do phát biểu chính kiến hay phản biện xã hội, mà nhằm ngăn chặn sự lạm dụng, sử dụng các quyền tự do đó như một công cụ để gây hại một cách có chủ đích và nghiêm trọng đến các giá trị được pháp luật bảo vệ.

Thực tế, không phải mọi phát biểu trái chiều của cá nhân đều bị coi là phạm tội. Những hành vi này chỉ cấu thành tội phạm khi nó thực sự xâm phạm đến một trong các đối tượng được pháp luật hình sự bảo vệ (lợi ích Nhà nước, quyền lợi tổ chức, cá nhân) do người có đủ năng lực pháp luật hình sự thực hiện.

Vạch trần các luận điệu xuyên tạc Điều 331 của Bộ luật Hình sự hiện hành

Thứ nhất, luận điệu cho rằng “Điều 331 dùng để đàn áp tiếng nói phản biện, chỉ trích chính quyền” là sự suy diễn ác ý và sai lầm của thế lực thù địch.

Phản biện xã hội đúng quy định pháp luật, vì lợi ích chung, lành mạnh, xây dựng, dựa trên sự thật và động cơ trong sáng luôn được khuyến khích và bảo vệ tại Việt Nam. Hàng nghìn ý kiến phản biện trên báo chí, diễn đàn Quốc hội, hội thảo khoa học, qua các kênh tiếp công dân... là minh chứng rõ ràng cho điều này. Vừa qua, kết quả góp ý sửa đổi Hiến pháp năm 2013 cho thấy sự tham gia tích cực của người dân với hơn 280 triệu lượt ý kiến góp ý từ các cơ quan, tổ chức và cá nhân trên cả nước, trong đó có gần 36,6 triệu ý kiến từ cá nhân, và tỷ lệ tán thành đạt 99,75% cho thấy sự đồng thuận cao của xã hội đối với dự thảo Hiến pháp sửa đổi.

Thực tiễn đó cho thấy, Việt Nam không hạn chế quyền tự do ngôn luận, báo chí, quyền tiếp cận thông tin, quyền trưng cầu ý dân, phản biện xã hội. Ngược lại, việc thực hiện các quyền này đúng quy định pháp luật, vì lợi ích chung luôn được tôn trọng, bảo đảm và khuyến khích thực hiện đầy đủ trong thực tế. Điều 331 của Bộ luật Hình sự hiện hành chỉ áp dụng đối với hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xuyên tạc, phỉ báng, tuyên truyền chống phá Đảng, chống phá Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, luận điệu cho rằng “Điều 331 được sử dụng để bịt miệng blogger, nhà báo độc lập” là sự đánh tráo khái niệm và ngụy biện của thế lực thù địch.

Nhà báo, blogger hoạt động hợp pháp, tuân thủ pháp luật, đạo đức nghề nghiệp, cung cấp thông tin chính xác, chính thống, có trách nhiệm luôn được tôn trọng. Hệ thống báo chí chính thống và nhiều blogger tuân thủ pháp luật vẫn hoạt động bình thường ở Việt Nam.

Việc một số cá nhân tự nhận là “nhà báo”, “blogger” nhưng lợi dụng danh nghĩa này để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật (như cố ý đăng tin sai sự thật, xuyên tạc, bôi nhọ cá nhân, tổ chức, tán phát thông tin chống phá Nhà nước) thì có thể bị xử lý theo Điều 331 hoặc các điều luật khác (như "Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông"-Điều 288 của Bộ luật Hình sự).

Việc xử lý họ là vì hành vi phạm tội, không phải vì danh nghĩa hay nghề nghiệp của họ. Luật Báo chí năm 2016 phân biệt rõ nhà báo hoạt động trong cơ quan báo chí được cấp phép với người hoạt động thông tin trên mạng (không phải là nhà báo theo luật định). Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin, nhưng đều phải tuân thủ pháp luật.

Thứ ba, luận điệu cho rằng “Việt Nam vi phạm cam kết quốc tế về tự do ngôn luận khi có Điều 331” là sự vu khống của thế lực thù địch.

Điều 331 của Bộ luật Hình sự hiện hành phù hợp với giới hạn quyền được quy định tại Điều 19 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966. Quy định này cho phép các quốc gia áp dụng các biện pháp giới hạn quyền nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe, đạo đức xã hội, quyền hoặc uy tín của người khác. Việc thực thi Điều 331 chính là để bảo vệ các giá trị đó. Các báo cáo quốc gia định kỳ của Việt Nam về thực hiện Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 đều giải trình rõ quan điểm và thực tiễn này.

Tựu trung lại, Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) không phải là “cái gậy” để đàn áp tự do ngôn luận như những gì thế lực thù địch bịa đặt, mà là “tấm khiên” cần thiết để bảo vệ quyền tự do dân chủ được thực thi một cách thực chất, có trật tự và an toàn. Quy định đó nhằm bảo vệ xã hội khỏi những hành vi lạm dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích chung, quyền lợi chính đáng của người khác. Quyền tự do dân chủ đích thực luôn đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ tôn trọng pháp luật. Mọi sự xuyên tạc, lợi dụng các quyền tự do dân chủ để thực hiện các mưu đồ chính trị đen tối đều không xứng đáng được hưởng các quyền tự do dân chủ một cách hợp pháp, chính đáng./.
Môi trường ST.

Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2026

TỈNH TÁO TRƯỚC LUẬN ĐIỆU “ĐẤT NƯỚC HÒA BÌNH, KHÔNG CẦN ĐẦU TƯ CHO QUỐC PHÒNG, AN NINH, CHỈ TẬP TRUNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ”!

     Thời gian gần đây, một số ý kiến cho rằng, đất nước Việt Nam đã giành độc lập, thống nhất, hòa bình đã tồn tại trên mảnh đất Việt Nam nửa thế kỷ, do đó không nhất thiết phải đầu tư cho quốc phòng, an ninh mà cần tập trung phát triển kinh tế thì đất nước mới giàu mạnh, thịnh vượng, phồn vinh. Tuy nhiên, tình hình chính trị quân sự trên thế giới và thực tiễn lịch sử, cách mạng Việt Nam không tương thích với luận điệu phiến diện, sai lầm này.

Quan điểm phiến diện, cực đoan, ẩn chứa âm mưu nguy hại

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và cuộc cách mạng khoa học-công nghệ diễn ra mạnh mẽ hiện nay, một số người cho rằng, chiến tranh đã lùi vào dĩ vãng, xung đột vũ trang và chiến tranh không còn là nguy cơ đe dọa loài người. Quan điểm này dẫn đến nhận thức sai lệch: Nhân dân Việt Nam đang chung sống hòa bình, không có chiến tranh thì không cần phải đầu tư cho quốc phòng, an ninh; không cần xây dựng Quân đội và Công an mà phải quan tâm đầu tư nguồn lực, ngân sách cho phát triển kinh tế, chăm lo phúc lợi xã hội, nâng cao chất lượng đời sống người dân.

Không chỉ vậy, có quan điểm còn cho rằng, đầu tư cho quốc phòng, an ninh; xây dựng Quân đội và Công an là lãng phí, là không cần thiết trong thời bình, vì không có lý do để đầu tư, không cần thiết để tồn tại vì nó không sinh lời. Cách tiếp cận này cho rằng, thế giới hiện nay cũng như ở Việt Nam không còn nguy cơ chiến tranh, có chăng chỉ là xung đột vũ trang nhất thời. Theo họ, thời nay, các quốc gia, dân tộc chủ yếu lựa chọn phương pháp đối thoại và thương lượng hòa bình thay cho đối đầu; hợp tác và phát triển thay cho xung đột vũ trang để phòng tránh nguy cơ chiến tranh nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; tạo cơ hội mới để phát triển nên sẽ không có chiến tranh.

Theo quan điểm này, đầu tư cho quốc phòng, an ninh và xây dựng Quân đội, Công an là "rất tốn kém, thậm chí đẩy đất nước vào vòng xoáy của cuộc chạy đua vũ trang mới", trong khi đó, nền kinh tế trong kỷ nguyên số của Việt Nam rất cần đầu tư nhiều nguồn lực để đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, tăng thu nhập, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa cho xã hội, phục vụ tốt hơn nhu cầu của nhân dân sau những “cú sốc” mạnh do đại dịch Covid-19 gây ra. Do vậy, họ cho rằng cần phải tiết kiệm tiền của, sức lực để đầu tư cho sản xuất, kinh doanh, tăng trưởng kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống thay vì chi phí cho Quân đội, Công an mua sắm, chế tạo vũ khí trang bị hay hệ thống an ninh rất tốn kém. 

Thoạt nghe quan điểm trên, có người cho là có lý. Nhưng nhìn sâu vào bản chất của vấn đề, quan điểm nêu trên thể hiện rõ tầm nhìn hạn hẹp, phiến diện, cực đoan khi tuyệt đối hóa vai trò của kinh tế, tuyệt đối hóa sức mạnh của kinh tế và làm giàu bằng mọi giá nhưng lại coi nhẹ quốc phòng, an ninh, phủ nhận vai trò của Quân đội và Công an. Họ đã tách rời hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là xây dựng đất nước luôn đi đôi với bảo vệ Tổ quốc, thậm chí đối lập nó với nhau. Có thể nói rằng, việc đề cao thái quá vai trò của tăng trưởng kinh tế, làm giàu bằng mọi cách thực chất là hạ thấp, coi thường nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Đây là âm mưu ẩn chứa ý đồ chính trị thâm độc, nguy hại, do đó cần đấu tranh, bác bỏ.

Thực hiện nhất quán quan điểm của Đảng “Bảo đảm quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên”

Thế giới hiện nay không hoàn toàn hòa bình như vẻ bề ngoài mà người ta nhìn thấy. Hàng loạt "điểm nóng” do xung đột quân sự vẫn đang tồn tại âm ỉ như Ukraine-Nga, Israel-Palestine, các cuộc nội chiến ở Sudan, Yemen, Syria, hay căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc về vấn đề Đài Loan, Campuchia và Thái Lan. Ở Việt Nam, nguy cơ bất ổn chính trị cũng còn tiềm ẩn...

Bên cạnh đó, các hình thức chiến tranh mới như chiến tranh mạng, chiến tranh thông tin, chiến tranh phi đối xứng, chiến tranh kinh tế... ngày càng phổ biến và rất nguy hiểm. Nguy cơ xung đột vũ trang, bạo loạn lật đổ, “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang không hề biến mất mà chỉ thay đổi hình thức, lúc thì công khai, lúc thì ngấm ngầm. Tình hình trở nên rất khó đoán định bởi nhiều kịch bản có thể diễn ra. Do đó, việc một số người đề xuất không cần đầu tư cho quốc phòng, an ninh, không cần xây dựng Quân đội và Công an là đồng nghĩa với quan điểm “tự sát”, tự làm suy yếu khả năng phòng thủ của quốc gia; là tước bỏ quyền chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa và giữ nước từ khi nước chưa nguy.

Thực tế cho thấy, Iraq và Libya từng có tiềm lực kinh tế đáng kể, dự trữ ngoại tệ của quốc gia khá cao, nhưng do mất cảnh giác và thiếu khả năng tự vệ, trong khi chiến lược và chính sách quốc phòng, an ninh yếu kém, họ đã rơi vào khủng hoảng trầm trọng kéo dài, nội chiến và bị can thiệp quân sự từ bên ngoài đã “bóp nghẹt” nền độc lập, tự do của họ. Hay như Liên Xô từng là một siêu cường, thành trì của phe xã hội chủ nghĩa nhưng vì quá nóng vội trong cải tổ nên đã mắc mưu “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc, bị chệch hướng xã hội chủ nghĩa và sai lầm về đường lối chính trị, kết cục đã bị sụp đổ.

Rõ ràng, một đất nước không có khả năng bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thì mọi thành quả kinh tế, sự giàu có đều có thể bị xóa sạch chỉ trong một thời gian ngắn. Phát triển kinh tế là cần thiết nhưng cũng rất cần một môi trường hòa bình, ổn định để nuôi dưỡng, giữ gìn và phát triển các giá trị, thành quả cách mạng đã giành được. Điều đó nhất thiết cần được bảo đảm bởi một nền quốc phòng, an ninh vững chắc, được Quân đội và Công an bảo vệ, gìn giữ hòa bình cho đất nước.

Sự lầm tưởng giữa "hòa bình tương đối" và "an toàn tuyệt đối" là một sai lầm trong nhận thức, dẫn đến những hành động sai trái trong thực tiễn không thể cứu vãn. Nhìn bề ngoài, không có chiến tranh, không có xung đột vũ trang không có nghĩa là không có nguy cơ đe dọa. Các mâu thuẫn, bất đồng, tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ, tôn giáo, dân tộc, quyền lợi chiến lược, nhất là lợi ích quốc gia dân tộc vẫn luôn tiềm ẩn, đe dọa an ninh quốc gia. Khi những mâu thuẫn đó bị kích hoạt, xung đột vũ trang và chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ lúc nào nếu quốc gia không đủ khả năng phòng vệ...

Sai lầm cốt tử của quan điểm coi quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế là hai lĩnh vực đối lập, loại trừ nhau. Thực ra, hai lĩnh vực này có mối quan hệ biện chứng, tác động và quy định lẫn nhau. Quốc phòng, an ninh là cơ sở, nền tảng vững chắc và là tiền đề cần thiết để phát triển kinh tế-xã hội. Một đất nước không ổn định chính trị, thường xuyên bị đe dọa từ bên ngoài và nguy cơ nổi loạn từ bên trong sẽ không thể thu hút đầu tư, không thể bảo vệ tài sản, nhân lực hay thành quả cách mạng và hòa bình mà các thế hệ đi trước đã đánh đổi bao xương máu mới giành được.

Trong bối cảnh tình hình phức tạp hiện nay, vị trí, vai trò chiến lược của quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc lại càng nổi bật và được tăng lên không ngừng, nhất là trong bối cảnh địa-chính trị toàn cầu đang có nhiều biến động khó lường. Trong bối cảnh đó, Việt Nam ý thức rõ rằng, nếu thiếu năng lực tự vệ, sao nhãng quốc phòng, an ninh; Quân đội và Công an suy yếu thì sẽ dễ dàng trở thành mục tiêu bị lấn át hoặc can thiệp, nguy cơ chủ quyền quốc gia bị đe dọa, nền hòa bình đất nước sẽ gặp nguy cơ bị “bốc hơi”.

Hiện nay, các loại hình chiến tranh mới như chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng, khủng bố xuyên quốc gia, biến đổi khí hậu, dịch bệnh toàn cầu; phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia... càng đòi hỏi Việt Nam phải có nền quốc phòng, an ninh vững mạnh, chuyên nghiệp, thiện chiến để ứng phó kịp thời, hiệu quả trước các tình huống. Vì lẽ đó, đầu tư vào an ninh, quốc phòng và xây dựng Quân đội, Công an hiện đại không chỉ là đầu tư cho vũ khí, trang bị kỹ thuật mà còn là đầu tư cho trí tuệ, khoa học-công nghệ, nhất là đầu tư cho con người cầm chắc tay súng bảo vệ Tổ quốc.

Quốc phòng, an ninh không thể xây dựng ngày một ngày hai hoặc mong muốn là có ngay được. Đây là hai lĩnh vực đòi hỏi phải chuẩn bị trước kỹ càng với quy trình nghiêm ngặt, đầu tư lớn, lâu dài, kiên trì, có tầm nhìn chiến lược cả về con người, thế trận, vũ khí, trang bị và các mối quan hệ liên quan. Khi nguy cơ xung đột, chiến tranh xảy ra, nếu không có sự chuẩn bị từ trước, từ sớm, từ xa, hậu quả sẽ vô cùng thảm khốc. Vì thế, để vững tin bước vào kỷ nguyên mới, nhất thiết và bắt buộc chúng ta phải luôn duy trì năng lực quốc phòng, an ninh đủ mạnh để răn đe, bảo vệ Tổ quốc và sẵn sàng ứng phó với mọi sự bất trắc có thể xảy ra.

Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn xác định quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên; đồng thời, phát triển kinh tế là trung tâm-một trong những nhiệm vụ chính trị hàng đầu, quyết định việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược an ninh quốc gia được triển khai thực hiện đồng bộ, thống nhất và hiệu quả, gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh. Nhiều công trình kết hợp quốc phòng, an ninh gắn chặt với phát triển kinh tế như hạ tầng trên đảo, tuyến biên giới, vùng sâu, vùng xa; ở đó không chỉ củng cố an ninh, chủ quyền mà còn thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của các địa phương. Các doanh nghiệp quốc phòng, an ninh đang chủ động, tích cực tham gia vào sản xuất dân dụng, đóng góp nhiều sản phẩm hàng hóa lưỡng dụng và tăng nguồn ngân sách cho nền kinh tế quốc dân.

Phát triển kinh tế-xã hội bền vững là rất cần thiết nhưng không thể tách rời việc xây dựng, củng cố quốc phòng, an ninh và bảo vệ Tổ quốc. Ngược lại, một nền quốc phòng, an ninh vững mạnh luôn là chỗ dựa vững chắc cho mọi nỗ lực phát triển kinh tế-xã hội bền vững. Vì lẽ đó, xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại là một yêu cầu khách quan, nhiệm vụ cấp bách, gắn chặt với sứ mệnh bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trước những thách thức ngày càng phức tạp của cả an ninh truyền thống và phi truyền thống, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định rõ phương châm: Phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, bảo đảm quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Trong bối cảnh đó, việc xây dựng, thực hiện hệ thống giải pháp toàn diện, đồng bộ để xây dựng và củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân vững mạnh toàn diện là vấn đề sống còn để giữ vững nền hòa bình, ổn định và phát triển đất nước bền vững trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.
Ảnh: Lực lượng vũ trang diễu binh, diễu hành tại Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2-9.
Môi trường ST.

“DÂN SỰ HÓA” QUÂN ĐỘI - MŨI TÊN ĐỘC TRONG CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”!

BÀI 4: GIẢI PHÁP LÀM thất bại mưu đồ “DÂN SỰ HÓA” QUÂN ĐỘI 
(Tiếp theo và hết)

     Âm mưu “dân sự hóa” Quân đội được các thế lực thù địch đẩy mạnh với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, mềm hóa và khó nhận diện. Trước tình hình đó, việc triển khai đồng bộ các giải pháp chính trị, pháp lý, tư tưởng, truyền thông và nghiên cứu chiến lược có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhằm bảo vệ bản chất cách mạng, sức mạnh chiến đấu và sự trung thành tuyệt đối của Quân đội với Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Củng cố nền tảng chính trị - pháp lý

Pháp luật là công cụ thể chế hóa đường lối, quan điểm của Đảng, đồng thời là nền tảng quy định cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và cơ chế lãnh đạo đối với Quân đội. Bất kỳ sự điều chỉnh nào trong lĩnh vực pháp lý, nếu không được kiểm soát chặt chẽ, đều có thể dẫn tới nguy cơ làm biến dạng tổ chức, suy giảm năng lực chỉ huy và suy yếu cơ chế Đảng lãnh đạo Quân đội. Thực tiễn lịch sử, nhất là bài học từ sự sụp đổ của Liên Xô cho thấy, “phi chính trị hóa” Quân đội khởi đầu từ những thay đổi tưởng như mang tính kỹ thuật nhưng được lồng ghép có chủ ý trong hệ thống pháp luật và chính sách.

Quá trình xây dựng pháp luật gồm nhiều khâu, nhiều chủ thể tham gia. Mỗi khâu đều có thể trở thành “cửa mở” để các thế lực thù địch cài cắm nội dung sai trái dưới danh nghĩa "dân chủ", "nhân quyền" hoặc “chuẩn mực quốc tế”. Vì vậy, toàn bộ quá trình xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật liên quan đến Quân đội và quân sự, quốc phòng phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng. Vai trò của cấp ủy các cấp, nhất là trong Quân đội, cần được phát huy ngay từ khâu đề xuất chủ trương, định hướng chính sách; thực hiện nghiêm cơ chế thẩm tra chính trị đối với các văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm thống nhất với Cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng.

Quản lý nhà nước về quân sự, quốc phòng là yêu cầu khách quan của xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, song không đồng nghĩa với “dân sự hóa” hay tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Ngược lại, quản lý nhà nước hiệu quả nhằm bảo đảm Quân đội hoạt động đúng chức năng, phát huy sức mạnh tổng hợp trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, đồng thời tôn trọng tính đặc thù của hoạt động quân sự; tránh đánh đồng quản lý quân sự với quản lý hành chính dân sự thuần túy. Việc tham chiếu, tiếp thu tiêu chuẩn và kinh nghiệm quốc tế chỉ có ý nghĩa khi đặt trên nền tảng lợi ích quốc gia-dân tộc và phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Do đó, cần tỉnh táo, thận trọng trước các hoạt động “tư vấn lập pháp”, “hỗ trợ kỹ thuật” từ một số tổ chức nước ngoài, vốn có thể tìm cách lồng ghép các khái niệm, tiêu chuẩn mang màu sắc “xã hội dân sự” hoặc mô hình “kiểm soát dân sự” theo kiểu phương Tây vào các dự thảo luật.

Quốc hội, với vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cần thực hiện tốt chức năng lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, đồng thời bảo đảm sự thống nhất giữa yêu cầu quản lý nhà nước và nguyên tắc Đảng lãnh đạo Quân đội; kiên quyết loại bỏ những biểu hiện có nguy cơ dẫn đến “phi chính trị hóa” Quân đội trong quá trình xây dựng luật.  

Minh bạch hóa, chuẩn hóa quy trình xây dựng pháp luật là giải pháp quan trọng nhằm hạn chế nguy cơ bị thao túng, tác động không minh bạch. Việc đẩy mạnh số hóa quy trình lập pháp, công khai tài liệu dự thảo trong phạm vi phù hợp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan chức năng tăng cường giám sát, kịp thời phát hiện sai sót, đề xuất sửa đổi các quy định bất cập. Giám sát xã hội giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm tính minh bạch, khách quan của quá trình xây dựng pháp luật. Tuy nhiên, hoạt động góp ý, phản biện cần được thực hiện đúng phạm vi, nguyên tắc, không để ảnh hưởng đến bí mật quân sự, an ninh quốc gia.

Nhân tố con người giữ vai trò quyết định, đặc biệt trong xây dựng pháp luật-lĩnh vực đòi hỏi bản lĩnh chính trị, trí tuệ và độ chính xác cao. Vì vậy, cần xây dựng đội ngũ cán bộ pháp chế vững vàng về chính trị, trong sáng về đạo đức, tinh thông về chuyên môn. Trọng tâm là tuyển chọn cán bộ giàu kinh nghiệm thực tiễn; tăng cường đào tạo kỹ năng lập pháp, kiến thức quốc phòng, an ninh, năng lực đấu tranh phản bác quan điểm sai trái; đồng thời đẩy mạnh luân chuyển giữa cơ quan tham mưu và cơ sở để gắn lý luận với thực tiễn.

Xây dựng “lá chắn tư tưởng”, chính quy, kỷ luật vững mạnh từ bên trong  

Âm mưu “dân sự hóa” Quân đội chủ yếu tác động vào nhận thức, quan điểm và lập trường chính trị của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Do đó, đấu tranh tư tưởng là mặt trận quyết định, gắn chặt với phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cần được đổi mới mạnh mẽ theo hướng thiết thực, sinh động, gắn với thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và đời sống bộ đội; cập nhật kịp thời các biểu hiện mới của chiến tranh thông tin và âm mưu chống phá giúp mỗi quân nhân nâng cao khả năng tự nhận diện, tự bảo vệ mình trước thông tin xấu độc. Để mỗi cán bộ, chiến sĩ nhận thức đầy đủ, rõ ràng, không mơ hồ, ảo tưởng trước các khuynh hướng tư tưởng lệch lạc về xã hội dân sự và xu hướng, âm mưu “dân sự hóa” Quân đội. Giáo dục chính trị phải đi đôi với quản lý tư tưởng, kỷ luật, giữ vững trận địa chính trị tinh thần trong từng cơ quan, đơn vị.  

Trong bối cảnh bùng nổ thông tin, không gian mạng trở thành mặt trận trọng yếu. Tất cả các cơ quan báo chí, nhất là báo chí Quân đội, cần giữ vai trò nòng cốt trong việc làm rõ bản chất chính trị của Quân đội nhân dân Việt Nam; khẳng định sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi; đồng thời kiên quyết phản bác các luận điệu phi lý về “quân đội trung lập”, “đứng ngoài chính trị”. Cần nghiên cứu, làm rõ các biểu hiện của “xã hội dân sự” gắn với xu hướng “dân sự hóa” Quân đội, qua đó nhận diện đúng mục tiêu, bản chất và thủ đoạn mà các thế lực thù địch đang theo đuổi. Trên cơ sở đó, kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, vạch trần những ý đồ ẩn sau cái gọi là “dân sự hóa” Quân đội vì dân, chịu sự quản lý của nhân dân, “dân chủ”, “nhân quyền” hay chia sẻ quyền lãnh đạo, quản lý Quân đội. Nắm chắc hoạt động của các tổ chức phản động, tổ chức chính trị đội lốt xã hội dân sự xuyên tạc, chống phá vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với Quân đội và kích động tư tưởng “dân sự hóa” Quân đội; triển khai đồng bộ các biện pháp đấu tranh cả về lý luận và thực tiễn để ngăn chặn, đẩy lùi những nhận thức sai lệch về xã hội dân sự. Đấu tranh, xử lý nghiêm các hội, nhóm mạo danh xã hội dân sự hoạt động trái phép, xâm hại an ninh quốc gia và làm tổn hại uy tín, danh dự của Đảng, Nhà nước và Quân đội.

Nếu pháp luật và sự lãnh đạo của Đảng là “phòng tuyến chính trị-pháp lý”, thì chính quy, kỷ luật chính là nội lực, là tuyến phòng thủ từ bên trong, giúp cán bộ, chiến sĩ luôn vững vàng, không bị hướng lái bởi các luận điệu sai trái. Các cơ quan, đơn vị cần nâng cao chất lượng xây dựng chính quy; tăng cường quản lý tư tưởng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ, nhất là đội ngũ cán bộ chủ trì, cán bộ chính trị, phải nêu gương về bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống và tác phong công tác; xây dựng môi trường văn hóa quân sự lành mạnh, kỷ cương, dân chủ. Quản lý chặt chẽ nhưng phải gần gũi, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của bộ đội để định hướng đúng đắn, không để các thế lực thù địch móc nối chống phá từ bên trong.

Khi cán bộ chính trị làm tốt vai trò “người dẫn đường về tư tưởng”; từng cán bộ, chiến sĩ nêu cao ý thức tự giác chấp hành kỷ luật, Quân đội sẽ trở thành khối thống nhất vững chắc, trận địa chính trị tinh thần được giữ vững, không thế lực nào có thể tác động từ bên ngoài hay chia rẽ từ bên trong.  

Thực hiện chức năng đội quân lao động sản xuất, xây dựng kinh tế với phương châm: Phục vụ quốc phòng là mục tiêu hàng đầu, kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế và quốc phòng, củng cố tiềm lực đất nước, hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội. Doanh nghiệp Quân đội phải giữ vững kỷ luật, môi trường rèn luyện, bản chất quân sự; không để lợi ích kinh tế chi phối mục tiêu chính trị, quân sự; không để tư duy thị trường thuần túy làm phai nhạt môi trường quân sự đặc thù; kiên quyết xử lý các sai phạm, không để các thế lực thù địch lợi dụng sai phạm cá biệt để quy chụp, xuyên tạc bản chất Quân đội, từ đó kêu gọi “dân sự hóa” các hoạt động quân sự. Đồng thời, đẩy mạnh minh bạch hóa, công khai tài chính trong khuôn khổ quy định bảo mật để nhân dân hiểu và giám sát, không để kẻ xấu lợi dụng sự thiếu thông tin để tung tin đồn thất thiệt.

Phát huy sức mạnh tổng hợp, xây dựng “thế trận tư tưởng toàn dân” 

Đấu tranh làm thất bại âm mưu “dân sự hóa” Quân đội trong tình hình mới cần được triển khai một cách bài bản, hệ thống, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Trong đó, cơ quan tuyên giáo các cấp, cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị trong Quân đội giữ vai trò nòng cốt trong tham mưu, tổ chức và dẫn dắt đấu tranh. Hệ thống tuyên giáo làm nhiệm vụ định hướng, điều phối, chủ động xây dựng nội dung, phương thức tuyên truyền phù hợp, triển khai giáo dục thống nhất, kịp thời phát hiện và phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc. Đội ngũ cán bộ chính trị là lực lượng xung kích, trực tiếp quản lý, nắm bắt, định hướng tư tưởng bộ đội; kịp thời phát hiện, xử lý các biểu hiện lệch chuẩn.

Quá trình đấu tranh cần được tổ chức chặt chẽ, thống nhất giữa các lực lượng tạo sức mạnh tổng hợp, hình thành “thế trận tư tưởng toàn dân”. Phát huy vai trò của truyền thông đại chúng, báo chí Quân đội làm nòng cốt. Với lợi thế am hiểu sâu sắc lĩnh vực quốc phòng, an ninh, bám sát thực tiễn hoạt động quân sự và đời sống bộ đội, báo chí Quân đội không chỉ kịp thời phản bác các thông tin sai trái mà còn chủ động định hướng dư luận, lan tỏa hình ảnh, truyền thống, sứ mệnh và đóng góp của Quân đội. Các lực lượng cần phối hợp nhịp nhàng, nâng cao năng lực dự báo, phản ứng thông tin, tổ chức thành một mặt trận thống nhất, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh phản bác và truyền thông tích cực. Tăng cường giáo dục quốc phòng, an ninh cho toàn dân, nhất là thế hệ trẻ; giúp họ hiểu đúng chính nghĩa dân tộc, bản chất, chức năng, tính chất nhiệm vụ của Quân đội, cũng như âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, từ đó không bị tác động bởi các luận điệu xuyên tạc núp bóng “cải cách”, “văn minh” hay “chuẩn mực quốc tế”.

Để đáp ứng yêu cầu đó, cần tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền; kết hợp giữa thông tin truyền thống và truyền thông hiện đại; khai thác hiệu quả các nền tảng mạng; tăng cường sản phẩm trực quan, dễ tiếp cận; chú trọng đào tạo kỹ năng truyền thông số, nâng cao năng lực phân tích, phản biện cho lực lượng chuyên trách. Khi công tác tuyên giáo, truyền thông đi trước một bước, chủ động dự báo và định hướng, trận địa tư tưởng sẽ được giữ vững, không để khoảng trống thông tin cho các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.

Trong bối cảnh chiến tranh thông tin ngày càng phức tạp, các luận điệu cổ xúy “dân sự hóa” Quân đội thường được ngụy trang tinh vi dưới vỏ bọc học thuật, cải cách hay chuẩn mực quốc tế. Điều đó đòi hỏi phải phát huy mạnh mẽ vai trò của các cơ quan nghiên cứu, học viện, nhà trường trong nghiên cứu, dự báo và phản biện khoa học, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Với chức năng nghiên cứu, các cơ quan này có khả năng nhận diện sớm xu hướng mới, sự điều chỉnh chiến lược và thủ đoạn tác động của các thế lực thù địch đối với Quân đội. Kết quả nghiên cứu phải được chuyển hóa thành các luận cứ khoa học và báo cáo tham mưu có giá trị thực tiễn, phục vụ hiệu quả cho việc chủ động phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ từ sớm, từ xa. Trong môi trường thông tin đa chiều, nhiều quan điểm sai trái, thù địch được che đậy dưới hình thức nghiên cứu hay phân tích chính sách, đòi hỏi phải kịp thời bóc tách, chỉ rõ tính phi lý, phản khoa học và nguy hại của chúng. Mặt khác, đề xuất các giải pháp đồng bộ nhằm bảo vệ Quân đội trước nguy cơ thẩm thấu từ bên ngoài, từ hoàn thiện pháp luật, củng cố cơ chế lãnh đạo của Đảng, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng, đến tăng cường kỷ luật, xây dựng chính quy và năng lực quản lý nhà nước về quốc phòng. Phát huy vai trò của các cơ quan nghiên cứu chiến lược chính là tăng cường sự gắn kết giữa nghiên cứu-tham mưu-hành động trong đấu tranh chống âm mưu “dân sự hóa” Quân đội./.
Ảnh minh họa: Hơn 300 chiến sĩ của Trung đoàn 98 và các đơn vị của Sư đoàn 316, Quân khu 2 phối hợp cùng cảnh sát cơ động, biên phòng tỉnh Lào Cai và 5 chó nghiệp vụ tham gia tìm kiếm người mất tích sau lũ quét tại thôn Làng Nủ, xã Phúc Khánh (tháng 9-2024).
Môi trường ST.

“DÂN SỰ HÓA” QUÂN ĐỘI - MŨI TÊN ĐỘC TRONG CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”!

BÀI 3: NHỮNG BIẾN TƯỚNG TINH VI CỦA ÂM MƯU “DÂN SỰ HÓA” QUÂN ĐỘI

     Trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, nếu như trước đây, các thế lực thù địch, phản động thường tấn công trực diện, thô thiển vào vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, thì nay chúng đã chuyển sang một phương thức mới tinh vi hơn, mềm mỏng hơn nhưng thâm độc gấp bội. Đó là cổ xúy cho trào lưu “dân sự hóa” quân đội. Được tiếp sức bởi “cơn bão” công nghệ số, âm mưu này càng tạo ra những “cái bẫy” nhận thức nguy hiểm.

“Ma trận” công nghệ trong kỷ nguyên số

Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, QĐND Việt Nam luôn là lực lượng nòng cốt, không thể thay thế, không thể phủ nhận, là công cụ sắc bén, hữu hiệu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương luôn nhất quán quyết tâm xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh” là yêu cầu tất yếu khách quan. Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII xác định mục tiêu xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” sớm hơn một nhiệm kỳ so với Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI xác định. Vậy nhưng, bất chấp thực tiễn lịch sử và những thành tựu to lớn đó, các thế lực thù địch lại cố tình “đi ngược chiều”, ra sức đẩy mạnh truyền bá cái gọi là “dân sự hóa” Quân đội. Thực chất, đây là một biến tướng nham hiểm, xảo quyệt của âm mưu “phi chính trị hóa”, nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Sự nguy hiểm của âm mưu này nằm ở chỗ nó được cộng hưởng bởi sức mạnh của công nghệ trong kỷ nguyên số.

Mặt trận tấn công đầu tiên chính là công tác tư tưởng trên không gian mạng. Các thế lực thù địch sử dụng công nghệ dữ liệu lớn (Big Data) để thu thập dữ liệu hành vi của người dùng mạng xã hội, đặc biệt nhắm vào nhóm sĩ quan trẻ, học viên quân sự, thanh thiếu niên và trí thức. Thông qua các thuật toán của Facebook, YouTube, TikTok..., chúng tạo ra các “buồng vang thông tin” (Echo Chamber). Khi một người dùng tiếp cận các nội dung về quân sự, trí tuệ nhân tạo (AI) sẽ tự động điều hướng và hiển thị dày đặc các bài viết, video ca ngợi mô hình quân đội phương Tây. Chúng lặp đi lặp lại thông điệp: Quân đội phương Tây hùng mạnh vì họ “đứng ngoài chính trị”, “trung lập” và có bộ trưởng quốc phòng là dân sự. Sự lặp lại có chủ đích này tạo ra một ảo giác nhận thức, khiến người xem lầm tưởng rằng “dân sự hóa” là xu thế văn minh của nhân loại, từ đó nảy sinh tâm lý so sánh, hoài nghi về cơ chế Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với QĐND Việt Nam.

Nguy hiểm hơn, các thế lực thù địch, phản động còn tận dụng công nghệ deepfake để tấn công vào niềm tin của bộ đội và nhân dân. Chúng cắt ghép, dàn dựng các video giả mạo về đời sống bộ đội với những hình ảnh tiêu cực, bịa đặt các vụ việc “bê bối”, “tham nhũng” hoặc “bạo lực” trong doanh trại. Mục đích của thủ đoạn này nhằm “giải thiêng”, bôi nhọ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, hạ thấp uy tín của Quân đội. Từ sự mất niềm tin đó, chúng dẫn dắt dư luận đến yêu sách: Cần phải “dân sự hóa” công tác quản lý, phải để các tổ chức dân sự giám sát Quân đội thì mới minh bạch, công khai...

Lật tẩy những “vỏ bọc” ngôn từ

Một trong những luận điểm cốt lõi mà các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền là: Quân đội chuyên nghiệp phải “trung lập về chính trị”, chỉ tuân thủ Hiến pháp và pháp luật chứ không phục vụ đảng phái nào. Đây là một sự lừa mị trắng trợn về mặt lý luận và thực tiễn. Thêm nữa, chúng cố tình đồng nhất hai khái niệm hoàn toàn khác nhau: “Hiện đại hóa về vũ khí, trang bị” và “Thay đổi về bản chất chính trị”. Chúng lập luận rằng, trong chiến tranh công nghệ cao, yếu tố quyết định là vũ khí tối tân và trình độ kỹ thuật, do đó, cần giảm bớt hoặc xóa bỏ hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị để bộ máy “tinh gọn”, “chuyên nghiệp”. Qua đó, nhằm tước bỏ “linh hồn” của Quân đội ta. Chúng muốn biến QĐND Việt Nam thành một đội quân “robot”, chỉ biết kỹ thuật mà vô cảm về chính trị, tách rời mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Thực chất, cái gọi là “quân đội trung lập”, “quân đội phi chính trị” ở phương Tây lại không bao giờ đứng ngoài chính trị. Ở các nước tư bản phát triển, quân đội tuyệt đối phục tùng quyền lực của giai cấp tư sản cầm quyền. Quân đội của các nước này không chỉ được dùng vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, dân tộc mà còn tham chiến tại các quốc gia khác nhằm mục tiêu chính trị là dựng lên ở nơi đó các chính quyền thân phương Tây, có lợi cho phương Tây. Đơn cử, trong nhiều thập niên trở lại đây, giới tướng lĩnh quân đội các nước phương Tây công khai can dự vào đời sống chính trị của nhiều nước có độc lập chủ quyền như Nam Tư, Afghanistan, Iraq, Libya...

Chiêu trò xuyên tạc các doanh nghiệp Quân đội

Âm mưu “dân sự hóa” của chúng không chỉ dừng lại ở lý luận chung chung mà còn tấn công trực diện vào chức năng cơ bản của QĐND Việt Nam. Với mục đích phủ nhận chức năng “đội quân lao động sản xuất” hòng phá vỡ thế trận quốc phòng, chúng đưa ra lý lẽ: “Quân đội chuyên nghiệp thì chỉ biết cầm súng, không được làm kinh tế”. Chúng lợi dụng một số sai phạm cá biệt của cá nhân trong hoạt động kinh tế (đã bị xử lý nghiêm) để quy chụp thành bản chất, đòi xóa bỏ các doanh nghiệp Quân đội. Chúng cố ý lờ đi sự thật rằng các đơn vị kinh tế-quốc phòng của ta đang đóng quân ở những nơi "đầu sóng ngọn gió”, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Sự hiện diện của Quân đội ở đó không chỉ để làm kinh tế, mà là để bảo vệ dân, giữ đất, bảo vệ biển, đảo, củng cố “thế trận lòng dân”, làm thất bại âm mưu bạo loạn lật đổ. Đòi “dân sự hóa” hoạt động này thực chất là muốn ta bỏ trống các địa bàn chiến lược. Đối với chức năng “đội quân công tác”, chúng xuyên tạc rằng đây là việc của chính quyền, Quân đội làm việc này là “sai chức năng”, “lãng phí nguồn lực huấn luyện”. Thậm chí, khi bộ đội dầm mình trong mưa lũ cứu dân, chúng còn dùng từ ngữ xúc phạm là “diễn”, “làm màu”. Mục đích của chúng là muốn tách rời mối quan hệ máu thịt “cá-nước” giữa Quân đội và nhân dân, biến Quân đội thành một lực lượng biệt lập, quan liêu, xa rời thực tiễn xã hội.

Thẩm thấu tư tưởng “quân đội trung lập”

Tiếp đến, QĐND Việt Nam chủ động mở rộng hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước, là trụ cột then chốt trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, bằng biện pháp hòa bình, giúp Quân đội ta học hỏi kinh nghiệm, tiếp thu kiến thức khoa học kỹ thuật và nâng cao vị thế trên trường quốc tế. Tuy nhiên, các thế lực thù địch cũng lợi dụng chính quá trình này để “thẩm thấu” tư tưởng “quân đội trung lập”. Chúng tung ra luận điệu rằng việc Quân đội cử sĩ quan học tập, công tác tại nước ngoài, trong đó có các quốc gia áp dụng mô hình “kiểm soát dân sự đối với quân đội”, thì sự “cọ xát” này dần làm phai nhạt nhận thức, gieo mầm tư tưởng “phi chính trị” và “tư bản hóa”; việc QĐND Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, diễn đàn quân sự, quốc phòng khu vực và quốc tế là “không phù hợp”, “vì lợi ích riêng” hoặc do “sức ép” từ bên ngoài, chứ không phải vì trách nhiệm với cộng đồng quốc tế. Thực tế, Việt Nam đến nay đã thiết lập quan hệ hợp tác quốc phòng với hơn 100 quốc gia và tổ chức quốc tế, trong đó có 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và tất cả nước lớn. Đồng thời, QĐND Việt Nam cũng tham gia và đóng góp hiệu quả vào các cơ chế của Liên hợp quốc về phát triển, gìn giữ hòa bình (đã cử hơn 1.100 lượt cán bộ, nhân viên tới các phái bộ gìn giữ hòa bình và trụ sở Liên hợp quốc) và ứng phó với an ninh phi truyền thống; cử lực lượng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa động đất tại Thổ Nhĩ Kỳ và Myanmar...

Âm mưu “chuyển hóa” hệ thống tư pháp quân đội

Mũi tấn công nguy hiểm khác là nhắm vào hệ thống kỷ luật và các mối quan hệ đặc thù trong nội bộ Quân đội, hòng làm tan rã sức mạnh đoàn kết. Thực tế cho thấy, một quân đội muốn mạnh phải có kỷ luật thép. Các thế lực thù địch, phản động hiểu rõ điều này và chúng đang tập trung tấn công vào “thanh bảo kiếm” duy trì kỷ luật của QĐND Việt Nam, đó là hệ thống tư pháp Quân đội (tòa án quân sự, viện kiểm sát quân sự, cơ quan điều tra hình sự). Chúng lợi dụng việc Đảng, Quân đội ta quyết liệt chống tham nhũng, xử lý hàng loạt vụ án lớn, trong đó có nhiều bị cáo là cán bộ mang quân hàm cao cấp, rồi la lối rằng hệ thống tư pháp quân sự là “vùng cấm”, “bao che nội bộ”. Từ đó, chúng đưa ra yêu sách đòi “dân sự hóa” hệ thống tư pháp, tức là xóa bỏ các cơ quan tư pháp đặc thù này, với mục đích là phá vỡ công cụ chuyên biệt để duy trì kỷ luật, xử lý các tội phạm đặc thù trong môi trường quân sự. Vậy nhưng, việc tồn tại hệ thống tư pháp quân sự là thông lệ quốc tế, không phải “vùng cấm”. Ngay cả các nước phương Tây mà chúng ca ngợi, như Mỹ, Anh, Canada... đều duy trì hệ thống tòa án quân sự riêng biệt. Các cải cách gần đây của họ, như Mỹ sửa đổi Bộ luật Thống nhất về Tư pháp Quân sự (UCMJ) vào năm 2022, là để tăng tính độc lập cho công tố viên và quy định rõ hơn các hành vi phạm tội, chứ không hề xóa bỏ hệ thống này. Chính việc các tòa án quân sự của ta công khai, công bằng, nghiêm minh xét xử không có “vùng cấm” là bằng chứng đanh thép nhất chống lại luận điệu “bao che” của các thế lực thù địch.

Luận điệu “quân đội cũng chỉ là một nghề mưu sinh”

Bên cạnh các đòn tấn công trực diện vào nền tảng tư tưởng, các thế lực thù địch, phản động còn triệt để lợi dụng mặt trái của cơ chế thị trường để thúc đẩy âm mưu “dân sự hóa” quân đội. Chúng gieo rắc tâm lý “làm công ăn lương”, đánh tráo bản chất thiêng liêng của Bộ đội Cụ Hồ thành một mối quan hệ lao động thuần túy, với luận điệu: Quân nhân cũng chỉ là một “nghề” mưu sinh trong xã hội giống như bác sĩ, kỹ sư hay công nhân; từ đó cho rằng, đã là một nghề nghiệp thì phải tuân theo quy luật cung-cầu và được đối xử theo luật lao động dân sự. Từ tiền đề sai lệch đó, chúng cổ xúy cho những tư tưởng cực kỳ nguy hiểm: Đòi hỏi quân nhân phải có “quyền đình công” để đòi quyền lợi, có quyền “từ chối mệnh lệnh” nếu mệnh lệnh đó gây bất lợi cho cá nhân hoặc không tương xứng với thù lao; và yêu cầu mọi hoạt động quân sự phải được “hợp đồng hóa” minh bạch về lợi ích. Mục đích của chúng là tước bỏ tính chất “lực lượng vũ trang nhân dân”, xóa nhòa ranh giới giữa cống hiến, hy sinh và giao dịch thương mại, biến Quân đội thành một tập đoàn cung cấp dịch vụ an ninh đơn thuần. Bản chất của hoạt động quân sự là sự hy sinh, gian khổ, là đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên tính mạng cá nhân. Khi tâm lý “làm công ăn lương” xâm nhập vào cán bộ, chiến sĩ, nguy cơ lớn nhất là sự phai nhạt lý tưởng “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Nguy hiểm hơn cả, tâm lý này đe dọa phá vỡ nguyên tắc tập trung dân chủ và chế độ thủ trưởng. Mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới trong QĐND Việt Nam là quan hệ đồng chí, đồng đội, anh em, gắn kết bằng tình thương yêu giai cấp và mục tiêu, lý tưởng chung. Tuy nhiên, luận điệu “dân sự hóa” muốn biến mối quan hệ thiêng liêng này thành quan hệ giữa “người sử dụng lao động” (cấp ủy, chỉ huy) và “người lao động” (bộ đội). Khi đó, mệnh lệnh của người chỉ huy không còn là “quân lệnh như sơn”, từ đó không chỉ làm xói mòn phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ cao đẹp mà còn trực tiếp đe dọa đến sức mạnh chiến đấu của Quân đội.

Những vấn đề trên đều dẫn đến một mục tiêu cuối cùng, nguy hiểm nhất của âm mưu “dân sự hóa” quân đội, đó là làm cho quân đội “tê liệt” khi xảy ra các biến động chính trị, các cuộc bạo loạn lật đổ. Khi quân đội, vốn là công cụ bạo lực mạnh nhất và là “thanh gươm và lá chắn” của một giai cấp, một chế độ đã sinh ra nó, không hành động, thì về bản chất, quân đội bị "tê liệt" về chức năng. Đây chính là điều các thế lực thù địch mong chờ nhất. Chúng biết rằng không thể thắng nếu đối đầu trực diện với một quân đội thống nhất, trung thành. Kế hoạch của chúng chỉ có thể thành công khi quân đội mất phương hướng, nghĩa là “thanh gươm” bảo vệ chế độ đã bị bẻ gãy. Chúng muốn QĐND Việt Nam đi vào vết xe đổ của các bài học lịch sử, trở thành một "quân đội trung lập” hoặc đứng nhìn chế độ sụp đổ./.
Ảnh minh họa.
(còn nữa)
Môi trường ST.

“DÂN SỰ HÓA” QUÂN ĐỘI - MŨI TÊN ĐỘC TRONG CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”!

BÀI 2: VẤN ĐỀ “DÂN SỰ HÓA” QUÂN ĐỘI TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ!

     Luận điệu “dân sự hóa” quân đội liên tục được các thế lực thù địch và một số học giả thiếu thiện chí cổ xúy như một mô hình “tiến bộ” của phương Tây. Tuy nhiên, cả lý luận lẫn thực tiễn đều cho thấy quân đội không bao giờ tồn tại tách rời chính trị hay đứng ngoài lợi ích của giai cấp cầm quyền. Các thủ đoạn núp bóng cải cách, minh bạch hay tinh gọn đều nhằm làm suy yếu vai trò lãnh đạo của đảng cầm quyền, vô hiệu hóa sức mạnh quân đội và tạo “lỗ hổng” về quốc phòng.

Thực chất của cái gọi là “dân sự hóa” quân đội ở phương Tây

Theo Đại tá, TS Nguyễn Hữu Phúc, Chủ nhiệm Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị, dựa trên “học thuyết phân quyền tư sản”, giới lập pháp ở các nước tư sản đã ban hành vô số điều luật thiết tưởng sẽ chia tách được quyền lực của 3 nhóm lập pháp, hành pháp và tư pháp đối với việc quản lý nhà nước về quân sự, quốc phòng. Ở đó, người ta “thực sự” tin rằng, nhờ chế định “dân sự quản lý quân sự” đã được luật hóa thì việc của quân đội tất yếu do phái dân sự thực hiện, chứ “dứt khoát” không phải là việc của đảng hay phe phái quân sự nào. Đơn cử như tại Mỹ, giới làm luật thường viện dẫn Hiến pháp quy định Tổng thống là Tổng Tư lệnh các lực lượng lục quân, hải quân và lực lượng dự bị ở một số bang; Bộ trưởng Quốc phòng là quan chức dân sự và các quy định hạn chế quân nhân tham gia chính trị, để cổ xúy cho mô hình “dân quản quân”, “quân đội phi giai cấp, đứng ngoài chính trị”.

Tuy nhiên, thực tiễn đời sống pháp luật tư sản cho thấy điều nghịch lý với hoài niệm “tốt đẹp” đó, thậm chí vấp phải sự phản đối của chính học giả phương Tây-những người không thuộc trường phái Mác-xít. Trong công trình khoa học “50 từ then chốt của xã hội học”, nhà xã hội học Jean Golfin cho rằng: “Tầm quan trọng của chức năng quân sự bắt nguồn từ sự gần gũi của nó với quyền lực chính trị: Nó là sức mạnh phục vụ cho chính trị, chống lại sự đe dọa ở bên ngoài”.

Nhấn mạnh yếu tố chính trị là khẳng định quân đội luôn mang bản chất giai cấp và gắn liền với nhà nước; không thể có một quân đội trong nhà nước tư sản mà lại không phục vụ lợi ích của chính nhà nước đó. Để giữ vững phương hướng chính trị và bản chất giai cấp của quân đội, giới cầm quyền truyền bá hệ tư tưởng của mình qua giáo dục mang tính định hướng và áp dụng nghiêm các nguyên tắc tổ chức, hoạt động và cơ chế kiểm soát trong toàn lực lượng. Quân đội Mỹ duy trì cả một bộ máy tuyên truyền, trước đây gọi là Cơ quan Thông tin và Giáo dục quân đội (AFIS) và hiện nay chuyển thành nhiều cơ quan như Cơ quan Hoạt động Truyền thông Quốc phòng (DMA), Cơ quan Quan hệ công chúng (PA) và Cơ quan Tác chiến tâm lý (MISO) thuộc Bộ Chiến tranh với cùng mục đích là tiến hành công tác tư tưởng, giáo dục tinh thần binh sĩ... Trong các quân chủng của quân đội Mỹ đều có cơ quan tương tự. 

Vì lẽ đó, “dân sự hóa” hay “quốc gia hóa” quân đội chỉ là hình thức chứ không làm thay đổi bản chất quân đội phục vụ giai cấp thống trị. Trong nhà nước tư sản, quyền lực vẫn thuộc về giai cấp tư sản, nên quân đội-dù được tuyên bố “trung lập”-vẫn phục vụ cho lợi ích của họ. Việc thay nhau cầm quyền giữa các đảng ở Mỹ chỉ thay đổi đường lối quản trị chứ không làm thay đổi chế độ chính trị đã được Hiến pháp quy định. Các chính đảng ở Mỹ vẫn can dự mạnh mẽ vào cả lập pháp, hành pháp và tư pháp trong lĩnh vực quân sự. Minh chứng là trong lịch sử Mỹ, ngoại trừ Tổng thống đầu tiên George Washington không thuộc đảng phái nào, các tổng thống còn lại đều đại diện cho các đảng phái chính trị và thực thi đường lối của đảng mình khi đắc cử. Việc Mỹ và một số nước quy định Bộ trưởng Quốc phòng phải là người dân sự chỉ là sử dụng quan chức dân sự thực hiện quản lý nhà nước đối với lĩnh vực quân sự. Đây không có nghĩa là “dân sự hóa” quân đội và càng không phải tách quân đội khỏi chính trị. Hơn nữa, quy định này cũng không được áp dụng tuyệt đối, vì vẫn có những cựu quân nhân chưa đủ thời gian xuất ngũ theo luật nhưng vẫn được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Quốc phòng (năm 1950, 2017).

Thực tế đời sống chính trị ở một số quốc gia trong khu vực cũng cho thấy, chính phủ và các đảng phái đều tìm cách tranh thủ sự ủng hộ và hậu thuẫn về mặt chính trị từ quân đội. Trong nhiều cuộc đảo chính, lực lượng nào kiểm soát hoặc được quân đội ủng hộ thường chiếm ưu thế quyết định trong việc nắm quyền.

Trung Quốc ứng phó với các thủ đoạn thúc đẩy “dân sự hóa” quân đội

Trao đổi với phóng viên Báo Quân đội nhân dân, GS, TS Thành Hán Bình, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Khu vực và Quốc gia kiêm Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Công nghiệp Chiết Giang (Trung Quốc), cho biết mặc dù chỉ tác động ở mức độ nhỏ, trào lưu tư tưởng sai lệch đó vẫn từng tồn tại nhất định trong xã hội Trung Quốc và tiềm ẩn nhiều nguy cơ phải cảnh giác. Một số trí thức thường dẫn chứng mô hình của các nước phương Tây để ca ngợi “lợi ích” của cái gọi là “quốc gia hóa quân đội”. Họ lợi dụng các hội thảo, mạng xã hội, diễn đàn và bài viết để tuyên truyền, đánh tráo khái niệm, gây nhiễu loạn nhận thức dư luận. Một số trí thức từng du học nước ngoài càng tích cực cổ xúy cho luận điệu này.     

Theo Đại tá, ThS Vũ Văn Khanh, nguyên Trưởng ban Quốc tế, Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam, các thủ đoạn chống phá đối với quân đội Trung Quốc tập trung vào một số lĩnh vực then chốt, như: Xuyên tạc tổ chức, biên chế quân đội, với luận điệu cho rằng mô hình hiện nay “cồng kềnh, lạc hậu” và có thể được thay thế bằng các lực lượng dân sự. Dưới vỏ bọc “cải cách quân đội” hay “tinh gọn biên chế”, chúng tài trợ các nghiên cứu, hội thảo quốc tế để hợp thức hóa quan điểm “giảm vai trò quân đội thường trực”, từng bước tác động vào nhận thức và tạo nền tảng lý luận cho âm mưu dân sự hóa. Đồng thời, chúng lợi dụng những hạn chế, sự cố trong huấn luyện và quản lý để chỉ trích mô hình tổ chức quân đội, kêu gọi “tách quân đội khỏi hệ thống chính trị”. Các thế lực thù địch khoét sâu vấn đề ngân sách, thổi phồng “chi phí quân sự” nhằm gây sức ép cắt giảm nguồn lực, tư nhân hóa các chức năng then chốt và làm gia tăng sự phụ thuộc vào chuỗi cung ứng bên ngoài.

Đặc biệt, chúng tiến công vào hệ thống tư pháp quân đội Trung Quốc bằng cách khai thác sai phạm nội bộ, rò rỉ tài liệu, vận động các cơ chế quốc tế chất vấn tính hợp pháp của hoạt động tố tụng, từ đó làm suy giảm uy tín và quyền tự chủ tư pháp quân đội. Cùng với đó, chúng thúc đẩy cơ chế giám sát dân sự, đề xuất chuyển một số thẩm quyền xử lý sang hệ thống tư pháp dân sự hoặc quốc tế, nhằm từng bước làm xói mòn tính đặc thù và vai trò của quân đội trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh (đây là âm mưu thâm độc đang được kẻ thù thúc đẩy ở Việt Nam và nhiều nước khác).

Mục tiêu của những hoạt động chống phá này là xóa bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với quân đội; làm suy yếu bản chất chính trị, tư tưởng và tính giai cấp của lực lượng vũ trang; từng bước biến quân đội thành lực lượng “phi chính trị”, “trung lập”, chỉ phục vụ lợi ích quốc gia theo quan điểm phương Tây; qua đó làm suy giảm sức mạnh chính trị, khả năng chiến đấu và ổn định chế độ xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc.

Trung Quốc coi các luận điểm như “quân đội quốc gia hóa”, “quân đội dân sự hóa” là mối đe dọa trực tiếp tới sự ổn định chính trị và sức mạnh quân đội. Dù thúc đẩy kết hợp quân sự-dân sự, nước này khẳng định đây không phải là việc thay thế quân đội bằng lực lượng quần chúng mà là phát huy sức mạnh toàn xã hội trên nền tảng một quân đội chính quy, chuyên nghiệp, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đồng thời, Trung Quốc triển khai các biện pháp đồng bộ về chính trị, pháp lý, kinh tế, truyền thông và công nghệ nhằm bảo đảm quân đội luôn trung thành tuyệt đối với Đảng và không bị tác động bởi xu hướng “dân sự hóa”, “phi chính trị hóa”.

Bản chất chính trị của quân đội và những luận điệu cần bác bỏ từ thực tiễn Việt Nam

Nhà lý luận quân sự nổi tiếng của nước Phổ (nay là Cộng hòa Liên bang Đức) thế kỷ 19 Clausewitz từng nêu luận điểm được thừa nhận như một chân lý trong cả khoa học quân sự tư sản lẫn vô sản: “Chiến tranh là sự kế tục của chính trị bằng những biện pháp khác”. Thừa nhận bản chất chính trị của chiến tranh, tất yếu phải thấy rằng không có quân đội nào “đứng ngoài chính trị” hay “không liên quan đến chính trị”. Mọi cuộc chiến tranh đều nhằm đạt mục tiêu chính trị nhất định; quân đội của các bên tham chiến đều do lực lượng cầm quyền tổ chức, giáo dục và sử dụng để thực hiện mục tiêu đó.

Vì vậy, xây dựng quân đội về chính trị là yêu cầu khách quan, tồn tại ở mọi loại hình quân đội. Điểm khác nhau nằm ở cách đặt vị trí của xây dựng chính trị trong tổng thể xây dựng quân đội-đặc biệt là so với hiện đại hóa vũ khí, trang bị-và mức độ công khai bản chất cũng như nội dung giáo dục chính trị.

Lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin và thực tiễn lịch sử đều khẳng định: Quân đội của bất kỳ quốc gia nào cũng do giai cấp nắm quyền lãnh đạo tổ chức nên, là công cụ bạo lực bảo vệ lợi ích và vị thế của giai cấp đó. Tính chất của nhà nước như thế nào thì quân đội-lực lượng bảo vệ nhà nước-mang bản chất tương ứng đến đó.    

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo, ra đời trước khi chính quyền cách mạng được thiết lập. Chính vì vậy, sự lãnh đạo của Đảng không chỉ là nguyên tắc căn bản đã được hiến định mà còn là nhân tố quyết định bản chất giai cấp, mục tiêu chiến đấu và chiến thắng của Quân đội. Vì vậy, sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và sự trung thành tuyệt đối của Quân đội với Đảng là mối quan hệ biện chứng, thống nhất, không thể tách rời.   

Từ lịch sử dựng nước và giữ nước, cha ông ta luôn coi trọng xây dựng Quân đội tinh nhuệ, “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng khẳng định giai cấp vô sản muốn bảo vệ thành quả cách mạng và xây dựng xã hội mới phải có quân đội đủ mạnh, thường xuyên được nâng cao sức chiến đấu để trở thành thành trì vững chắc trước mọi âm mưu xâm lược. Yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực phức tạp hiện nay, tăng cường tiềm lực quốc phòng và hiện đại hóa Quân đội để tự vệ chính đáng và giữ gìn hòa bình là nhiệm vụ cấp thiết. Đây không phải là điều “không cần thiết”, “lãng phí” hay “gây ảnh hưởng đến đời sống nhân dân” như luận điệu chống phá. Trái lại, điều này thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước; điều kiện, khả năng và đồng thuận xã hội trong mục tiêu xây dựng Quân đội hiện đại. Mặt khác, đặt trong mối quan hệ giữa “xây dựng” và “bảo vệ”, môi trường hòa bình, ổn định chính là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế, xã hội, xem nhẹ đầu tư cho quốc phòng đồng nghĩa với việc hạ thấp nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Là lực lượng nòng cốt bảo vệ Tổ quốc, Quân đội nhất thiết phải được đầu tư tương xứng để bảo đảm sức mạnh, khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Hơn nữa, chủ trương đầu tư hiện đại hóa Quân đội được Đảng, Nhà nước tính toán kỹ lưỡng, phù hợp. Quân đội phát huy nội lực, sử dụng ngân sách hiệu quả cho nhiệm vụ này.

Đánh đồng hoạt động quân sự với hoạt động chuyên môn của cơ quan dân sự thuần túy, từ đó đòi “công khai hoạt động quân sự như dân sự”, là sự đánh tráo về bản chất giữa hai loại hình tổ chức hoàn toàn khác nhau. Quân đội là lực lượng vũ trang của Nhà nước, bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh vũ lực-lĩnh vực đặc biệt nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến an ninh, chủ quyền và sự tồn vong quốc gia. Các hoạt động của Quân đội, từ huấn luyện, bố trí lực lượng đến xây dựng kế hoạch tác chiến... đều mang tính bí mật, không thể và không bao giờ được công khai như hoạt động dân sự. Thông lệ quốc tế và nhiều bộ luật đều xác lập rõ nguyên tắc bảo mật trong lĩnh vực quốc phòng, bởi chỉ cần để lộ một phần nhỏ thông tin cũng có thể tạo ra nguy cơ chiến lược. Việc đòi hỏi Quân đội vận hành “công khai” như cơ quan dân sự thực chất không phải để tăng minh bạch mà nhằm vô hiệu hóa cơ chế phòng thủ, làm suy giảm sức mạnh răn đe, phá vỡ tính kỷ luật, bí mật quân sự.   

Một kiểu đánh đồng khác là quy chụp việc Quân đội tham gia lao động sản xuất là “làm kinh tế thuần túy”. Cần thấy rằng, “vừa chiến đấu, vừa sản xuất”, trong đó chiến đấu là nhiệm vụ trung tâm; lao động, sản xuất là nhiệm vụ quan trọng nhằm góp phần phát triển kinh tế, giảm gánh nặng cho nhân dân và tăng cường tiềm lực quốc phòng, là chức năng, truyền thống của Quân đội ta. Chỉ nói “Quân đội làm kinh tế” không thôi, rồi đánh đồng với các tổ chức kinh tế dân sự khác là không phản ánh đầy đủ bản chất của hoạt động này. Quân đội tham gia lao động sản xuất trước hết phục vụ quốc phòng, đồng thời đóng góp cho phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Hiệu quả của các đoàn kinh tế-quốc phòng trong tạo sinh kế, xóa đói, giảm nghèo, ổn định dân cư; các doanh nghiệp Quân đội sản xuất các sản phẩm lưỡng dụng phục vụ quốc phòng và dân sinh... là minh chứng rõ nét cho điều này./.
Ảnh minh họa: Khối nữ chiến sĩ Thông tin tham gia nhiệm vụ A80.
(còn nữa)
Môi trường ST.