Xuyên tạc đường lối, chính sách quốc phòng của Đảng, Nhà nước ta là thủ đoạn vô cùng nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Hiện nay, lợi dụng chủ trương củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới, các thế lực thù địch, phản động ra sức tuyên truyền rằng “Việt Nam đang tập trung nguồn lực lớn cho quốc phòng, an ninh, nhất là chi ngân sách nhà nước để phát triển công nghiệp quốc phòng, mua sắm vũ khí, trang bị hiện đại, tạo ra cuộc chạy đua vũ trang, đe dọa đến hòa bình, ổn định ở khu vực, đi ngược lại chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ đã tuyên bố”.
Đây
là luận điệu thù địch, xuyên tạc có chủ đích, vô căn cứ. Bởi lẽ:
Thứ
nhất, chính sách quốc phòng của Việt Nam là hòa bình và tự vệ.
Tự
vệ chính đáng là quyền tự nhiên của mọi quốc gia, dân tộc, được thừa nhận trong
Điều 51 của Hiến chương Liên hợp quốc và tồn tại trong tập quán quốc tế. Trong
bối cảnh tình hình hiện nay, tự vệ chính đáng của một quốc gia bao gồm những hoạt
động cần thiết để phòng ngừa, chống trả những mối đe dọa, hành vi, hoạt động
xâm phạm đến lợi ích chính đáng của quốc gia mình.
Là
một dân tộc có truyền thống hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình và tôn trọng luật
pháp quốc tế, vì vậy, đặc trưng bản chất chính sách quốc phòng của Việt Nam là
hòa bình và tự vệ. Điều này đã được công khai, minh bạch hóa trong các văn kiện
của Đảng, Hiến pháp và hệ thống pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Điều 4, Luật
Quốc phòng năm 2018 khẳng định: “Củng cố, tăng cường nền quốc phòng toàn dân, sức
mạnh quân sự để xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa,
góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới...; thực hiện chính sách
hòa bình, tự vệ; sử dụng các biện pháp chính đáng, thích hợp để phòng ngừa,
ngăn chặn, đẩy lùi, đánh bại mọi âm mưu và hành vi xâm lược”. Sách trắng Quốc
phòng Việt Nam 2019 nhấn mạnh: “Chính sách quốc phòng của Việt Nam mang tính chất
hòa bình và tự vệ. Việt Nam phản đối các hoạt động chạy đua vũ trang”. Như vậy,
chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ, chống chiến tranh, phản đối các hoạt động
chạy đua vũ trang dưới mọi hình thức của Việt Nam đã luôn được khẳng định công
khai, minh bạch, rõ ràng.
Bác
bỏ luận điệu xuyên tạc “Việt Nam tham gia chạy đua vũ trang, đi ngược lại chính
sách hòa bình”
Những
năm qua, Việt Nam phải đối mặt với những thách thức, mối đe dọa không nhỏ về quốc
phòng, an ninh từ các thế lực thù địch, phản động. Trong bối cảnh đó, Chiến lược
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới xác định quyết tâm chính trị của
toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta là: Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc
trên cơ sở bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của
Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ thành
quả cách mạng, sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nền văn hóa và
uy tín, vị thế quốc tế của đất nước; bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh con người,
an ninh kinh tế, an ninh mạng; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã
hội; triệt tiêu các nhân tố gây mất ổn định chính trị từ bên trong; dập tắt
nguy cơ xung đột, chiến tranh; giữ vững, củng cố môi trường hòa bình để xây dựng,
phát triển đất nước; đóng góp tích cực vào gìn giữ hòa bình thế giới.
Để
thực hiện mục tiêu đó, tất yếu đòi hỏi Việt Nam phải có sự quan tâm, đầu tư
đúng mức để củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, bảo đảm đủ sức mạnh
để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Ngoài mục đích đó, quốc phòng
Việt Nam không có mục đích khác, không can thiệp vào công việc nội bộ, đe dọa
hoặc xâm lược bất kỳ một quốc gia nào khác, bằng bất kỳ một hình thức, tính chất
nào. Như vậy, có thể thấy rõ với chính sách quốc phòng như vậy, Việt Nam không
trở thành mối đe dọa đối với bất cứ quốc gia nào trong khu vực và trên thế giới.
Thứ
hai, Việt Nam đã và đang nỗ lực tạo lập, gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định của
khu vực và trên thế giới.
Những
năm qua, Việt Nam tích cực, chủ động nỗ lực ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột,
chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với
luật pháp quốc tế.
Cụ
thể là Việt Nam cùng các nước láng giềng đã có nhiều nỗ lực trong việc áp dụng
có hiệu quả luật pháp và thông lệ quốc tế để giải quyết các bất đồng, tranh chấp
đặt ra. Trong đó, Việt Nam đã ký với Lào Hiệp ước hoạch định biên giới quốc
gia; ký với Campuchia Hiệp định về vùng nước lịch sử trên biển và Hiệp ước về
nguyên tắc giải quyết các vấn đề về biên giới; ký với Malaysia Thỏa thuận về hợp
tác thăm dò, khai thác chung vùng chồng lấn; ký với Thái Lan Hiệp định về phân
định ranh giới biển; ký với Trung Quốc Hiệp ước về biên giới trên đất liền và
Hiệp định về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh
Bắc Bộ; ký với Indonesia Hiệp định về phân định ranh giới thềm lục địa...
Hiện
nay, việc giải quyết các tranh chấp giữa Việt Nam với các quốc gia khác, trong
đó có vấn đề chủ quyền trên Biển Đông, Việt Nam luôn kiên định, kiên trì lập
trường giải quyết bất đồng thông qua biện pháp hòa bình, đối thoại, trên cơ sở
tôn trọng luật pháp quốc tế; trước hết là thực thi hiệu quả và đầy đủ Công ước
Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông
(DOC), Tuyên bố 6 điểm ngày 20-7-2012 của ASEAN về Biển Đông; đồng thời, Việt
Nam đang tích cực hợp tác, đàm phán, tiến tới cùng các nước hữu quan xây dựng Bộ
Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) nhằm duy trì hòa bình, ổn định, bảo đảm an
ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không; tôn trọng các quyền và lợi ích hợp
pháp của các bên.
Thứ
ba, Việt Nam là một dân tộc hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình, phản đối xung đột
quân sự, chiến tranh, chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Việt
Nam đã phải tiến hành nhiều cuộc chiến tranh chống xâm lược trong suốt chiều
dài mấy nghìn năm lịch sử để có được độc lập, tự do, toàn vẹn lãnh thổ và môi
trường hòa bình, ổn định như ngày nay. Vì thế, Đảng, Nhà nước Việt Nam nhận thức
rất rõ sự cần thiết và thấu hiểu được giá trị to lớn của hòa bình, ổn định đối
với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Dân tộc Việt Nam luôn mong muốn
được chung sống hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển với các dân tộc khác
và cần có môi trường hòa bình, ổn định để tiếp tục xây dựng đất nước phồn vinh,
hạnh phúc. Nhân dân Việt Nam không muốn có xung đột, chiến tranh vì điều đó dẫn
đến những tổn thất, đau thương, mất mát to lớn cho không chỉ một phía. Việt Nam
đang nỗ lực tạo lập, gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định cho đất nước và khu vực;
song Việt Nam cũng quyết không sợ chiến tranh xâm lược từ nước khác, sẵn sàng
tiến hành các hoạt động quốc phòng, quân sự cần thiết để tự vệ, bảo vệ vững chắc
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.
Trong
bối cảnh phức tạp của tình hình quốc tế hiện nay, Việt Nam nhận thức rõ trong mỗi
đối tác có thể có mặt mâu thuẫn với lợi ích của quốc gia, dân tộc, cần phải đấu
tranh; trong mỗi đối tượng có thể có mặt cần tranh thủ hợp tác, thuyết phục, nỗ
lực thúc đẩy hợp tác, giảm bất đồng, xung đột để đạt lợi ích cao nhất cho sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Việt Nam thực hiện
phương châm "bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa
nguy"; chủ động phòng ngừa, ngăn ngừa nguy cơ xung đột, chiến tranh, làm
thất bại âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, giữ
vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước.
Thứ
tư, Việt Nam tăng cường tiềm lực, sức mạnh quốc phòng, an ninh một cách hợp lý,
chính đáng, không cổ xúy chạy đua vũ trang.
Quốc
phòng, an ninh luôn là những lĩnh vực trọng yếu, quyết định đến thành bại, thịnh
suy của mỗi quốc gia, dân tộc, không phân biệt thể chế chính trị và trình độ
phát triển.
Là
một quốc gia đang phát triển, có độ mở của nền kinh tế cao, sức chống chịu và
khả năng cạnh tranh còn hạn chế, lại luôn phải đối mặt với những khó khăn,
thách thức trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, Việt Nam xác định phát triển đất nước
nhanh, bền vững, gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó
phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm, xây dựng Đảng là
then chốt, phát triển văn hóa là nền tảng, bảo đảm quốc phòng, an ninh và đối
ngoại là trọng yếu, thường xuyên.
Trong
những năm gần đây, xuất phát từ yêu cầu cấp bách của nhiệm vụ củng cố, tăng cường
tiềm lực quốc phòng, an ninh, phát triển công nghiệp quốc phòng, hiện đại hóa
LLVT; xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh
nhuệ, hiện đại, vì vậy, Việt Nam có sự quan tâm đúng mức, hợp lý trong đầu tư
ngân sách và các nguồn lực khác cho củng cố quốc phòng, an ninh.
Từ
những lý giải trên, cần khẳng định Việt Nam là một dân tộc hòa hiếu, yêu chuộng
hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế. Trong bối cảnh phải đối phó với nhiều thách
thức, mối đe dọa về quốc phòng, an ninh từ cả bên ngoài và bên trong, để bảo vệ
đất nước từ sớm, từ xa, Việt Nam đã và đang đầu tư một nguồn lực nhất định, phù
hợp với nhu cầu và khả năng của đất nước để tăng cường tiềm lực quốc phòng, an
ninh. Điều này là hoàn toàn chính đáng và phù hợp với chính sách quốc phòng hòa
bình, tự vệ của Việt Nam. Do đó, mọi luận điệu xuyên tạc, bịa đặt xoay quanh việc
chi ngân sách quốc phòng, an ninh của Việt Nam đều là những trò hề, thủ đoạn của
các thế lực thù địch, phản động và không hề lừa gạt được những người Việt Nam
yêu nước chân chính./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét