Thứ Sáu, 2 tháng 7, 2021

Nguồn gốc tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc ở Việt Nam

 


Xuất phát từ các khái niệm “tín ngưỡng thờ thần” và “anh hùng dân tộc”, “Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc” được hiểu là tín ngưỡng thờ những nhân vật sinh thời có nhiều công trạng to lớn đối với đất nước, dân tộc và khi qua đời, họ được nhà nước phong kiến sắc phong thần, kèm theo những quy định về thiết chế thờ cúng cụ thể.

- Nguồn gốc sâu xa: Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc có nguồn gốc từ kinh tế - xã hội, từ trình độ nhận thức, tâm lý xã hội được phát triển đến một trình độ nhất định.

- Nguồn gốc trực tiếp của tín ngưõng thờ anh hùng dân tộc là từ tín ngưõng thờ thần của hệ thống tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc là một bộ phận của tín ngưỡng thờ thần. Các vị thần được xã hội thờ cúng có thể phân loại theo những tiêu chí khác nhau như: nếu là từ tiêu chí xuất xứ của thần thì có nhân thần và nhiên thần; từ phẩm chất của thần có phúc thần và tà thần. Thần anh hùng dân tộc là một bộ phận của các phúc thần và ở nước ta, chủ yếu là các nhân thần, rất ít là nhiên thần.

- Trong nguồn gốc xã hội của tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc ở Việt Nam, yếu tố nhân dân và yếu tố chính trị có ý nghĩa đặc biệt. Nhân dân, từ sự biết ơn, tôn kính đối với những người có công trạng to lớn với đất nước, dân tộc và quê hương, đã tri ân suy tôn, thần thánh hóa, lập nơi thờ cúng các vị anh hùng dân tộc. Đồng thời, các triều đại phong kiến Việt Nam, đứng đầu là nhà vua, đã định lệ tổ chức các đợt phong thần là các anh hùng dân tộc, dựa trên tâm nguyện của nhân dân và quy định của triều đình. Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc ờ nước ta, do đó, có cơ sở vững chắc từ sự tri ân, ghi nhớ công lao của quần chúng nhân dân đến phương diện chính trị pháp lý của nhà nước phong kiến.

- Xét về thòi gian, tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Việt Nam đã xuất hiện từ rất lâu. Theo truyền thuyết, vào thế kỷ thứ III Tr.CN, Thục Phán, một vị vua dựng nước Âu Lạc, đã dựng cột đá thề trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh (thuộc tỉnh Phú Thọ), để làm nghi lễ tâm linh, thề nối nghiệp các Vua Hùng. Tiếp đó, vào những năm 40 đẩu Công nguyên, Hai Bà Trưng khi dấy binh khỏi nghĩa đã thề trước các anh linh tiền bối, rằng: “Một xin ra sạch nước thù/Hai xin đưa lại nghiệp xưa họ Hùng”. Những nghi lễ thề đó thể hiện rõ yếu tố tín ngưỡng về sự biết ơn, tinh thần trách nhiệm, cầu mong sự phù trợ, che chở cùa các Vua Hùng.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét