Thứ Hai, 30 tháng 11, 2020

Quy mô dân số Việt Nam Thời kỳ Văn Lang- Âu Lạc

 


Thời Hùng Vương Việt Nam hoàn toàn không có các tài liệu về thống kê chính thức dân số, có thể là do các đời Vua Hùng không tiến hành thống kê nhân khẩu hoặc trải qua hàng ngìn năm Bắc thuộc với nhiều lần chiến loạn nên các tài liệu thư tịch cổ bị thất lạc mất, không thể tìm ra được. các nhà sử học cả phong kiến và đương thời, ước tính đến cuối thời Văn Lang, Việt nam có khoảng 1000.000 dân, chủ yếu phân bố ở khu vực trung hạ du sông Hồng và Sông Mã.

Năm 258 trước công nguyên, Vua Tộc Âu Việt là Thục Phán đem quân đánh bại Vua Hùng đời thứ 18, sáp nhập lãnh thổ Văn Lang của người Lạc Việt, hai tộc người Âu Việt và Lạc Việt hợp nhất thành một, Thục phán lên ngôi Vua lấy hiệu là An Dương Vương, đặt tên nước là Âu Lạc. Năm 218 TCN, Tần Thủy Hoàng phái tướng Đỗ Thư đem 50 vạn quân đi bình định các dân tộc Bách Việt, nhưng sau tướng Đỗ Thư bị giết trong một cuộc tập kích, quân Tần buộc phải bãi binh do Chủ tướng tử trận và các cuộc bạo loạn ở Trung nguyên. Sau cuộc chiến, hơn 10 vạn quân Tần thiệt mạng và khoảng 10 vạn bị quân Âu Lạc bắt làm tù binh, bị đầy đi khai hoang ở các miền xã xôi. Sau khi nhà Tần suy yếu và sụp đổ, phương Bác chìm trong chiến loạn từ nhiều năm. Các thế lực quân phiệt, tiêu biểu là Hán Lưu Bang và Sở Hạng Vũ, giao tranh quyết liệt để tranh giành đất đai. Dân chúng thường bị vạ lây sau các trận chiến, do các thủ lĩnh quân sự thường tàn sát dân chúng khắp vùng nếu đối phương kháng cự quyết liệt. Tiêu biểu là Lưu Bang đã làm cỏ bách tính ở Vĩnh Dương, còn Hạn Vũ đã giết sạch dân ở Tương Thành và tàn sát 20 vạn hàng binh nước Tần. Do đó đã có nhiều người dân đã chạy xuống phương nam để lánh nạn , mà đa phần là đến vùng Lưỡng Quảng (thuộc nước Nam Việt của Triệu Đà, tướng cũ của Nhà Tần), tuy nhiên, có một bộ phận chạy xuống tận Âu Lạc, sống chung với người Bách Việt. Theo ước tính, thời Âu Lạc Việt Nam có khoảng 70- 80 vạn dân, bao gồm toàn bộ dân cư Lạc Việt cũ, dân cư Âu Việt mới sáp nhập và các nạn dân từ phương Bắc chạy đến để tránh chiến loạn.

Nhìn lại quá trình phát triển đường lối đổi mới- những vấn đề cần suy ngẫm

 


Để đi đến đường lối đổi mới toàn diện tại Đại hội VI, Đảng ta, qua thực tiễn lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đã trải qua nhiều bước tìm tòi và thử nghiệm.

Bước đột phá thứ nhất

- Hội nghị Trung ương 6 khoá IV (8-1979), với chủ trương bằng mọi cách “làm cho sản xuất bung ra”, là bước đột phá đầu tiên của quá trình tìm tòi và thử nghiệm đó.

Hội nghị chủ trương ổn định nghĩa vụ lương thực trong 5 năm, phần dôi ra được bán cho Nhà nước hoặc trao đổi tự do; khuyến khích mọi người tận dụng ao hồ, ruộng đất hoang hoá; đẩy mạnh chăn nuôi gia súc dưới mọi hình thức; sửa lại thuế lương thực và giá lương thực để khuyến khích sản xuất; sửa lại chế độ phân phối theo định suất, định lượng,...

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 nhanh chóng được nhân dân cả nước đón nhận và biến thành hành động cụ thể trong thực tiễn nền kinh tế. Chỉ một thời gian ngắn, trong cả nước xuất hiện rất nhiều điển hình về cách làm ăn mới. Long An từ giữa năm 1980 đã thí điểm mô hình “mua cao, bán cao”, “bù giá vào lương” thay cho cơ chế “mua cung, bán cấp”. Hải Phòng, Vĩnh Phú, Nghệ Tĩnh thí điểm hình thức khoán.

- Ngày 13-1-1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị 100-CT/TW về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp.

Tiếp đó, trong công nghiệp, bước đầu xác định quyền tự chủ của các cơ sở trong sản xuất kinh doanh, tự chủ về tài chính của các xí nghiệp theo các Quyết định 25/CP và 26/CP của Hội đồng Chính phủ. Nghị quyết Trung ương 6, Chỉ thị 100 của Ban Bí thư và các Quyết định 25/CP và 26/CP của Chính phủ cho thấy những ý tưởng ban đầu của đổi mới, tuy còn sơ khai, chưa cơ bản và toàn diện, nhưng đó là bước đầu có ý nghĩa, đặt những cơ sở đầu tiên cho quá trình đổi mới sau này.

- Đại hội toàn quốc lần thứ V của Đảng (3-1982):

+  Đưa ra khái niệm về “chặng đường trước mắt” của thời kỳ quá độ và xác định trong chặng đường này, nội dung chính của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là “coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, kết hợp nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng trong một cơ cấu hợp lý”.

+ Khẳng định sự tồn tại năm thành phần kinh tế trong một thời gian nhất định ở miền Nam.

+ Hội nghị Trung ương 5 khoá V (12-1983) lại cho rằng sự chậm chạp trong cải tạo xã hội chủ nghĩa là một trong những nguyên nhân của tình trạng khó khăn về kinh tế, xã hội, từ đó, chủ trương để ổn định tình hình, phải đẩy mạnh hơn nữa cải tạo xã hội chủ nghĩa; Nhà nước phải nắm hàng, nắm tiền, xoá bỏ thị trường tự do về lương thực và các nông hải sản quan trọng, thống nhất quản lý giá...

 Bước đột phá thứ hai

- Hội nghị Trung ương 8 khoá V (6-1985) là bước đột phá thứ hai với chủ trương dứt khoát xoá bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, thực hiện cơ chế một giá; xoá bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá thấp, chuyển mọi hoạt động sản xuất kinh doanh sang cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa...

- Tháng 9-1985, cuộc tổng điều chỉnh giá - lương - tiền được bắt đầu bằng việc đổi tiền, xoá bỏ hoàn toàn chế độ tem phiếu.

- Do tư tưởng nóng vội, cuộc tổng điều chỉnh này đã dẫn tới tình trạng giá cả thị trường có nhiều diễn biến phức tạp; lạm phát bị đẩy lên tốc độ phi mã. Đầu năm 1986, lại phải lùi một bước, quay trở lại thực hiện chính sách hai giá...

 Bước đột phá thứ ba

 Hội nghị Bộ Chính trị khoá V (8-1986) là bước đột phá thứ ba với kết luận về một số vấn đề thuộc quan điểm kinh tế.

 - Về cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, phải lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu; ra sức phát triển công nghiệp nhẹ, phát triển có chọn lọc công nghiệp nặng;

- Về cải tạo xã hội chủ nghĩa và củng cố quan hệ sản xuất mới, phải xác định cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta;

- Về cơ chế quản lý kinh tế, lấy kế hoạch làm trung tâm, đồng thời phải sử dụng đúng quan hệ hàng hoá tiền tệ, dứt khoát xoá bỏ cơ chế tập trung, bao cấp; chính sách giá phải vận dụng quy luật giá trị, tiến tới thực hiện cơ chế một giá.

Từ những vấn đề trên có thể nói, nhận thức và thực hành đổi mới ở Việt Nam đã xuất hiện rất sớm, chính vì vậy nó là cơ sở rất vững chắc cho những thập niên vừa qua, quá trình đổi mới chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng.

Tình hình quy mô dânsố ở Việt Nam hiện nay- Những vấn đề cần suy ngẫm

 


Hiện nay có nhiều quan niệm về dân số, theo xã hội học trong lãnh đạo quản lý thì dân số được hiểu là tập hợp người sống được đặc trưng bởi quy mô, cơ cấu, chất lượng, sự biến động dân cư, mối quan hệ về kinh tế- xã hội và phân công lao động xã hội trên một phạm vi lãnh thổ nhất định. Như vậy, quy mô dân số là một đặc trưng cơ bản của dân số. Quy mô dân số được hiểu là số người sống trên một vũng lãnh thổ tại thời điểm nhất định. Ví dụ quy mô dân số Việt Nam năm 2019 là hơn 96,2 triệu người, quy mô dân số Trung Quốc hiện nay là hơn 1,3 tỷ người…Theo đó, quy mô dân số hợp là quy mô luôn giữ ở trạng thái cân bằng giữa số người phụ thuộc với số người trong độ tuổi lao động, để luôn đảm bảo thay thế lực lượng lao động khi về già.

Quy mô dân số được duy trì hợp lý sẽ đảm bảo cân đối giữa dân số phụ thuộc và dân số trưởng thành, làm cho quốc gia đó luôn có lực lượng lao động phù hợp với phát triển kinh tế xã hội. Nếu quy mô dân số không phù hợp sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia. Quy mô dân số không phù hợp thường được biểu  hiện ở hai khuynh hướng. Khuynh hướng thứ nhất:  Tỷ xuất sinh giảm (Tỷ xuất sinh là tổng số con sinh ra sống/ một người phụ nữ trong tuổi sinh đẻ). Nếu tỷ xuất sinh giảm, thì tỷ lệ sinh thay thế giảm. Khi tỷ lệ sinh thay thế giảm thì ở một chừng mực giai đoạn nào đó xã hội sẽ có nhiều người già, lực lượng kế cận lao động sẽ giảm. Khuyh hướng thứ hai: Tỷ xuất sinh thay thế tăng, xã hội sẽ có tỷ lệ sinh thay thế tăng, thì dân số tăng. Khi dân số tăng thì trong xã hội sẽ có số người phụ thuộc (trẻ em và người già) lớn. Khi số người phụ thuộc lớn trong xã hội sẽ phải thực hiện an sinh xã hội lớn, như vậy sẽ không phát triển được. Do vậy phải giữ được mức sinh thay thế. Với Việt Nam hiện nay đang giữ ở mức sinh thay thế phù hợp với tỷ xuất sinh 2,01 con/ một người phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ.

 Tuy nhiên xét theo từng vùng, từng địa bàn hành chính thì tỷ xuất sinh thay thế có sự chênh lệch. TFR của khu vực thành thị là là 1,83 con/phụ nữ; khu vực nông thôn là 2,26 con/phụ nữ. Phụ nữ có trình độ Đại học có mức sinh thấp nhất (1,85 con/phụ nữ; khu vực nông thôn là 2,26 con/phụ nữ; phụ nữ chưa bao giờ đi học (2,59 con.phụ nữ). Theo thống kê, vùng Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long có mức sinh thấp hơn nhiều so với mức sinh thay thế (1,5- 1,6 con), Thành phố Hồ Chí Minh có mức sinh thấp nhất cả nước (1,39 con/phụ nữ). Trong khi đó một số tỉnh miền núi phía Bắc, Miền Trung và Tây nguyên, tỷ suất sinh còn rất cao. Tỷ xuất sinh thô cả nước hiện nay từ 16 đến 17 phần nghìn, nhưng tỷ xuất này ở các tỉnh lên đến gần 30 phần nghìn. Nhiều tỉnh như Hà Giang, Lai Châu, Hà Tĩnh, Đắc Lắc có tổng tỷ xuấ sinh ở mức trên dưới 3 con số. Thậm trí có những nơi, đặc biệt là tại các vùng đồng bào dân tộc ít người, có tình trạng sinh từ 6 đến 7 con. Hà Tĩnh là tỉnh có mức sinh cao nhất 2,83 con/phụ nữ). Những vấn đề trên cần có giải pháp kịp thời để cân bằng mức sinh thay thế của từng vùng.

 

Hiện nay có nhiều dủi do trong chống dịch COVID-19 ở Việt Nam

 


Với quyết tâm cao của Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị và toàn dân, cho đến hôm nay, Việt Nam cơ bản đã khống chế được dịch COVID19. Tuy nhiên nguy cơ lây nhiễm dich trở lại rất cao bởi vì, chúng ta có thể khống chế được trong nội địa, nhưng ở ngoại địa chúng ta còn nhiều lỗ hổng. Đó là tình trạng vượt biên trái phép từ biên giới đất liền giữa các nước Lào, Campuchia, Trung Quốc, từ biển đông vào; vấn đề nhập cảnh theo chủ trương hội nhập của ta với các nước…Những vấn đề trên chúng ta chỉ sơ xảy một chút là COVID-19 sẽ xâm nhập vào Việt nam.

VIỆT NAM THỰC HIỆN TỐT VẤN ĐỀ QUY MÔ DÂN SỐ VÀ PHÂN BỐ DÂN SỐ

 


Dân số là yếu tố quan trọng hàng đầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác dân số là nhiệm vụ chiến lược, vừa cấp thiết, vừa lâu dài, là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, cả hệ thống chính trị. Thời gian qua công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Tuy nhiên công tác dân số nói chung, vấn đề quy mô, phân bố dân số nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển chung của đất nước. Trong thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta đã thực hiện tốt vấn đề quy mô dân số, đảm bảo mức sinh thay thế hợp lý (mỗi cặp vợ chồng sinh từ 1 đến 2 con), cho đến nay tỷ xuất sinh thay thế đảm bảo 2,09 con/phụ nữ. Đây là mức sinh thay thế đảm bảo vượt mức kế hoạch trước 10 năm. Về phân bố dân số, Đảng, nhà nước ta luôn có chiến lược và các chương trình phân bố dân cư hợp lý, đảm bảo dân số luôn được phân bố hợp lý giữa các địa bàn, vùng miền (chúng ta đã có nhiều chính sách như: Chính sách xây dựng vùng kinh tế mới; chính sách di dân lập nghiệp; các phong trào thanh niên lập nghiệp từ miền xuôi lên miền núi; thanh niên làm kinh tế giỏi…Những vấn đề trên góp phần thực hiện tốt công tác dân số và phát triển ở nước ta.

Thời gian tới, trên bước đường đổi mới và hội nhập, chúng ta cần thực hiện tốt công tác dân số, trong đó bảo đảm về quy mô và phân bố dân số cho phù hợp với phát triển kinh tế- xã hộị. Đây là nhiệm vụ thường xuyên nhưng cũng rất cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM LÀ MỘT TÁT YẾU KHÁCH QUAN

 


 Từ thập kỷ 80 của thế kỷ XX, CNXH hiện thực rơi vào thoái trào, các nước tư bản do điều chỉnh, thích ứng nên đã vượt qua một số khó khăn, phát triển. CNXH phải đổi mới, cải tổ để thoát khỏi khó khăn. Điều này thành xu thế khách quan ở nhiều nước XHCN.

 Xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa nền kinh tế thế giới diễn ra với quy mô ngày càng lớn và nhịp độ cao đã thúc đẩy nhanh quá trình hội nhập của nước ta, cho phép nước ta  tranh thủ được các nguồn lực bên ngoài (vốn, công nghệ và thị trường) để phát triển kinh tế-xã hội. Bên cạnh đó, cũng đặt nước ta vào thế cạnh tranh quyết liệt bởi các nền kinh tế phát triển hơn trong khu vực và thế giới.

 Việt Nam và Hoa Kì bình thường hóa quan hệ từ đầu năm 1995 và nước ta đã trở thành thành viên của ASEAN từ tháng 7-1995. ASEAN đã trở thành một liên kết khu vực gồm 10 nước và là nhân tố quan trọng để thúc đẩy sự hợp tác toàn diện giữa các nước trong khối và với các nước ngoài khu vực.

Nước ta cũng tham gia vào Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), đẩy mạnh quan hệ song phương và đa phương. Từ tháng 1 năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO).  

Điều đó đã cho phép nước ta đẩy mạnh buôn bán, mở rộng hợp tác với các nước trong và ngoài khu vực; thực hiện các chính sách tăng cường thu hút đầu tư, chuyển giao KHKT, giao lưu văn hóa, hợp tác phát triển nguồn nhân lực, …. giải quyết các vấn đề về Biển Đông và sông Mê Công. Tuy nhiên, nước ta cũng chịu sự cạnh tranh bởi các nước trong khu vực trong sản xuất và xuất khẩu

 Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại vào cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI trên thế giới cho phép nước ta tiếp thu các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến, đi tắt đón đầu công nghệ, tận dụng các nguồn lực bên ngoài để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Điều đó cũng đặt ra thách thức về nguy cơ tụt hậu nếu chúng ta không nắm bắt cơ hội phát triển.

- Hòa bình, độc lập dân tộc, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, chủ đạo hiện nay trên thế giới.

- Khu vực Đông Nam Á, Châu Á- Thái bình Dương vẫn là khu vực phát triển năng động, nhưng tiềm ẩn nhièu tranh chấp, xung đột và đan xen lợi ích.

- Trong 10 năm đầu đổi mới

 Đất nước bị bao vây, cấm vận và thoát khỏi bao vây, cấm vận; bị rơi và và từng bước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế- xã hội; hoàn thành những nhiệm vụ của chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ, chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.

- Trong 10 năm tiếp theo:

Đất nước ổn định, các khó khăn, thách thức dần được khắc phục; sản xuất phát triển, tăng trưởng nhanh, đời sống nhân dân được cải thiện; chính trị -xã hội ổn định, vai trò, vị thế quốc tế được nâng lên, thế, lực, sức mạnh tổng hợp đất nước được nâng cao.

- Trong 10 năm gần đây:

Đất nước thoát khỏi tình trạng nước nghèo kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đạt tốc độ tăng trưởng khá, chính trị - xã hội ổn định, quan hệ quốc tế mở rộng.

Những khó khăn, thách thức vẫn còn nhiều: ảnh hưởng tiêu cực từ suy thoái kinh tế, khủng hoảng tài chính toàn cầu; những thách thức bất ổn về vĩ mô (tài chính, ngân hàng, cơ cấu kinh tế, lạm phát...), suy giảm đà tăng trưởng kinh tế trong nước; sự chống của các thế lực thù địch, nhất là chiến lược "Diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ; những diễn biến phức tạp trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, nhất là trên Biển Đông...

Từ những vấn đề trên đổi mới và phát triển CNXH ở Việt Nam là tất yếu khách quan là con đường dẫn dến mọi tháng lợi của cách mạng Việt Nam.

Chủ Nhật, 29 tháng 11, 2020

Quyết định thiết thực, phù hợp với thực tế của Bộ Giáo dục

Gần đây, Bộ trưởng Bộ GDĐT Phùng Xuân Nhạ có buổi tiếp xúc cử tri tại thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. Tại đây, Bộ trưởng đã thông tin về việc xóa bỏ chứng chỉ tin học và ngoại ngữ cho giáo viên và chứng chỉ ngoại ngữ 2 đối với giáo viên dạy Tiếng Anh. Thông tin này khiến giáo viên các cấp phấn khởi và bày tỏ đồng tình. Cô Mai Thị Ánh Nguyệt (giáo viên Trường THCS Nguyễn Công Trứ, Hà Nội) cho rằng đây là quyết định thiết thực và phù hợp với thực tế hiện nay. "Nhiều năm trở lại đây, sinh viên học tập tại các trường đại học, cao đẳng đều được đào tạo chương trình tin học và ngoại ngữ. Điều này đồng nghĩa với việc, khi tốt nghiệp họ được công nhận đạt chuẩn hai chương trình trên. Vì vậy, việc giáo viên học và thi để lấy chứng chỉ tin học, ngoại ngữ không thật sự cần thiết" - cô Ánh Nguyệt chia sẻ. "Trên thực tế, hiện tượng giáo viên bỏ tiền mua chứng chỉ tin học và ngoại ngữ không hiếm. Bởi nhiều giáo viên không có đủ thời gian, khả năng để học và thi lấy chứng chỉ nhiều lần. Đặc biệt, giáo viên dạy tiếng Anh còn phải có chứng chỉ ngoại ngữ 2. Mỗi lần thi rất tốn thời gian và kinh phí, nhưng kiến thức ứng dụng không mang lại hiệu quả cao. Vì vậy, việc xóa bỏ hai loại chứng chỉ này được xem là tin vui với giáo viên" - cô Lan Phương bày tỏ. Nêu quan điểm về việc xóa bỏ chứng chỉ ngoại ngữ, tin học trong thời gian tới, thầy Nguyễn Doãn Minh (giáo viên Trường THCS Tân Mai, Hà Nội) khẳng định, quyết định này giúp giáo viên giảm bớt gánh nặng về tâm lý và kinh tế. "Thực chất, nếu không tham gia học và thi, nhiều giáo viên sẽ có tâm lý không thoải mái, họ cho rằng mình chưa đủ bằng cấp, chưa đủ điều kiện để dạy học và phát triển cá nhân. Bên cạnh đó, nhiều giáo viên muốn học nhưng học phí và kinh phí khá cao so với lương của họ, nên gặp nhiều khó khăn" - thầy Minh chia sẻ. Giáo viên nên trau dồi kiến thức để nâng cao chất lượng giảng dạy "Loại bỏ chứng chỉ tin học và ngoại ngữ không đồng nghĩa với việc giáo viên ngừng học, ngừng trau dồi kiến thức, kỹ năng" - đó là ý kiến của cô Ánh Nguyệt. Cô cho rằng, trong thời điểm hiện nay việc sử dụng tốt ngoại ngữ và tin học là một lợi thế để khám phá tri thức nhân loại, nhất là đối với đội ngũ nhà giáo. "Trong xã hội hiện đại, để hoàn thành sứ mệnh trồng người, bản thân mỗi giáo viên phải tự học, tự bồi dưỡng hoặc tham gia các lớp bồi dưỡng của Phòng GDĐT, Sở GDĐT, Bộ GDĐT... Như vậy, giáo viên không chỉ nâng cao trình độ chuyên môn mà còn được lĩnh hội kiến thức và nâng cao trình độ tin học, ngoại ngữ" - cô Ánh Nguyệt khẳng định. Bên cạnh việc ủng hộ loại bỏ chứng chỉ tin học và ngoại ngữ, thầy Nguyễn Doãn Minh cũng hi vọng, Bộ GDĐT sẽ có hình thức mới phù hợp để thúc đẩy và giúp đỡ giáo viên về kiến thức tin học, ngoại ngữ. "Xã hội ngày càng phát triển, thế hệ trẻ ngày càng thông minh, vì vậy thầy cô cần nỗ lực trau dồi kiến thức và phát triển bản thân. Đặc biệt có kiến thức trong 2 mảng ngoại ngữ và tin học để phục vụ giảng dạy một cách tốt nhất" - thầy Minh nhấn mạnh. Theo Dân trí

Tàn dư chiến tranh ở Việt Nam, sau 48 năm vẫn hiện hữu trong lòng Thủ đô Hà Nội

Khoảng 4h ngày 28/11, khi thi công đến độ sâu khoảng 6m so với mặt vỉa hè tại công trường số 15 phố Cửa Bắc thì phát hiện 1 quả bom phá có đường kính 40cm, dài 125cm, trọng lượng khoảng 340kg. Phòng Công binh (Bộ Tư lệnh Thủ đô) đã tổ chức khám nghiệm và xác định quả bom phá còn nguyên 2 ngòi nổ, mức độ nguy hiểm lớn. Trong đêm 29/11, lực lượng chức năng đã di dời thành công quả bom nặng 340kg còn nguyên 2 ngòi nổ tại công trình thi công ở phố Cửa Bắc (phường Trúc Bạch, Ba Đình, Hà Nội). Vị trí quả bom được xác định tại móng công trình đang thi công ở trụ sở Công ty Truyền tải điện 1 tại số 15 phố Cửa Bắc. Từ lúc 22h đêm 29/11, lực lượng chức năng vận động người dân ở khu vực phát hiện quả bom di tản trước khi tiến hành di dời quả bom. Hàng chục người dân trong đêm khăn gói đồ đạc, các nhu yếu phẩm cần thiết rời khỏi khu vực phố Cửa Bắc. Đến khoảng 23h, lực lượng công binh cùng các thiết bị chuyên dụng đã dùng cần cẩu nhấc quả bom và đưa đi khỏi hiện trường. Sau khi di dời quả bom thành công, người dân trở lại nhà, các lớp rào chắn được gỡ bỏ, người và phương tiện di chuyển bình thường. Sự hiện hữu của quả bom cho chúng ta thấy hậu quả khủng khiếp của chiến tranh, nếu không phát hiện và di dời quả bom hoặc bất cẩn trong việc xử lý sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng cho tính mạng và tài sản của nhân dân Thủ đô Hà Nội. Nguồn VN NET

NHỮNG VẤN ĐỀ MỚI TRONG BẢO VỆ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY



 Cuộc đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh diễn ra trong bối cảnh phức tạp, vừa có thuận lợi, vừa không ít khó khăn.

Tổng Bí thư chủ trì họp Quân ủy Trung ương

Sáng 30/11, tại Hà Nội, Quân ủy Trung ương tổ chức Hội nghị ra Nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ Quân sự, Quốc phòng và xây dựng Đảng bộ Quân đội năm 2021. Kiểm tra, giám sát trong Đảng: Không liêm, không sạch thì không kỷ luật được người khác Nhiều vụ tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng trước đây là “vùng cấm” được xử lý Lương lãnh đạo DNNN hơn 151 triệu đồng, chỉ bằng nửa mức thị trường Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương chủ trì Hội nghị. Dự Hội nghị có các Ủy viên Bộ Chính trị: Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương; Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Phạm Minh Chính; Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng và các đại biểu. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chủ trì hội nghị Quân ủy Trung ương Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương đến dự hội nghị Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chủ trì hội nghị Quân ủy Trung ương Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chủ trì hội nghị Quân ủy Trung ương Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chủ trì hội nghị Quân ủy Trung ương Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dự hội nghị. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chủ trì hội nghị Quân ủy Trung ương Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng phát biểu. Nguồn TTXVN

Liên minh quốc tế Stefanus “tấu hài” về Nguyễn Bắc Truyển

 Bất chấp việc Nguyễn Bắc Truyển, sinh năm 1968, trú tại phường 4, quận 4, TP Hồ Chí Minh, đang phải chấp hành bản án 11 năm tù, 3 năm quản chế về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, vừa qua, Liên minh quốc tế Stefanus (Stefanus Alliance International) đã công khai thông tin về việc trao “giải thưởng Stefanus 2020” cho Nguyễn Bắc Truyển với đài RFA vì “có thành tích trong hoạt động thúc đẩy quyền tự do tín ngưỡng và bảo vệ những sắc tộc thiểu số tôn giáo”.

Trách nhiệm của cán bộ, công chức khi sử dụng mạng xã hội

 Thời gian qua, tình trạng một số cán bộ, công chức đưa ra phát ngôn thiếu chuẩn mực, lan truyền thông tin sai sự thật, thiếu trách nhiệm,... trên mạng xã hội dường như có chiều hướng xảy ra ngày càng nhiều, tạo nguy cơ gây dư luận xấu, tác động tiêu cực đến suy nghĩ, nhận thức của một bộ phận nhân dân. Đây là tình trạng đáng báo động, đòi hỏi cần phải được kịp thời chấn chỉnh.

Tự do tôn giáo ở Việt Nam: Sự thật không thể xuyên tạc

 

Thời gian gần đây tiếp tục xuất hiện những thông tin sai lệch, tiêu cực, những đánh giá phiến diện về tình hình hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng tại Việt Nam. Thực tế đó càng cần thiết phải lên tiếng bảo vệ sự thật, bảo vệ lẽ phải, tái khẳng định chính sách đúng đắn cũng như những thành tựu mà đất nước ta đã đạt được trong việc bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân.

100 năm ngày sinh Đại tướng Lê Đức Anh (1-12-1920): Những bài học từ chú Sáu Nam

 

Tôi thật may mắn được làm việc với nguyên Chủ tịch nước - Đại tướng Lê Đức Anh (Sáu Nam) trong giai đoạn ở Campuchia và sau này khi ông trở về Hà Nội. Đến khi ông nghỉ công tác, tôi vẫn thường xuyên gặp ông.

Tỉnh táo trước luận điệu xuyên tạc chuyện "từ thiện", hạ thấp vai trò Đảng, Nhà nước

 

Những thông tin giả, xấu độc trong mưa lũ, dịch bệnh có thể dẫn đến những hậu quả khôn lường, thậm chí khiến lòng người phân tâm, thiếu lòng tin vào Đảng, Nhà nước.

Tin mạng coi chừng... mất mạng



 “Nguyễn Đức Chung (NĐC) có tiền sử bị bệnh tâm thần”. Vì thế, NĐC “được xem xét tình tiết giảm nhẹ”.


Tin này từ đâu ra?  Thưa, từ một số trang mạng xã hội (MXH). Và từ một tờ “lề phải” nữa. Tất nhiên, dù đã gỡ, nhưng hẳn bản báo này chưa thể hết ê chề.

MỘT BỨC THƯ SẶC MÙI PHẢN ĐỘNG CỦA BẢO GIANG

 


 

Mấy ngày hôm nay, trên trang Danlambao loan tải một bức thư của Bảo Giang (Danlambao) “Thư gửi các đoàn đảng viên đảng cộng sản Việt Nam”. Nội dung của bức thư này cũng như các bài viết của Bảo Giang không có gì mới, vẫn là những luận điệu cũ rích, phản động, cố tình xuyên tạc sự thật lịch sử, bóp méo, vu khống trắng trợn đời tư của Chủ tich Hồ Chí Minh, trích dẫn một số câu nói của một vài đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước tại một thời điểm nào đó, rồi suy diễn thiển cận, thiếu căn cứ khoa học với ý đồ làm lung lay ý chí, gây hoang mang trong nhân dân nói chung và cho các thế hệ đoàn viên thanh niên và đảng viên cộng sản trước thềm Đại hội XIII. Chính tác giả đã tâm sự, “sinh ra ở Thái Bình, nhưng đã phải sớm bám theo đôi quang gánh của mẹ, bước theo hướng đi của cha để vào nam năm 1954”, như vậy, tính ra tác giả cũng đã đến tuổi” thất thập cổ lai hy” rồi. Những năm 1954, 1955 và 1956, “chiến dịch con đường tự do” gần 1 triệu người dân miền Bắc di cư vào miền Nam, tính riêng năm 1954 thì khoảng 700.000 người trong đó 76% là người công giáo. Ở đây cũng phải rạch ròi, sự kiện di cư vào miền Nam lúc này vẫn thuộc Liên hiệp Pháp quản lý; điểm ra đi vùng tập kết quân sự phía Bắc do Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiểm soát. Số người di cư do hải quân Hoa Kỳ và quân đội viễn chinh Pháp giúp đỡ phương tiện, những chiếc tầu há mồm, những cảnh cuốn gói, hạ lá cờ của Pháp tại cảng Hồng Gai, Hải Phòng, vẫn còn ghi dấu tích. Không phải tất cả những người bỏ quê cha đất tổ ra đi, cũng như những người sau này vượt biên dưới mọi hình thức, rời bỏ Tổ quốc Việt Nam trở thành những việt kiều nơi đất khách để tìm một cuộc sống mới mà họ cho rằng tốt hơn... Đảng và Nhà nước Việt Nam tôn trọng quyền lựa chọn của người dân. Chỉ những người nào rời bỏ quê hương, rời bỏ Tổ quốc rồi quay lại chửi bới, bôi xấu, phản bội quê cha đất tổ, nơi đã nuôi dưỡng mình trưởng thành thì mới đáng lên án, phê phán. Còn những người di cư vì lý do nào đó nhưng vẫn luôn hướng về nguồn cội, muốn góp sức để xây dựng quê hương đất nước, làm việc có ích cho cộng đồng, họ là những người Việt Kiều yêu nước thì Tổ quốc, Đảng và Nhà nước Việt Nam sẵn sàng giang tay chào đón. Tất cả những bài viết với luận điệu bôi xấu lãnh tụ Hồ Chí Minh, xúc phạm anh linh của Người, nhằm hạ bệ thần tượng, muốn làm suy giảm lòng tin của nhân dânViệt Nam thì đều đáng bị lên án và loại bỏ. Chính bản thân Bảo Giang đã không ít lần viết những bài bôi xấu đời tư của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thậm chí còn cho rằng “Nguyễn Ái Quốc thật đã chết năm 1931 vì bệnh lao phổi” và “Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có tên là Hồ Tập Chương” khi viện dẫn trong một tác phẩm phản động, không có căn cứ xác đáng năm 2008 của người có tên Hồ Tuấn Hùng nào đó...Thật là hàm hồ, cho đến bài viết này Bảo Giang đã tự tay tát thẳng vào mặt mình với những lập luận tỏ ra ngu dốt không hiểu gì về cuộc đời hoạt động bí mật của những người cộng sản mà điển hình là Nguyễn Ái Quốc. Bảo Giang lấy căn cứ ở đâu cho rằng “Hồ Chí Minh là đảng viên đảng cộng sản Trung cộng”? Và trích dẫn lời khai năm 1924 của Nguyễn Ái Quốc “Tôi là một người Trung Quốc chứ không phải là một người An Nam (Việt Nam) và tên tôi là Lý Thụy chứ không phải là Nguyễn Ái Quốc” để muốn chứng minh rằng Hồ Chí Minh là người Trung Quốc? Bảo Giang thật là quá ấu trĩ, ngây thơ về chính trị. Chẳng nhẽ trước mặt quân thù đang tìm, để diệt Nguyễn Ái Quốc mà lại “lạy ông tui ở bụi này” à? Người dân Việt Nam không bao giờ lại tin những bài viết vớ vẩn, với những ngôn từ sặc mùi phản động, nói xấu một lãnh tụ thiên tài của Đảng, vị Cha già của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới. Hình ảnh của Hồ Chủ tịch luôn mãi mãi trong mọi trái tim của người dân đất Việt. Chúng ta đã và đang đi theo con đường của Bác đã chọn, tiếp tục sự nghiệp vĩ đại của Người. Bởi vì Người đã hi sinh cả cuộc đời vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất non sông, vì hạnh phúc của muôn dân. Trong Điếu văn Hồ Chủ tịch năm 1969 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam do Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đọc tại tang lễ có đoạn viết “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra HỒ CHỦ TỊCH, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta”.

Tiếp theo, nói về miền Nam và “nắng tự do”, dù đã sống tại miền Nam sau này di tản chạy ra nước ngoài, đã từng ăn lương của Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu, Bảo Giang cũng cố gắng viết vài câu ca ngợi song vẫn cố tình gắn mấy lời trăng trối của quan thầy Ngô Đình Diệm “Nếu bọn Việt Cộng thắng, thì quốc gia Việt Nam cũng sẽ bị tiêu diệt và sẽ biến thành một tỉnh nhỏ của Trung hoa cộng sản...” (Đồng Cam Tuy Hòa 17/9/1955). Sự thật rõ như ban ngày từ năm 1975 đến nay, 45 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, Việt Nam chúng ta tiếp tục phát triển toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực, tạo nhiều điểm nhấn nổi trội được thế giới ghi nhận. Chúng ta đã thoát khỏi tình trạng đói nghèo lạc hậu, từng bước xây dựng một nước Việt Nam đang phát triển, độc lập tự do, hùng cường, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Ở đây Bảo Giang không dám trích dẫn lời nói cuối cùng của tên tướng bạc nhược, thua trận Nguyễn Văn Thiệu với câu nói để đời “tùy nghi di tản” ngày 30/4/1975 mà lại trích dẫn “Đừng nghe những gì cộng sản nó nói. Nhưng hãy nhìn kỹ những điều chúng làm” và coi đó là di ngôn ngắn gọn của Nguyễn Văn Thiệu. Cuối cùng, tôi muốn nói với Bảo Giang ở cái tuổi thất thập cổ lai hy rồi, hãy gắng sống cho thanh thản làm gương cho con cháu, chứ đừng có ảo tưởng, theo đóm ăn tàn của bọn “khoác áo tự do dân chủ” với những suy diễn hàm hồ, chẳng qua chỉ là ngồi lê, hóng hớt, bên rìa đất nước, nhận định các sự kiện nóng theo định hướng tiêu cực, chống phá cách mạng Việt Nam của thế lực thù địch, các phần tử phản động cơ hội chính trị trong và ngoài nước, luôn luôn coi việc chống phá Đảng là một trọng điểm, tìm mọi cách xuyên tạc, phủ định sạch trơn vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam. Những luận điệu phản tuyên truyền, đòi đa nguyên đa đảng, xúc phạm lãnh tụ, hạ bệ thần tượng, muốn làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, muốn lật đổ chính quyền trước sau cũng bị vạch mặt chỉ tên. Nhân dân Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh, đã đối mặt với nhiều loại kẻ thù không dễ gì để bắt nạt, dễ gì đi theo bọn phản động với những luận điệu phản động xuyên tạc có cố đến mấy không làm lung lạc niềm tin của người dân Việt Nam đối với sự lãnh đạo của Đảng. Chứ không hề có “Một tổ chức mà toàn dân Việt Nam muốn triệt hạ, để đưa Việt Nam vào một ngày mai tốt đẹp hơn....” như Bảo Giang từng mơ tưởng hão huyền, tự sướng, không có cơ sở khoa học nào cả.

Các thế hệ Đoàn viên thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và các thế hệ Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ không kết bạn với những kẻ nói xấu, hạ bệ lãnh tụ của họ, bôi đen, xuyên tạc, tổ chức của họ, nhằm mục đích lật đổ chính quyền, chặn đứng con đường mà họ đã lựa chọn. Vậy nên ông Bảo Giang ngoa ngôn hoang tưởng trầm trọng đừng có tung tin xuyên tạc kiểu này. Chào ông nhé./.

 

Nhận diện các thủ đoạn xuyên tạc công tác nhân sự trước Đại hội XIII của đảng

 



Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021

Quốc hội vừa ban hành Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021.


 

Nghị quyết nêu rõ, năm 2021 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp, là năm đầu tiên thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2021-2030 và Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2021-2025 theo Nghị quyết của Đảng, Quốc hội.

Tình hình quốc tế, trong nước dự báo có những thời cơ, thuận lợi, khó khăn, thách thức đan xen, trong đó đại dịch COVID-19 tiếp tục tác động tiêu cực trên nhiều mặt đến kinh tế thế giới và nước ta.

Trong bối cảnh đó, mục tiêu tổng quát đề ra cho năm 2021 là tập trung thực hiện hiệu quả mục tiêu vừa phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe nhân dân, vừa phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội trên cơ sở giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; thúc đẩy mạnh mẽ cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tính tự chủ và sức cạnh tranh, phát triển mạnh thị trường trong nước.

Bên cạnh đó, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án quan trọng và công trình trọng điểm quốc gia; phát huy vai trò của các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị lớn; đẩy nhanh chuyển đổi số và phát triển nền kinh tế số, xây dựng xã hội số.

Một mục tiêu tổng quát nữa là chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; phát huy mạnh mẽ giá trị văn hóa, trí tuệ con người Việt Nam, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, niềm tự hào dân tộc; thực hiện tốt các nhiệm vụ phát triển văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, thuận lợi để khơi thông các nguồn lực cho phát triển; tăng cường kỷ luật, kỷ cương; nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống vi phạm pháp luật, tham nhũng, lãng phí và giải quyết khiếu nại, tố cáo; làm tốt công tác thông tin truyền thông, tạo đồng thuận xã hội.

Củng cố quốc phòng, an ninh; đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế; giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, môi trường hòa bình, ổn định, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an ninh, an toàn, lành mạnh, phục vụ cho phát triển nhanh, bền vững đất nước; nâng cao vị thế, uy tín của nước ta trên trường quốc tế.

Nghị quyết đã đề ra một số chỉ tiêu chủ yếu. Cụ thể, tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng khoảng 6%. GDP bình quân đầu người khoảng 3.700 USD. Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân khoảng 4%. Tỷ trọng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng khoảng 45-47%.

Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội khoảng 4,8%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 66%, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ khoảng 25,5%. Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế khoảng 91%.

Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều) giảm 1-1,5 điểm phần trăm. Có trên 90% dân cư khu vực thành thị được cung cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung. Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị trên 87%. Tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường khoảng 91%. Tỷ lệ che phủ rừng khoảng 42%.

Thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững

Quốc hội cơ bản tán thành các nhiệm vụ, giải pháp do Chính phủ, Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao trình và các cơ quan của Quốc hội kiến nghị trong các báo cáo thẩm tra, giám sát chuyên đề. Đồng thời, Quốc hội đề nghị Chính phủ và các cơ quan liên quan thực hiện tốt các yêu cầu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu.

Cụ thể, các cơ quan triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chương trình, kế hoạch công tác đã đề ra để tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, bầu cử Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; theo dõi sát, tập trung phân tích, đánh giá, dự báo tình hình quốc tế, trong nước để chủ động chuẩn bị phương án, kịch bản, biện pháp, đối sách ứng phó kịp thời, hiệu quả với những biến động lớn và vấn đề mới phát sinh.

Quốc hội đề nghị Chính phủ và các cơ quan liên quan tiếp tục thực hiện hiệu quả các biện pháp phòng, chống và giảm thiểu thiệt hại từ đại dịch COVID-19 và các dịch bệnh khác; đẩy nhanh việc nghiên cứu, hợp tác quốc tế trong sản xuất vắcxin và có giải pháp để người dân tiếp cận vắcxin phòng dịch COVID-19 sớm nhất.

Đẩy mạnh hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phục hồi và thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững trên cơ sở giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; thực hiện các giải pháp tài khóa, tiền tệ phù hợp để kích thích tổng cầu, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, các ngành, lĩnh vực trọng yếu; rà soát sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách, quy định của pháp luật, nhất là trong lĩnh vực thuế, đất đai, tài nguyên, môi trường, đầu tư, xây dựng, thương mại, quản lý thị trường… để tiếp tục hoàn thiện, khắc phục những tồn tại, hạn chế, yếu kém hiện nay.

Ngoài ra, Chính phủ đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tính tự chủ, khả năng thích ứng và sức cạnh tranh của nền kinh tế dựa trên nền tảng của khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; chú trọng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, nhất là đầu tư công theo hướng tập trung nguồn lực cho cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng.

Đẩy nhanh cơ cấu lại ngành nông nghiệp cho phù hợp với từng vùng miền, phát triển kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới; thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp quy mô lớn theo nhu cầu thị trường; chuyển đổi cây trồng, vật nuôi phù hợp, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo đảm hiệu quả và an ninh lương thực vững chắc; theo dõi chặt chẽ diễn biến dịch bệnh, thiên tai để chủ động có các biện pháp phòng, chống hiệu quả...

Theo Vũ Phương Nhi/Baochinhphu.vn

 

Bỏ chứng chỉ ngoại ngữ, tin học và cam kết của Bộ trưởng Nhạ

Tháng 12 là thời hạn mà Bộ trưởng Bộ GDĐT Phùng Xuân Nhạ đưa ra để dứt điểm việc xoá chứng chỉ ngoại ngữ, tin học cho giáo viên. Đó là quy định “hành” giáo viên trong 12 năm trời.

Chứng chỉ từng là nỗi ám ảnh không chỉ của giáo viên. Tranh Đan

Năm ngoái, Báo Lao Động kể câu chuyện đầy nước mắt của cô giáo Hương- một giáo viên mầm non ở huyện miền núi Bắc Kạn đã phải chảy đôn chạy đáo kiếm cho được mấy chứng chỉ ngoại ngữ, tin học để có thể trụ lại với nghề.

Nó vô lý ở chỗ, giáo viên mầm non thì cần gì chứng chỉ ngoại ngữ, tin học. Có thì để làm gì và dạy ai? Không có câu trả lời, nhưng quy định là thế không có thì…trượt!

Cái sự vô lý rõ ràng tới mức là các quy định về chứng chỉ ngoại ngữ, tin học tồn tại bao nhiêu lâu nay đã hình thành một thị trường ngầm nhưng đầy sôi động: thị trường cung cấp dịch vụ, mua bán chứng chỉ.

Chỉ cần gõ lên Google cụm từ dịch vụ chứng chỉ, trong vòng chưa đầy 1 phút cho ra … hơn 300 triệu kết quả với đầy đủ lời mời chào hấp dẫn.

Trở lại câu chuyện của Hương, cô không tin là sẽ có sự thay đổi. Cô nói với phóng viên Lao Động: "Có phản ánh thêm nhiều bài nữa thì tình trạng này cũng không thể chấm dứt được. “Luật nó quy định thế". Đa số không đáp ứng được thì phải gian lận, phải mua thôi. Không gian lận chỗ này thì chỗ khác tổ chức, còn tinh vi hơn, thu tiền "chống trượt" cao hơn và giáo viên lại khổ thêm”.

Hương đã sai và thật may mắn, những lời kêu cứu mà cô giáo Hương nói rằng “xót hơn muối” đại diện cho 1,2 triệu giáo viên đã có lời hồi đáp, dẫu rằng, lời hồi đáp ấy có muộn mằn.

Bỏ chứng chỉ ngoại ngữ, tin học không có nghĩa là không cần trang bị kiến thức. Ngược lại, vẫn có những kỳ kiểm tra năng lực sử dụng ngoại ngữ và tin học. Song, nó không còn là cái “gông”, là nỗi khiếp sợ của giáo viên nữa.

Xa hơn, việc thay đổi này sẽ tác động để Bộ Nội vụ sửa quy định về văn bằng chứng chỉ tin học, ngoại ngữ để không còn là gánh nặng với cán bộ công chức, viên chức.

Chỉ còn hơn một tháng nữa để Bộ trưởng Nhạ thực hiện cam kết của mình để khẳng định nỗ lực, cố gắng của ngành giáo dục và của cá nhân Bộ trưởng. Nỗ lực ấy cũng chứng minh một điều: Những bất cập đến mức vô lý bắt buộc sẽ phải thay đổi và sẽ thay đổi được nếu những “Tư lệnh ngành” hiểu và quyết tâm làm.

Cả triệu giáo viên đang chờ Bộ trưởng hoàn thành cam kết của mình!

Theo Linh Anh/Báo Lao động

Nêu cao ý thức cảnh giác trước các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, trước thềm Đại hội XIII của Đảng

Có thể nhận thấy, trước thềm Đại hội XIII, các thế lực thù địch đang tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ở nước ta, hòng reo rắc tâm lý hoài nghi, hoang mang trong toàn bộ hệ thống chính trị và toàn dân, làm mất vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi chế độ chính trị theo hướng xã hội phương Tây. Điểm cần lưu ý là, ở bất kỳ thủ đoạn nào, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch cũng diễn ra ngày càng tinh vi, xảo quyệt, khó lường với các chiêu thức tưởng chừng vô hại, song vô cùng nguy hiểm, gây ra những tác hại khôn lường đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, cũng như thành quả của gần 35 năm đổi mới đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo. Đồng thời, các luận điệu xuyên tạc nêu trên của các đối tượng phản động, cơ hội chính trị đang trực tiếp tác động tới tâm lý, tư tưởng, tinh thần của toàn xã hội, phương hại đến uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Do đó, nêu cao cảnh giác, nhận diện đầy đủ các thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và thực hiện đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả các biện pháp đấu tranh phòng, chống những luận điệu xuyên tạc hiện nay là một trong những nhiệm vụ chính trị sống còn, thường xuyên của cách mạng Việt Nam, là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, vì mục tiêu xây dựng xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” theo con đường chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn.

 

 

Nhận diện một số thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trước thềm Đại hội XIII của Đảng

 Thời gian gần đây, trước những diễn biến phức tạp trong quan hệ quốc tế, những khó khăn, thách thức nảy sinh do tác động tiêu cực từ nguy cơ khủng hoảng kinh tế toàn cầu do đại dịch Covid-19, các thế lực thù địch liên tục tung ra những luận điệu xuyên tạc để chống phá cách mạng Việt Nam trước thềm Đại hội XIII. Đặc biệt, tình trạng phát tán những thông tin với các luận điệu xuyên tạc, vu cáo, bôi nhọ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chế độ xã hội, thành quả cách mạng của Nhân dân ta... lại được họ thực hiện một cách dồn dập trên Internet, các trang mạng xã hội, các đài phát thanh, báo, tạp chí, website... Có thể nhận thấy một số thủ đoạn chính mà những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch tập trung chống phá cách mạng Việt Nam đòi hỏi chúng ta phải nêu cao cảnh giác. Cụ thể:

 Đưa ra những thông tin và quan điểm sai trái phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; gây mâu thuẫn nội bộ, vu cáo, bịa đặt, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Kêu gọi thay đổi chế độ chính trị, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập với âm mưu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và đòi phi chính trị hóa Quân đội...

Lợi dụng tình hình phức tạp trong đời sống quốc tế hiện nay, nhất là việc tranh chấp chủ quyền căng thẳng trên Biển Đông, các thế lực thù địch đẩy mạnh tuyên truyền bôi nhọ, chia rẽ Đảng, Nhà nước với Nhân dân. Chúng kích động đòi thay đổi bộ máy lãnh đạo của Đảng để cứng rắn hơn với yêu sách chủ quyền trên Biển Đông của Trung Quốc. Thủ đoạn này, bề ngoài thể hiện lòng yêu nước, nhưng thực chất là lợi dụng để tuyên truyền xuyên tạc đường lối đối ngoại và chủ trương, giải pháp của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong việc giải quyết tình hình căng thẳng trên Biển Đông và các vấn đề quốc tế hiện nay.

Dưới chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “tôn giáo” các phần tử phản động cố tình xuyên tạc, vu cáo Đảng Cộng sản Việt Nam áp đặt dân chủ trong công tác chuẩn bị nhân sự cho Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII. Họ tìm mọi cách tố cáo Việt Nam vi phạm “dân chủ”, “nhân quyền”, từ đó tác động và kêu gọi các nước, các tổ chức quốc tế gia tăng sức ép với Việt Nam... nhằm gây chú ý của dư luận, tạo áp lực với Đảng, Nhà nước ta. Thậm chí, họ thường xuyên lan truyền những thông tin thất thiệt, cho rằng việc tăng cường xử lý kỷ luật cán bộ, đảng viên và đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong bộ máy của Đảng và Nhà nước ta là biểu hiện thanh trừng, đấu đá nội bộ, và nếu Việt Nam theo mô hình chính thể của thuyết “tam quyền phân lập” thì không có tham nhũng nhiều như thế. Từ đó gây tâm lý bi quan, hoài nghi vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ./.

 

VÕ THỊ SÁU BIỂU TƯỢNG CỦA CHỦ NGHĨA ANH HÙNG CÁCH MẠNG

 Thời kháng chiến chống Pháp, Chị Võ Thị Sáu là người phụ nữ duy nhất bị thực dân Pháp đày ra Côn Đảo và hành hình tại Côn Đảo. Gương kiên trung bất khuất của Chị đã trở thành niềm tự hào của tuổi trẻ cả nước. Chị hiện hữu trong lòng người dân như một vị anh hùng đã hy sinh vì độc lập tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân.

Chị Võ Thị Sáu là một người con trung hiếu, người đồng chí sắt son được nhân dân tin yêu, kính phục. Cuộc đời và sự nghiệp của Chị đã được ghi vào lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam, lịch sử Phụ nữ Nam bộ, lịch sử Đảng bộ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, lịch sử huyện Đất Đỏ và lịch sử nhà tù Côn Đảo. Tên tuổi và sự nghiệp của Chị Võ Thị Sáu cũng đã được suy tôn vào hàng những nhân vật tiêu biểu của Từ điển bách khoa Công an nhân dân. Được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc đến trân trọng như những bậc anh hùng liệt sỹ tiêu biểu của dân tộc.
Ngày 02/8/1993 Chủ tịch Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký Quyết định 149/KT/CTN truy tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam” cho Liệt nữ Võ Thị Sáu.
Tấm gương bất khuất của chị Võ Thị Sáu đã được nhân dân và Nhà nước tôn vinh như một biểu tượng của chủ nghĩa Anh hùng cách mạng. Tên của chị Võ Thị Sáu đã được đặt cho nhiều con đường, ngôi trường, công viên, tên Đoàn, tên Đội, tên quỹ học bổng... trên khắp mọi miền của Tổ quốc. Và chị là hình tượng đẹp để thế hệ trẻ noi theo.