Thứ Ba, 16 tháng 6, 2026

BẠN CÓ BIẾT: WILLIAM ROSS BOND - TỪ QUÂN NHÂN NGƯỜI MỸ PHỤC VỤ HỒNG QUÂN CHO TỚI TƯỚNG MỸ BỊ BẮN C.HẾT TẠI CHIẾN TRƯỜNG VIỆT NAM (04/12/1918 - 01/04/1970)!

     William Ross Bond sinh ra tại Virginia và lớn lên tại Maryland, Hoa Kỳ. Ông ta tốt nghiệp bằng Cử nhân Khoa học Chính trị và Lịch sử tại Đại học Maryland.

Năm 1940, William Bond gia nhập Quân đội Hoa Kỳ và theo học trường sĩ quan Fort Knox, Kentucky. Tới năm 1943, William Bond tham gia vào chiến dịch đổ bộ lên đảo Sicily, Italia. Tháng 9/1943, William Bond chỉ huy một đại đội biệt kích đổ bộ lên Salerno. 

Tháng 1/1944, đơn vị biệt kích của William Bond thực hiện cuộc đột kích Anzio. Ông ta được trao Huân chương Ngôi sao bạc. Tuy nhiên trong trận đột kích đêm tại Cisterna, William Bond bị quân Đức bắt làm tù binh và giam giữ tại trại tù ở Ba Lan. Tháng 1/1945, William Bond được Hồng Quân Liên Xô giải thoát khỏi trại tù của quân Đức. William Bond tham gia phục vụ lực lượng trinh sát của Hồng Quân trong vài tuần trước khi được đưa về phía Đồng minh phương Tây.

Sau khi trở về từ phía Hồng Quân, William Bond được cử sang mặt trận Thái Bình Dương. Ông ta tham gia huấn luyện nâng cao tại Fort Benning, Georgia. Tuy nhiên, khi William Bond còn đang huấn luyện thì quân Nhật đã đầu hàng. Ông ta chỉ tới Nam Triều Tiên để làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật.

Năm 1949, William Bond tới Jerusalem để làm nhiệm vụ của Liên hợp quốc về vấn đề người Do Thái và Arabs tại đây. 

Năm 1959, Trung tá William Bond tới Việt Nam với tư cách thành viên đoàn Cố vấn Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam. Ông được cử làm Tham mưu phó của phái đoàn.

Năm 1960, William Bond được thăng hàm Đại tá và trở về công tác tại văn phòng Bộ Tổng tham mưu ở Lầu Năm Góc. Ông ta làm Phó Giám đốc Quản lý Kế hoạch và Chính sách của Chiến tranh Đặc biệt Hoa Kỳ. 

Mùa hè 1964, William Bond được cử làm Tư lệnh Lữ đoàn 2, Sư đoàn Không vận 101. Tuy nhiên tới tháng 1/1965, ông ta lên cơn đau tim và phải điều trị tại Bệnh viện Walter Reed. Sau khi phục hồi, William Bond tới Thái Lan làm Tham mưu trưởng Lực lượng Quân đội Hoa Kỳ tại Thái Lan. Ông ta được Thái Lan trao Huân chương Vương miện Thái Lan, bậc Hiệp sĩ.

Năm 1969, William Bond được thăng quân hàm Chuẩn tướng. Ông ta được bổ nhiệm làm Tư lệnh Lữ đoàn Bộ binh nhẹ 199 tại chiến trường Việt Nam từ ngày 28/11/1969.

Ngày 01/04/1970, trong khuôn khổ Chiến dịch Toàn thắng IV, tại khu vực huyện Bình Thuỷ, khi vừa mới đặt chân ra mặt trận, vừa bước chân xuống trực thăng, Chuẩn tướng William Bond đã bị một xạ thủ bắn tỉa của Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam bắn hạ tại chỗ.

Thi hài của William Bond được đưa về Mỹ và làm lễ tang tại Arlington rồi được chôn cất tại Nghĩa trang Stockbridge, Massachusetts.

P/s: Ông ta có thể vác súng đi khắp Châu Âu, Châu Á, thậm chí cả Châu Phi rồi bình an quay trở về. Nhưng sai lầm lớn nhất của ông là đặt chân đến Việt Nam và cuộc đời ông kết thúc tại đó...
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐƯỜNG ĐIỆN 500KV BẮC NAM TỪ KHÔNG TƯỞNG THÀNH SỰ THẬT - MỘT QUYẾT SÁCH VƯỢT THỜI ĐẠI CỦA CỐ THỦ TƯỚNG VÕ VĂN KIỆT!

     "Không thể làm được, đây là một dự án không tưởng!" - đó là những lời can ngăn đầy cay đắng mà cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt phải lắng nghe trước khi đặt bút ký vào tờ lệnh khởi công một trong những công trình vĩ đại nhất lịch sử nước nhà. Giữa những đêm dài miền Nam oằn mình trong bóng tối vì thiếu điện nghiêm trọng, làm tê liệt toàn bộ nền kinh tế vừa mới đổi mới, đất nước đứng trước một bài toán sinh tử.

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đình Long kể lại rằng, lúc bấy giờ miền Bắc thừa điện từ nhà máy Hòa Bình nhưng không có cách nào đưa vào Nam, khiến chúng ta từng phải tính đến phương án bán điện sang Trung Quốc để lấy tiền mua thiết bị, xây một nhà máy khác trong vòng 5 năm. Thế nhưng, cuộc sống của người dân không thể đợi lâu đến thế. Ngày mùng 5 tháng 4 năm 1992, bất chấp làn sóng hoài nghi kịch liệt từ giới chuyên gia vì Việt Nam hoàn toàn không có máy bay trực thăng hay công nghệ hiện đại như phương Tây để làm siêu cao áp, mệnh lệnh mở đường dây 500kV Bắc - Nam vẫn chính thức được phát ra 🇻🇳.

Hơn 730 ngày đêm sau đó đã trở thành một cuộc tổng tiến công sấm sét chưa từng có trên đại ngàn Trường Sơn. Không làm cuốn chiếu, bốn công ty xây lắp cùng hàng vạn cán bộ, chiến sĩ quân đội, công an đã đồng loạt dàn trận tại 3.437 vị trí cột tháp trải dài qua 14 tỉnh thành, vượt qua những địa hình hiểm trở chiếm tới 80% là đồi núi cao nguyên.

Khó khăn đổ xuống như thác lũ khi những cỗ máy biến áp khổng lồ nặng tới 300 tấn phải cậy nhờ vào xe đặc chủng, nhích từng xăng-ti-mét đầy nghẹt thở để bò qua các cung đường đèo dốc đứng. Ở những đỉnh núi chót vót nơi cơ giới bó tay, hàng chục nghìn tấn xi măng, sắt thép đúc móng hoàn toàn phải dựa vào những đôi vai trần gùi cõng qua vách đá tai mèo. Anh em ăn sương ngủ rừng, bầu bạn với vắt, muỗi và những trận sốt rét rừng triền miên nhưng nhịp độ thi công vẫn tăng tốc nghẹt thở.

Để rồi, đúng 19 giờ 7 phút ngày 27 tháng 5 năm 1994, dòng điện từ Hòa Bình đã chính thức thắp sáng trạm Phú Lâm, kết thúc thắng lợi chiến dịch lịch sử. Đổi lại mạch máu năng lượng thông suốt cho quốc gia là sự hy sinh thầm lặng của hơn 300 con người đã mãi mãi nằm lại dọc tuyến đường dây - một tượng đài bất tử về tinh thần tự lực cánh sinh và ý chí kiên cường của người Việt Nam 🤝./.
QV-ST!

THỦ ĐOẠN CỦA GIẶC VÀ CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CÀNG NÓI XẤU LÃNH TỤ, NÓI XẤU CHẾ ĐỘ CHỨNG TỎ CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG, BÁC HỒ LỰA CHỌN LÀ HOÀN TOÀN ĐÚNG ĐẮN!

     Thủ đoạn của giặc là cấp tiền, móc nối người, đào tạo người Việt Nam quay lại đánh phá Nhà nước Việt Nam. Những ai có lương tâm lúc này phải quyết tâm đoàn kết quanh Đảng Cộng Sản Việt Nam để chống lại mọi luận điệu hiểm ác xuyên tạc nói xấu Nhà nước Việt Nam.

Ta yêu đất nước này và chế độ chính trị này một cách tột cùng, ai nói ta cực đoan cũng được, miễn là ta bảo vệ được sự bình yên cho đất nước ta ngày càng phát triển.
Họ nói ta tôn thờ Bác Hồ một cách mù quáng, ta đáp là chính họ mới tôn thờ các tên tư bản một cách mù quáng.
Họ nói cộng sản làm mọi người nghèo khổ, ta nói chính tư bản mới tạo ra vô số người vô gia cư chết bờ chết bụi kia kìa.
Họ nói giáo dục tại nhồi sọ, họ sẽ khai phóng, ta nói họ mới là kẻ nhuộm đen đầu óc trẻ em người lớn của họ bằng lối sống ích kỷ, bất hiếu, lang chạ bừa bãi, gia đình lỏng lẻo kia kìa
Họ nói ta lạc hậu, ta nói bây giờ nhiều người tây phương qua Việt Nam chữa bệnh để được thụ hưởng dịch vụ y tế hiệu quả, nhanh chóng và viện phí cực thấp.
Họ nói Nhà nước ta độc tài, ta nói chính phủ của họ là lừa dối dân bằng đủ thứ thủ đoạn xảo trá kia kìa, còn dân ta vững lòng yêu quý bảo vệ Nhà nước Việt Nam XHCN này đừng hòng ai xúc phạm.

Họ nói đâu ta trả lời đó. Ta có lẽ phải nên ta đủ sức mạnh chống lại các đòn tâm lý chiến của bọn chúng./.

QV-ST!

KHÔNG THỂ ĐỂ NHỮNG KẺ LẺO MÉP GIẢNG GIẢI "KHAI PHÓNG" SAI LỆCH VỀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH!

     Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc và thống nhất về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết tinh của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại.

Rõ ràng, tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm mang tính khoa học, ở trong đó có khoa học chính trị, đạo đức học, đạo đức chính trị, khoa học văn hoá, khoa học và nghệ thuật quân sự, khoa học về đảng cầm quyền, sử học, nhân học, văn học... Chính vì thế, cần phải được nghiên cứu, đánh giá, đúc kết từ các nhà khoa học chân chính, nghiêm túc và có uy tín trong và ngoài nước. Tuyệt nhiên không thể nghiên cứu - đúc rút từ những kẻ nói bừa, phán ẩu vô căn cứ. 

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một sự nhất quán từ mục tiêu, lý tưởng cho đến phương pháp. Đó không phải và không bao giờ phải là những phút giây ngẫu hứng lãng mạn hay vô tình "nhặt được bí kíp" trên con đường lông bông vô định không nghề nghiệp nơi xứ người như kẻ nào đó đã nói xàm. Giữa đêm trường n.ô l.ệ, nhân dân Việt Nam (trong đó có cả cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc), lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Trong bối cảnh ấy, ngay từ khi bước chân xuống con tàu Amiral Latouche-Tréville, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã xác định rất rõ: "Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”. Khi người bạn mà Nguyễn Tất Thành muốn rủ đi cùng băn khoăn rằng lấy tiền đâu để đi, người thanh niên với ý chí sắt đá ấy đã đưa hai bàn tay ra và nói: "Đây, tiền đây! Chúng ta sẽ làm việc, chúng ta sẽ làm bất cứ vệc gì mà sống và để đi". Suốt ba mươi năm bôn ba khắp năm châu bốn bể, có biết bao “phong ba, bão táp” nhưng không ngăn nổi, không có gì có thể làm chùn ý chí về mục tiêu duy nhất của Nguyễn Ái Quốc: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”.

Như thế, tư tưởng Hồ Chí Minh không thể trích dẫn từ các tác phẩm cảm nhận mang tính cá nhân của các tác giả nước ngoài với những cụm từ như "có vẻ như Hồ...", "dường như ông Hồ...", "nhiều người cho rằng ông Hồ..."... được. Chẳng có cái "dường như" nào có thể lý giải được giọt nước mắt giàn giụa vì vui sướng khi tìm được con đường chân chính nhất giải phóng cho dân tộc mình, nó không cảm nhận được trái tim Người rung lên vì hạnh phúc khi khi tưởng như đang đứng trước muôn triệu đồng bào: "Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!". Chẳng cái "có vẻ" nào có thể mô tả được tầm vóc vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi mà Nhân Dân đã xác quyết bằng cả cuộc đời của Người: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Người ta nói mương lạch nhỏ không bao giờ có thể thấy được sự rộng lớn của đại dương là vì thế.

Bác Hồ kính yêu của nhân dân Việt Nam là một người cộng sản kiệt xuất, là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Do vậy, nó không thể được giảng dạy cho thế hệ trẻ bởi những người không cùng chung chí hướng với Người, bởi những kẻ nấp dưới vỏ bọc "giáo dục khai phóng" mà thực chất là giáo dục theo hướng tư bản chủ nghĩa. Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết tinh của truyền thống trí tuệ, văn hoá dân tộc và trí tuệ, văn hóa thế giới, nó khai mở trí tuệ, bồi dưỡng tâm hồn cho tất cả những ai đọc nó, nghiên cứu nó nghiêm túc và những ai thấu hiểu được nó, đó chính là khái phóng lớn nhất mà chẳng có cái "khai phóng" nào có thể đạt được. 

Nếu cứ tiếp tục để những kẻ "khai phóng" giảng dạy vớ vẩn về tư tưởng, phong cách, đạo đức của Người, sẽ đến một lúc các em sẽ hiểu sai lệch nghiêm trọng về Người, sẽ kéo đổ tượng Hồ Chí Minh, tượng Lênin, tượng Mác, thay bằng tượng của những kẻ bán nước Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, Trương Vĩnh Ký...và sẽ có thể xuất hiện một Ukraine thứ hai./.


QV-ST!

HOÀ HỢP DÂN TỘC CÓ NHẤT THIẾT PHẢI CÔNG NHẬN TÍNH CHÍNH DANH CHO NGUỴ QUYỀN SÀI GÒN?

     Tôi vô Nam đến nay đã 46 năm, hai phần ba đời người. Tôi đã xây dựng gia đình với bạn gái gốc miền Nam. Tôi đã gửi gắm gần như cả cuộc đời mình ở mảnh đất miền Nam ruột thịt này, miền Nam đã trở thành quê hương thứ 2 của tôi.

Tôi có rất nhiều bạn bè người miền Nam, những con người thật thà, chất phát, nhân hậu trong số đó có những người từng bên kia chiến tuyến, lính dù có, cảnh sát có, thậm chí có cả những người nợ máu với cách mạng đi học tập cải tạo về. Hàng xóm với tôi cũng là gia đình tên ác ôn giết hại ba vợ tôi và 4 đồng đội của ông trong hầm bí mật. Tôi cũng có nhiều bạn thân, các anh chị nay cũng U80- 90 định cư bên Mỹ. Tôi cũng đã tiếp xúc với nhiều Cựu binh Mỹ từng tham chiến trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. 

Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ. Hận thù đã khép lại để chúng tôi ngồi cùng nhau bên ly coffee hay cữ nhậu. Tất cả là bạn bè, là tình bằng hữu chẳng phân biệt ai là cộng sản, ai là nguỵ, và họ cũng chẳng bao giờ muốn nhắc lại sự đau thương mất mát trong chiến tranh, cũng chẳng bao giờ đòi hỏi Nhà nước phải công nhận tính chính danh của chế độ mà họ đã một thời chứng kiến cái chết nhiều hơn sự sống. 

Cái lý lẽ muốn hoà hợp dân tộc thì Nhà nước Việt Nam phải công nhận tính chính danh cho chế độ “Việt Nam Cộng hoà”, huỷ bỏ tổ chức ngày 30/4 hàng năm…chỉ nằm trong cái đầu của mấy ông “lật sử”, những kẻ suy thoái tư tưởng chính trị, những mái đầu bạc gần đất xa trời bỏ nước ra đi khinh rẻ Tổ quốc mình. Những kẻ đó không đại diện cho nhân dân miền Nam, dân tộc Việt Nam. Chúng đại diện cho sự thù hận và cố chấp, nhấp ly rượu Whiskey, ngắm trời tây để bỉ bôi Tổ quốc mình./.



Theo face PTC.
QV-ST!

KIẾN NGHỊ CỦA TÁC GIẢ CÓ BÚT DANH "NGƯỜI UYÊN PHONG" THỂ HIỆN TRÁCH NHIỆM VỚI LỊCH SỬ VÀ TỒN VONG CỦA CHẾ ĐỘ XHCN!

Gửi: UB KIỂM TRA TW
         BAN TUYÊN GIÁO 
         CỤC XUẤT BẢN 

VỤ "CHUYỆN VỚI THANH": KHI LẰN RANH CHÍNH TRỊ BỊ XÓA NHÒA, AI PHẢI CHỊU TRÁCH NHIỆM?

1. Bản chất vụ việc: Không phải sai sót, mà là sai phạm có hệ thống

Tháng 3/2026, cuốn Chuyện Với Thanh của tác giả Nguyễn Thành Nam, do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành, đã ngang nhiên gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh là "founder startup quốc gia" - "thất bại ở Paris, Bác pivot mô hình"

Đây không phải "cách nói mới". Đây là sự giải thiêng lãnh tụ bằng ngôn ngữ thị trường. Là hành vi hạ bệ hình tượng Hồ Chí Minh dưới vỏ bọc "khai phóng văn chương".

Vi phạm 3 văn bản cùng lúc:
1. Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh: Yêu cầu thể hiện hình tượng Bác "trang trọng, chuẩn mực".  

2. Điều 10, Luật Xuất bản 2012 : 
Nghiêm cấm xuất bản phẩm "xuyên tạc lịch sử, xúc phạm vĩ nhân, anh hùng dân tộc".  

3. Nghị quyết 35-NQ/TW về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng: Xác định "hạ bệ lãnh tụ bằng hình thức nghệ thuật" là biểu hiện tự diễn biến số 1.

✓ Sai phạm đã rõ. Vấn đề là ai duyệt, ai cho qua, ai phải chịu trách nhiệm?

2. Quy trách nhiệm đến cùng: Không có vùng cấm trong xuất bản

* Thứ nhất: Trách nhiệm của tác giả Nguyễn Thành Nam
Quyền sáng tạo không phải quyền vô hạn. Khoản 2 Điều 331 BLHS 2015 quy định về Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ. Viết về lãnh tụ là địa hạt chính trị. Đem tư duy "founder, startup" áp vào sự nghiệp cách mạng vô sản của Bác là cố tình làm sai lệch bản chất. Tác giả phải chịu trách nhiệm đầu tiên.

* Thứ hai: Trách nhiệm của Nhà xuất bản Hội Nhà văn
Điều 18 Luật Xuất bản 2012 quy định: Tổng biên tập chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ nội dung xuất bản phẩm. NXB Hội Nhà văn là đơn vị xuất bản, ấn hành. Để lọt cụm từ "startup quốc gia" là thiếu trách nhiệm chính trị nghiêm trọng trong khâu biên tập, duyệt bản thảo.

* Thứ ba: Trách nhiệm của Hội đồng thẩm định nội dung thuộc Hội Nhà văn
Theo quy trình, sách về đề tài lịch sử, lãnh tụ phải qua thẩm định. Hội đồng thẩm định đã làm gì khi để lọt những nội dung vi phạm Chỉ thị 05? Thẩm định kiểu "cho có" hay cố tình làm ngơ? Phải công khai danh sách Hội đồng thẩm định và biên bản cuộc họp.

* Thứ tư: Trách nhiệm người đứng đầu – Chủ tịch Hội Nhà văn Nguyễn Quang Thiều 
Với tư cách Chủ tịch Hội Nhà văn, người chịu trách nhiệm cao nhất về công tác xuất bản của Hội, ông Nguyễn Quang Thiều phải chịu trách nhiệm chính trị cho toàn bộ quy trình từ thẩm định đến ấn hành. 

Kết luận 24-KL/TW ngày 10/10/2017 của Bộ Chính trị đã nêu rõ: Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm khi để xảy ra sai phạm trong lĩnh vực mình phụ trách. Không thể nói "tôi không biết", "tôi không trực tiếp duyệt".

3. Dấu hiệu "gỡ bài hàng loạt": Vì sao Báo Nhân Dân và nhiều tờ báo phải gỡ?

Sau khi dư luận lên tiếng, Báo Nhân Dân và một số cơ quan báo chí đã gỡ bỏ bài viết giới thiệu, PR cho cuốn sách.

Đây là động thái cho thấy chính các cơ quan báo chí Đảng đã nhận ra sai phạm. Câu hỏi đặt ra:  
1. Tại sao một cuốn sách vi phạm rõ như vậy lại được thẩm định, xuất bản, rồi được giới thiệu rầm rộ trên báo chí?  
2. Quy trình "bảo kê truyền thông" cho sách lệch chuẩn này là gì? Ai chỉ đạo?  
3. Việc gỡ bài có đồng nghĩa với việc thừa nhận sai phạm không? Nếu có, tại sao NXB Hội Nhà văn và Hội Nhà văn vẫn im lặng?

✓ Im lặng lúc này chính là thừa nhận. Gỡ bài chính là bằng chứng.

4. Kiến nghị xử lý: Phải làm nghiêm, làm điểm để lập lại kỷ cương

Căn cứ tính chất nghiêm trọng của vụ việc, đề nghị:

1. Bộ Thông tin và Truyền thông : Ra quyết định đình chỉ phát hành, thu hồi, tiêu hủy toàn bộ cuốn Chuyện Với Thanh . Đình chỉ hoạt động của NXB Hội Nhà văn có thời hạn để kiểm điểm, xử lý trách nhiệm. Thanh tra toàn diện quy trình biên tập, thẩm định của NXB này từ 2020 đến nay.

2. Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Bí thư: Yêu cầu Ban Chấp hành Hội Nhà văn kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của tập thể và cá nhân , trước hết là người đứng đầu – Chủ tịch Hội Nguyễn Quang Thiều. Xem xét trách nhiệm khi để xảy ra sai phạm liên quan đến Chỉ thị 05, NQ 35.

3. Ủy ban Kiểm tra Trung ương: Vào cuộc kiểm tra dấu hiệu vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên tại NXB Hội Nhà văn và Hội Nhà văn. Nếu có dấu hiệu "tự diễn biến, tự chuyển hóa", phải xử lý kỷ luật Đảng nghiêm khắc.

4. Hội đồng Lý luận Trung ương: Ra văn bản cảnh báo, cấm tuyệt đối việc dùng ngôn ngữ kinh doanh, thị trường như "startup, founder, CEO, pivot" để mô tả lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và sự kiện lịch sử cách mạng.

LỜI KẾT: KỶ CƯƠNG PHÉP NƯỚC KHÔNG PHẢI ĐỂ THƯƠNG LƯỢNG

Vụ Chuyện Với Thanh không còn là chuyện một cuốn sách. Nó là phép thử đối với kỷ cương của Đảng trong mặt trận văn hóa - tư tưởng.

Nếu một cuốn sách xúc phạm Bác Hồ mà chỉ "rút kinh nghiệm", "gỡ bài là xong", thì ngày mai sẽ có Chuyện Với Cụ Chuyện Với Đảng phiên bản "CEO", "KOLs".

✓ Xử lý nghiêm vụ này chính là bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ sự tôn nghiêm của chế độ.

✓✓Lằn ranh đã bị xóa. Bây giờ phải kẻ lại KỶ LUẬT THÉP./.
Theo Bút danh Người Uyên Phong.
QV-ST!

Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2026

VIỆT NAM CỘNG HOÀ - CHÍNH THỂ BẤT HỢP PHÁP KHÔNG CÓ TÍNH CHÍNH DANH!

     Chúng ta nên nhớ, từ năm 1954 đến nay Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau này là Chính phủ Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam chưa bao giờ công nhận tính hợp pháp của cái gọi là “Chính quyền Sài Gòn” hay “Việt Nam Cộng hòa” mà chỉ gọi là “ngụy quân, ngụy quyền". Lập trường lịch sử này được thể hiện rõ trong quan điểm chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hoà XHCN Việt Nam coi Nguỵ quyền Sài Gòn chỉ là công cụ của chủ nghĩa thực dân và đế quốc, không đại diện cho quyền tự quyết của nhân dân Việt Nam.

Năm 1969, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam được thành lập. Tại Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam năm 1973, dù ngồi vào bàn đàm phán, Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ công nhận Nguỵ quyền Sài Gòn là một bên tham chiến để giải quyết các vấn đề quân sự và chính trị chứ không công nhận tính chính danh về mặt nhà nước. 

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập một cách chính danh trên toàn lãnh thổ Việt Nam vào năm 1945 sau cuộc Cách mạng tháng Tám. Năm 1946 tiến hành tổng tuyển cử bầu Quốc hội theo chế độ phổ thông đầu phiếu trên toàn quốc. Năm 1954, theo Hiệp định Geneva, Việt Nam tạm thời chia cắt làm 2 miền, giới tuyến quân sự tạm thời là vĩ tuyến 17 không phải là biên giới quốc gia, sẽ tiến hành tổng cử thống nhất đất nước trong năm 1956. Sau đó Mỹ hất chân pháp, đưa Ngô Đình Diệm về miền Nam Việt Nam làm Thủ tướng chính phủ bù nhìn Bảo Đại tuyên bố không tổng tuyển cử, trắng trợn vi phạm Hiệp định Geneva, đi ngược lại nguyện vọng thống nhất của dân tộc. Sau này, Nguyễn Văn Thiệu được Mỹ dựng lên thay Ngô Đình Diệm làm tổng thống “Nguỵ quyền Sài Gòn” cho đến ngày miền Nam giải phóng năm 1975.

Chính quyền Sài Gòn là chính thể phi pháp thì không có cái gọi là “Quân đội Sài Gòn” mà phải nói đúng bản chất “Nguỵ Quân Sài Gòn”, công cụ bạo lực cho Nguỵ quyền Sài Gòn phản dân hại nước, tay sai cho các thế lực ngoại bang.

Phó Tổng Thống Mỹ John F Kennedy nói: “Chế độ VNCH ko phải con đẻ của chúng ta thì cũng là con nuôi của chúng ta bởi vì chúng ta cho nó hình hài và tạo dựng tương lai cho nó". 

Chỉ cần vậy thôi cũng đủ để chúng ta kết luận rằng: VNCH là tay sai của Mỹ./.
Theo face PTC.
QV-ST!

CHÚC MỪNG CON!

     Thật ngưỡng mộ con, tác giả cuốn “Code và Cát - những quyền lực công nghệ xoay chuyển thế giới” mới xuất bản được vài tháng đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa vào môn Ngữ Văn kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, điều mà thế hệ những nhà văn gạo cội nhất của đất nước nằm mơ cũng không bao giờ có được.

Con không những xoay chuyển thế giới mà con cũng đã làm lung lay nhận thức của thế hệ các bác, các chú về định hướng tương lai của nền giáo dục nước nhà. 

Phải công nhận thế hệ các con quá giỏi so với tuổi đời. Thế hệ các bác thực sự đã thấy mình tụt hậu, tụt hậu về tri thức, tụt hậu về nhận thức và tụt hậu cả về đạo đức đôi khi quá định kiến trước sự thành đạt của thế hệ các con. 

Bác cũng không quên dành lời cảm ơn đến lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo mà đặc biệt là các Thầy cô đã sáng suốt phát hiện ra con, rất bản lĩnh lần đầu tiên đưa nội dung cuốn sách của con vào đề thi tốt nghiệp PTTH để “khai phóng” nền giáo dục nước nhà tiếp cận nhanh hơn với thành tựu khoa học, công nghệ thế giới để Việt Nam chúng ta sẽ có nhiều Steve Jobs. 

Khi khoa học công nghệ thế giới đã thay cho văn học cách mạng nước nhà; khi bọn tay bán nước đã được chính danh trong đề thi môn sử thì đó đã trở thành bước ngoặt của nền giáo dục nước nhà trên con đường khai phóng, khai phóng tri thức, khai phóng nhận thức và khai phóng ý thức hệ của cả một dân tộc.

Ráng lên Con! “Đừng sợ hãi”!

Hãy mong chóng để trở thành “thủ lĩnh”đưa đất nước sánh vai với Mỹ, với Pháp dân chủ, tự do, văn minh, bác ái!



Theo face PTC.
QV-ST!

KẺ NGÁO ĐÁ - BÁO BÌNH PHƯỚC ĐẶT TÊN!

     Đó là danh xưng cộng đồng cư dân mạng đã đặt cho bà Nguyễn Hoàng Ánh, sinh ngày 21-5-1962, hộ khẩu thường trú tại số 20, ngõ 9, phố Hoàng Ngọc Phách, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, nguyên là giảng viên Trường đại học Ngoại Thương, có học vị tiến sĩ và học hàm phó giáo sư. Đây hoàn toàn không phải vô tình hay ai đó có ác ý rồi đặt cho bà Ánh cái tên như vậy. Nguyên nhân của sự việc này đều do chính bà Ánh là người đã “gieo gió” nên phải “gặt bão”.

Thời gian gần đây, trên mạng xã hội lan truyền những phát ngôn, bình luận xúc phạm Bác Hồ, xuyên tạc và đòi xét lại lịch sử của trang facebook có tên Nguyen Hoang Anh. Cụ thể, vào lúc 22 giờ 19 phút ngày 22-5-2019, trong status của facebook Nguyen Hoang Anh có đăng một bình luận với luận điệu cực kỳ phản động, rằng: “Nếu có thể quay ngược thời gian, mình ước sao Việt Nam làm như nước Đức, đừng có “đốt dãy Trường Sơn” nữa mà hồn ai nấy đi. Xét cho cùng trước thời nhà Nguyễn, miền Nam bây giờ đâu có thuộc VN, sao không để cho họ yên đi. Nếu hai miền được bình an xây dựng đất nước, đến lúc nào lịch sử cho phép thì thống nhất lại, có phải hơn 2 triệu mạng người đã không phải chết tức tưởi và mấy chục triệu dân chúng 2 miền đã được bình an, thoát được cảnh nồi da nấu thịt đến giờ vẫn chưa yên. Nếu không thống nhất được không sao, nhìn như Tiệp Khắc chia đôi hay Nam Tư còn chia nhỏ hơn nữa. Dân chúng vẫn qua lại tự do không cần visa, các bên đều vui vẻ, phát triển tốt, còn hơn thống nhất mà 100 người vui, vạn người buồn. Đất nước này quá đáng thương”.

Đây đúng là luận điệu của những kẻ mang trong mình dòng máu của Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống. Thử hỏi bà Ánh rằng, hơn 2 triệu người dân Việt Nam bị chết đói năm 1945 là nguyên nhân do đâu? Nếu thực dân Pháp, phát xít Nhật không ra sức vơ vét lương thực, cướp bóc tài nguyên và bắt nông dân phải nhổ lúa để trồng đay, thì người dân Việt Nam đâu phải chết đói nhiều đến vậy? Nếu không có triệu triệu thanh niên Việt Nam “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, thì làm sao bà Ánh có được vị trí trên bục giảng của một trường đại học danh tiếng nhất nhì ở thủ đô Hà Nội? Và rồi làm sao chính bà cùng với gia đình, dòng họ của bà có được cuộc sống đủ đầy như ngày hôm nay? Tổ tiên từ ngàn xưa đã dạy rằng “Ăn quả nhớ người trồng cây”, chẳng lẽ cái đạo lý đơn giản như vậy mà cũng quên được sao?

Không chỉ có vậy, trên facebook Nguyen Hoang Anh còn thường xuyên đăng tải những bài viết, lời bình luận bày tỏ quan điểm ủng hộ, cổ xúy các hoạt động chống phá Đảng và Nhà nước của những kẻ phản động như Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Phạm Thị Đoan Trang, Nguyễn Đình Hà. Hơn ai hết, chính bà Ánh là người biết rõ đây là những thành viên của tổ chức khủng bố “Việt Tân”, thế nhưng bà ta vẫn tán dương chúng bằng lời bỉ ổi. Cụ thể là trong một status khi nói về bản án mà tòa tuyên phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Như Quỳnh - kẻ bị xử tù về tội tuyên truyền chống Nhà nước, bà Ánh đã bày tỏ thái độ hằn học đối với Nhà nước và công khai ủng hộ các hành vi sai trái của Nguyễn Ngọc Như Quỳnh bằng luận điệu: “người phụ nữ dũng cảm đã đứng ra tố cáo những thối nát của xã hội một cách ôn hòa, đã bị kết án 10 năm tù”.

Đáng sợ và nguy hiểm hơn, bà Ánh là giáo viên mà có cái nhìn về lịch sử, địa chính trị của dân tộc hoàn toàn không đứng trên lợi ích của quốc gia, dân tộc mình. Đã vậy, bà ta lại còn đứng về phía người Mỹ để tuôn ra những lời, những tràng đại bác nã vào quá khứ của đất nước, vào sự hy sinh cao cả của biết bao anh hùng liệt sĩ để đánh đuổi giặc ngoại xâm, thống nhất đất nước. Đặc biệt, dư luận cũng như cộng đồng mạng xã hội đã, đang không chỉ bức xúc, bất bình về những phát ngôn xuyên tạc, xét lại lịch sử mà còn cả những lời nói bịa đặt trắng trợn và xúc phạm Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người được cả nhân loại tôn vinh là “Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới”. Và điều này bà Ánh với tư cách là nhà giáo, giảng viên đại học, có học vị, học hàm cao không thể nói không biết Chủ tịch Hồ Chí Minh được nhân loại tôn kính như thế nào. 

Bằng chứng là ngày 22-10-2019, bà Ánh đăng tải một status trên facebook với nội dung bịa đặt như sau: “Đi qua Chủ tịch phủ, thấy đèn hoa rực rỡ và cờ Mỹ, cờ Việt Nam tung bay bên nhau, tự dưng thấy nghẹn ngào. Ngay từ trước 1945, người Mỹ đã muốn hợp tác với Cụ Hồ nhưng chỉ vì khác biệt tư tưởng mà phía Việt Nam coi Mỹ là kẻ thù. Rất nhiều người ở hai bên đã bị truy đuổi chỉ vì phản đối sự thù địch này. Mất gần nửa thế kỷ với bao nhiêu máu và nước mắt chỉ để cuối cùng hai lá cờ được tung bay bên nhau. Thương thay cho bao kiếp người đã chết oan”. Với những phát ngôn kiểu này thì không thể là nhận thức lệch lạc, mà thực sự bà Ánh đã trở thành kẻ chống phá đất nước, kẻ đi ngược lại lợi ích của nhân dân, dân tộc. Hơn nữa, bà Ánh còn là kẻ bịa đặt đến trơ tráo, lố bịch. 

Trong khi đó, sự thật là chỉ trong 2 năm 1945 và 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần gửi thư đến Tổng thống Mỹ, Bộ Ngoại giao Mỹ nhưng sự hợp tác từ phía Mỹ gần như là con số không. Ngay sau khi Quốc dân Đại hội họp ở Tân Trào ngày 16-8-1945, với tư cách người đứng đầu Ủy ban Dân tộc Giải phóng, Bác đề nghị “nhà cầm quyền Hoa Kỳ thông báo với Liên Hiệp quốc rằng: chúng tôi đã đứng về phía Liên Hiệp quốc chống lại bọn Nhật” và “yêu cầu Liên Hiệp quốc thực hiện lời hứa long trọng của mình là tất cả các dân tộc đều được hưởng dân chủ và độc lập...”. Ngày 17-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới Tổng thống Mỹ đề nghị để Việt Nam tham gia Hội đồng Tư vấn về Viễn Đông. Ngày 22-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại viết thư gửi Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ đề nghị Liên Hiệp quốc quan tâm đến việc Pháp gây hấn và cử phái đoàn điều tra đến Đông Dương... Ngày 23-11-1945, Chủ tịch nước Việt Nam gửi thư tới Tổng thống Mỹ và Tổng giám đốc Cơ quan Cứu tế Mỹ (UNRRA) kêu gọi giúp Việt Nam chống nạn đói. Đầu năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới các ngoại trưởng Liên Xô, Mỹ, Trung Hoa Dân quốc tha thiết yêu cầu đưa vấn đề Việt Nam ra Liên Hiệp quốc và “yêu cầu nhận Việt Nam vào Liên Hiệp quốc”. Ngày 18-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại gửi thư cho Tổng thống Mỹ và chỉ huy quân Mỹ ở Thái Bình Dương, tướng Marshall yêu cầu có giải pháp hòa bình ở Việt Nam. 

Có lẽ với nhiêu đó cũng đã là quá đủ để mọi người hiểu rõ chân dung của kẻ “ngáo đá” chứ không phải một giảng viên đại học đã nghỉ hưu. Cũng từ đó, chúng ta hiểu rõ hơn, sâu hơn về những âm mưu và các thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực phản động, thù địch. Dù là một trí thức giàu kinh nghiệm, nhưng nếu không tự rèn luyện thì con đường “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là gang tấc./.

QV-ST!

KHI ĐỘC TỐ LẬT SỬ "BẮT TAY" CÙNG TƯ DUY SÍNH NGOẠI: CÚ TÁT VÀO NỀN GIÁO DỤC NƯỚC NHÀ!

     Dư luận cả nước những ngày qua chưa kịp nguôi ngoai sau vụ bê bối rác phẩm "Chuyện với Thanh" của Nguyễn Thành Nam bị phát hiện xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ Lãnh tụ Hồ Chí Minh và phải chịu lệnh dừng phát hành, thu hồi khẩn cấp, thì hôm nay, các bậc phụ huynh, các cựu chiến binh và những người tâm huyết với vận mệnh quốc gia lại một lần nữa phải lạnh sống lưng. Ai mà ngờ được, ngay trong kỳ thi Tuyển sinh Đại học toàn quốc năm 2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo lại ngang nhiên bê nguyên dữ liệu từ hệ sinh thái của cái kênh truyền thông đã tung hô, lồng ghép tư tưởng lật sử cho Nguyễn Thành Nam để làm đề thi cho hàng triệu học sinh. Một cái đề văn nghị luận xã hội sặc mùi sính ngoại, vừa hổng kiến thức cốt lõi, vừa sai ngữ nghĩa tiếng Việt trầm trọng, lại vừa lộ rõ một âm mưu định hướng tư duy thực dụng, băm vằn đạo đức của thế hệ trẻ!

Hãy nhìn thẳng vào cái đề bài đầy vĩ cuồng và hời hợt: "Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Làm thế nào để có những Steve Jobs Việt Nam?". Đọc xong mà những người có tri thức chỉ muốn phá lên cười trong sự đau xót. Người ra đề có lẽ nói tiếng Anh rất tốt, nhưng tiếng Việt và kiến thức thực tế thì trống rỗng. Sai lầm nghiêm trọng nhất là việc đánh tráo khái niệm giữa "phát minh" và "buôn bán công nghệ". Trong khoa học, phát minh là tìm ra cái hoàn toàn mới, mang tính quy luật khoa học chưa từng ai biết đến. Steve Jobs chưa từng phát minh ra con chuột máy tính hay giao diện đồ họa - những thứ đó là của trung tâm Xerox PARC, Jobs chỉ giỏi nhìn ra tiềm năng và thương mại hóa. Elon Musk không phát minh ra xe điện, ông ta mua lại Tesla khi nó đã hình thành. Mark Zuckerberg thâu tóm các nền tảng mạng xã hội. Việc dùng cụm từ "phát minh công nghệ" để gọi tên các CEO tư bản này là một sự cẩu thả, vô tội vạ về mặt chữ nghĩa. Nó vừa hạ thấp giá trị thiêng liêng của ngôn từ chuẩn xác, vừa tước đoạt và xóa nhòa công lao thầm lặng của hàng vạn kỹ sư, nhà khoa học chân chính đứng sau họ.

Chính cái câu hỏi “Làm thế nào để có những ‘Steve Jobs Việt Nam’?” đã phơi bày một tâm lý tự ti, nhược tiểu, luôn lấy phương Tây làm hệ quy chiếu tuyệt đối. Hãy nhìn vào thực tế: Hàn Quốc vươn mình nhờ nội lực và văn hóa đặc trưng để có đế chế Samsung, Nhật Bản có Toyota, Sony mà không cần bất kỳ một "Steve Jobs" hay "Elon Musk" bản sao nào cả. Việc ép buộc người trẻ Việt Nam phải trở thành bản sao của một vĩ nhân phương Tây là một sự áp đặt khiên cưỡng, hoang tưởng về mặt bề nổi. Đáng sợ hơn, các thầy cô đang muốn học sinh học tập điều gì ở những nhân vật này? Học Mark Zuckerberg - kẻ bị cả thế giới lên án vì bê bối Cambridge Analytica bán đứng dữ liệu riêng tư của 87 triệu người dùng để thao túng chính trị, kẻ dung túng cho tin giả tàn phá tâm lý trẻ em? Hay học những gã tài phiệt phương Tây vốn gắn liền với những hồ sơ quái dị, biến thái, thác loạn của thế giới tư bản vừa bị ánh sáng công lý quốc tế vạch trần? Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Có Tài mà không có Đức là người Vô Dụng". Các thầy cô đang muốn đào tạo ra một thế hệ trẻ chỉ biết đến tiền, sẵn sàng đạp đổ mọi đối thủ, bỏ qua trách nhiệm xã hội và đạo lý làm người để đổi lấy cái danh vọng hào nhoáng bên ngoài hay sao? Nếu hôm nay, vì vài ba cái bài học quản trị doanh nghiệp, vì thứ tư duy dỏm đời của phương Tây mà học sinh nhắm mắt tung hô những kẻ có nhân cách méo mó làm kim chỉ nam cho cuộc đời, thì đó chính là sự phản bội lại lời dạy của cha ông, phản bội lại dòng máu chính trực của những người lính Bộ đội Cụ Hồ đã ngã xuống!

Điều đáng báo động và ghê tởm nhất chính là mối liên kết ngầm này. Cuốn sách "Chuyện với Thanh" vừa bị nhân dân dẫm nát và bị thu hồi cách đây vài ngày vì chứa độc tố "giải thiêng", bôi nhọ Bác Hồ. Kênh truyền thông phỏng vấn, tung hô nó lại chính là nơi mà người ra đề vừa lấy dữ liệu để làm đề thi đại học năm nay! Đây không còn là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Đây là trò "ném đá dò đường" , lũ "ngáo khai phóng" nửa mùa. Chúng thất bại ở mặt trận xuất bản sách bẩn, liền tìm cách luồn lách qua mặt trận giáo dục, đưa những tư duy thực dụng, những thuật ngữ con buôn phương Tây vào đề thi quốc gia để tiêm nhiễm vào đầu học sinh thế hệ mới. Chúng muốn học sinh quên đi truyền thống, quên đi đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, quên đi những bài học xương máu của cha ông để chạy theo sự vĩ cuồng tư bản.

Một nền giáo dục tốt là phải dạy học sinh biết phân biệt: Thành tựu công nghệ không thể dùng để cứu chuộc cho sự suy đồi đạo đức; đóng góp kinh tế không bao giờ được phép đứng trên trách nhiệm xã hội! Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng căn dặn một câu cốt tủy: "Văn hóa còn thì Dân tộc còn". Gần 5000 năm lịch sử dựng nước và giữ nước, Việt Nam chưa bao giờ có được cơ đồ và vị thế như ngày hôm nay. Cơ đồ ấy được xây bằng máu của các anh hùng liệt sĩ, bằng mồ hôi của những người dân cày chân lấm tay bùn, chứ không phải được xây bằng thứ lý thuyết suông của gã thầy dạy toán viết sách lịch sử, hay những bài học quản trị của lũ trọc phú học thuật!

Bộ Giáo dục và Đào tạo cần phải lập tức vào cuộc, làm rõ trách nhiệm của Hội đồng ra đề thi năm nay. Không thể để những kẻ hổng kiến thức, sai ngữ nghĩa và mang tư tưởng sính ngoại sáo rỗng tiếp tục định hình và làm vẩn đục tư duy của thế hệ tương lai đất nước!

QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: KHI ĐỌC CÂU HỎI “LÀM THẾ NÀO ĐỂ CÓ NHỮNG STEVE JOBS VIỆT NAM?”, EM XIN PHÉP ĐƯỢC ĐẶT LẠI MỘT CÂU HỎI VỚI CÁC THẦY CÔ: VÌ SAO LẠI PHẢI LÀ “STEVE JOBS VIỆT NAM”?

VÌ SAO LẠI PHẢI LÀ “STEVE JOBS VIỆT NAM”?

     Bài này hướng người đọc yêu Sử, hiểu Sử, yêu văn học và trí tuệ Việt Nam: Người có trình độ, nhận thức và lòng tự hào dân tộc là vậy đó.

Em xin được nói thật: em không biết rõ Steve Jobs là ai.

Có thể đó là một thiếu sót của em. Có thể vì không biết rõ ông ấy, bài nghị luận này của em sẽ không đạt điểm cao. Nhưng nếu một bài văn bắt đầu từ sự trung thực, thì điều đầu tiên em cần làm không phải là cố tỏ ra mình hiểu điều mình chưa hiểu, mà là nói đúng sự thật.

Em không biết rõ Steve Jobs là ai. Nhưng em biết Dương Đình Nghệ.

Em biết một người đã nuôi dưỡng ba nghìn nghĩa sĩ, chuẩn bị sức mạnh cho cuộc đấu tranh giành lại quyền tự chủ của dân tộc. Có những con người không được gọi tên nhiều trong đời sống hôm nay, nhưng nếu không có họ, lịch sử Việt Nam đã không thể đi tiếp bằng dáng đứng của một dân tộc có chủ quyền.

Em không biết rõ Steve Jobs là ai. Nhưng em biết Sư Vạn Hạnh.

Em biết một bậc thiền sư lớn của dân tộc, người không chỉ tu hành cho riêng mình mà còn nhìn thấy vận nước, góp phần mở ra triều Lý, một triều đại rực rỡ trong lịch sử Việt Nam. Ở Sư Vạn Hạnh, em thấy trí tuệ không chỉ là sự thông minh, mà là tầm nhìn, là đạo lý, là khả năng đặt vận mệnh dân tộc lên trên danh lợi cá nhân.

Em không biết rõ Steve Jobs là ai. Nhưng em biết Trần Hưng Đạo.

Em biết một vị Quốc công Tiết chế đã cùng quân dân Đại Việt ba lần đánh bại quân Nguyên - Mông, đội quân từng làm rung chuyển nhiều vùng đất lớn trên thế giới. Ở Trần Hưng Đạo, em thấy bản lĩnh Việt Nam không nằm ở sự ồn ào, mà nằm ở trí tuệ giữ nước, ở lòng trung nghĩa, ở khả năng biến sức mạnh của nhân dân thành thành trì bất khuất của dân tộc.

Em không biết rõ Steve Jobs là ai. Nhưng em biết Mạc Đĩnh Chi.

Em biết một con người được gọi là lưỡng quốc trạng nguyên, dùng trí tuệ và bản lĩnh của người Việt để khiến người phương Bắc phải nể phục. Ở Mạc Đĩnh Chi, em thấy một trí tuệ Việt Nam không tự ti, không cúi đầu, không cần vay mượn hào quang của ai để được công nhận.

Em không biết rõ Steve Jobs là ai. Nhưng em biết Lê Lợi.

Em biết một con người từ Lam Sơn đã cùng nhân dân đứng lên chống giặc Minh, đi qua gian khổ, đi qua mất mát, để giành lại non sông. Ở Lê Lợi, em thấy không chỉ có tài năng quân sự, mà còn có trách nhiệm với đất nước trong thời khắc dân tộc bị chà đạp.

Em không biết rõ Steve Jobs là ai. Nhưng em biết Nguyễn Trãi.

Em biết một bậc đại trí thức của dân tộc, người viết nên Bình Ngô đại cáo, áng thiên cổ hùng văn khẳng định nền độc lập, văn hiến và khí phách Đại Việt. Ở Nguyễn Trãi, em thấy trí tuệ không chỉ để làm quan, làm thơ, làm văn, mà để phụng sự nhân dân, phụng sự đất nước, dùng chữ nghĩa để dựng lại lòng tự tôn của một dân tộc sau những năm tháng bị giày xéo.

Em không biết rõ Steve Jobs là ai. Nhưng em biết Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Em biết một con người có trí tuệ lớn, sống giữa thời cuộc rối ren mà vẫn giữ được sự minh triết. Một người không chỉ để lại thơ văn, mà còn để lại một thái độ sống: biết nhìn thời thế, biết giữ đạo, biết không đánh mất mình trước danh lợi và biến động.

Em không biết rõ Steve Jobs là ai. Nhưng em biết Nguyễn Huệ.

Em biết một người áo vải Tây Sơn đã làm nên những chiến công hiển hách, đánh tan quân xâm lược, khẳng định khí phách của một dân tộc không chịu cúi đầu. Nguyễn Huệ không cần trở thành bản sao của bất cứ ai. Ông là chính ông, và vì thế lịch sử phải gọi tên ông.

Em không biết rõ Steve Jobs là ai. Nhưng em biết Nguyễn Tất Thành.

Em biết một người thanh niên đã rời bến Nhà Rồng với hai bàn tay trắng, mang theo một câu hỏi lớn về vận mệnh dân tộc. Người không đi tìm vinh quang cho riêng mình. Người đi tìm con đường để dân tộc mình thoát khỏi kiếp nô lệ, để người Việt Nam được sống như một dân tộc độc lập.

Em không biết rõ Steve Jobs là ai. Nhưng em biết Võ Nguyên Giáp.

Em biết một vị tướng của nhân dân, một con người làm nên những chiến công khiến thế giới phải kính trọng Việt Nam. Đại tướng Võ Nguyên Giáp không chỉ là tài năng quân sự. Ông còn là biểu tượng của bản lĩnh, của ý chí, của niềm tin rằng một dân tộc nhỏ vẫn có thể làm nên những điều lớn lao nếu dân tộc ấy có chính nghĩa.

Em không biết rõ Steve Jobs là ai. Nhưng em biết Trần Đại Nghĩa.

Em biết một nhà khoa học, một kỹ sư lớn, người đã đem tri thức hiện đại phục vụ Tổ quốc trong những năm tháng khốc liệt. Trí tuệ ấy không chỉ để lập nghiệp cho riêng mình, mà để bảo vệ đất nước. Theo em, đó là một loại trí tuệ rất cao: trí tuệ biết đứng về phía dân tộc mình.

Em không biết rõ Steve Jobs là ai. Nhưng em biết Lương Định Của.

Em biết một nhà khoa học đã gắn trí tuệ của mình với ruộng đồng, với cây lúa, với đời sống của người nông dân Việt Nam. Đó cũng là sáng tạo. Đó cũng là đổi mới. Đó cũng là phụng sự. Không phải sáng tạo nào cũng nằm trong một chiếc điện thoại hay một công ty công nghệ. Có những sáng tạo âm thầm làm no ấm hàng triệu con người.

Em không biết rõ Steve Jobs là ai. Nhưng em biết Lê Duẩn.

Em biết một nhà lãnh đạo gắn với ý chí thống nhất đất nước, với một thời kỳ lịch sử đầy thử thách, đầy hy sinh của dân tộc Việt Nam. Dù nhìn lịch sử từ góc độ nào, cũng không thể phủ nhận rằng có những con người đã đặt vận mệnh quốc gia lên trên đời sống riêng mình, sống trong những quyết định nặng nề của thời cuộc.

Vì vậy, khi đọc câu hỏi: “Làm thế nào để có những Steve Jobs Việt Nam?”, em xin phép được đặt lại một câu hỏi với các thầy cô:

Vì sao lại phải là “Steve Jobs Việt Nam”?

Vì sao không hỏi: làm thế nào để thế hệ trẻ Việt Nam trí tuệ hơn, trách nhiệm hơn, bản lĩnh hơn?

Vì sao không hỏi: làm thế nào để người trẻ Việt Nam biết yêu Lẽ Phải bằng tất cả con tim của mình?

Vì sao không hỏi: làm thế nào để đất nước này có thêm những con người dám sống tử tế, dám phụng sự, dám sáng tạo, dám bảo vệ điều đúng, dám đứng về phía nhân dân, dám làm cho Việt Nam trở nên tốt đẹp hơn?

Em không phản đối việc học hỏi những con người tài giỏi trên thế giới. Một dân tộc muốn tiến bộ thì không thể khép mình. Người trẻ Việt Nam cần học khoa học, học công nghệ, học tư duy tổ chức, học tinh thần sáng tạo của nhân loại. Nếu Steve Jobs là một biểu tượng của sáng tạo, thì việc nhắc đến ông không có gì sai.

Nhưng em nghĩ, một đề Văn không chỉ kiểm tra khả năng viết. Một đề Văn còn gieo vào học sinh một cách nhìn.

Khi câu hỏi đặt ra là “làm thế nào để có những Steve Jobs Việt Nam”, em có cảm giác người Việt Nam đang được hình dung như một phiên bản đi sau của người khác. Như thể muốn nói đến tài năng, ta phải mượn một cái tên bên ngoài. Muốn nói đến sáng tạo, ta phải bắt đầu từ một biểu tượng không sinh ra từ đất nước mình. Điều đó khiến em băn khoăn.

Bởi những con người em vừa nhắc đến không lớn lên bằng cách trở thành bản sao của ai.

Dương Đình Nghệ không chuẩn bị sức mạnh tự chủ cho dân tộc bằng một khát vọng vay mượn.

Sư Vạn Hạnh không nhìn vận nước bằng con mắt vay mượn.

Trần Hưng Đạo không giữ nước bằng khí phách đi mượn.

Mạc Đĩnh Chi không khiến người phương Bắc nể phục bằng trí tuệ sao chép.

Nguyễn Trãi không viết Bình Ngô đại cáo để chứng minh Đại Việt giống một quốc gia nào khác.

Nguyễn Huệ không làm nên chiến thắng vì ông đi tìm một hình mẫu bên ngoài để bắt chước.

Nguyễn Tất Thành, Võ Nguyên Giáp, Trần Đại Nghĩa, Lương Định Của, Lê Duẩn,… cũng không sống đời mình bằng khát vọng trở thành “phiên bản Việt Nam” của một ai đó.

Họ lớn vì họ là người Việt Nam. Họ đứng trong hoàn cảnh Việt Nam. Họ mang nỗi đau Việt Nam, trách nhiệm Việt Nam, trí tuệ Việt Nam và khát vọng Việt Nam.

Đó là điều em muốn được nhìn thấy trong một câu hỏi dành cho thế hệ trẻ. Một câu hỏi có thể mở ra thế giới, nhưng vẫn phải giữ được căn cốt Việt Nam. Một câu hỏi có thể nói về công nghệ, sáng tạo, khởi nghiệp, nhưng không được quên rằng trước khi trở thành người thành công, con người phải trở thành người có nhân cách. Bởi nếu chỉ có tài năng mà không có trách nhiệm, tài năng ấy có thể trở thành sự khôn ngoan ích kỷ.

Nếu chỉ có sáng tạo mà không có căn cốt văn hóa, sáng tạo ấy có thể trở thành sự bắt chước hào nhoáng.

Nếu chỉ có khát vọng thành công mà không có tình yêu đất nước, thành công ấy có thể rất lớn với cá nhân, nhưng rất nhỏ với dân tộc.

Theo em, câu hỏi quan trọng hơn không phải là làm thế nào để có những Steve Jobs Việt Nam.

Câu hỏi quan trọng hơn là: làm thế nào để giáo dục Việt Nam tạo ra những con người Việt Nam có trí tuệ, có nhân cách, có khí phách và có trách nhiệm với tương lai đất nước?

Em không dám nói mình viết hay. Em cũng không dám nói mình hiểu hết những nhân vật em vừa nhắc đến. Nhưng em biết một điều: nếu giáo dục muốn tạo ra những con người lớn, thì giáo dục không nên bắt đầu bằng việc hỏi làm sao để chúng em trở thành phiên bản Việt Nam của một ai đó.

Xin hãy hỏi chúng em:

Làm thế nào để người trẻ Việt Nam trí tuệ hơn?
Làm thế nào để người trẻ Việt Nam trách nhiệm hơn?
Làm thế nào để người trẻ Việt Nam bản lĩnh hơn?
Làm thế nào để người trẻ Việt Nam biết yêu Lẽ Phải, yêu nhân dân, yêu đất nước bằng tất cả con tim của mình?

Nếu một ngày nào đó Việt Nam có những con người làm thế giới kính trọng, em mong đừng ai gọi họ là “Steve Jobs Việt Nam”. Em mong họ được gọi bằng chính tên của họ với niềm tự hào là Người Việt Nam./.
Bài viết của tg Trương Đình Nam.
QV-ST!

HAI TỘI TO CỦA HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM VÀ NHỮNG NGƯỜI CÓ LIÊN QUAN!

     Từ rác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh” xuyên tạc và bôi xấu hình ảnh Anh bộ đội Cụ Hồ đến rác phẩm “Chuyện với Thanh-Lời kể mới về ánh sang” trực tiếp xuyên tạc thân thế và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Điều đáng nói là hai rác phẩm này đều được Hội nhà văn Việt Nam vinh danh. “Nỗi buồn chiến tranh” được Hội nhà văn Việt Nam “tiến cử” là một trong những tác phẩm tiêu biểu của nền văn học nghệ thuật Việt Nam trong 50 năm kể từ ngày giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước, còn “Chuyện với Thanh-Lời kể mới về ánh sang” được chính Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành. 

Bị dư luận xã hội kịch liệt phản đối, tác giả của “Nỗi buồn chiến tranh” tự nguyện rút rác phẩm này ra khỏi danh mục những tác phẩm tiêu biểu của nền văn học nghệ thuật Việt Nam. Một hành động được coi là “rút củi khỏi đáy nồi”. Còn rác phẩm “Chuyện với Thanh-Lời kể mới về ánh sang” được chính Nhà xuất bản Hội Nhà văn ra quyết định thu hồi. 

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch yêu cầu dừng phát hành, thu hồi cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng", đồng thời làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan đến những sai sót trong quá trình xuất bản

Thế còn những ai viết bài và đăng đàn ca ngợi hai rác phẩm này lên “tận mây xanh” thì sao nhỉ?

QV-ST!

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: CHÚNG TÔI ĐÁNH GIÁ CÂU TRẢ LỜI CỦA ĐẠI DIỆN BỘ GIÁO DỤC TRƯỚC BÁO GIỚI VÀ DƯ LUẬN VỀ ĐỀ THI MÔN VĂN TỐT NGHIỆP THPT 2026 LÀ THIẾU THUYẾT PHỤC!

     Chúng ta cần nhìn nhận vào sự thật, đề THPT- phổ thông tức là phổ biến thông thường, thông dụng - đề ra cho học sinh cả nước; có vùng sâu vùng xa, có biên giới, có hải đảo, có tỉnh nghèo tỉnh giàu nhưng rõ ràng nghiêng về phía có điều kiện nhiều hơn.

Câu số 5 của phần 1 là câu hỏi về AI. Câu 1 của phần 2(2 điểm) lại là câu hỏi về công nghệ. 

Và tôi cho rằng câu trả lời của đại diện Bộ Giáo Dục đối với câu hỏi này là câu trả lời mù. 

Anh chị không cần biết ba ông có tên trong đề nổi tiếng về công nghệ gì, làm việc gì chỉ cần biết nổi tiếng về công nghệ là cứ viết thôi. Như vậy là học sinh không cần tính minh bạch, chỉ việc bịa đại, hiểu đại khi không có đủ dữ liệu?

Lỡ học trò chém gió theo kiểu phát minh công nghệ may mặc, công nghệ xây dựng, công nghệ xử lý rác thải, công nghệ sản xuất kim loại….. thì sao?

Ít nhất phải có một đoạn chú thích in nghiêng trong ngoặc đơn chứ?

Việc cố biện giải câu chữ “với những phát minh” để lý giải cho việc không cho rằng 3 nhân vật trong đề là nhà phát minh lại càng không hợp lý. Nếu đúng phải là 3 ông trên đã “vận dụng những phát minh”….. mới đúng. 

Nó giống như biết sai rồi, cố mài cho thành đúng. 

Học sinh có quyền không biết 3 nhân vật có tên trong đề là ai khi chúng không được dạy về điều đó. Đặc biệt là Steve Jobs. Sẽ có người nói nhiệm vụ của học sinh là phải biết. Học sinh phải tự cập nhật xã hội, phải tự biết khoa học công nghệ. 

Vậy tại sao phải dạy cho học sinh về Cụ Hồ mà không để học sinh tự biết? Vì không dạy thì học sinh không biết, không có định hướng khi nhìn nhận vấn đề. Một nhân vật lịch sử gắn liền với lịch sử dân tộc mà dân cũng phải học, quan càng phải học mà bây giờ một ông công nghệ ở bên Mỹ muốn học sinh phải tự biết.

Câu hỏi đặt ra là đề các năm sau nên hỏi cái gì?

Nhân sinh, xã hội, tình cảm, con người, đất nước, chính kiến trước một số thực trạng, đạo đức, văn hoá của chính vùng đất thí sinh đang sống…… và phát triển tư duy phản biện tự do. 

Muốn ra đề tư duy tự do xã hội hay theo trend phải có dữ liệu rõ.

Thiếu gì cái để ra đề. Quan trọng là khả năng vận dụng và sáng tạo của đội ra đề mà đứng đầu là Bộ GD thôi./.

QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TOÀN VĂN BÀI VIẾT CỦA TỔNG BÍ THƯ VỀ CHIẾN THẮNG 30/4/1975!

     Xin trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết của Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhan đề: "Thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước là thắng lợi của đường lối và nghệ thuật quân sự Việt Nam dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng”.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đã kết thúc thắng lợi hoàn toàn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của quân và dân ta, tạo bước ngoặt trong lịch sử dân tộc, mở ra kỷ nguyên mới đối với nước ta - kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thể hiện sâu sắc sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Đó cũng là một sự kiện có tầm vóc quốc tế to lớn và mang tính thời đại sâu sắc. Thắng lợi đó bắt nguồn từ nhiều nhân tố, trong đó nhân tố quyết định nhất là nhờ có sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng, phát huy cao độ nghệ thuật quân sự độc đáo Việt Nam.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta (1954 - 1975) là sự tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân. Trong điều kiện đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn cứ vào tình hình quốc tế, trong nước, so sánh thế và lực giữa ta và địch, nắm vững phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đề ra đường lối kháng chiến độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo và tổ chức thực hiện đường lối đó phù hợp với điều kiện cụ thể và sự phát triển của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Đặc điểm lớn nhất và cũng là nét độc đáo của cách mạng nước ta từ tháng 7-1954 đến tháng 5-1975, đó là Đảng ta đã thực hiện đường lối chính trị, đường lối quân sự độc lập, tự chủ, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, nhằm một mục tiêu chung là hoàn thành độc lập, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Đảng ta xác định: miền Bắc là hậu phương lớn, sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với sự nghiệp cách mạng của cả nước; miền Nam là tiền tuyến lớn, cách mạng miền Nam có tác dụng quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam. Mối quan hệ giữa hai chiến lược cách mạng ở hai miền Nam - Bắc là mối quan hệ hữu cơ, gắn bó chặt chẽ với nhau, thúc đẩy và hỗ trợ nhau cùng phát triển. Đó là nét độc đáo chưa có tiền lệ trong lịch sử và là thành công lớn của Đảng ta; đồng thời, là nguyên nhân chủ yếu, nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước lâu dài, gay go, quyết liệt của nhân dân ta.

Việc xác định đường lối cách mạng độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo đã thể hiện tầm nhìn xa trông rộng, tư duy chiến lược, tài thao lược xuất sắc của Đảng, nhất là ở những thời điểm mang tính bước ngoặt của cuộc kháng chiến.

Trước tình hình chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm thực hiện chính sách "tố cộng", "diệt cộng", lê máy chém đi khắp miền Nam, thẳng tay đàn áp các chiến sĩ cách mạng và quần chúng nhân dân, phong trào cách mạng miền Nam phát triển khó khăn, tháng 1/1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã tổ chức Hội nghị lần thứ 15 (mở rộng), dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định con đường tiến lên của cách mạng miền Nam, vạch rõ mục tiêu và phương pháp cách mạng, mối quan hệ giữa hai chiến lược cách mạng ở hai miền, giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới nhằm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất nước nhà. Nghị quyết Trung ương 15 chỉ rõ: con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân; ngoài ra không có con đường nào khác.

Chủ trương đúng đắn đó của Đảng đã tạo ra "làn gió mới", khí thế mới, trở thành động lực thúc đẩy cách mạng miền Nam vững bước tiến lên. Mở đầu là phong trào Đồng khởi vào cuối năm 1959, sau đó nhanh chóng phát triển thành cao trào Đồng khởi trên khắp miền Nam. Thắng lợi của phong trào Đồng khởi đã tạo bước ngoặt, đưa cách mạng miền Nam chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công. Đây là sự mở đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước rất độc đáo, sáng tạo; đồng thời, là cơ sở để Đảng ta tiếp tục phát triển chiến tranh toàn dân, toàn diện và đánh bại các chiến lược: "chiến tranh đặc biệt" (1961 - 1965), "chiến tranh cục bộ" (1965 - 1968), "Việt Nam hoá chiến tranh" (1969 - 1973) của đế quốc Mỹ, "đánh cho Mỹ cút", tiến tới "đánh cho nguỵ nhào", giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Cùng với việc đề ra đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn, sáng tạo, Đảng ta đã kiên định phương pháp cách mạng bạo lực tổng hợp, gồm hai lực lượng chủ yếu là lực lượng chính trị của quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân, kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang được tiến hành trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đồng thời, kiên trì thực hiện tư tưởng chiến lược tiến công. Tư tưởng đó được thực hiện không chỉ trong lúc địch "xuống thang" mà ngay cả khi chúng "leo thang" chiến tranh; và không chỉ đối với chiến tranh cách mạng ở miền Nam, mà cả trong cuộc chiến đấu bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Chiến lược tiến công được thực hiện ở mọi thời điểm, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, với phương châm: "đánh lui từng bước, đánh đổ từng bộ phận, kéo địch xuống thang từng bước, tiến tới đánh bại hoàn toàn quân địch, giành thắng lợi quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước".

Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết (27/1/1973), quân đội viễn chinh Mỹ buộc phải cuốn cờ rút khỏi miền Nam Việt Nam (29/3/1973), cục diện chiến trường chuyển biến có lợi cho ta. Nắm vững thời cơ chiến lược được mở ra sau gần hai mươi năm chiến đấu, Hội nghị Trung ương lần thứ 21 (khoá III) họp hai đợt (đợt I từ ngày 19/6 đến ngày 6/7/1973, đợt II từ ngày 1/10 đến ngày 4/10/1973) đã khẳng định và củng cố quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc trong thời gian sớm nhất.

Năm 1974, quân và dân ta mở các cuộc tiến công tạo thế trên khắp các chiến trường miền Nam, làm cho đối phương bị động, đối phó. Sau chiến thắng Thượng Đức, Đồng Xoài, nhất là thắng lợi của chiến dịch Đường 14 - Phước Long, đã tạo cơ sở để Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng hạ quyết tâm, thực hiện kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam trong hai năm 1975 - 1976, đồng thời có phương án nếu thời cơ xuất hiện thì giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975, thậm chí trước mùa mưa năm 1975.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nghệ thuật quân sự và chiến tranh nhân dân Việt Nam đã phát triển tới đỉnh cao. Nhân tố bảo đảm cho sự phát triển không ngừng của chiến tranh nhân dân đó là lực lượng vũ trang nhân dân, gồm ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích được xây dựng vững mạnh, bố trí rộng khắp; trong đó, các binh đoàn chủ lực giữ vai trò nòng cốt trong các chiến dịch, thực hiện tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng quy mô lớn.

Nắm vững quy luật chiến tranh, vận dụng và thực hiện sáng tạo nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân, chúng ta đã từng bước chuyển hoá cục diện chiến trường theo hướng có lợi, luôn đánh địch trên thế mạnh, thế chủ động, thế bất ngờ. Nét đặc sắc, độc đáo của chiến tranh nhân dân còn được thể hiện ở chỗ đã kết hợp chặt chẽ các nhân tố "thế, lực, thời, mưu" trong từng trận đánh, từng chiến dịch một cách linh hoạt, làm cho địch không thể lường được các hướng, mũi, lực lượng và sức mạnh tiến công của ta. Đó là cơ sở để Đảng ta kiên trì thực hiện phương châm chiến lược : đánh đổ từng bộ phận quân địch, giành thắng lợi từng bước, tiến tới đánh bại hoàn toàn quân địch, giành thắng lợi cuối cùng bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.

Đảng ta đặc biệt coi trọng và phát huy hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội; trong các chiến dịch. Kế thừa kinh nghiệm công tác đảng, công tác chính trị được tiến hành từ khi Quân đội ta mới thành lập và trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, công tác đảng, công tác chính trị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã được phát triển lên một bước mới, phong phú về nhiều mặt, thực sự là "linh hồn, mạch sống" của Quân đội ta.

Căn cứ vào tình hình thực tế trên chiến trường, công tác đảng, công tác chính trị đã tập trung xây dựng quyết tâm chiến đấu, làm cho toàn quân nhất trí cao với đường lối, chủ trương của Đảng, cả về mục tiêu chiến lược, thời cơ chiến lược, phương châm chỉ đạo chiến lược, phương thức tác chiến để giành thắng lợi. Chủ động chỉ đạo làm tốt chức năng "đội quân công tác" ở vùng mới giải phóng, phát huy vai trò của lực lượng vũ trang địa phương, nhân dân trên địa bàn tác chiến chiến dịch.

Công tác đảng, công tác chính trị đã trực tiếp định hướng tư tưởng bộ đội, khơi dậy và phát huy truyền thống yêu nước, sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa ưu việt ở miền Bắc, tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất của đồng bào miền Nam "thành đồng Tổ quốc". Qua đó, tạo động lực chính trị - tinh thần to lớn cho đồng bào và chiến sĩ cả nước trong cuộc đọ sức quyết liệt với kẻ thù xâm lược. Hoạt động công tác đảng, công tác chính trị còn góp phần xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ phương pháp tư duy quân sự cách mạng, khoa học; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa con người và vũ khí; giữa chính trị và quân sự; giữa dân chủ, kỷ luật và đoàn kết.

Về công tác tổ chức, xây dựng Đảng, đã tập trung xây dựng "chi bộ 4 tốt" kết hợp với xây dựng các trung đoàn, sư đoàn vững mạnh; tăng cường rèn luyện đảng viên gắn với rèn luyện cán bộ; duy trì nghiêm các nền nếp sinh hoạt, hoạt động của các tổ chức đảng trong điều kiện chiến tranh; thường xuyên chăm lo bảo đảm chính sách đối với bộ đội và hậu phương quân đội. Đội ngũ cán bộ chính trị các cấp được kiện toàn, bồi dưỡng về phẩm chất, năng lực nên có sự phát triển nhanh chóng và khẳng định vai trò quan trọng trong thực tiễn chiến đấu.

Đặc biệt, Đảng ta hết sức chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược có đủ "tâm", đủ "tầm" và kinh nghiệm chỉ đạo tác chiến. Hình ảnh những vị tư lệnh, chính uỷ các binh đoàn chủ lực mẫu mực, xông xáo, quyết đoán, toàn tâm toàn ý với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc mãi mãi để chúng ta tôn vinh và học tập.

Hoạt động hiệu quả của công tác đảng, công tác chính trị cùng với các mặt công tác khác đã thực sự làm cho đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng đi vào thực tiễn chiến đấu của quân và dân ta, tạo nên sức mạnh chính trị - tinh thần to lớn, nhất là trong những thời điểm bước ngoặt, có tính quyết định.

Đại thắng mùa Xuân 1975 là thành quả vĩ đại của nhân dân ta, thể hiện ý chí, khát vọng độc lập, thống nhất Tổ quốc của dân tộc ta trong thời đại Hồ Chí Minh. Với đường lối kháng chiến độc lập, tự chủ, Đảng ta đã huy động được cao nhất sức mạnh của cả nước, bao gồm cả sức mạnh vật chất và sức mạnh chính trị - tinh thần, sức mạnh truyền thống yêu nước nồng nàn của đất nước ngàn năm văn hiến cho cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược lâu dài, cam go, quyết liệt.

Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, với quan điểm đoàn kết quốc tế thuỷ chung, trong sáng, Đảng ta đã phát huy hiệu quả sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Việt Nam mãi mãi biết ơn và không bao giờ quên sự giúp đỡ chí tình chí nghĩa của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nhất là Liên Xô, Trung Quốc đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc ta; đặc biệt là sự đoàn kết liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia. Sự ủng hộ to lớn cả vật chất và tinh thần của cộng đồng quốc tế là một nhân tố quan trọng góp phần làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của chúng ta.

Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực bên cạnh mặt thuận lợi, vẫn tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn rất gay gắt, tiềm ẩn những nhân tố mất ổn định; chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, tranh chấp tài nguyên, chủ quyền lãnh thổ, biển đảo, xung đột sắc tộc, tôn giáo, hoạt động can thiệp, lật đổ, ly khai, khủng bố và các yếu tố đe doạ an ninh phi truyền thống có chiều hướng gia tăng, tạo ra thách thức với nhiều quốc gia. Ở trong nước, chúng ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực sau 30 năm đổi mới; tiềm lực mọi mặt của đất nước được tăng cường, uy tín, vị thế của nước ta ngày càng được nâng cao, song cũng còn nhiều khó khăn, thách thức.

Các thế lực thù địch vẫn đang đẩy mạnh chiến lược "diễn biến hoà bình", thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hoá", "phi chính trị hoá" Quân đội. Tình hình Biển Đông diễn biến phức tạp, cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo còn lâu dài, không ít khó khăn. Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta rất nặng nề, đan xen cả thuận lợi và khó khăn, thời cơ và thách thức. Để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chiến lược này, chúng ta phải tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, phát huy vai trò, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, các lực lượng, trong đó lực lượng vũ trang là nòng cốt.

Năm nay, chúng ta kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước đúng vào thời điểm Đảng ta tiến hành đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội XII của Đảng. Đây là một sự kiện trọng đại đối với Đảng ta, dân tộc ta; đồng thời, cũng là dịp để Đảng ta nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, phát huy trí tuệ của toàn Đảng, hoàn thiện đường lối đổi mới, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn cách mạng mới.

Bài học thành công về sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cần phải được tiếp tục kế thừa, phát huy trong tình hình mới. Đó là bài học kiên định đường lối, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giữ vững bản chất giai cấp công nhân và củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Trên cơ sở đó, xác định đường lối, chủ trương, giải pháp lãnh đạo đúng đắn, sát yêu cầu phát triển của cách mạng; tích cực đổi mới phương thức lãnh đạo, nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tìm ra quy luật khách quan bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng mang lại hiệu lực, hiệu quả trên thực tế.

Để xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, thực sự "là đạo đức, là văn minh" như tâm nguyện của Bác Hồ, toàn Đảng phải kiên quyết, kiên trì tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI gắn với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Các tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở phải làm tốt hơn nữa công tác xây dựng Đảng; cán bộ của Đảng phải thực sự là công bộc của dân, quan tâm đến nguyện vọng và lợi ích chính đáng của người dân; khắc phục mọi biểu hiện quan liêu, xa rời quần chúng, "lợi ích nhóm", mất đoàn kết nội bộ, v.v... Đồng thời, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Quân đội nhân dân với vai trò là một lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Tổ quốc, Nhân dân, cần tiếp tục đẩy mạnh xây dựng theo hướng "cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại". Quân đội cần chủ động nắm chắc tình hình, dự báo chính xác xu hướng phát triển, nhất là những vấn đề liên quan đến quốc phòng, an ninh của đất nước; trên cơ sở đó, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng công an, đối ngoại để tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước hoạch định đường lối, chiến lược bảo vệ Tổ quốc và có đối sách, xử lý đúng đắn các tình huống, không để bị động, bất ngờ, góp phần tạo môi trường hoà bình ổn định để xây dựng, phát triển đất nước.

Quân đội ta là quân đội cách mạng, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, phải tiếp tục hoàn thành tốt vai trò là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động, sản xuất, xứng đáng với niềm tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, tô thắm thêm truyền thống phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ".

Để làm được điều đó, phải tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội; tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, có năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu cao; kiên quyết đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn "phi chính trị hoá" Quân đội của các thế lực thù địch.

Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng cần nghiên cứu, tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 8 khoá XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; trong đó trọng tâm là xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ và các phương án, kế hoạch phòng thủ đất nước. Thường xuyên chăm lo xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị, tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong toàn quân và lực lượng dân quân tự vệ.

Lịch sử 85 năm ra đời và phát triển của Đảng ta cho thấy, càng trong những thời điểm khó khăn, phức tạp thì bản lĩnh, trí tuệ, đạo đức, năng lực lãnh đạo của Đảng càng được khẳng định. Chúng ta tin tưởng rằng, bài học thành công về sự lãnh đạo của Đảng trong Đại thắng mùa Xuân 1975, cũng như toàn bộ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước sẽ tiếp tục được phát huy trong tình hình mới./.
Ảnh: Các tầng lớp nhân dân Sài Gòn tham dự mít tinh mừng chiến thắng.
Nguyễn Phú Trọng-Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng- Bí thư Quân uỷ Trung ương.
QV-ST!