Thứ Năm, 12 tháng 11, 2020

Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân các dân tộc, còn tồn tại lâu dài trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

 


Từ khi thành lập đến nay, Đảng, Nhà nước ta đã thực hiện rất tốt vấn đề tôn giáo, coi vấn đề tôn giáo là nhiệm vụ chiến lược cơ bản lâu dài của cách mạng Việt Nam. Đảng ta đề ra nhiều quan điểm về tôn giáo, trong đó quan điểm quan trọng, xuyên suốt, quan trọng hàng đầu, đó là

 + Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân các dân tộc, còn tồn tại lâu dài trong quá trình xây dựng CNXH.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá”[1]. Vì vậy, những giá trị của tín ngưỡng, tôn giáo, nổi lên là giá trị đạo đức chính là di sản mà chúng tôi coi trọng kế thừa, phát huy để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

+ Phải tôn trọng nhu cầu tinh thần, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân các dân tộc nhằm phát huy nhân tố tinh thần trong sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc.

Điều 24 Hiến pháp (2013) Việt Nam quy định:

1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.

2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. 

3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.

-> Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nhưng phải tuân thủ pháp luật, không đi ngược lại lợi ích của Tổ quốc. Mọi người được quyền thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nhưng không cản trở việc thực hiện nghĩa vụ công dân với Tổ quốc.

-> Nhà nước bằng pháp luật bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, quyền bình đẳng giữa các tôn giáo về quyền và nghĩa vụ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

-> Các hành vi bị nghiêm cấm[2]:

 Phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; Ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; Xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo; Hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo nhằm (Xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường; Xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; Cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; Chia rẽ dân tộc; chia rẽ tôn giáo; chia rẽ người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau); Lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi.

Như vậy, vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là vi phạm pháp luật, phải bị xử lý bằng pháp luật. Lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để gây rối, làm mất an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, chống đối Đảng, Nhà nước cũng là vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, phải bị pháp luật xử lý.



[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập. Nxb CTQG, Hà Nội, 1994, tập 3, tr. 431.

[2] Điều 5 Luật tín ngưỡng, tôn giáo

Đảng, Nhà nước Việt Nam thực hiện tốt công tác dân tộc, tôn giáo

 


Từ khi thành lập đến nay, Đảng, Nhà nước ta đã thực hiện rất tốt vấn đề dân tộc, tôn giáo đã đạt được những thành tựu rất quan trong, được thể hiện trên các nội dung sau:

 Quyền dân tộc tự quyết, quyền tự do tôn giáo, quyền bình đẳng giữa các dân tộc, các tôn giáo được bảo đảm

Mọi người dân Việt Nam được pháp luật bảo đảm để tự do theo hoặc không theo tôn giáo; mọi hành vi cản trở việc thực hiện quyền tự do tôn giáo của người dân đều bị trừng trị.

Phật giáo: Số lượng tín đồ Phật giáo được thống kê vào năm 1999 là 7,1 triệu người, hiện nay là 10 triệu người;

Các dân tộc có quyền lựa chọn con đường phát triển; ngày nay đó chính là việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Bình đẳng giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo là nguyên tắc cơ bản trong quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo.

- Hệ thống chính trị vùng đồng bào dân tộc và miền núi, đồng bào tôn giáo được tăng cường và củng cố, nhất là ở cấp cơ sở. Tình hình chính trị, trật tự xã hội ở vùng dân tộc và miền núi, vùng tôn giáo cơ bản ổn định. Quốc phòng, an ninh được giữ vững.

- Đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc, miền núi và đồng bào tôn giáo được cải thiện[1]. Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần được hình thành, phát triển. Đã hình thành nhiều vùng chuyên canh các loại cây công nghiệp như: cà phê, chè, hồ tiêu, điều với số lượng lớn. Công tác xoá đói giảm nghèo đạt được kết quả to lớn, hàng năm tỷ lệ đói nghèo ở vùng dân tộc thiểu và miền núi giảm đáng kể. 

- Về văn hóa - xã hội:

+ Trình độ dân trí của đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo từng bước được nâng lên, đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ

+ Văn hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số, các tôn giáo được tôn trọng, bảo tồn và phát huy.

+ Việc khám chữa bệnh cho người nghèo vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn ngày càng được quan tâm



[1] Tổng cục Thống Kê: Tổng điều tra dân số 1.4.2019. Tình trạng hộ không có nhà ở đang dần được cải thiện trong hai thập kỷ qua, từ mức 6,7 hộ/10.000 hộ vào năm 1999 xuống còn 4,7 hộ/10.000 hộ năm 2009 và đến nay là 1,8 hộ/10.000 hộ.

Đồng bào dân tộc ít người ở Việt Nam phần lớn đều có đạo, luôn bị các thé lực thù địch chống phá

 


Cộng đồng người Khơme Nam Bộ, sinh sống chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ theo Phật giáo Nam tông. Đó là trường phái chịu ảnh hưởng từ Phật giáo Ấn Độ. Khối người Chăm, sinh sống chủ yếu ở các tỉnh Nam Trung bộ theo đạo Hồi. Người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, chủ yếu theo đạo Tin lành. Cộng đồng dân tộc thiểu số ở phía Bắc (chủ yếu là người Mông, Dao) theo đạo Tin lành. Thực tế này cho đòi hỏi sự gắn bó chặt chẽ trong việc giải quyết vấn đề dân tộc với vấn đề tôn giáo ở Việt Nam.

Trong lịch sử các thế lực thù địch đã luôn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo như là một công cụ để xâm lược, thống trị Việt Nam (như đã đề cập về sự du nhập tôn giáo và thủ đoạn chia rẽ các dân tộc và tôn giáo ở phần trên).

Hiện nay, các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá Việt Nam bằng nhiều thủ đoạn sau:

- Lợi dụng những khó khăn về kinh tế - xã hội ở các vùng dân tộc, tôn giáo và những hạn chế, yếu kém trong giải quyết vấn dân tộc, tôn giáo của chính quyền để  chống phá Việt Nam

Mặc dù Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế, xã hội ở các vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo sinh sống, nhưng do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, đời sống đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo vẫn còn nhiều khó khăn. Các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng thực tế đó để chống phá cách mạng Việt Nam:

+ Tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, vu khống chính quyền phân biệt đối xử, “đàn áp dân tộc thiểu số”, “đàn áp tín đồ tôn giáo”, nhằm chia rẽ, tạo sự đối lập giữa đồng bào dân tộc, tôn giáo với Đảng và chính quyền.

+ Kích động các phần tử chống đối, lừa gạt quần chúng tụ tập đông người tiến hành biểu tình, gây bạo loạn chống đối chính quyền...

+ Lợi dụng sinh hoạt tôn giáo để biểu dương lực lượng, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân; đòi “tự do hoạt động tôn giáo” ngoài vòng pháp luật

- Xuyên tạc các vấn đề về lịch sử dân tộc, vấn đề tôn giáo gây ra nhiều “điểm nóng” về chính trị - xã hội

Sự xuyên tạc của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, tập trung ở một số vấn đề như:

Xuyên tạc lịch sử, đòi Việt Nam phải công nhận một số dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, Tây Nam bộ là dân tộc bản địa và thực hiện những yêu sách theo công ước quốc tế về người bản địa.

Tôn giáo hoá các dân tộc thiểu số để chống phá cách mạng Việt Nam, là thủ đoạn rất nguy hiểm và thâm độc. Tr­ước mắt, chúng đang tiến hành trên 3 vùng , đó là:

Đối với vùng Tây Nguyên: Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng vấn đề dân tộc thiểu số kết hợp với tổ chức phản động Tin lành Đề Ga để  nhằm thực hiện chủ trương “Tin lành hoá các dân tộc Tây Nguyên”;

Đối với vùng Tây Nam Bộ: Các thế lực thù địch tiếp tục kích động, gây hằn thù chia rẽ ng­ười Khơme với ng­ười Kinh. Chúng chỉ đạo bọn phản động tiến hành kích động, lôi kéo quần chúng đấu tranh đòi ly khai, thành lập nhà nước Khơme Crôm.

Đối với vùng Tây Bắc: Các thế lực thù địch tăng cường đư­a ng­ười từ n­ước ngoài về, dùng tiền mua chuộc, dụ dỗ đồng bào ng­ười Mông di cư, phá rừng bất hợp pháp, truyền đạo Tin lành trái phép vào các tỉnh miền núi, lừa dối đồng bào là “Vua Mèo” đã về.

- Tìm cách quốc tế hoá vấn đề dân tộc, tôn giáo để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam

Các thế lực thù địch luôn ra sức tuyên truyền cho cái gọi là “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, nhân danh các công ước quốc tế để quốc tế hóa vấn đề dân tộc, tôn giáo nhằm can thiệp vào nội bộ các dân tộc, các tôn giáo ở Việt Nam, như: “Quyền dân tộc tự quyết”, Dự luật “Quyền tự do tôn giáo không bị đàn áp”, “Luật tự do tôn giáo quốc tế”. Nhân danh “dân chủ”, “nhân quyền”, họ lớn tiếng đòi Đảng và Nhà nước Việt Nam phải cho các tổ chức tôn giáo hoạt động độc lập, tách khỏi sự quản lý của Nhà nước và tìm mọi cách để cho ra đời các tổ chức tôn giáo phản động ở nước ngoài và trong nước như: “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất”, “Tin lành Đề ga”... và tuyên truyền cho tính “hợp lý”, “đại diện” của các tổ chức đó đối với tôn giáo Việt nam.

- Sử dụng bọn phản động người Việt Nam ở nước ngoài móc nối với các phần tử cơ hội, chống đối  trong nước để chống phá Việt Nam

Đáng quan tâm hiện nay đối với Việt Nam là các phần tử phản động đội lốt các tôn giáo đang tăng cường tuyên truyền, dụ dỗ, mua chuộc quần chúng theo đạo, gây thanh thế, hoạt động ngoài vòng kiểm soát của Nhà nước; kích động tín đồ chống lại chính sách của Đảng, Nhà nước (không chấp hành nghĩa vụ quân sự, không nộp thuế kinh doanh...). Chúng còn tăng cường phát triển tà đạo, mua chuộc kích động người Khơme theo Phật giáo Nam tông đòi ly khai tách khỏi Giáo hội Phật giáo Việt Nam và mưu đồ đòi thành lập nhà nước Khơme Crôm ở Nam bộ; nhà nước Đề Ga ở Tây Nguyên.

 

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo nhưng đồng bào dân tộc, tôn giáo rất đoàn kết

Hiện nay Việt Nam có 54 dân tộc (tộc người)[1]. Theo kết quả Tổng điều tra dân số ngày 01/4/2019 là 96.208.984 người. Trong đó, người Kinh chiếm 85,3% dân số; 53 dân tộc thiểu số chỉ chiếm 14,7% dân số. Các dân tộc ở Việt Nam c­ư trú xen kẽ với nhau, đây chính là yếu tố tạo nên tính cộng đồng của các dân tộc Việt Nam. Các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau. Mỗi dân tộc ở Việt Nam vừa mang đặc điểm chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam vừa có bản sắc văn hóa riêng.

Đặc điểm nổi bật nhất của các dân tộc ở Việt Nam là truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước. truyền thống đó hình thành, phát triển từ yêu cầu chinh phục thiên nhiên để lao động sản xuất và đấu tranh chống giặc ngoại xâm.

Từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, truyền thống đoàn kết gắn bó giữa các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam càng được phát huy mạnh mẽ, trở thành một trong những nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Hiện nay, ở Việt Nam có 14 tôn giáo với 38 tổ chức và hệ phái tôn giáo khác nhau[2], trong đó có 6 tôn giáo lớn: Phật giáo, Công giáo, Đạo Hồi, Đạo Tin lành, Đạo Cao đài, phật giáo Hoà hảo; các tôn giáo lớn chủ yếu du nhập từ nước ngoài như: Phật giáo, Công giáo, Đạo Hồi, Đạo Tin lành. Sở dĩ Việt Nam có nhiều tín ngưỡng, tôn giáo là do:

Một là, Việt Nam là quốc gia có nhiều dân tộc, đó là yếu tố khách quan để hình thành nhiều tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau.

Hai là, do vị trí địa lý Việt Nam tiếp giáp với với nhiều địa tôn giáo, đó là điều kiện thuận lợi để các tôn giáo bên ngoài tiếp cận, xâm nhập vào Việt Nam.

Ba là, lịch sử Việt Nam đã phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh xâm lược, các thế lực ngoại xâm luôn sử dụng tôn giáo như là công cụ để thực hiện mục đích xâm lược, thống trị của chúng.

Một số đặc điểm nổi bật của tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam

Thứ nhất, có tính dung hợp, đan xen, hoà đồng, dễ chấp nhận sự hiện diện của các tôn giáo khác.  

Thứ hai, các tôn giáo chính có ảnh hưởng lớn trong xã hội đều du nhập từ bên ngoài vào và nhiều, ít được “Việt hóa”. Các tôn giáo du nhập vào Việt Nam, dù “tự nhiên” như Phật giáo hay “áp đặt” như Thiên Chúa giáo vẫn hoà quyện với văn hóa dân tộc, tạo nên một nền văn hóa thống nhất nhưng phong phú.

Thứ ba, nhìn chung tôn giáo ở Việt Nam có sự hoà hợp, chung sống hoà bình, các tôn giáo khác nhau nhưng đều có chung mục đích sống “tốt đời, đẹp đạo”, tích cực góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, ở một số thời điểm lịch sử nhất định, giữa các tôn giáo cũng có sự “bất hoà” do các thế lực thù địch âm mưu chia rẽ tôn giáo để thực hiện ý đồ chính trị.

Tuy Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo nhưng ở Việt nam không có xung đột dân tộc, sắc tộc, mâu thuẫn tôn giáo; các dân tộc luôn đoàn kết gắn bó; các tôn giáo hòa đồng, thực hiện cuộc sống “tốt đời đẹp đạo”. Các dân tộc, các tôn giáo ở Việt Nam luôn luôn coi mình là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, luôn phát huy tinh thần đoàn kết, chủ nghĩa yêu nước, khí phách anh hùng của một dân tộc anh hùng để cùng dựng xây tổ quốc.



[1] Phụ lục 1

[2] Phụ lục 2

DÂN CHỦ KIỂU MỸ

 


Bình luận về cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ hiện đang đến hồi gay cấn, chuyên gia Daria Kislitsyna, Giám đốc bộ phận chương trình khu vực của Viện nghiên cứu xã hội (EISS) lưu ý đến sự chia rẽ quy mô lớn trong xã hội Mỹ, mà theo bà, cả hai bên đều sử dụng các phương pháp kiểm phiếu gian lận và bẩn thỉu để đạt được chiến thắng.

Ở một số bang, chúng ta có thể quan sát thấy cái thường được gọi là 'bước nhảy vọt về dân chủ'. Khi đầu tiên có sự ủng hộ cho một ứng cử viên, và sau đó là sự gia tăng rất mạnh số phiếu bầu cho người kia. Tất cả điều này chỉ ra có rất nhiều câu hỏi đối với hệ thống.

Theo bà Daria Kislitsyna, bản thân hệ thống này có thể đã lỗi thời, mặc dù đã có lúc nó được coi là một trong những nền chính trị dân chủ và tiên tiến nhất. Đó là chưa nói đến những nỗ lực có chủ đích của con người.

Thứ Tư, 11 tháng 11, 2020

TRƠ TRẼN THÌ KHÔNG AI QUA ĐƯỢC CHÚNG ,VỚI THỦ ĐOẠN NHÉT CHỮ VÀO MỒM NGƯỜI KHÁC.

 

Hết xuyên tạc bán biển đảo rồi hội nghị Thành Đô năm 2020 VN sẽ sáp nhập vào TQ mà lũ Ma Giáo này xuyên tạc. 

 Bao năm nay chúng vẫn luôn cố gắn cắn phá cho bằng được. Lôi kéo con chiên tham gia công cuộc phục quốc của lũ Ngụy. 

Gần đây, trang facebook  của bọn phản động  "Thanh niên công giáo " cố tình  bịa đặt lời nói  của  cố TBT NVL. Đúng là ma giáo

Nếu không có việc, có lẽ ma giáo nên kéo chiên qua Mỹ đòi lại công bằng cho ông Trump thì tốt hơn.

Thanh niên công giáo chính nghĩa  không ai làm  điều này.

Bá Duy 

Đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn thâm độc lợi dụng vấn đề tôn giáo, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc

 Việt Nam có chính sách nhất quán là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật.

Giải pháp góp phần ngăn chặn tin giả trên mạng xã hội

 Nạn tin giả không phải là mới, song những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông, nhất là internet và mạng xã hội thì tin giả xuất hiện ngày càng nhiều và trở thành vấn nạn với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Xử lý nghiêm việc đưa tin bão lụt sai sự thật trên mạng xã hội

 Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc giao các Bộ: Công an, Thông tin và Truyền thông phối hợp với các cơ quan liên quan tăng cường quản lý, phát hiện, xử lý nghiêm hành vi thông tin bão lụt sai sự thật trên mạng xã hội.

Đấu tranh với các hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc

Tôn giáo là lĩnh vực nhạy cảm, thu hút sự chú ý của dư luận trong nước và quốc tế. Đây cũng là lĩnh vực dễ bị lợi dụng vào các hoạt động gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị - xã hội. Vì vậy, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn thâm độc này là vấn đề cấp thiết. Bảo đảm thực thi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Với vị trí địa lý nằm ở khu vực Đông Nam Á có ba mặt giáp biển, Việt Nam rất thuận lợi trong mối giao lưu với các nước trên thế giới và cũng là nơi rất dễ cho việc thâm nhập các luồng văn hóa, các tôn giáo. Với sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo, Việt Nam được ví như “bảo tàng tôn giáo” của thế giới. Điều đó đã góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam thêm phong phú và đặc sắc. Hiện nay, ở Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân; 60 cơ sở đào tạo tôn giáo thuộc Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Phật giáo Hòa Hảo. Việt Nam có chính sách nhất quán là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Không được phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo hay vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không được lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hoà bình, độc lập, thống nhất đất nước; kích động bạo lực hoặc tuyên truyền chiến tranh, tuyên truyền trái với pháp luật, chính sách của Nhà nước; chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, chia rẽ tôn giáo; gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; hoạt động mê tín dị đoan và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác. Điều đó đã quy định rõ trong Hiến pháp và pháp luật của nước ta. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đến thăm và chúc mừng chức sắc Công giáo nhân dịp Lễ Giáng sinh năm 2019 tại Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam. (Ảnh: Quochoi.vn). Ngay sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 234/SL khẳng định: “Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là quyền lợi của nhân dân. Chính phủ luôn tôn trọng và giúp đỡ nhân dân thực hiện, chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo”. Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) khẳng định “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đồng bào các tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật”. Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng cũng đã chỉ rõ: “Quan tâm và tạo điều kiện cho các tôn giáo sinh hoạt theo Hiến chương, Điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước”. Các Hiến pháp của nước ta năm 1946, năm 1959, năm 1980, năm 1992 và năm 2013 đều thể hiện rõ quan điểm nhất quán và xuyên suốt là tôn trọng quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân. Điều 24, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Năm 2016, Quốc hội ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và Chính phủ có Nghị định hướng dẫn tổ chức thực hiện. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng phù hợp với yêu cầu của hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trong thời kỳ mới của đất nước, đồng thời thể hiện sự tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm hơn nữa quyền tự do tôn giáo của nhân dân. Hiện 95% dân số Việt Nam có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó có 26 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số; có hơn 8 ngàn lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo hàng năm, thu hút sự tham gia đông đảo của các tín đồ và quần chúng nhân dân. Đặc biệt, nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn được tổ chức thành công ở Việt Nam, trong đó có các sự kiện kỷ niệm 500 năm Cải chánh đạo Tin lành (năm 2017), Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc Vesak (năm 2019), Tổng hội dòng Đa Minh thế giới (năm 2019)… Những nỗ lực này của Việt Nam được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Chống lợi dụng tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc Tuy nhiên, một bộ phận nhỏ chức sắc và tín đồ một số tôn giáo không nhận ra thực tế này. Họ có nhiều tham vọng chính trị và bị tác động, ảnh hưởng bởi luận điệu tuyên truyền, lôi kéo, kích động của các thế lực thù địch ở trong và ngoài nước, nên đã có những hành động cực đoan, quá khích chống lại chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo nói riêng và trên các lĩnh vực nói chung. Họ đã lợi dụng tôn giáo, lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo để kích động và tiến hành các hoạt động chống chính quyền, chống chế độ xã hội chủ nghĩa dưới chiêu bài “đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền”. Họ đã liên kết và phụ họa với các thế lực thù địch, các phần tử phản động, chống đối ở cả trong và ngoài nước trong hoạt động chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chiêu bài của họ là đối lập tôn giáo với chế độ xã hội chủ nghĩa, tách các tôn giáo khỏi khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam. Để thực hiện điều đó, họ sử dụng các thủ đoạn xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo, bịa đặt, vu cáo cấp chính quyền phân biệt đối xử, đàn áp tôn giáo để kích động, chia rẽ trong nước và hạ thấp uy tín Việt Nam trên trường quốc tế… Họ coi các đối tượng cực đoan chống đối trong các tôn giáo là lực lượng nòng cốt để lôi kéo tập hợp quần chúng làm đối trọng với Đảng, Nhà nước và thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế. Cùng với việc hậu thuẫn cho các lực lượng này hoạt động chống phá đất nước, họ còn phối hợp chặt chẽ với các cá nhân, tổ chức quốc tế thiếu thiện chí để bịa đặt, xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Họ cho rằng Chính phủ Việt Nam đàn áp mọi tôn giáo, thường bắt giữ những người biểu tình ôn hòa đòi hỏi "tự do" tín ngưỡng và "tự do" thờ phụng. Nhiều tổ chức tôn giáo không được Chính phủ công nhận và không cấp giấy phép sinh hoạt… Đây là những luận điệu bịa đặt cũ rích được lặp đi, lặp lại với ý đồ chính trị xấu xa. Điều đó không chỉ gây khó khăn cho công tác tôn giáo mà còn là nguyên nhân và điều kiện để các thế lực thù địch lợi dụng các hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật để gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; thành lập các hội, nhóm mang danh tôn giáo, đạo lạ, gây mất đoàn kết dân tộc và đe dọa ổn định chính trị - xã hội; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo mê tín, trục lợi, làm lệch chuẩn văn hóa, đạo đức xã hội. Nhà nước ta bên cạnh việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, cũng nghiêm cấm mọi hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo để vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và công dân. Bất kỳ ai, nếu vi phạm pháp luật dù với bất cứ lý do gì đều sẽ bị xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật. Có thể khẳng định, những luận điệu cho rằng Việt Nam vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo chỉ là những đánh giá chủ quan, phiến diện của một số người thiếu thiện chí với Việt Nam. Những luận điệu sai trái này không thể làm khó Việt Nam trên con đường xây dựng đất nước giàu đẹp, văn minh, mở rộng hợp tác, giao lưu trên trường quốc tế. Nguồn: Báo điện tử ĐCSVN

Một số tổ chức phản động lợi dụng dịch bệnh để chống phá Việt Nam

Những hành vi lợi dụng dịch Covid-19 để tung thông tin xấu độc, chống phá Nhà nước, chính quyền trên mạng xã hội sẽ bị xử lý triệt để và nghiêm khắc. Đây là thông tin được Thượng tá Nguyễn Thành Lợi, Cục An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, chia sẻ trong cuộc phỏng vấn với phóng viên VOV trong bối cảnh lợi dụng dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp, trong thời gian qua, nhiều đối tượng đã liên tục phát tán những thông tin xấu độc với mục đích gây hoang mang dư luận, phá hoại nền sản xuất trong nước và nghiêm trọng hơn là chống phá Nhà nước, chính quyền. một số tổ chuc phan dong da xuyen tac ve dich benh covid-19 tai Việt Nam Thượng tá Nguyễn Thành Lợi, Cục An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao. Phóng viên: Lợi dụng tình hình dịch Covid-19 có những diễn biến phức tạp, nhiều đối tượng đã phát tán những thông tin trái chiều trên mạng xã hội. Ông đánh giá như thế nào về tác động của những thông tin này tới cuộc sống của nhân dân? Thượng tá Nguyễn Thành Lợi: Trong thời gian qua, lợi dụng tình hình dịch Covid-19 có nhiều diễn biến phức tạp, trên không gian mạng đã xuất hiện rất nhiều thông tin liên quan đến dịch bệnh. Trong đó bên cạnh những thông tin tích cực còn có cả những thông tin xuyên tạc sai sự thật về tình hình dịch bệnh, công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Bộ Y tế, cũng như các bộ ngành gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Một thủ đoạn khác cũng rất đáng chú ý là các đối tượng lợi dụng khoảng trống thông tin khi các báo đài chính thống chưa kịp đăng tải những thông tin mang tính chất công bố chính thức thì chúng đã lồng ghép những thông tin sai sự thật để đăng tải trước gây hoang mang trong dư luận. Nghiêm trọng hơn, một số tổ chức phản động lưu vong như Việt Tân, Chính phủ Quốc gia Việt Nam Lâm thời, VOICE… và một số đối tượng chống đối trong và ngoài nước cũng rất tích cực phát tán những thông tin mang nội dung chống phá. Chúng còn chi hàng nghìn USD để thực hiện các quảng cáo chính trị trên Facebook nhằm tuyên truyền, xuyên tạc về tình hình dịch bệnh tại Việt Nam, công kích “Chính phủ bưng bít thông tin, yếu kém trong xử lý dịch bệnh”. mot so to chuc phan dong da xuyen tac ve dich benh covid-19 tai viet nam hinh 3 Những tin đồn về Covid-19 như thế này được các đối tượng phát tán với mục đích gây hoang mang dư luận và làm rối loạn xã hội. Phóng viên: Cục An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao đã triển khai những biện pháp gì để ngăn chặn những hành vi sai trái nói trên? Thượng tá Nguyễn Thành Lợi: Trước tình hình trên, lãnh đạo Bộ Công an, Cục An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao đã chỉ đạo các phòng nghiệp vụ phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chức năng của Bộ Thông tin Truyền thông và các ban ngành liên quan để điều tra, xác minh, làm rõ các trường hợp đăng tải những thông tin sai sự thật trên không gian mạng để đấu tranh xử lý theo đúng quy định của pháp luật đồng thời yêu cầu dỡ bỏ hoặc đính chính những thông tin nói trên. Phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ để gỡ bỏ những thông tin sai sự thật. Đến nay, Cục An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao cũng đã phối hợp với công an các địa phương tổ chức xác minh và đấu tranh với hơn 600 trường hợp các thông tin sai sự thật trên không gian mạng và đã xử phạt hành chính trên 130 đối tượng, trong đó có một số nghệ sĩ và những người có ảnh hướng lớn đối với xã hội. Tuy nhiên, việc xử lý các đối tượng phát tán thông tin giả, thông tin sai sự thật gặp không ít khó khăn. Những thông tin này chủ yếu được đăng tải trên không gian mạng, mạng xã hội. Việc này được thực hiện rất dễ dàng bởi các đối tượng chỉ cần có thiết bị kết nối mạng và vài cú click chuột là đã có thể đăng tải bất kỳ thông tin gì mà không chịu sự kiểm duyệt. Ngoài ra, lợi dụng các tính năng của mạng xã hội, trong đó có tính năng chia sẻ, các đối tượng sẽ phát tán thông tin tức thời tới rất nhiều hội nhóm, trong đó có các hội nhóm có hàng chục nghìn thành viên. Điều này khiến các cơ quan quản lý và các nhà cung cấp dịch vụ gặp rất nhiều khó khăn trong việc kiểm soát và xác định những thông tin nào là thông tin chính xác và thông tin nào là thông tin giả để ngăn chặn. Hơn thế nữa, một số nhà cung cấp dịch vụ xuyên biên giới như Youtube, Google, Facebook trong thời gian qua vẫn chưa phối hợp và tuân thủ triệt để các quy định pháp luật của Việt Nam cũng như hợp tác với các cơ quan chức năng của Việt Nam trong việc ngăn chặn, xử lý những tin giả tán phán trên những nền tảng mà họ cung cấp. Nguồn: VOV

ĐỂ CÁI TỐT NẢY NỞ, PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG MỖI NGƯỜI

     (Theo Chinhphu.vn) - Trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội về tình trạng văn hóa, đạo đức xã hội xuống cấp, chiều 9/11, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cho rằng đây là vấn đề rất lớn, liên quan đến mọi tổ chức, mọi người dân. Bởi vì không ai có thể nói mình không cần tiếp tục tu dưỡng về đạo đức hay tất cả các hành vi ứng xử của mình đều đã là tối ưu, chuẩn mực.

Theo Phó Thủ tướng, thực trạng đạo đức xã hội và ứng xử xuống cấp là có thật. Nhiều hội thảo, nhiều tài liệu đánh giá là xuống cấp đáng báo động, một số mặt nghiêm trọng, thể hiện rõ ở tội phạm, tệ nạn, những hành vi bị đồng tiền chi phối hay gian dối không trung thực. Biểu hiện ở một số giá trị văn hóa truyền thống bị mai một. Nhưng đánh giá thực trạng cần nhìn hai mặt. Câu chuyện của văn hóa, hình thành văn hóa, đạo đức xã hội là câu chuyện dài hơi của mấy chục năm, trăm năm thậm chí dài hơn. Tình trạng xuống cấp về văn hóa, đạo đức xã hội xuất hiện từ khi chúng ta chuyển đổi sang cơ chế thị trường, bắt đầu đổi mới thì thấy rõ hơn. Nhưng mặt khác chúng ta không quên và vẫn rất tự hào về những ưu điểm lớn nhất của đạo đức, văn hóa xã hội Việt Nam.

Nhân lên những phẩm chất tốt đẹp

Thứ nhất là lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Nhân dân nước nào yêu nước và có tinh thần dân tộc hơn nhân dân Việt Nam?  Khi đội tuyển U23 Việt Nam thi đấu thành công tại Vòng chung kết U23 châu Á năm 2018, cả dân tộc nao nức. Đấy là tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc.

Thứ hai là tình yêu thương đồngloại, thương người. Có đất nước nào mà lũ lụt, dịch bệnh như vừa rồi mà người dân thương nhau, giúp đỡ nhau đến như vậy.

Thứ ba là sự hòa ái, thân thiện, cởi mở.  Nếu người dân Việt Nam không hòa ái, thân thiện, cởi mở là soa Việt Nam luôn là điểm đến hấp dẫn của du lịch.

Thứ tư là tình yêu lao động. chịu thương chịu khó.  Dân tộc Việt Nam nếu không yêu lao động. chịu thương chịu khó thì không thể thu hút đầu tư nước ngoài để phát triển như hôm nay.

Thứ năm là tinh thần vươn lên, đức hiếu học. Ngay việc các đại biểu Quốc hội và toàn dân quan tâm đến giáo dục cũng đã thể hiện điều đó.

Nói như vậy để thấy rằng những hiện tượng xuống cấp của toàn xã hội là đáng báo động nhưng không phải vì thế mà chúng ta nhìn nhận xã hội, đạo đức xã hội, con người Việt Nam một cách không công bằng.  Chúng ta nhìn thẳng vào những khiếm khuyết để khắc phục và gần đây đã có những khắc phục rất tốt, nếu qua nhiều năm tích tụ lại thì mới rõ lên. Phó Thủ tướng  lấy ví dụ về phong trào học tập, làm theo tấm gương, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, từng bước, từng bước thấm vào.

Ba nguyên nhân chính

Phó Thủ tướng phân tích nguyên nhân khách quan là mặt trái của kinh tế thị trường, thông tin mạng, mạng xã hội. Về chủ quan thì nhiều người thường nói ngay là yếu kém của văn hóa, giáo dục. Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa thứ nhất là trong mỗi con người và trong toàn xã hội, cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, cái tốt và cái xấu.

Nguyên nhân thứ hai, khi có sự suy yếu và đạo đức trong từng thời kỳ không chỉ riêng do giáo dục hay văn hóa mà do các bất cập của cả hệ thống thể chế quản lý về pháp luạt, kinh tế, xã hội. Đảng ta xác định: Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; xây dựng văn hóa, con người làm nền tảng tinh thần, là vô cùng sâu sắc.

Thứ ba là kinh tế thị trường, đặc biệt gần đây mạng internet, mạng xã hội có mặt trái nhưng không bao giờ bằng mặt tốt và chúng ta tiếp cận, chủ động sử dụng để đẩy mạnh mặt tốt lên.

Chú trọng thực chất đến các vấn đề nền tảng

Trong các văn bản của Đảng, Chính phủ đã có rất nhiều giải pháp khắc phục tình trạng xuống cấp đạo đức, văn hóa xã hội, Phó Thủ tướng chia sẻ thêm một số suy nghĩ.

Trước hết, muốn góp phần cho cái tốt nhiều lên, cái xấu bớt đi thì đầu tiên phải làm cho toàn xã hội, từng người dân hiểu rõ cái gì là tốt, cái gì là xấu. “Có những thứ chúng ta tưởng là dễ thấy ngay nhưng không phải. Ví dụ ăn cắp ai cũng biết là xấu nhưng ăn cắp thời gian thì không mấy ai nghĩ là xấu”.

Vấn đề thứ hai là phải kết hợp giữa giáo dục, tuyên truyền, vận động phong trào với luật hóa và xử lý. Việc xử lý nghiêm minh bằng pháp luật là một biểu hiện của văn hóa, đạo đức nhưng suy cho cùng phải vận động tuyên truyền mọi người để tự điều chỉnh hành vi, đạo đức cá nhân. Đấy mới là nền tảng, gốc rễ.

Thứ ba, trong mọi thời kỳ đều cần sự nêu gương từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, người lớn nêu gương cho người trẻ, đảng viên đi trước, làng nước đi sau.

Thứ tư, trong xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện Đức-Trí-Thể-Mỹ cần đặc biệt lưu ý không chỉ “Đức” mà cả “Mỹ”, lưu ý đến các ngành nghệ thuật, tôn giáo  tín ngưỡng vì những tác phẩm nghệ thuật hay là những thông điệp giáo đục văn hóa đạo đức tốt nhất, những hoạt động văn hóa tín ngưỡng đúng mức, đúng pháp luật sẽ giúp cho cái tốt nảy nở trong mỗi người một cách bền vững.

Bốn điểm đó, theo Phó Thủ tướng, cần hết sức lưu ý và thực hiện kiên trì.

Cuối cùng, Phó Thủ tướng cho rằng phải thực sự đặc biệt chú ý, chú trọng các vấn đề xã hội nói chung, trong đó có đạo đức, văn hóa. Nhược điểm phổ biến của tất cả các nước đang phát triển khi bị sức ép về tăng trưởng kinh tế, thì những vấn đề xã hội, văn hóa, đạo đức nhiều khi là vấn đề chưa làm ra tiền trong ngắn hạn, chưa cấp bách nên dễ bị coi nhẹ nhưng Việt Nam chúng ta cũng đã chú ý hơn các nước khác rất nhiều, nên các chỉ tiêu xã hội tốt hơn. Khi xã hội khấm khá hơn như ngày hôm nay thì chúng ta sẽ có điều kiện chú trọng hơn một cách thực chất đến các vấn đề nền tảng.

Phó Thủ tướng mong các cấp ủy đảng, chính quyền quan tâm nhiều hơn đến lĩnh vực văn hóa, xã hội, không chỉ là nguồn lực đầu tư, con người mà cả thời gian, tâm sức, chỉ đạo.

Để dân tộc Việt Nam tiếp tục tự hào với truyền thống văn hiến, xứng đáng với truyền thống cha ông ta để lại.

Yêu nước ST.

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA CÁC CẤP HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI, THAM GIA XÂY DỰNG, GÓP Ý VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP

 Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng là một sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, có ý nghĩa định hướng chiến lược công cuộc đổi mới, phát triển đất nước trong giai đoạn tới. Việc tham gia xây dựng, góp ý Văn kiện Đại hội Đảng vừa là trách nhiệm, vừa là quyền lợi không chỉ của đảng viên, tổ chức đảng, mà còn của các tổ chức chính trị - xã hội (trong đó có các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ) và các tầng lớp nhân dân.

Trao Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam năm 2020 nhân Lễ kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Đại hội Thi đua yêu nước lần thứ IV_Ảnh: TTXVN

Một số kết quả nổi bật trong giám sát, phản biện xã hội và tham gia xây dựng, góp ý văn kiện đại hội đảng các cấp của Hội trong thời gian qua

Một là, Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) Việt Nam đã tăng cường chỉ đạo thực hiện khâu đột phá của nhiệm kỳ XII (2017 - 2022) về “Nâng cao hiệu quả thực chất công tác giám sát, phản biện xã hội, tham mưu đề xuất chính sách góp phần giải quyết các vấn đề thiết thân của phụ nữ”, tích cực góp phần xây dựng và hoàn thiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là trong lĩnh vực liên quan tới phụ nữ và bình đẳng giới.

Từ năm 2014 - 2018, các cấp Hội đã chủ trì 15.415 cuộc giám sát chuyên đề; tham gia 55.679 đoàn giám sát, khảo sát của cấp ủy đảng các cấp, Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; tổ chức 21.832 hội nghị phản biện, gửi 37.970 văn bản kiến nghị đến các cơ quan có thẩm quyền. Kết quả từ giám sát và phản biện xã hội, các cấp Hội đã tham mưu đề xuất thành công 119 chính sách, chương trình liên quan đến phụ nữ, gia đình, trẻ em, bình đẳng giới và tổ chức Hội(1). Các góp ý, phản biện của Hội về nhiều vấn đề liên quan đến chế độ, chính sách, bảo đảm quyền lao động nữ và bình đẳng giới đã được tiếp thu thành công trong Dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi); kiến nghị của Hội về lồng ghép giới xuyên suốt các nội dung của Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030 đã được tiếp thu trong Nghị quyết số 88/2019/QH14(2) và Nghị quyết số 12/NQ-CP(3), đặc biệt là còn được thể hiện tập trung trong Dự án số 8 của Chương trình này về thực hiện bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em. Hiện nay, Hội cũng đang tích cực góp ý trong xác định các vấn đề, chỉ tiêu về giới cần giải quyết trong Dự thảo Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021  - 2030.

Hai là, Hội đã thực hiện tốt vai trò là cầu nối giữa hội viên, phụ nữ với Đảng, Nhà nước trong phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội, góp phần xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thông qua nhiều hình thức nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của hội viên, phụ nữ, như: tổ chức các diễn đàn, đối thoại để hội viên, phụ nữ thảo luận, trình bày nguyện vọng, nêu kiến nghị với người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp. Trong giai đoạn từ năm 2017 - 2019, các cấp Hội LHPN Việt Nam đã chủ động phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham mưu tổ chức 664 cuộc đối thoại(4) trực tiếp giữa phụ nữ với cấp ủy, chính quyền địa phương. Thông qua đối thoại, nhiều ý kiến được cấp ủy đảng, chính quyền tiếp thu phục vụ cho công tác lãnh đạo, điều hành, bổ sung, điều chỉnh và ban hành các chính sách bảo đảm phù hợp, hiệu quả.

Ba là, đối với văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Trung ương Hội LHPN Việt Nam đã có văn bản góp ý đề nghị xem xét, bổ sung 4 nội dung: 1- Đánh giá về vai trò, sự đóng góp của các tầng lớp nhân dân (nông dân, công nhân, phụ nữ) vào thành tựu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội 5 năm vừa qua; 2- Đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu bình đẳng giới cũng như xác định rõ chỉ tiêu về bình đẳng giới trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế (các chỉ tiêu về giới, tỷ lệ đào tạo nghề cho phụ nữ, tỷ lệ phụ nữ hưởng các dịch vụ gia đình, y tế); 3- Đánh giá tình hình liên quan đến vấn đề gia đình; 4- Xem xét nội dung liên quan đến vấn đề phụ nữ trong mục XII “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc” trên cơ sở quan điểm coi phụ nữ là chủ thể, đồng thời là nguồn lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cần có cơ chế, chính sách để tạo cơ hội, điều kiện cho phụ nữ phát huy thế mạnh trong xã hội.

Hội đã tổ chức các hội thảo khoa học để góp ý xây dựng văn kiện đại hội đảng, sớm ban hành các văn bản cần thiết(5) nhằm chỉ đạo việc tổ chức đợt sinh hoạt chính trị trong các cấp Hội Phụ nữ và định hướng đóng góp ý kiến xây dựng dự thảo văn kiện đại hội đảng bộ các cấp và Dự thảo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, trong đó, tập trung đóng góp vào mục tiêu, chỉ tiêu và các nhiệm vụ, giải pháp trong các dự thảo văn kiện nhằm đề xuất và bảo đảm các vấn đề liên quan đến phụ nữ, gia đình và vấn đề bình đẳng giới được thể hiện phù hợp với đường lối phát triển của đất nước trong nhiệm kỳ. Đồng thời, để việc tham gia góp ý bảo đảm tập trung, có chiều sâu, Trung ương Hội đã nghiên cứu dự thảo văn kiện, lựa chọn 4 chủ đề tập trung góp ý (phát huy quyền làm chủ của phụ nữ thông qua thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của Hội LHPN Việt Nam; kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và tham gia vào các hiệp định thương mại tự do quốc tế thế hệ mới; nâng cao năng lực đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ; giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao) nhằm bảo đảm lựa chọn các nội dung có chiều sâu, phát huy được sự tham gia đóng góp của các tầng lớp phụ nữ. Với 4 chủ đề này, Hội LHPN Việt Nam không chỉ phát huy vai trò của các cấp Hội, hội viên phụ nữ các cấp mà Hội còn chú trọng phát huy vai trò của hai tổ chức thành viên là Hiệp hội Nữ doanh nhân Việt Nam và Hội Nữ trí thức Việt Nam. Các cấp Hội đã tích cực, chủ động tổ chức đợt sinh hoạt chính trị tư tưởng trong cán bộ và hội viên, phụ nữ cả nước với chủ đề: “Giữ trọn niềm tin theo Đảng”; đẩy mạnh công tác tuyên truyền đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; theo dõi, nắm tình hình tư tưởng của cán bộ, hội viên, phụ nữ và tổ chức các hoạt động lấy ý kiến hội viên, phụ nữ vào dự thảo văn kiện đại hội đảng bộ các cấp và dự thảo văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Với nhiều hình thức, nhiều cấp độ, như hội nghị đảng viên, tọa đàm chuyên gia, hội nghị lấy ý kiến trong lực lượng nữ trí thức, nữ doanh nhân, hội nghị phản biện xã hội..., các cấp Hội đã lắng nghe nhiều ý kiến tâm huyết của các tầng lớp phụ nữ, tiếp thu và tổng hợp đề xuất đối với các cấp ủy địa phương, góp phần vào thành công của đại hội đảng bộ các cấp. Phát huy vai trò của các cơ quan truyền thông của Hội, Nhà xuất bản Phụ nữ, Cổng thông tin điện tử của Trung ương Hội, Báo Phụ nữ Việt Nam, đã đăng tải các nội dung yêu cầu lấy ý kiến góp ý của các tầng lớp phụ nữ vào dự thảo văn kiện, xây dựng các chuyên trang, chuyên mục, chuyên đề (đặc biệt là chuyên đề “Màu cờ tôi yêu” với chủ đề “Đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng” trên Báo Phụ nữ Việt Nam).

Tuy nhiên, việc giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng văn kiện đại hội đảng bộ các cấp trong thời gian qua còn gặp một số khó khăn, hạn chế nhất định, như: 1- Các cấp Hội còn gặp nhiều khó khăn trong giám sát đối với tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, người đứng đầu và trong phản biện xã hội đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; Hội LHPN cơ sở thường khó lựa chọn được nội dung giám sát thiết thực và trong phát hiện, kiến nghị, theo dõi việc tiếp thu các vấn đề sau giám sát; 2- Việc nghiên cứu chuẩn bị cơ sở lý luận và thực tiễn để phản biện xã hội, tham gia xây dựng, góp ý văn kiện đại hội đảng bộ các cấp đôi khi còn chưa sâu, thiếu tính dự báo nên chất lượng chưa cao; 3- Tính chủ động của Hội LHPN ở một số nơi trong thực hiện phản biện xã hội, đề xuất chính sách, góp ý vào dự thảo văn kiện đại hội đảng bộ các cấp chưa cao; chưa có nhiều ý kiến  góp ý và được tiếp thu liên quan đến các vấn đề của phụ nữ, gia đình, trẻ em, bình đẳng giới và tổ chức Hội...

Một số định hướng và giải pháp chủ yếu mà các cấp Hội cần tập trung thực hiện trong giám sát, phản biện xã hội và xây dựng, góp ý Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII trong thời gian tới

Hội Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Hội Nữ trí thức Việt Nam góp ý về lĩnh vực khoa học - công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao thể hiện trong dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng_Ảnh: phunuvietnam.vn.

Thứ nhất, tập trung giám sát các vấn đề phụ nữ quan tâm, phản biện xã hội đối với các lĩnh vực thiết yếu, nhất là các dự án luật, chương trình, đề án liên quan đến phụ nữ, trẻ em gái và bình đẳng giới, những quy định lồng ghép giới trong các chương trình, đề án phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, làm cơ sở thực tiễn để các cấp Hội tham gia góp ý có hiệu quả vào dự thảo Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng.

Bên cạnh đó, các cấp Hội chủ động triển khai thực hiện các quy định của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhất là các quy định về giám sát và phản biện xã hội. Cán bộ Hội cần nâng cao nhận thức về chức năng đại diện của tổ chức Hội, thường xuyên bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, thể hiện rõ bản lĩnh, chính kiến để làm tốt nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội. Phát huy vai trò làm chủ của hội viên, phụ nữ; tuyên truyền để phụ nữ hiểu được quyền, trách nhiệm và tích cực tham gia giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng, đóng góp ý kiến Văn kiện Đại hội Đảng.

Thứ hai, tiếp tục tổ chức đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, phát huy trí tuệ, dân chủ, tạo sự đồng thuận và thể hiện nguyện vọng của các tầng lớp phụ nữ trong xây dựng và hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng thông qua tăng cường nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và thu thập, phản ánh ý kiến đóng góp của cán bộ, hội viên, phụ nữ vào dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, đặc biệt là tập trung góp ý vào định hướng, mục tiêu và chỉ tiêu trong dự thảo Văn kiện nhằm đề xuất và bảo đảm các vấn đề liên quan đến phụ nữ, gia đình và vấn đề bình đẳng giới, với các giải pháp cụ thể sau:

- Tổ chức nhiều diễn đàn, nhiều buổi sinh hoạt cho hội viên, phụ nữ đóng góp ý kiến với các hình thức đa dạng, phù hợp; trong đó, tôn trọng vai trò định hướng của tổ chức Hội nhằm cung cấp thông tin đầy đủ giúp chị em phụ nữ nghiên cứu, trao đổi, thảo luận sâu các vấn đề thiết thân liên quan đến phụ nữ, gia đình và bình đẳng giới; qua đó, nâng cao chất lượng góp ý xây dựng Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng.

- Tăng cường huy động ý kiến của mạng lưới các chuyên gia, các nhà khoa học trong từng lĩnh vực, tổ chức các hội thảo, tọa đàm lấy ý kiến đóng góp của đại diện các nhóm nữ trí thức, nữ doanh nhân, các chuyên gia về giới, gia đình, phụ nữ và trẻ em để có căn cứ thực tiễn trong góp ý kiến vào Dự thảo Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng.

- Tổ chức hội nghị trực tuyến để trao đổi và lấy ý kiến góp ý xây dựng Dự thảo Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng của các cấp Hội trong cả nước; tuyên truyền và mở chuyên mục tiếp nhận các ý kiến của hội viên, phụ nữ góp ý Dự thảo Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng trên Cổng thông tin điện tử của Hội, Báo Phụ nữ Việt Nam; tổng hợp, phản ánh đầy đủ ý kiến đóng góp của cán bộ, hội viên, phụ nữ và các nhóm phụ nữ khác nhau vào Dự thảo Văn kiện Đại hội XIII của Đảng.

Thứ ba, các cấp Hội cần chủ động, sáng tạo trong tuyên truyền, phổ biến, triển khai nghị quyết đại hội đảng các cấp đến các tầng lớp phụ nữ và nhân dân, bảo đảm nghị quyết sớm được đi vào cuộc sống; đồng thời, bám sát các chủ trương, nhiệm vụ của nghị quyết đại hội đảng các cấp làm định hướng trong xây dựng văn kiện đại hội phụ nữ các cấp, cũng như trong xây dựng và thực hiện các nhiệm vụ công tác hội.

Thứ tư, coi trọng việc đôn đốc thực hiện các kiến nghị sau giám sát, phản biện xã hội, cũng như việc tiếp thu ý kiến của tổ chức hội trong quá trình góp ý, xây dựng dự thảo văn kiện đại hội đảng các cấp; thường xuyên đánh giá tính đúng đắn, khoa học, hợp lý của các vấn đề mà Hội kiến nghị, đề xuất để tiếp tục rút kinh nghiệm nhằm làm tốt hơn nhiệm vụ này trong những giai đoạn tiếp theo.

Thứ năm, tăng cường công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn làm cơ sở để Hội không chỉ thực hiện tốt nhiệm vụ giám sát, phản biện xã hội, mà còn tham mưu cho Đảng về các phương thức, cơ chế hiệu quả nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội, góp phần xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh./.

Theo: tapchicongsan.org.vn

Tỉnh Oudomxay, Lào ủng hộ miền trung Việt Nam khắc phục hậu quả lũ lụt

     Chiều 11-11, Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Luang Prabang Nguyễn Đăng Hùng tiếp đồng chí Somchit Panyasack, Ủy viên Thường vụ, Phó Tỉnh trưởng tỉnh Oudomxay và Đoàn đại biểu tỉnh Oudomxay đến Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Luang Prabang trao 80 triệu kíp Lào, ủng hộ nhân dân miền trung Việt Nam để khắc phục hậu quả lũ lụt. Tham dự có cán bộ, nhân viên Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Luang Prabang.

    Tiếp đồng chí Somchit Panyasack và Đoàn, Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Luang Prabang Nguyễn Đăng Hùng cảm ơn tấm lòng chân thành của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Oudomxay đã luôn dành những tình cảm tốt đẹp đối với nhân dân Việt Nam nói chung và đối với nhân dân miền trung Việt Nam đang gặp khó khăn do bão lũ hiện nay; thông báo tình hình phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam; thông báo về tình hình bão lũ và những khó khăn và thống kê sơ bộ những thiệt hại về tính mạng và tài sản tại khu vực miền trung Việt Nam.

    Tổng Lãnh sự Nguyễn Đăng Hùng khẳng định, sẽ sớm chuyển ngay số tiền về Việt Nam để gửi đến nhân dân các tỉnh miền trung Việt Nam.

Oudomxay, Lào ủng hộ miền trung Việt Nam khắc phục hậu quả lũ lụt -0
 Tổng Lãnh sự Nguyễn Đăng Hùng (phải) cảm ơn tấm lòng chân thành của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Oudomxay.

    Tại buổi tiếp, đồng chí Somchit Panyasack cho biết, mặc dù còn nhiều khó khăn, kinh tế còn chưa phát triển như một số địa phương khác tại Lào, tuy nhiên, khi biết thông tin nhiều cơn bão đã đổ bộ miền trung Việt Nam, gây ra nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của nhân dân tại đây, Đảng bộ, chính quyền tỉnh Oudomxay đã phát động phong trào, kêu gọi cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc Lào tại tỉnh ủng hộ quyên góp nhân dân miền trung Việt Nam.

    Đồng chí Somchit Panyasack khẳng định, mặc dù số tiền không nhiều nhưng là tình cảm, là tấm lòng chia sẻ những khó khăn với nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân miền trung Việt Nam anh em mỗi khi gặp hoạn nạn khó khăn.

    Đồng chí Somchit Panyasack chúc chính quyền và nhân dân các tỉnh miền trung Việt Nam sớm khắc phục hậu quả lũ lụt, ổn định cuộc sống.

    Oudomxay là tỉnh giàu truyền thống cách mạng, có mối quan hệ khăng khít với nhiều tỉnh của Việt Nam. Trước đó hồi tháng 4, sau khi xuất hiện dịch bệnh Covid-19 tại Việt Nam, Đảng bộ, chính quyền tỉnh Oudomxay cũng đã quyên góp 50 triệu kíp Lào, ủng hộ 10 tỉnh kết nghĩa  là Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Hải Phòng, Điện Biên, Sơn La, Lai Châu, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Phú Thọ để sử dụng trong công tác phòng, chống dịch bệnh.

    Là một trong ba Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Lào, khu vực lãnh sự của Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Luang Prabang bao gồm tám tỉnh phía Bắc Lào trong tổng số 18 tỉnh, thành phố của Lào, là tỉnh Bokeo, Luang Namtha, Oudomxay, Xayaburi, Phongsaly, Houaphanh, Xiengkhouang và Luang Prabang. Các tỉnh này đều có mối quan hệ hợp tác văn hóa, xã hội và kinh tế với Việt Nam, nhiều tỉnh đã kết nghĩa với các tỉnh phía Đông Bắc Việt Nam. 

    Trong thời gian gần đây, các hoạt động lãnh sự của Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Luang Prabang đã được đẩy mạnh rất nhiều, đặc biệt là việc tuyên truyền các đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước và hình ảnh Việt Nam tại khu vực phụ trách. 

    Từ khi dịch Covid-19 xẩy ra cũng như khi các cơn bão đổ bộ vào miền trung Việt Nam, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các tỉnh phía Bắc Lào, cũng như kiều bào, doanh nghiệp Việt Nam tại đây đã hưởng ứng lời kêu gọi của Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Luang Prabang, có nhiều đóng góp, ủng hộ đối với Việt Nam, mang đến sự chia sẻ, động viên kịp thời cũng như thể hiện tấm lòng đầy tình nghĩa, góp phần không nhỏ vun đắp mối quan hệ đặc biệt giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Lào.

Nguồn: Nhân dân.
 

Sáng 12-11, Việt Nam không ghi nhận ca nhiễm Covid-19 mới

     Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch Covid-19 cho biết, sáng nay, Việt Nam không ghi nhận có thêm ca nhiễm Covid-19. Việt Nam đã bước sang ngày thứ 71 không có ca lây nhiễm trong cộng đồng.

    Tính đến 6 giờ ngày 12-11, Việt Nam có tổng cộng 1.252 ca mắc Covid-19, trong đó có 691 ca mắc Covid-19 do lây nhiễm trong nước.

    Số ca mắc Covid-19 nhập cảnh ngày càng gia tăng. Riêng chiều qua, Việt Nam có thêm 26 ca nhập cảnh, trong đó có 25 ca trở về từ Rumani. 

    Tổng số người tiếp xúc gần và nhập cảnh từ vùng dịch đang được theo dõi sức khỏe (cách ly) là 15.540 người, trong đó có 217 ca cách ly tập trung tại bệnh viện; 14.334 ca cách ly tập trung tại cơ sở khác và 989 ca cách ly tại nhà, nơi lưu trú.

    Theo báo cáo của Tiểu ban Điều trị, đến nay Việt Nam đã điều trị khỏi cho 1.091 ca bệnh. Trong số các ca đang điều trị tại các cơ sở y tế, hiện có 42 ca âm tính từ 1-3 lần với SARS-CoV-2.

    Tại TP Hà Nội, chiều qua, Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Ngô Văn Quý đã chủ trì cuộc họp trực tuyến chống dịch Covid-19 với các đơn vị liên quan.

    Tại cuộc họp, năm đoàn kiểm tra của thành phố đã báo cáo về tình hình thực hiện các biện pháp phòng dịch. Theo đó, các quận, huyện, các khu cách ly đã thực hiện nghiêm các biện pháp phòng chống dịch. Đáng chú ý, tại các khu tập thể, các điểm công cộng, hầu như người dân không đeo khẩu trang, không có ai kiểm tra. Tại các khu chợ, bến xe chưa xử lý nghiêm việc bắt buộc đeo khẩu trang.

    Khẳng định công tác phòng dịch tiếp tục là ưu tiên số 1 và cần thực hiện thường xuyên, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đề nghị năm nơi công cộng là: Bệnh viện, bến bãi đỗ xe, phương tiện công cộng, trung tâm thương mại và siêu thị, chợ phải bố trí người kiểm soát chặt chẽ, ai không có khẩu trang không cho ra - vào, bố trí điểm bán khẩu trang ngay ở cửa.

Nguồn: Nhân dân.

RÈN LUYỆN CÁN BỘ THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 


Cùng với việc đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng tốt đội ngũ cán bộ, điều rất quan trọng là phải thường xuyên và kiên quyết đấu tranh làm trong sạch bộ máy, loại bỏ những cán bộ không còn đủ phẩm chất. Ngay từ những ngày đầu của chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ quyết tâm đấu tranh chống những căn bệnh dễ mắc trong bộ máy Nhà nước. Người kịch liệt phê phán những khuyết điểm của các cán bộ: làm trái, cậy thế, chia rẽ, kiêu ngạo, hách dịch, ăn hối lộ, hủ hóa.

Tháng 11-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời trước kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I về những thành viên của Chính phủ không trong sạch: “Chính phủ đã hết sức làm gương, và nếu làm gương không xong thì sẽ dùng pháp luật mà trị những kẻ ăn hối lộ. Đã trị, đang trị và sẽ trị cho kỳ hết” (4). Theo Người: “Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”. Vì vậy, cán bộ phải thực hành chữ Liêm trước để làm kiểu mẫu cho dân” .

Một nền pháp quyền chân chính, tiến bộ phải bảo đảm được tính công bằng, khách quan, bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật. Thi hành được điều này không phải dễ dàng bởi vì từ xưa rồi, tội của quan vẫn được xử theo lễ còn tội của dân được xử theo luật (!). Những kẻ bất liêm vẫn tồn tại trong xã hội, thậm chí ở tại ngay những cơ quan được giao trọng trách duy trì sự nghiêm minh của pháp luật. Tình trạng này một phần do hệ thống luật pháp của chúng ta còn nhiều kẽ hở để những kẻ bất liêm lợi dụng, phần khác do việc thi hành pháp luật chưa nghiêm minh, luật pháp chưa đảm bảo tác dụng giáo dục và răn đe khiến lòng dân chưa yên.

Trong bối cảnh đó, việc thực hiện lời Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ đó giữ địa vị nào, làm nghề gì” đang đặt ra như một yêu cầu bức xúc.VNĐ

CĂN CỨ ĐỂ ĐÀO TẠO CÁN BỘ THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 


“Độ bền của chuỗi xích phụ thuộc vào độ bền của mắt xích yếu nhất”. Từng chi tiết hoạt động tốt là điều kiện quan trọng bảo đảm cho cả hệ thống bộ máy hoạt động tốt. Tuyển chọn, giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng để có và sử dụng tốt đội ngũ cán bộ có chất lượng cao là điều kiện cơ bản bảo đảm cho bộ máy tổ chức Đảng và các cơ quan công quyền vận hành tốt, có hiệu quả và ít “bệnh tật”.

Trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn đạt một cách cụ thể và thiết thực: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Có cán bộ tốt thì việc gì cũng xong”. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có vị trí rất quan trọng, đặc biệt trong điều kiện Đảng cầm quyền. Đào tạo huấn luyện luôn cần đi đôi với việc sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ. Muốn vậy “phải biết rõ cán bộ”, “phải cất nhắc cán bộ cho đúng”; “phải khéo dùng cán bộ”; “phải giúp cán bộ cho đúng”; “phải giữ gìn cán bộ”, v.v (1). Muốn lựa chọn cán bộ đúng, theo Người cần phải căn cứ vào:

“... Những người tỏ ra rất trung thành và hăng hái trong công việc, trong đấu tranh.

- Những người liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng. Luôn luôn chú ý đến lợi ích của dân chúng...

- Những người có thể phụ trách giải quyết các vấn đề trong những hoàn cảnh khó khăn...

- Những người luôn giữ đúng kỷ luật.

... Đó là những khuôn khổ để lựa chọn cán bộ” (2).

Để bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ có đủ năng lực, phẩm chất, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước kiểu mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết những cách làm việc với đội ngũ cán bộ như sau:

- Chỉ đạo những phương hướng đường lối công tác cho cán bộ, để họ phát huy năng lực và tinh thần sáng tạo trong những công việc cụ thể.

- Nâng cao trình độ cho cán bộ bằng cách tạo điều kiện để họ học thêm lý luận và chuyên môn.

- Thường xuyên kiểm tra rút kinh nghiệm, sửa chữa những khuyết điểm, phát huy ưu điểm trong quá trình công tác.

- Khi họ sai lầm thì dùng cách thuyết phục, cải tạo, giúp họ sửa chữa.

- Giúp đỡ họ bảo đảm những điều kiện sinh hoạt, chăm sóc họ khi đau ốm. Tùy theo điều kiện có thể giúp đỡ họ giải quyết những vấn đề gia đình”./ VNĐ

Hiểu rõ về Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển sau 26 năm có hiệu lực.

 Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (tiếng Anh: United Nations Convention on Law of the Sea - UNCLOS), cũng gọi là Công ước Luật biển hay cũng được những người chống đối nó gọi là Hiệp ước Luật biển, là một hiệp ước quốc tế được tạo ra trong Hội nghị về luật biển Liên Hiệp Quốc lần thứ 3 diễn ra từ năm 1973 cho đến 1982 với các chỉnh sửa đã được thực hiện trong Hiệp ước Thi hành năm 1994.

Các vùng biển theo luật biển quốc tế.


    Trong khi Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc nhận được các công cụ phê chuẩn và gia nhập và Liên Hiệp Quốc quy định ủng hộ các cuộc họp của các quốc gia là thành viên của Công ước thì Liên Hiệp Quốc không có vai trò hoạt động trong việc thi hành Công ước này. Tuy nhiên các tổ chức liên chính phủ tự trị như: Tổ chức Hàng hải Quốc tếỦy ban Cá voi Quốc tế và Cơ quan quản lý Đáy biển Quốc tế được Công ước này thành lập lại có một vai trò trong việc thực thi Công ước.

    Nội dung công ước có một loạt điều khoản. Những điều khoản quan trọng nhất quy định về việc thiết lập các giới hạn, giao thông đường biển, trạng thái biển đảo, và các chế độ quá cảnh, các vùng đặc quyền kinh tế, quyền tài phán thềm lục địa, khai khoáng lòng biển sâu, chính sách khai thác, bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học, và dàn xếp các tranh chấp.

    Công ước đặt ra giới hạn cho nhiều khu vực, tính từ một đường cơ sở (baseline) được định nghĩa kỹ càng. (Thông thường, một đường biển cơ sở chạy theo đường bờ biển khi thủy triều xuống, nhưng khi đường bờ biển bị thụt sâu, có đảo ven bờ, hoặc đường bờ biển rất không ổn định, có thể sử dụng các đường thẳng làm đường cơ sở). Có các khu vực dưới đây:

    Nội thủy
Bao phủ tất cả vùng biển và đường thủy ở bên trong đường cơ sở (phía đất liền). Tại đây, quốc gia ven biển được tự do áp đặt luật, kiểm soát việc sử dụng, và sử dụng mọi tài nguyên. Các tàu thuyền nước ngoài không có quyền đi lại tự do trong các vùng nội thủy.
    Lãnh hải
Vùng nằm ngoài đường cơ sở có chiều ngang 12 hải lý. Tại đây, quốc gia ven biển được quyền tự do đặt luật, kiểm soát việc sử dụng, và sử dụng mọi tài nguyên. Các tàu thuyền nước ngoài được quyền "qua lại không gây hại" mà không cần xin phép nước chủ. Đánh cá, làm ô nhiễm, dùng vũ khí, và do thám không được xếp vào dạng "không gây hại". Nước chủ cũng có thể tạm thời cấm việc "qua lại không gây hại" này tại một số vùng trong lãnh hải của mình khi cần bảo vệ an ninh.
Vùng nước quần đảo
Công ước đưa ra định nghĩa về các quốc gia quần đảo trong phần IV, cũng như định nghĩa về việc các quốc gia này có thể vẽ đường biên giới lãnh thổ của mình như thế nào. Đường cơ sở được vẽ giữa các điểm ngoài cùng nhất của các đảo ở ngoài cùng nhất, đảm bảo rằng các điểm này phải đủ gần nhau một cách thích đáng. Mọi vùng nước bên trong đường cơ sở này sẽ là vùng nước quần đảo và được coi như là một phần của lãnh hải quốc gia đó.
Vùng tiếp giáp lãnh hải
Bên ngoài giới hạn 12 hải lý của lãnh hải là một vành đai có bề rộng 12 hải lý, đó là vùng tiếp giáp lãnh hải. Tại đây, nước chủ có thể vẫn thực thi luật pháp của mình đối với các hoạt động như buôn lậu hoặc nhập cư bất hợp pháp.
    Vùng đặc quyền kinh tế
Rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Trong vùng này, quốc gia ven biển được hưởng độc quyền trong việc khai thác đối với tất cả các tài nguyên thiên nhiên. Khái niệm vùng đặc quyền kinh tế được đưa ra để ngừng các cuộc xung đột về quyền đánh cá, tuy rằng khai thác dầu mỏ cũng đã trở nên một vấn đề quan trọng. Trong vùng đặc quyền kinh tế, nước ngoài có quyền tự do đi lại bằng đường thủy và đường không, tuân theo sự kiểm soát của quốc gia ven biển. Nước ngoài cũng có thể đặt các đường ống ngầm và cáp ngầm.
    Thềm lục địa
Được định nghĩa là vành đai mở rộng của lãnh thổ đất cho tới mép lục địa (continental margin), hoặc 200 hải lý tính từ đường cơ sở, chọn lấy giá trị lớn hơn. Thềm lục địa của một quốc gia có thể kéo ra ngoài 200 hải lý cho đến mép tự nhiên của lục địa, nhưng không được vượt quá 350 hải lý, không được vượt ra ngoài đường đẳng sâu 2500m một khoảng cách quá 100 hải lý. Tại đây, nước chủ có độc quyền khai thác khoáng sản và các nguyên liệu không phải sinh vật sống.

    Bên cạnh các điều khoản định nghĩa các ranh giới trên biển, công ước còn thiết lập các nghĩa vụ tổng quát cho việc bảo vệ môi trường biển và bảo vệ quyền tự do nghiên cứu khoa học trên biển. Công ước cũng tạo ra một cơ chế pháp lý mới cho việc kiểm soát khai thác tài nguyên khoáng sản tại các lòng biển sâu nằm ngoài thẩm quyền quốc gia, được thực hiện qua Ủy ban đáy biển quốc tế (International Seabed Authority).

    Các nước không có biển được quyền có đường ra biển mà không bị đánh thuế giao thông bởi các nước trên tuyến đường nối với biển đó.

Hiểu rõ các khái niệm này, các căn cứ pháp lý đưa ra giúp chúng ta đòi hỏi những quyền lợi chính đáng của mình trên biển Đông.