Thứ Sáu, 7 tháng 5, 2021

Đúng “Tự do báo chí - Không có quốc gia nào giống quốc gia nào”




Trên RFA vừa qua, chủ đề về tự do báo chí lại được một tài khoản chống Hà Nội đưa lại với tiêu đề: “Tự do báo chí: Việt Nam không đồng cách hiểu với thế giới? “Mặc dù tác giả bài viết đặt dấu hỏi chấm (?) nhưng thực chất đây là sự phủ nhận quyền tự do báo chí ở Việt Nam. Có thể nói chủ đề này chẳng có gì mới…nếu như nó không có cái tiêu đề gây tò mò cho người đọc!


Vậy lập luận- chứng minh cho quan điểm của tác giả này như thế nào? KQ xin được giới thiệu với bạn đọc.


Mở đầu, TG đóng vai “mẹ vợ” (kỳ thị với việc chọn con rể làm nghề làm viết báo). Y viết: “Thà chết chứ không gả con cho anh, đơn giản vì anh làm báo”. Tiếp đó là về lập luận (phủ nhận quyền tự do báo chí ở Việt Nam): Tác giả bài viết này nghĩ thật đáng buồn (chứ không phải “đáng tiếc”… vì tác giả này trích lại các quy định của Luật Báo chí Việt Nam… kể cả những giới hạn Luật định. Một tài khoản trên mạng nào đó phê phán tự do báo chí Việt Nam là: “Tâm thần”; “Thiếu gì bằng chứng Việt Nam vẫn còn những vụ vi phạm quyền tự do báo chí, nhất là trên thế giới ảo mà lại trích dẫn những quy định đúng đắn của Luật Báo chí?”


Trở lại với bài viết (“Tự do báo chí: Việt Nam …) ”, Tác giả viết “như sách”:


Trên thế giới ngày nay, tự do ngôn luận và tự do báo chí là các yếu tố hết sức quan trọng đối với sự ổn định, phát triển của mỗi quốc gia, đồng thời là biểu hiện trực tiếp của quan niệm, chính sách nhân quyền ở quốc gia đó.”…


(Về sự khác biệt giữa Việt Nam với các quốc gia khác) tác giả không đưa ra được sự khác biệt đó là gì (Có thể vì chẳng có khác biệt nào) mà lại (lạc đề) viết về nguyên nhân của sự khác biệt nào đó. Y viết: Sự “khác biệt này chính là “tự do tư tưởng”. “Ở Việt Nam chịu sự giới hạn trong quy định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Nền tảng tư tưởng bắt buộc phải là “Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh”. Rồi Y vội vã kết luận: “Như vậy, mọi so sánh về “tự do báo chí”ở Việt Nam cần phải đặt trong nội hàm của “Điều 4. Hiến pháp 2013”. Nhưng…đáng tiếc tác giả lại không nắm được Điều 4- Quy định về Vai trò, vị trí của Đảng cộng sản Việt Nam. Rồi Y suy ra: “Ở Việt Nam thật sự có quyền tự do báo chí ( nhưng phải đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ về tư tưởng nhất quán trên nền tảng “chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh (?!)”(SIC).


Lại thật “đáng buồn”…Y lại trích dẫn những quy định về “quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí” (Tại các Điều 10 và Điều 11 Luật Báo chí năm 2016): Điều 10 quy định: “Công dân có quyền: (1). Sáng tạo tác phẩm báo chí; (2). Cung cấp thông tin cho báo chí; (3). Phản hồi thông tin trên báo chí; (4). Tiếp cận thông tin báo chí; … Điều 11: Công dân có quyền phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội,…”


Lại một lần nữa-thật đáng buồn(!) Y trích (Toàn những quy định “chuẩn”về những hạn chế quyền): Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp, 2013:


“Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”…như: “đăng, phát thông tin chống Nhà nước, có nội dung xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền nhân dân;…Gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền nhân dân, với lực lượng vũ trang nhân dân, với tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội; kích động chiến tranh nhằm chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc; tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, bí mật đời tư của cá nhân…”


Để chứng minh, Y trích tác giả Vũ Bằng nào đó rằng: “Làm báo nói láo ăn tiền”! Tác giả bài viết này nghĩ: Vũ Bằng nói không sai: Chính kẻ viết bài chống Hà Nội nói trên là một kẻ như vậy (viết láo ăn tiền). Ngày nay “nhuận bút xã hội”còn hậu hỹ hơn nhiều, nếu như được các hãng thông tấn phương Tây, trong đó có RFA, BBC sử dụng.


Như trên tiêu đề, KQ không phủ nhận tự do báo chí của Việt Nam có sự khác biệt với tự do báo chí của các nước. Chẳng hạn pháp luật Việt Nam cấm đưa thông tin kỳ thị xã hội, chống chính quyền, xúc phạm nhân phẩm người khác. Pháp luật Việt Nam nghiêm cấm xuyên tạc lịch sự, chế độ xã hội, vai trò lãnh đạo cầm quyền của Đảng cộng sản Việt Nam (được quy định tại Điều 4 Hiến pháp 2013).


Trở lại chủ đề “Tự do báo chí: Việt Nam không đồng cách hiểu với thế giới?” KQ cho rằng: Tác giả bài viết nói trên (nghĩ rằng) phủ nhận quyền tự do báo chí của Việt Nam ,…nhưng rút cuộc lại thừa nhận quyền tự do báo chí của quốc gia này. Những quy định trong Luật báo chí Việt Nam hoàn toàn tương thích với các quy định về quyền con người mà cộng đồng quốc tế quy định


Điều 19. “Công ước quốc tế về các quyền Dân sự, Chính trị”, 1966 quy định:


…2. “Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến,… 3. Việc thực hiện những quyền quy định này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc này có thể phải chịu một số hạn chế : a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác, b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức của xã hội.” Điều 20:  “1. Mọi hình thức tuyên truyền cho chiến tranh đều bị pháp luật nghiêm cấm; 2. Mọi chủ trương gây hằn thù dân tộc, chủng tộc hoặc tôn giáo để kích động sự phân biệt đối xử về chủng tộc, sự thù địch, hoặc bạo lực đều phải bị pháp luật nghiêm cấm.”


Như vậy, những quy định về quyền tự do báo chí của Việt Nam, bao gồm quyền và những hạn chế luật định có sự khác biệt nào đó so với các quốc gia nhưng hoàn toàn phù hợp với quan điểm về tự do ngôn luận báo chí của cộng đồng quốc tế./.


Khổ Qua 

1 nhận xét: