Thứ Năm, 12 tháng 6, 2025

Nguyên nhân tồn tại của tôn giáo

 


Nguồn gốc nảy sinh, tồn tại tôn giáo vẫn còn như: Nguồn gốc nhận thức (nguồn gốc tự nhiên); nguồn gốc kinh tế - xã hội; nguồn gốc tâm lý; nguồn gốc chính trị - xã hội; nguồn gốc văn hoá.

Về nguồn gốc nhận thức (nguồn gốc tự nhiên), trong chủ nghĩa xã hội, trình độ khoa học, trình độ dân trí đã có những tiến bộ nhất định, nhưng vẫn còn nhiều hiện tượng tự nhiên, xã hội mà khoa học chưa thể lý giải, hoặc khoa học đã lý giải được, nhưng người dân vẫn chưa nhận thức được hoặc nhận thức chưa đầy đủ, dẫn đến còn niềm tin tôn giáo.

Về nguồn gốc kinh tế - xã hội, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu; nhiều giai cấp với những lợi ích khác nhau, điều đó dẫn đến trong xã hội vẫn còn tồn tại những bất bình đẳng, bất công, phân hóa giàu nghèo, làm cho con người vẫn có tâm trạng bi quan, chán nản, cầu mong sự giúp đỡ, che chở của những lực lượng siêu nhiên, muốn tìm sự bình an nơi tôn giáo.

Về nguồn gốc tâm lý, sự sợ hãi, lo âu của con người trước sức mạnh của tự nhiên, các hiện tượng dịch bệnh; cùng với đó là những rủi ro trong cuộc sống, trong sản xuất kinh doanh, dẫn đến tình trạng thua lỗ, phá sản... mà đưa người ta đến với tôn giáo, tin vào may rủi của số phận. Rồi, lòng biết ơn, sự ngưỡng mộ, kính trọng của nhân dân đối với những người có công với dân, với nước, những anh hùng dân tộc dẫn đến việc tôn thờ như những vị thánh, đó cũng chính là đưa người ta trở lại với tín ngưỡng, tôn giáo.

Về nguồn gốc chính trị - xã hội, tôn giáo có những điểm còn phù hợp với chủ nghĩa xã hội, với đường lối, chính sách của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Giá trị đạo đức, văn hoá của tôn giáo đáp ứng được nhu cầu của một bộ phận nhân dân. Chính vì vậy, trong một chừng mực nhất định, tôn giáo vẫn có sức thu hút mạnh mẽ đối với một bộ phận quần chúng.

Về nguồn gốc văn hoá, trong thực tế, sinh hoạt tôn giáo đã đáp ứng được phần nào nhu cầu văn hoá tinh thần của cộng đồng xã hội và trong một mức độ nhất định, có ý nghĩa giáo dục ý thức cộng đồng, phong cách, lối sống của cá nhân trong cộng đồng. Vì vậy, sinh hoạt tôn giáo đã lôi cuốn một bộ phận nhân dân xuất phát từ nhu cầu văn hoá tinh thần, tình cảm của họ.

Từ những sai lầm, khuyết điểm của Nhà nước xã hội chủ nghĩa trong quản lý kinh tế, xã hội và giải quyết vấn đề tôn giáo: Một số chủ trương, chính sách, pháp luật trong quản lý kinh tế - xã hội và giải quyết vấn đề tôn giáo chưa xuất phát từ thực tiễn, xa rời lý luận. Quá trình quản lý nóng vội, chủ quan, duy ý chí. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến một bộ phận cán bộ đảng viên thoái hóa, biến chất, xa rời quần chúng nhân dân.

Tín ngưỡng tôn giáo còn đáp ứng được nhu cầu tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân: Xoa dịu nỗi đau, sự mất mát, những rủi ro trong cuộc sống. Văn hóa, đạo đức tôn giáo còn những điều phù hợp với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; khuyên con người làm việc thiện, tránh điều ác, mơ ước giải phóng con người khỏi áp bức, khổ đau.

Tính bảo thủ, lạc hậu của ý thức tôn giáo: Tôn giáo là một trong những hình thái ý thức xã hội bảo thủ nhất, đã in sâu vào đời sống tinh thần, ảnh hưởng khá sâu đậm đến nếp nghĩ, lối sống của một bộ phận nhân dân qua nhiều thế hệ. Vì vậy, dù có thể có những biến đổi lớn lao về kinh tế, chính trị, xã hội thì tôn giáo cũng không thay đổi ngay.

Sự điều chỉnh, biến đổi của tôn giáo: Cải cách, đổi mới theo hướng “hiện đại hóa”; “quần chúng hóa”; thế tục hóa và tham gia ngày càng sâu rộng vào các hoạt động chính trị - xã hội.

Các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá cách mạng: Tôn giáo là vấn đề rất nhạy cảm, kẻ thù lợi dụng nhằm kích động, chia rẽ khối đoàn kết toàn dân tộc, là một thủ đoạn trong âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét