Đảng Cộng sản
Việt Nam ngay từ khi mới thành lập đã xác định đường lối tự do tín ngưỡng, đoàn
kết lương giáo để giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Trong cuộc cách mạng
dân tộc, dân chủ nhân dân, chính sách “Tín ngưỡng, tự do, lương giáo đoàn kết”
do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đã góp phần to lớn vào thắng lợi của sự nghiệp
đấu tranh giành độc lập dân tộc. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chống
Đế quốc Mỹ, đường lối đại đoàn kết toàn dân, tự do tín ngưỡng đã động viên hàng
chục vạn tín đồ các tôn giáo tham gia cuộc đấu tranh giành và bảo vệ đất nước,
đã có hàng vạn bộ đội thanh niên xung phong; hàng ngàn liệt sỹ, thương binh,
hàng trăm bà mẹ Việt Nam anh hùng là tín đồ các tôn giáo. Trong sự nghiệp xây
dựng đất nước sau chiến tranh, Đảng ta đã quan tâm đến công tác tôn giáo. Năm
1990 Bộ Chính trị khóa VI đã ra nghị quyết 24 về công tác tôn giáo. Các Đại hội
Đảng VII, VIII tiếp tục khẳng định quan điểm đó. Năm 1998, Bộ Chính trị ban
hành chỉ thị 37 - CT/TW về “Công tác tôn giáo trong tình hình mới” . Trong thời
kỳ đổi mới, Đảng tiếp tục thực hiện quan điểm đó bằng Nghị quyết trung ương 7,
khóa IX, với 5 quan điểm cơ bản. Từ quan điểm của Đảng, Nhà nước đã thể chế hóa
bằng pháp luật đối với các hoạt động tôn giáo. Hướng dẫn giúp đỡ các tôn giáo
xây dựng đường hướng hành đạo tiến bộ, gắn bó với dân tộc và chế độ xã hội chủ
nghĩa, sống “tốt đời, đẹp đạo”. Điều đó, được ghi nhận trong hiến pháp đầu tiên
năm 1946. Trong Điều 10 quy định “Công dân Việt Nam có quyền…tự do tín ngưỡng”;
Hiến pháp năm 1959, Điều 26 quy định “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”; Hiến pháp
1980, Điều 68 quy định “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không
theo một tôn giáo nào không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và
chính sách của Nhà nước”; Hiến pháp năm 1992, Điều 70 “Công dân có quyền tự do
tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều
bình đẳng trước pháp luật…không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo để
làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”; Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo
năm 2004, Điều 1 quy định “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo
hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo của công dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy. Các tôn giáo đều bình
đẳng trước pháp luật. Công dân có tín ngưỡng tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng
tôn giáo cũng như công dân có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn
nhau”; hiến pháp năm 2013, xác định “tôn giáo là quyền con người”
Quan điểm chính sách đối với tín
ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt nam tập trung trên 5 quan điểm cơ bản
sau:
Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của
một bộ phận nhân dân các dân tộc, còn tồn tại lâu dài trong quá trình xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của
cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức,
pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt
hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và
phát minh đó tức là văn hoá”. Vì vậy, những giá trị của tín ngưỡng, tôn giáo,
nổi lên là giá trị đạo đức chính là di sản để coi trọng kế thừa, phát huy để
phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Phải tôn trọng nhu cầu tinh thần, quyền tự do tín ngưỡng và không tín
ngưỡng của nhân dân các dân tộc nhằm phát huy nhân tố tinh thần trong sự nghiệp
xây dựng bảo vệ Tổ quốc. Luật Tôn giáo Việt
Thứ nhất, công dân có quyền tự do theo hoặc không theo một tôn
giáo nào. Công dân được quyền thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nhưng
không cản trở việc thực hiện nghĩa vụ công dân với Tổ quốc. Tự do tín ngưỡng,
tôn giáo không có nghĩa là hoạt động tôn giáo nằm ngoài khuôn khổ pháp luật, đi
ngược lại lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân; không có nghĩa là lợi dụng tôn
giáo để phá hoại cách mạng.
Thứ hai, người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không có tín
ngưỡng, tôn giáo phải tôn trọng lẫn nhau; không ai được xâm phạm quyền tự do
tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân... Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp
luật, Nhà nước không phân biệt đối xử với một tôn giáo nào. Người có tín ngưỡng,
tôn giáo và người không tín ngưỡng, tôn giáo đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ
trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thứ ba, Nhà nước bảo đảm
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân bằng pháp luật. Vi phạm quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là vi phạm pháp luật, phải bị xử lý bằng
pháp luật. Lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để gây rối, làm mất an
ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, chống đối Đảng, Nhà nước cũng là vi phạm
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, phải bị pháp luật xử lý.
Đảng, Nhà nước Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách đoàn kết các
dân tộc và các tôn giáo
Đồng bào dân tộc theo tôn giáo trước hết là người Việt nam, sau đó mới là
tín đồ tôn giáo, là người Việt Nam theo tôn giáo chứ không phải là người theo
tôn giáo nhập quốc tịch Việt Nam. Vì vậy, ở đồng bào dân tộc theo tôn giáo có
tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào và ý thức dân tộc sâu sắc. Họ đều
mong muốn xoá bỏ áp bức, bóc lột, bất công xã hội, khao khát có cuộc sống tự
do, ấm no, hạnh phúc. Điều đó phù hợp với mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Sự
nghiệp cách mạng là sự nghiệp của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, là sự
nghiệp do nhân dân và vì nhân dân. Đây chính là cơ sở để tập hợp lực lượng, xây
dựng khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp cách mạng.
Trong quá trình cách mạng, đồng bào các tôn giáo ngày càng nhận thức sâu
sắc lợi ích của bản thân và của dân tộc mình, tôn giáo mình gắn bó với lợi ích
của toàn dân tộc và của cách mạng; tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải gắn liền và
phụ thuộc vào độc lập, tự do của Tổ quốc; Tổ quốc có độc lập, thống nhất thì
tôn giáo mới có tự do. Sự thống nhất lợi ích đó là “điểm tương đồng” căn bản,
tạo động lực để đồng bào các dân tộc, các tôn giáo một lòng, một dạ theo Đảng
làm cách mạng trong đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây, trong xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Đoàn kết đồng bào dân tộc theo các tôn giáo
khác nhau; đoàn kết đồng bào dân tộc
theo tôn giáo và đồng bào dân tộc không theo tôn giáo. Cơ sở của
đoàn kết là lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt nam hoà bình, độc lập, thống
nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm
điểm tương đồng; xoá bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp,
chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao
tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung… để tập hợp, đoàn kết mọi người vào mặt trận
chung, tăng cường đồng thuận xã hội. Đây là lập trường có tính nguyên tắc trong
Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chính sách còn chỉ rõ trong
mọi trường hợp, cần phân biệt rõ đâu là vấn đề thuộc dân tộc, tôn giáo, đâu là
vấn đề các thế lực thù địch lợi dụng chống phá để có biện pháp xử lý đúng đắn.
Nội
dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng
Sở
dĩ Việt
Công
tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị
Đảng luôn có chủ trương, chính sách đúng đắn
về dân tộc, tôn giáo; Nhà nước trên cơ sở chủ trương, chính sách của Đảng ban
hành pháp luật, chính sách cụ thể và tổ chức thực hiện. Trong đó chú trọng phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội đối với đồng bào các dân
tộc, tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa, các vùng đặc biệt khó khăn.
Nhà
nước luôn có những giải pháp thích hợp đáp ứng nhu cầu tự do tín ngưỡng, tôn
giáo của đồng bào các dân tộc. Đồng thời việc giải quyết các vấn đề về hoạt
động hợp pháp của các tổ chức tôn giáo, Nhà nước kiên quyết xử lý đối với mọi
hành vi truyền đạo trái phép, lợi dụng tôn giáo làm ảnh hưởng đến an ninh quốc
gia, làm mất trật tự, an toàn xã hội, gây tổn hại đến đạo đức, lối sống, văn
hoá, thuần phong mỹ tục của các dân tộc; xử lý nghiêm những hành vi ngăn cản
tín đồ, chức sắc các tôn giáo trong thực hiện nghĩa vụ công dân, những hành vi
làm phương hại đến độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân,
chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Các
tổ chức chính trị - xã hội như: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng
sản Hồ Chí Minh, Tổng Liên đoàn lao động Viêt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam,
Hội Nông dân Việt nam, Hội Phụ nữ Việt Nam... là những tổ chức có vị trí, vai
trò quan trọng, trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện chính sách của Đảng và nhà nước về dân tộc và
tôn giáo. Đó là lực lượng trực tiếp giáo dục đồng bào dân tộc, các tín đồ tôn
giáo chấp hành tốt chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Lực
lượng vũ trang nhân dân Việt
Vấn
đề theo đạo và truyền đạo trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam phải tuân thủ pháp luật của Nhà nước Việt Nam
Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia
đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo
được Nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ,
được hoạt động tôn giáo, mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh
sách, giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo theo đúng quy định của
pháp luật.
Việc theo đạo, truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ theo hiến pháp và pháp luật; không được lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, không ép buộc người dân theo đạo. Nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo, người truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái phép, vi phạm các quy định của hiến pháp và pháp luật
Việt Nam rất quan tâm đến vấn đề tôn giáo, nhưng phải theo quy định của pháp luật
Trả lờiXóa