“Từ năm 1930 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại”(1). Trong đó, mỗi đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam “là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân...”(2). Bởi vậy, đối với mỗi người, được đứng vào hàng ngũ của Đảng, đứng dưới lá cờ Tổ quốc, cờ Đảng, chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự chứng kiến của các đảng viên trong chi bộ tại buổi lễ trang nghiêm và giương cao nắm tay để tuyên thệ(3): “Suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân, nhân dân lao động trên lợi ích cá nhân”; “đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, cục bộ, quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác”; “gắn bó mật thiết với nhân dân”; “phục tùng tổ chức, kỷ luật đảng”... luôn là giây phút thiêng liêng, vinh dự. Lời thề đó sẽ theo mãi cuộc đời để nhắc nhở và nêu cao chí khí của mỗi người đảng viên.
Hơn 94 năm qua, kể từ khi ra đời, bằng ý chí quật cường, khát vọng hòa bình, phát triển đất nước, Đảng ta đã trải qua những giai đoạn lịch sử rất khốc liệt, với biết bao gian khổ, mất mát, hy sinh, nhưng vô cùng vẻ vang, oanh liệt. Thực tiễn lịch sử trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cho thấy, đáp lại lời kêu gọi của Đảng, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, có hàng ngàn, hàng vạn thanh niên viết đơn tình nguyện với tinh thần nhiệt huyết sẵn sàng lên đường nhập ngũ, chi viện cho tiền tuyến. Sau những lần lập chiến công, lớp lớp thanh niên ấy, chiến sĩ ấy vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng, rồi lại xung phong ra trận dù biết rằng sẽ tiếp tục đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách, kẻ thù bao vây, truy lùng, bắt bớ tù đày, đói rét, bệnh tật hoành hành, kể cả khi bị kẻ thù dùng mọi thủ đoạn mua chuộc, dụ dỗ, tra tấn với những đòn nhục hình..., họ vẫn son sắt lời thề kiên trung. Trải qua “năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt”, họ đã làm nên Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu". Để có ngày 30-4-1975 chói ngời sắc đỏ, dù phải chịu bao gian lao, hiểm nguy giữa rừng sâu, đèo cao, vách núi; anh dũng hoạt động trên các đoàn tàu không số huyền thoại vượt biển; dù bị quân thù tra tấn hay kể cả khi đứng trước họng súng của kẻ thù, họ vẫn không chùn bước, quyết tâm thẳng tiến vào chiến trường miền Nam. Họ là những chiến sĩ kiên trung với Đảng, với lý tưởng cách mạng, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc mà anh dũng chiến đấu, tận hiến đời mình, “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”.
Khi đất nước bước vào giai đoạn đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, biết bao thế hệ tiếp bước, biến lời thề trước Đảng thành hành động cách mạng, một lòng thủy chung son sắt vì lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, góp phần đem lại “những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới... Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay"(4). Đến hôm nay, mỗi khi nhắc lại những tấm gương sáng ngời của những đảng viên đó luôn khơi dậy niềm tự hào, cảm phục trong mỗi chúng ta.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét