Thứ Tư, 17 tháng 2, 2021

Đấu tranh đấu tranh phòng, chống chủ nghĩa cơ hội gắn với phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên

 

Đấu tranh đấu tranh phòng, chống chủ nghĩa cơ hội gắn với phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên

Chủ nghĩa cơ hội và cuộc đấu tranh phòng chống chủ nghĩa cơ hội hiện nay là yêu cầu khách quan, đòi hỏi phải gắn chặt với phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, góp phần vào tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Chủ nghĩa cơ hội ra đời cùng với quá trình hình thành và phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Trong thời kỳ 1864 khi quốc tế I được thành lập đến 1914. Chủ nghĩa cơ hội từ một vài xu hướng, bè phái cơ hội như Frudong, Baculin đã phát triển thành một lực lượng chính trị đáng kể trong các Đảng chủ chốt của quốc tế II, dẫn tới sự phân liệt sâu sắc phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, cuối cùng dẫn tới sự phá sản của quốc tế II.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, các Đảng cộng sản và công nhân quốc tế vừa phải tập trung đấu tranh chống lại giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản để thực hiện mục tiêu cuối cùng giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, vừa phải tiến hành cuộc đấu tranh rất quyết liệt, phức tạp và lâu dài với một loại kẻ thù bên trong giấu mặt, trá hình giả danh chủ nghĩa Mác, chống lại chủ nghĩa Mác, phản bội lại phong trào cách mạng đó là chủ nghĩa cơ hội.

Vậy chủ nghĩa cơ hội là gì? Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: Chủ nghĩa cơ hội là hệ thống quan điểm chính trị không theo một định hướng, một đường lối rõ rệt, không có chính kiến hẳn hoi, ngả nghiêng nhằm mưu lợi trước mắt. Trong phong trào cách mạng vô sản, chủ nghĩa cơ hội là chính trị thỏa hiệp, cải lương, hợp tác vô nguyên tắc, trái với lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Trên thực tế chủ nghĩa cơ hội có hai khuynh hướng chủ yếu: Chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh có tính chất cải lương thiên về thỏa hiệp muốn "cải biến" một cách hòa bình, chủ nghĩa tư bản thành chủ nghĩa xã hội từ bỏ đấu tranh giành thắng lợi thực sự về tay giai cấp công nhân. Chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh tiêu biểu là Becstanh và Causky tồn tại trong các Đảng công nhân thời quốc tế II cho đến tận ngày nay. Từ nửa sau thế kỷ XX chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh xuất hiện như một thứ chủ nghĩa xét lại hữu khuynh. Chủ nghĩa cơ hội "tả" khuynh là sự pha trộn giữa cực đoan và phiêu lưu, giáo điều, manh động, chủ quan, sùng bái bạo lực, không đếm xỉa tới tình thế khách quan. Chủ nghĩa cơ hội “hữu” hay “tả” khuynh đều đẩy phong trào công nhân đi đến hy sinh vô ích và thất bại.

Bản chất chủ nghĩa cơ hội là trào lưu tư tưởng đối lập với chủ nghĩa Mác- Lênin, là tàn dư tư tưởng tư sản, tiểu tư sản trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Là sự hy sinh lợi ích cơ bản lâu dài của giai cấp công nhân, của dân tộc, vì lợi ích trước mắt của một nhóm, một bộ phận, là sự đầu hàng trước những trào lưu tư tưởng tư sản và phản bội lại chủ nghĩa Mác - Lênin. Chủ nghĩa cơ hội tồn tại dưới nhiều hình thức biểu hiện: Về lý luận đó là sự chiết trung, ngụy biện sẵn sàng thay đổi quan điểm tư tưởng cơ bản để trục lợi, về kinh tế thể hiện tư tưởng thực dụng sẵn sàng đánh đổi cả phong trào vì lợi ích trước mắt của một nhóm người, về hành động là phiêu lưu, lúc tả, lúc hữu, lúc nóng vội, lúc chủ quan sẵn sàng từ bỏ mục tiêu của phong trào sự nghiệp. Về thủ đoạn thì lươn lẹo lắt léo, luồn lách, sẵn sàng thỏa hiệp vô nguyên tắc với mọi trào lưu khi có lợi.

Chủ nghĩa cơ hội là kẻ thù bên trong, tồn tại với rất nhiều đặc điểm và rất nguy hiểm phá hoại Đảng, phá hoại phong trào từ bên trong. Muốn phòng chống chủ nghĩa cơ hội có hiệu quả để bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin. Tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, giữ vững bản chất cách mạng và khoa học của Đảng, chúng ta cần nhận rõ nguồn gốc nảy sinh và sự phát triển, nhận diện chủ nghĩa cơ hội hiện nay ở nước ta và tiến hành đồng bộ các giải pháp để đấu tranh phòng chống chủ nghĩa cơ hội trong tình hình hiện nay.

Chủ nghĩa cơ hội là một hiện tượng xã hội lịch sử, nảy sinh trong cuộc đấu tranh giữa hai hệ tư tưởng tư sản và vô sản, giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản. Cho nên chừng nào còn tồn tại cuộc đấu tranh này thì vẫn còn cơ sở cho chủ nghĩa cơ hội.

Chủ nghĩa cơ hội có nguồn gốc từ mâu thuẫn giai cấp và cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, giữa hệ tư tưởng vô sản và hệ tư tưởng tư sản, giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản gắn chặt với các điều kiện khách quan và chủ quan đó là:

*Về các điều kiện khách quan.

- Do sự bổ sung vào lực lượng cách mạng, gia nhập Đảng xuất thân từ những tầng lớp không vô sản, như nông dân, tiểu tư sản, tri thức,… Trong quá trình đấu tranh cách mạng phần lớn những thành phần này giác ngộ mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của phong trào cách mạng đã dũng cảm từ bỏ lập trường giai cấp của mình, đứng vững trên lập trường cách mạng của giai cấp công nhân thực hiện mục tiêu lý tưởng cộng sản chủ nghĩa: giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Tuy nhiên trong quá trình cách mạng có một số người không vượt qua được tàn dư tư tưởng giai cấp của mình cho nên khi cách mạng phát triển thuận lợi thì những tàn dư tư tưởng đó tạm thời bị đẩy lùi hoặc giấu kín, nhưng khi cách mạng gặp khó khăn thách thức thì những tàn dư tư tưởng này lại trỗi dậy làm nảy sinh khuynh hướng cơ hội, xét lại, cải lương, giáo điều, gây nhiều nguy hại cho Đảng và phong trào cách mạng.

- Trong cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận, các nhà tư tưởng tư sản, tìm mọi cách đưa các loại tư tưởng của họ xâm nhập vào trong Đảng cộng sản và phong trào cách mạng. Từ năm 1950, Mỹ đã hình thành chiến lược "Diễn biến hòa bình" nhằm mục tiêu chiến thắng chủ nghĩa xã hội không bằng chiến tranh!

- Các thế lực thù địch thực hiện chính sách hai mặt đối với phong trào cách mạng, một mặt chúng dùng bạo lực đàn áp, trấn áp phong trào làm cho một bộ phận lực lượng cách mạng hoảng sợ, lung lay ý chí, hoài nghi, dao động về con đường mục tiêu, lý tưởng cách mạng, tư bỏ lập trường cách mạng, thỏa hiệp chạy theo giai cấp tư sản. Mặt khác chúng dùng lợi ích kinh tế để mua chuộc, dụ dỗ, lôi kéo hình thành tầng lớp "công nhân quý tộc", "công nhân tư sản hóa", thành những Đảng viên thoái hóa biến chất làm tay sai cho giai cấp tư sản ẩn náu bên trong để chống phá Đảng, chống phá phong trào cách mạng.

* Về các điều kiện chủ quan:

- Trong quá trình lãnh đạo, các Đảng cộng sản và công nhân ở một số nước đã phạm sai lầm về đường lối và phương pháp tiến hành cách mạng, điều rất đáng lưu ý là các sai lầm này không được phát hiện hoặc phát hiện nhưng không được kiên quyết sửa chữa khắc phục dẫn đến tình trạng bất ổn nghiêm trọng, kinh tế trì trệ, khủng hoảng, xã hội rối loạn, nội bộ Đảng mất đoàn kết - Đây là điều kiện là cơ hội cho các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội nổi lên chống phá Đảng, chống phá cách mạng.

- Các Đảng cộng sản, công nhân ở một số nước đã coi nhẹ, buông lỏng công tác xây dựng Đảng, đáng chú ý là một số Đảng cộng sản đã xem nhẹ hoặc từ bỏ những nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới của chủ nghĩa Mác - Lê nin, coi nhẹ hoặc từ bỏ những nguyên tắc xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, cán bộ của chủ nghĩa Mác - Lênin tạo điều kiện cho các phần từ cơ hội chui sâu, leo cao vào trong hàng ngũ của Đảng phá hoại Đảng từ bên trong. Đây là nguyên nhân vừa sâu xa vừa trực tiếp dẫn tới Đảng cộng sản, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên xô, Đông âu sụp đổ.

Nhận rõ bản chất, những biểu hiện chủ yếu, nguồn gốc và nguy cơ của chủ nghĩa cơ hội đối với sự tồn vong của Đảng và sự thành bại của phong trào cách mạng, cho nên đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội dưới mọi màu sắc “tả” khuynh, hữu khuynh, giáo điều, xét lại không chỉ là yêu cầu tất yếu của phong trào cách mạng mà còn là quy luật, bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ và xây dựng Đảng cộng sản trong sạch vững mạnh cả về chính trị tư tưởng và tổ chức.

Lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã ghi nhận, chủ nghĩa cơ hội thời nào cũng có, nhưng thường xuất hiện công khai và phát triển vào những thời điểm cách mạng gặp những khó khăn thách thức hoặc các bước ngoặt của cách mạng.

Thời kỳ từ năm 1864 đến 1914, Mác, Ănghen và những người Mácxít chân chính đã phải liên tục đấu tranh với các loại chủ nghĩa cơ hội như Fruđông, Baculin Aizonếc, Látxan, Môs tơ, Bécxtanh, Cauxky. Từ thập kỷ đầu tiên của Thế kỷ XX, Lênin và những người Bôxêvich Nga đã đấu tranh quyết liệt chống phái "Dân túy" phái “Mác xít hợp pháp” phái "Kinh tế" ở Nga, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội của Bécxtranh và Cauxky và đặc biệt đấu tranh chống bệnh “ấu trĩ” tả khuynh chống chủ nghĩa xét lại trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Từ năm 1946 đến 1980, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã đấu tranh quyết liệt với chủ nghĩa cơ hội của Troxky và chủ nghĩa xét lại Khorutxốp, đấu tranh chống bệnh giáo điều, rập khuôn máy móc và tệ sùng bái cá nhân…

Trong tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam do những nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau, phong trào cách mạng cũng có một số thời điểm chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa cơ hội trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Tuy nhiên chưa có thời kỳ nào xuất hiện chủ nghĩa cơ hội với tư cách một lực lượng, một phong trào có khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của cách mạng. Nhưng trong những thời điểm cách mạng gặp khó khăn thách thức gay gắt và nhất là trước các bước ngoặt của phong trào cách mạng đã xuất hiện những tư tưởng, những biểu hiện cơ hội dưới hai hình thức tả khuynh, hữu khuynh với mức độ khác nhau. Thời kỳ 1930 - 1940, khi Đảng ta mới ra đời lãnh đạo phong trào cách mạng, tại Đại hội Đảng lần thứ I, (3-1935) đã có một nhận định: “Hiện thời trong Đảng ta còn có những xu hướng đầu cơ (cơ hội) "tả" khuynh và hữu phái cả về lý thuyết và thực hành".

Đáng chú ý là sự xuất hiện quan điểm tư tưởng ấu trĩ "tả" khuynh phê phán một vài luận điểm cuốn sách "Đường cách mệnh": "Là cuốn sách huấn luyện đầy rẫy những lý thuyết đầu cơ (cơ hội) cải lương, duy tâm, quốc gia chủ nghĩa". Trong chỉ đạo khẩu hiệu hành động, có Đảng bộ đã đưa ra khẩu hiệu: Trí, phú, địa, hào đào tận gốc, trốc tận rễ! và một vài Đảng bộ như Thông cáo cho đồng chí của Trung ương trong quý 3 năm 1930 đã chỉ rõ: "Tuy là mấy xã ấy (mấy xã ở huyện Thanh Chương, Nam Đàn, Nghệ An) có đủ giác ngộ, đủ hăng hái tranh đấu. Song chưa có dự bị vũ trang. Hiện nay theo hoàn cảnh trong nước. Trình độ dự bị của vô sản và quần chúng lao khổ thành phố, nhà quê trình độ dự bị của Đảng, tình hình của địch thủ, thì thực hành lẻ tẻ bạo động riêng trong một vài địa phương là manh động chủ nghĩa, chứ không phải là chủ trương đúng. "Đó là điều mà các cấp Đảng bộ phải nhận cho rõ để tránh khỏi cái… manh động".

Thời kỳ từ năm 1954 đến 1975, có một số thời điểm trong thời kỳ này như trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức “Chúng ta đã phạm nhiều sai lầm. Đó là những sai lầm nghiêm trọng, phổ biến, kéo dài về nhiều mặt. Những sai lầm về những vấn đề nguyên tắc và điều lệ của một Đảng theo chủ nghĩa Mác - Lênin, trái với pháp luật của Nhà nước dân chủ nhân dân… gây ra những tổn thất rất lớn”. Những nguyên nhân trực tiếp đã gây ra những sai lầm nghiêm trọng trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức được nghị quyết, hội nghị trung ương lần thứ 10 mở rộng, khóa II về công tác cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức chỉ rõ: "Trong khi chỉ đạo thực hiện, việc lãnh đạo tư tưởng đã có nhiều lệch lạc lúc đầu phong trào mới thực hiện, phương châm chống hữu, phòng "tả" là đúng. Nhưng về sau trong phong trào đã có những sai lầm "tả" khuynh. Sự chỉ đạo không những đã không phát hiện được những sai lầm, mà lại cứ một chiều nhấn mạnh chống hữu khuynh, gây ra một cao trào chống hữu trong Đảng, không chú ý đến việc phòng “tả” do đó mà những sai lầm "tả" khuynh càng trở nên trầm trọng".

Thời kỳ từ 1976 đến 1986, trong chỉ đạo thực hiện đường lối kinh tế của Đại hội IV và Đại hội V, Báo cáo chính trị từ Đại hội VI, Đảng ta đã chỉ rõ: "Trong 10 năm qua đã phạm nhiều sai lầm trong việc xác định bước đi, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và cơ chế quản lý kinh tế đã lỗi thời" "cho tới nay cơ chế tập trung quan liêu bao cấp về căn bản chưa bị xóa bỏ". "Công cuộc cải tạo XHCN đã có nhiều biểu hiện nóng vội, muốn xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế phi XHCN, nhanh chóng biến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc doanh." "Những sai lầm nói trên là những sai lầm nghiêm trọng kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện" "Khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm ấy đặc biệt là những sai lầm về chính sách kinh tế, là bệnh chủ quan duy ý chí lối suy nghĩ và hành động nóng vội, chạy theo nguyện vọng chủ quan, là khuynh hướng buông lỏng trong quản lý kinh tế, xã hội, không chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và nguyên tắc của Đảng. Đó là tư tưởng tiểu tư sản vừa "tả" khuynh, vừa hữu khuynh". "Chúng ta vừa chủ quan nóng vội, vừa bảo thủ, trì trệ".

Sau 30 năm đổi mới ngày 30 tháng 10 năm 2016, Hội nghị lần thứ IV Ban Chấp hành trung ương (khóa XII) chỉ ra 27 biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, suy thoái đạo đức lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Thực chất là những biểu hiện cụ thể với các mức độ khác nhau của những cán bộ, đảng viên chịu sự tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội trên thế giới sau sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu, từ mặt trái của kinh tế thị trường, từ các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược "diễn biến hòa bình" lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, "dân chủ”, “nhân quyền" và những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để xuyên tạc, bóp méo tình hình cổ xúy cho lối sống hưởng thụ, thực dụng, ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa, đồng thời cấu kết với các phần từ cơ hội, bất mãn chính trị trong nội bộ hoạt động ráo riết chống phá cách mạng ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn. Còn Nguyên nhân sâu xa, trực tiếp của bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa” trước hết là do bản thân những cán bộ Đảng viên này thiếu tu dưỡng rèn luyện, lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ vụ lợi, lợi ích nhóm. Số thoái hóa về tư tưởng chính trị. Từng bước chuyển thành các phần tử cơ hội chính trị cùng với những phần tử thoái hóa biến chất về đạo đức lối sống nếu không đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tất yếu sẽ dẫn đến sự tồn vong của Đảng và sự mất còn của chế độ XHCN.

Nhận thức sâu sắc nguyên nhân và nguy cơ của tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay đòi hỏi Đảng ta phải thực sự tăng cường có hiệu quả công tác xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.

Thực chất cuộc đấu tranh ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị đạo đức lối sống, "tự diễn biến" "tự chuyển hóa" là cuộc đấu tranh “sống mái”, lâu dài chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, cải lương, xét lại và chống chiến lược "diễn biến hòa bình" của các thế lực, thù địch.

Trong cuộc đấu tranh phòng chống kẻ thù tư tưởng bên trong, chúng ta phải nắm vững bản chất cách mạng khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện quyết liệt 4 nhóm giải pháp của Nghị quyết TW4 Khóa XII, cụ thể là 10 nội dung của giải pháp về công tác chính trị tư tưởng, tự phê bình và phê bình. 6 nội dung của giải pháp về cơ chế chính sách, 8 nội dung về giải pháp kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng; 5 nội dung về giải pháp phát huy vai trò của nhân dân và mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị xã hội.

Hơn lúc nào hết cần tăng cường và đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng chống chủ nghĩa cá nhân, phòng chống tư tưởng cơ hội chính trị và các phần tử cơ hội trong nội bộ, đẩy mạnh xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng, bảo đảm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, giành những thắng lợi mới trong sự nghiệp tiến hành đồng bộ công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

 

Những kẻ mang danh “tù nhân lương tâm”



Gần đây, các thế lực thù địch, phản động tiếp tục bám vào những đối tượng được đặt cho cái tên rất kêu là “tù nhân lương tâm” để chống phá Việt Nam thông qua vấn đề dân chủ, nhân quyền. Song, ngẫm lại thì thấy các chiêu bài chống phá ấy cuối cùng vẫn chỉ xoay quanh việc đưa ra những luận điệu xuyên tạc, cùng với đó là những đòi hỏi đi ngược với luật pháp và thực tế nhằm đánh lừa dư luận về tình hình bảo đảm quyền con người ở nước ta.

Đảng, Bác Hồ, Dân tộc và mùa Xuân

(TG) - Xuân Tân Sửu năm nay là mùa Xuân đầu thập niên thứ ba của thế kỷ XXI. 

Dấu ấn sâu sắc của mùa Xuân này là thành công rực rỡ của Đại hội XIII của Đảng. Đại hội khai mạc ngày 25/1 và bế mạc ngày 2/2/2021, đúng mười ngày trước khi Tết Tân Sửu đến. Đại hội đã nêu cao phương châm Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Sáng tạo - Phát triển.
Có câu hỏi đặt ra: Phải chăng phương châm 10 chữ ấy được xếp đặt theo thứ tự quan trọng của vấn đề? Tôi không nghĩ như vậy. Đoàn kết đương nhiên rất quan trọng nhưng không có nghĩa là quan trọng hơn dân chủ, kỷ cương. Đoàn kết, dân chủ, kỷ cương là rất quan trọng nhưng cũng không có nghĩa là quan trọng hơn sáng tạo, phát triển. 
Vì sao? 
 Ai cũng hiểu, sự nghiệp cách mạng, đổi mới của chúng ta là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân. Đoàn kết không chỉ là yêu cầu chính trị mà còn là sức mạnh, là động lực của phát triển. Bác Hồ từng nói:
 Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết 
Thành công, thành công, đại thành công 
Nhưng đoàn kết phải trên cơ sở dân chủ. Dân chủ có nghĩa là dân làm chủ, dân là chủ. Cách mạng phải dựa vào lực lượng của nhân dân, tinh thần của nhân dân, để gây hạnh phúc cho nhân dân. Nhưng đối với nhân dân ta, dân chủ không phải ai muốn làm gì thì làm, làm theo kiểu vô chính phủ mà là dân chủ phải đi đôi với kỷ cương, pháp luật. 
Với Đảng ta, dân chủ không phải là phân tán, mà là theo nguyên tắc tập trung dân chủ, nghĩa là thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên; thảo luận dân chủ, tự do tư tưởng để mọi người bày tỏ ý kiến của mình một cách tự do, nhưng khi đã qua thảo luận, tìm thấy chân lý thì quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý. Đoàn kết, dân chủ, kỷ cương là nói đến nội dung dân chủ, nhưng thứ dân chủ mà chúng ta cần không phải là chủ nghĩa giáo điều, sao chép, lặp lại nguyên si sách vở, mà dân chủ để phát huy tính sáng tạo, và sáng tạo để phát triển. “Khát vọng phát triển” là cụm từ được ghi rõ trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng: “Với hướng đi đúng đắn, khát vọng phát triển mãnh liệt và quyết tâm chính trị cao, đất nước ta nhất định sẽ lập nên kỳ tích phát triển mới, vì một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc...”. 
Trở lại chủ đề của bài viết này: Đảng, Bác Hồ, Dân tộc và Mùa Xuân, chúng ta hãy cùng nhau có cái nhìn khái quát về lịch sử. 
 Chín mươi mốt năm trước đây, một sự trùng hợp ngẫu nhiên đã trở thành lịch sử. Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh triệu tập đã họp đúng vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc ta, mùa Xuân năm Canh Ngọ 1930. Từ đó đến nay, nói đúng hơn là từ ngày cách mạng thành công, đất nước ta giành được độc lập, tự do (1945) thì mỗi lần dân tộc ta mừng Xuân là một lần mừng Đảng ta lớn mạnh. Đất nước, Dân tộc và Đảng gắn liền với nhau một cách keo sơn. Bác Hồ là lãnh tụ tối cao của Đảng, của dân tộc. Hình ảnh Bác luôn có mặt không chỉ trong những ngày xuân mà cả trong toàn bộ cuộc sống của nhân dân, của dân tộc ta, trong từng ngày, từng tháng, suốt cả bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. 
Đối với Đảng ta, Đất nước và Dân tộc là mẹ cha; Đảng của giai cấp công nhân là con cái nhưng lại là đội tiên phong chiến đấu. Mục tiêu, lý tưởng cao cả của Đảng là đất nước độc lập, tự do, nhân dân ấm no, hạnh phúc, xã hội không có áp bức bất công, con người được sống trong mùa xuân vĩnh viễn. 91 năm chiến đấu của Đảng là 91 năm Đảng được dân tộc ta sinh thành, nuôi dưỡng và giao phó những trọng trách. Chín mươi mốt năm ấy, hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, chiến công nối tiếp chiến công. Đảng ta không phụ lòng Đất nước và Dân tộc. Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập, mở ra kỷ nguyên mới độc lập, tự do. Hai cuộc kháng chiến trường kỳ, đánh thắng hai đế quốc to, đã đưa dân tộc ta lên ngang hàng các dân tộc tiên phong, ghi đậm dấu ấn sâu sắc của những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại. Rồi 46 năm qua, nước nhà thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội, một cuộc trường chinh mới đầy vinh quang nhưng cũng nhiều thử thách vì một cuộc sống mới, một tương lai nhiều lần tốt đẹp hơn. Trong cuộc hành trình vạn dặm, dù bên cạnh những thành tích to lớn còn có những sai lầm khuyết điểm không nhỏ, Đảng ta luôn xứng đáng là đội tiên phong của một đất nước anh hùng, một dân tộc vĩ đại. 
Bước vào thế kỷ XXI, đất nước ta bước vào một thời kỳ mới của sự phát triển. Hai thập niên đầu gắn liền với 4 kỳ Đại hội Đảng IX, X, XI và XII. Và mỗi kỳ Đại hội Đảng đều là dấu mốc khơi dậy niềm tin và hy vọng. Trong hai thập niên đầu ấy, có ba mùa xuân có ý nghĩa mở đầu: 
Xuân Tân Tỵ (2001), Xuân Tân Mão (2011) và nay Xuân Tân Sửu (2021). 
Xuân Tân Tỵ 2001, với Đại hội IX của Đảng, là xuân ước vọng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa để đến năm 2010, đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020, cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. 
Xuân Tân Mão 2011, với Đại hội X của Đảng, đã cất lên lời reo vui: Nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển. Và một lần nữa, khẳng định quyết tâm hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2020, cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Xuân Tân Sửu 2021 này, với Đại hội XIII của Đảng, đang cháy bỏng khát vọng phát triển mạnh mẽ đất nước một cách toàn diện, đồng bộ, như phần trên đã nói: Cái khát vọng phát triển ấy là đến năm 2025, tức là 5 năm tới, Việt Nam sẽ là nước công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Năm 2030, kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Đảng ta, là nước công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Và đến giữa thế kỷ XX, tương ứng năm 2045, kỷ niệm Nhà nước độc lập của ta tròn tuổi 100, trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có thu nhập cao. 
Vâng. Đối với Dân tộc ta, độc lập tự do là mùa Xuân vĩnh viễn. 
Chủ nghĩa xã hội cũng là mùa Xuân vĩnh viễn. 
Nói đến Xuân Tân Sửu năm nay, tôi bỗng nhớ đến Xuân Tân Sửu năm 1961, cách đây đã 60 năm. Một lục thập hoa giáp đã trôi qua! 
Tôi nhớ Bài ca Xuân 61 của Tố Hữu: 
Xuân ơi Xuân, vui tới mông mênh 
Biển vui dâng sóng trắng đầu ghềnh 
Thơ đã hát, mát trong lời chúc 
Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh... 
Năm ấy, Bác Hồ đã có thơ chúc Tết đồng bào: 
Mừng năm mới, mừng xuân mới 
Mừng Việt Nam, mừng thế giới 
 Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh 
 Lời chúc tết của Bác Hồ đã truyền cảm hứng cho nhà thơ Tố Hữu. Và cho đến nay, lời thơ ấy của Bác vẫn còn vang vọng trong trái tim mỗi người chúng ta khi mùa Xuân đến./. 
                                                                                                                           Xuân Tân Sửu 2021 
 Hà Đăng

91 năm thành lập Đảng: Xứng đáng với đánh giá 'Đảng ta thật là vĩ đại'

Thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam trong 91 năm qua chứng tỏ sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, lập nhiều kỳ tích. Trải qua 91 năm, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện đã lãnh đạo nhân dân ta vượt qua muôn ngàn khó khăn, thử thách, làm nên những kỳ tích vĩ đại trong lịch sử dân tộc, đóng góp xứng đáng vào phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, vì hoà bình và tiến bộ của nhân loại. Với những cống hiến to lớn đó, Đảng vô cùng xứng đáng với lời đánh giá của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng: “Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng: Đảng ta thật là vĩ đại.” Nhìn lại lịch sử từ giữa thế kỷ XIX khi đất nước chưa có Đảng lãnh đạo để thấy, mặc dù nhân dân, dân tộc ta đã dũng cảm vùng lên không chịu khuất phục trước sự xâm lược, áp bức, đè nén của chủ nghĩa thực dân nhưng không thành công. Điển hình như cuộc khởi nghĩa của Trương Định, Thủ Khoa Huân, Tôn Thất Thuyết, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám… Cách mạng Việt Nam chìm trong cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước. Ngày 3/2/1930, sau gần 20 năm đi tìm đường cứu nước, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là sự kiện trọng đại, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữa nước của dân tộc; là bước ngoặt vĩ đại, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước và tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX và cũng là điểm mở đầu quyết định cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam và sự phát triển của dân tộc trong các giai đoạn sau này. Sau khi ra đời, gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân tin tưởng tuyệt đối, chỉ trong vòng 15 năm, Đảng ta đã lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, tiến hành ba cao trào cách mạng gồm Cao trào cách mạng 1930-1931, với đỉnh cao là phong trào Xô Viết-Nghệ Tĩnh, Cao trào cách mạng đòi dân sinh, dân chủ (1936-1939) và Cao trào cách mạng giải phóng dân tộc (1939-1945), để đến năm 1945, khi thời cơ cách mạng chín muồi, Đảng đã lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám "long trời, lở đất," lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà vào ngày 2/9/1945. Và ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời, cách mạng cùng một lúc phải đương đầu với "giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm." Trong hoàn cảnh hiểm nghèo đó, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta vượt qua tình thế "ngàn cân treo sợi tóc," bảo vệ và xây dựng chính quyền non trẻ, đồng thời chuẩn bị mọi mặt để bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Trên cơ sở đường lối kháng chiến "toàn dân," "toàn diện," "trường kỳ," "dựa vào sức mình là chính," phát huy truyền thống đoàn kết, yêu nước của toàn dân tộc, Đảng đã lãnh đạo nhân dân lần lượt đánh bại mọi âm mưu, kế hoạch xâm lược của kẻ thù, đặc biệt là thắng lợi trong Chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 với đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu," buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Geneva (năm 1954), chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Từ năm 1954 đến năm 1975, đất nước bị chia cắt làm hai miền. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, miền Bắc vừa nỗ lực xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa dốc sức làm tròn nghĩa vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn. Nhân dân miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh kiên cường để giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Với tinh thần "thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ," "không có gì quý hơn độc lập, tự do;" trên cơ sở đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng, với sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào ngày 30/4/1975. Thắng lợi đó "mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc." Sau ngày giang sơn thống nhất, cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta, từ Đại hội VI trở đi, xuất phát từ sáng kiến và nguyện vọng của nhân dân, đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới chưa từng có tiền lệ trên đất nước ta. Thực tế, sau 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Từ một nước nghèo, lạc hậu, chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, lại bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã vượt lên phát triển kinh tế khá nhanh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu và tích cực, chủ động hội nhập quốc tế. Trong suốt 35 năm qua, kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng khá ấn tượng. Nếu như trong giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990) mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm chỉ đạt 4,4% thì giai đoạn 1991-1995, GDP bình quân đã tăng gấp đôi, đạt 8,2%/năm; các giai đoạn sau đó đều có mức tăng trưởng khá cao; giai đoạn 2016-2019 đạt mức bình quân 6,8%. Mặc dù năm 2020 kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19 nhưng tốc độ tăng GDP của Việt Nam vẫn thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao nhất khu vực và thế giới. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố và tăng cường; chính trị-xã hội ổn định; độc lập, chủ quyền quốc gia được giữ vững; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia tăng lên nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp. Thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam trong 91 năm qua đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, lập nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam. Thông qua quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng được tôi luyện và ngày càng trưởng thành, xứng đáng với vai trò và sứ mệnh lãnh đạo cách mạng và sự tin cậy, kỳ vọng của nhân dân. Thực tiễn đó khẳng định một chân lý: Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác./. Theo vietnamplus.vn

Mãi mãi niềm tự hào về Đảng Cộng sản Việt Nam

Mùa Xuân năm nay thêm phần đặc biệt khi chào đón tuổi thứ 91 của Đảng Cộng sản Việt Nam chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Mùa Xuân là mùa đầu tiên của năm, mùa của cây cối vạn vật sinh sôi, mùa của những khởi đầu mới, mùa của những hy vọng mới. Như một sự sắp đặt ngẫu nhiên của lịch sử, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng ra đời vào mùa Xuân và Đảng đã mang đến những mùa xuân tươi đẹp cho dân tộc, mang đến cho dân tộc những khởi đầu mới, những hy vọng và hạnh phúc mới để giành được sự tin tưởng của nhân dân cùng tên gọi trìu mến “Đảng ta”. Mùa Xuân năm nay có lẽ thêm phần đặc biệt khi kỷ niệm Đảng ta bước sang tuổi 91 (3/2/1930-3/2/2021) và chào mừng Đại hội XIII (25/1-2/2), một kỳ Đại hội diễn ra trong hoàn cảnh hết sức đặc biệt, kỳ Đại hội sẽ đánh dấu một chặng đường mới của Đảng và dân tộc ta. Trong thời điểm đặc biệt này, tôi lần giở lại những trang sử vẻ vang của Đảng ta, càng thêm phần thán phục, tự hào vì mỗi trang sử của Đảng đều được in dấu bằng máu xương, bằng nỗ lực phi thường để vượt qua những tình huống khó khăn. Ngay từ những năm tháng đầu tiên sau khi thành lập, Đảng ta đã dẫn dắt dân tộc vượt qua những thử thách sinh tồn ghê gớm, ý chí và bản lĩnh Cách mạng của Đảng đã dẫn dắt dân tộc giành chiến thắng trước thực dân Pháp, đế quốc Mỹ,... giữ vững toàn vẹn lãnh thổ của dải đất hình chữ S. Trong những cuộc đấu tranh kiên cường đó, bản lĩnh chính trị của Đảng đã được phát huy để trở thành sức mạnh đoàn kết toàn thể dân tộc, huy động sức mạnh và sự ủng hộ của nhân loại toàn thế giới để làm nên những chiến thắng lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Những bài học về sự lãnh đạo của Đảng trong quá trình đấu tranh bảo vệ Tổ quốc có lẽ không chỉ có ý nghĩa đối với dân tộc ta mà còn trở thành một “hiện tượng” hiếm có trên thế giới và thực tế đã trở thành động lực, cổ vũ cho phong trào đấu tranh và sự vươn lên của các dân tộc cho đến tận ngày nay. Bước ra khỏi chiến tranh, với một nền kinh tế nhỏ yếu, phải gánh trên vai bao vết thương của cuộc chiến, những đòi hỏi của sự phát triển một lần nữa đặt lên vai của Đảng, là thử thách để khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới. Nếu những năm 70, 80 thử thách là vượt qua cuộc khủng hoảng về kinh tế - xã hội thì đến thập niên 90 của thế kỷ XX, đó là thử thách về giữ vững chế độ chính trị trước làn sóng thoái trào của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Nhưng rồi chính hoàn cảnh khó khăn lại tạo ra cho Đảng ta ý chí và sức mạnh mới để lập nên những thành tựu mới. Đảng đã đề xướng công cuộc Đổi mới, trở thành một cuộc "Cách mạng" vĩ đại trong thời bình. Thành quả của công cuộc Đổi mới không chỉ là đưa đất nước ta ra khỏi khủng hoảng mà còn kiến tạo nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo cho đất nước một diện mạo mới; không chỉ giữ vững được chế độ xã hội chủ nghĩa mà còn nâng tầm và ngày càng hoàn thiện chế độ, củng cố vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế. Bước vào nhiệm kỳ Đại hội XII, cùng với những thành tựu và thắng lợi, Đảng ta cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn khi tình hình quốc tế biến động. Nền kinh tế còn nhiều thiếu sót trong khi đó tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa chưa được giải quyết triệt để. Với sứ mệnh lịch sử trước đất nước và nhân dân, Đảng ta đã một lần nữa phát huy bản lĩnh Cách mạng, mạnh dạn nhìn thẳng vào những hạn chế, yếu kém, quyết liệt đấu tranh với những mặt hạn chế và tồn tại. Nhìn lại nhiệm kỳ Đại hội XII, ấn tượng nhất có lẽ là tinh thần quyết liệt xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, kiên quyết loại bỏ mọi Đảng viên vi phạm với tinh thần không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, xây dựng và chỉnh đốn Đảng đã làm trong sạch đội ngũ, siết chặt lại sức mạnh của Đảng. Chính những thành tựu từ công cuộc xây dựng Đảng đã giúp cho đất nước ta đạt những thành tựu vẻ vang cả về kinh tế, văn hóa, thể thao, quốc phòng, an ninh hay đối ngoại. Thành tựu trong cuộc chiến với dịch Covid-19 có lẽ là biểu hiện mạnh mẽ nhất cho sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng, cho sự ưu việt và vững mạnh của chế độ chính trị của đất nước ta, thể hiện cho ý chí và tinh thần vươn lên không ngừng của dân tộc Việt Nam. Tự hào về Đảng quang vinh, là một Đảng viên, một sinh viên đang học tập tại nước Nga, tôi cũng dành trọn niềm tin cho Đại hội XIII của Đảng, cho sự kiện trọng đại của đất nước. Đại hội diễn ra trong bối cảnh hết sức đặc biệt với nhiều thành tựu quan trọng của Đảng, của dân tộc nhưng cũng còn đó không ít thách thức, nhất là trong bối cảnh quốc tế hết sức biến động. Hướng tới Đại hội XIII, Đảng ta đã có quá trình chuẩn bị hết sức công phu, kỹ lưỡng cả về văn kiện và nhân sự. Dự thảo văn kiện của Đại hội có nhiều điểm mới, đã nêu ra một tầm nhìn dài hạn cho dân tộc với điểm nhấn là nêu cao khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Tôi nghĩ rằng đó chính là sự kế thừa cho truyền thống vinh quang của dân tộc, của Đảng, dù luôn phải đối mặt với khó khăn, thách thức nhưng luôn giữ mãi một tinh thần vượt khó vươn lên. Bản lĩnh, ý chí Cách mạng của Đảng, khát vọng phồn vinh và hạnh phúc của dân tộc đã trở thành “quốc bảo” dẫn dắt đất nước và dân tộc ta vượt qua muôn vàn khó khăn, muôn vàn cuộc thử thách sinh tồn khắc nghiệt và sẽ tiếp tục phát huy mạnh mẽ trong giai đoạn hiện nay, thực hiện thắng lợi mục tiêu 2030, 2045 như văn kiện Đại hội XIII đã khẳng định. Mãi mãi tự hào về Đảng ta, dành trọn niềm tin về Đại hội XIII và sẵn sàng tiến tới, dấn thân, cống hiến trọn vẹn cho những chặng đường mới đang chờ đón Đảng và dân tộc ta cũng đúng như tinh thần trong bài hát Quốc ca thiêng liêng của đất nước “Tiến lên, cùng tiến lên, nước non Việt Nam ta vững bền”. Nguồn TG&VN: https://baoquocte.vn/mai-mai-niem-tu-hao-ve-dang-cong-san-viet-nam-134897.html

“Bí kíp” 5T+ tăng cường sức khỏe phòng chống dịch bệnh

Theo tư vấn của bác sĩ Nguyễn Vũ Linh - Trưởng Trung tâm dinh dưỡng Vinamilk, để bảo vệ bản thân, gia đình trước dịch bệnh, mọi người cần tiếp tục tuân thủ nguyên tắc 5K (Khẩu trang - Khử khuẩn - Khoảng cách - Không tập trung - Khai báo y tế) của Bộ Y tế. Bên cạnh đó, tăng cường sức khỏe bên trong cũng góp phần giúp mỗi người khởi động một năm mới khỏe khoắn, nhiều niềm vui. Sau đây là 5 gợi ý dễ nhớ, dễ thực hiện với tên gọi 5T+.

5 CÂN ĐỐI LỚN TRONG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

 Chiều 17-2, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì cuộc họp Thường trực Chính phủ, kiểm điểm công tác bảo đảm Tết Nguyên đán Tân Sửu 2021.

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG LÀ NHIỆM VỤ CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh với những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân; trong đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên là lực lượng tiên phong.

KỲ VỌNG LỚN CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM ĐỐI VỚI SỰ THÀNH CÔNG TỐT ĐẸP ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 


 

         Mùa Xuân Tân Sửu đã về trên khắp mọi miền của Tổ quốc. Cả nước đón Xuân mới với trong niềm vui hân hoan. Những người nông dân như tôi cũng cảm thấy ấm lòng khi năng lực lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Chính Phủ ngày càng tốt, đất nước ngày càng đổi mới. Giữa phức tạp của đại dịch Covid 19, nhân dân vẫn vững niềm tin vào Đảng, vào chế độ và tận hưởng cuộc sống yên bình hạnh phúc, cơm ngon, áo đẹp. Càng vui hơn, khi Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã diễn ra thành công tốt đẹp. Nhân dân cả nước hướng về Đại hội với niềm tin tưởng tuyệt đối và hy vọng Đại hội có những quyết sách đúng đắn để tiếp tục đưa đất nước phát triển bền vững, đồng thời bầu ra Ban chấp hành Trung ương mới với những con người hội đủ đức, tài để chèo lái con thuyền cách mạng tiếp tục vươn xa hơn nữa trên trường quốc tế, sánh vai với các cường quốc năm châu như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn. Và thật vui mừng sau 1 tuần làm việc, sáng ngày 01 tháng 02 năm 2021, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã họp phiên bế mạc, khép lại một kỳ Đại hội thành công tốt đẹp, đáp ứng kỳ vọng của người dân Việt Nam.

TẤT CẢ ĐỂ ĐẤT NƯỚC VUI XUÂN, ĐÓN TẾT AN TOÀN

 Mặc dù phải đối mặt với thời tiết khắc nghiệt trên các tuyến biên giới, nhưng với tinh thần “Tất cả để nhân dân vui Xuân, đón Tết an toàn”, cán bộ, chiến sĩ BĐBP đã nỗ lực khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, ngày đêm tuần tra, kiểm soát chặt chẽ các đường mòn, lối mở biên giới và kiểm soát chặt chẽ các cửa khẩu.

Đồng thời, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm, bảo vệ sự bình yên cho đồng bào các dân tộc trên địa bàn biên giới, biển đảo. Những hy sinh, gian khổ đó không những góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ “kép” của lực lượng BĐBP, mà còn tô thắm hình ảnh "Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân./.

Hải Đăng ST

Âm mưu thủ đoạn chống phá Đảng trong lĩnh vực đạo đức

  

“Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhất là trong tình hình hiện nay diễn ra hết sức phức tạp, vẫn là một trong những nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra. Âm mưu, thủ đoạn của chúng thực hiện ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong lĩnh vực đạo đức cũng vậy, tính chất cũng hết sức tinh vi, xảo quyệt và nguy hiểm. Có thể nhận diện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá Đảng trong lĩnh vực đạo đức, lối sống ở cán bộ, đảng viên trên một số nội dung sau đây:

Thứ nhất, các thế lực thù địch bằng nhiều thủ đoạn ra sức phá hoại nền tảng tư tưởng đạo đức của Đảng.

 Nền tảng tư tưởng đạo đức của Đảng là hệ tư tưởng, bản chất cách mạng và mục tiêu lý tưởng của Đảng. Trong các văn kiện của Đảng đã chỉ rõ: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh;… Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam”. 

Chính vì vậy, các thế lực thù địch tập trung xuyên tạc, chống phá. Chúng xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bản chất cách mạng, truyền thống vẻ vang của Đảng ta, cho rằng Đảng không vì lợi ích của nhân dân, do đó cán bộ, đảng viên mới suy thoái về đạo đức, lối sống, tham ô, tham nhũng, nhũng nhiễu nhân dân. Qua đó, sẽ chệch phương hướng và mục tiêu lý tưởng chiến đấu, phai nhạt bản chất giai cấp công nhân, trượt sang chính trị tư sản. Thực chất đó là phá bỏ nền tảng đạo đức cách mạng của Đảng.

Cần khẳng định rõ nền tảng đạo đức của Đảng là hệ tư tưởng, bản chất, mục tiêu lý tưởng của Đảng. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, nhân dân ta giành được chính quyền, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc, với mục đích duy nhất là giữ vững độc lập, tự do của Tổ quốc, giải phóng nhân dân khỏi mọi áp bức, bóc lột, xây dựng cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc. Đó là đạo đức của Đảng ta. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Ngoài lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Đảng ta không có lợi ích gì khác”. Là một Đảng chân chính cách mạng, Đảng trung thành tuyệt đối với lợi ích của giai cấp công nhân, của toàn thể dân tộc và nhân dân Việt Nam. Điều đó vừa thể hiện sâu sắc giá trị lý luận và thực tiễn về công tác xây dựng Đảng; vừa thể hiện một cách đúng đắn và nhuần nhuyễn tính giai cấp, tính tiền phong, trí tuệ và đạo đức trong công tác xây dựng Đảng. Đồng thời, đó còn là tư tưởng chỉ đạo để Đảng ta và mỗi cán bộ, đảng viên hành động đúng tôn chỉ, mục đích của Đảng, làm cho Đảng ta thực sự là đội tiên phong, gắn bó mật thiết với nhân dân, một lòng, một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc. Đó là giá trị đạo đức của Đảng ta.

Thứ hai, các thế lực thù địch đã khuếch trương những hạn chế, khuyết điểm trong bộ máy Đảng, Nhà nước làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên dao động, thiếu tin tưởng, tha hóa về đạo đức, lối sống. 

Chúng tìm mọi cách để cổ súy một số cán bộ, đảng viên nhìn nhận đạo đức cách mạng, lối sống xã hội chủ nghĩa sai lệch, chỉ thấy tiêu cực, mặt xấu, không thấy những giá trị đạo đức, lối sống tốt đẹp của dân tộc, của cách mạng. Qua đó, làm mất dần cái tốt, cái tiến bộ, làm tăng dần cái xấu, cái lạc hậu, làm chậm lại quá trình phát triển dẫn đến sự yếu kém, hư hỏng, thoái hóa, biến chất của chính bản thân con người và tổ chức về đạo đức, lối sống. Do suy thoái cho nên, những cán bộ, đảng viên này đổ lỗi cho đạo đức, lối sống truyền thống của dân tộc. 

Thứ ba, các thế lực thù địch cổ súy, du nhập lối sống tư sản vào một bộ phận cán bộ, đảng viên làm cho họ tha hóa về đạo đức, lối sống. 

Các thế lực thù địch ra sức cổ súy, du nhập lối sống buông thả, ngại học tập, phấn đấu, rèn luyện vào một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức, có quyền. Qua đó, làm cho họ tha hóa; có cán bộ, đảng viên “sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc”. Những cán bộ, đảng viên như vậy thường ngại rèn luyện, phấn đấu, lười suy nghĩ, lười học tập; luôn tìm cách để hình thành “cơ chế ngầm”, “cánh hẩu”, bảo vệ, bao che khuyết điểm cho nhau, trù dập những người thẳng thắn đấu tranh phê bình, những người bảo vệ công bằng, bình đẳng, bảo vệ sự nghiệp và lý tưởng cách mạng. Họ du nhập, sống theo lối sống tư sản, coi thường lẽ phải, đạo lý; bắt chước, học đòi coi đó như là “mốt thời thượng”. Những điều đó đã dẫn đến suy thoái đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Thứ tư, các thế lực thù địch thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ làm tha hóa đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. 

Từ chỗ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ làm tha hóa đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên dẫn đến những vi phạm kỷ luật cơ quan, cao hơn là vi phạm pháp luật của Nhà nước; cổ súy lối sống thực dụng; khuyến khích làm trái quan điểm, đường lối của Đảng; lợi dụng những hạn chế, khuyết điểm trong bộ máy để xuyên tạc, kích động...  

Thứ năm, các thế lực thù địch thúc đẩy suy thoái về tư tưởng chính trị làm cho suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên trầm trọng hơn. 

Hội nghị Trung ương 4 khóa XI nhận định: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc”. Đây là mức độ rất nguy hiểm của suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hiện nay. Vì vậy, các thế lực thù địch ra sức thúc đẩy suy thoái về tư tưởng chính trị làm cho suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên trầm trọng hơn.

Thứ sáu, các thế lực thù địch bóp méo, xuyên tạc các mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, với quân đội để làm suy thoái các quan hệ đạo đức của cán bộ, đảng viên. 

Mục đích của chúng nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng với xã hội và thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Các thế lực thù địch xuyên tạc mối quan hệ trong nội bộ quân đội, rằng quan hệ cấp trên - cấp dưới, cán bộ - chiến sĩ đã “không còn như trước nữa, vì mức sống đã quá chênh lệch”, rằng cán bộ, sĩ quan “chỉ biết lo cho bản thân”; chúng triệt để lợi dụng khuyết điểm, hạn chế, những hiện tượng tiêu cực ở một số ít cán bộ, chiến sĩ để xuyên tạc mối quan hệ máu thịt quân - dân; rêu rao “quân đội không còn gần gũi, gắn bó với nhân dân nữa”; đã “không thực hiện đúng” nhiệm vụ bảo vệ nhân dân, “chỉ lo bảo vệ Đảng, Nhà nước”. Các thế lực thù địch cố tình làm biến dạng, méo mó bản chất các mối quan hệ của quân đội. Đây là một điểm mấu chốt để cổ súy cho suy thoái đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên. 

Nhằm chia rẽ Đảng với quân đội, các thế lực thù địch cố tình cắt xén nội hàm phẩm chất trung thành của quân đội ta, đối lập sự trung thành với Đảng, với nhân dân và dân tộc. Chúng đưa ra luận điệu: Quân đội “không cần dựa vào hệ tư tưởng nào”, “không cần đặt dưới sự lãnh đạo của đảng chính trị nào”, đồng thời xuyên tạc, bóp méo nhiều giá trị đạo đức cách mạng với mục đích gây “nhiễu loạn” về nhận thức dẫn đến tha hóa về tư duy, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên. 

Những âm mưu, thủ đoạn nêu trên của các thế lực thù địch tạo ra những mối nguy hiểm khôn lường, đồng thời khiến cho chúng ta gặp nhiều khó khăn trong quá trình nhận biết và đưa ra các giải pháp đấu tranh phòng, chống. 

Chúng ta khó “nhận mặt chỉ tên” cụ thể đâu là “diễn biến hòa bình”, đâu là suy thoái đạo đức, lối sống và đâu là hạn chế, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên. Sự khó khăn này dễ dẫn đến lúng túng trong xác định quan điểm, nội dung, biện pháp đấu tranh, sao cho đúng và trúng, cũng như trong thực tiễn tổ chức đấu tranh, ngăn ngừa.

Thứ Ba, 16 tháng 2, 2021

MỘT SỰ TRÙNG HỢP CỦA LỊCH SỬ !

 Ngày 5 Tết Tân Sửu (16/2/2021) là ngày nhân dân ta long trọng tổ chức kỉ niệm 232 năm Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa, do người Anh hùng dân tộc Quang Trung- Nguyễn Huệ lãnh đạo, đã đập tan 29 vạn quân xâm lược Thanh ngay trên mảnh đất Thủ đô Thăng Long lịch sử!

Chiều ngày 5 Tết Kỷ Dậu (30/1/1789), ngồi trên bành voi chiến tiến vào Thăng Long, lúc này còn ngổn ngang đầy xác giặc, Vua Quang Trung dõng dạc tuyên bố trước ba quân và nhân dân Thành Thăng Long: “ĐÁNH CHO SỬ TRI NAM QUỐC ANH HÙNG CHI HỮU CHỦ!”
Một sự trùng hợp ngẫu nhiễn năm nay cũng sau ngày mồng 5 Tết Tân Sửu (17/2/2021), chúng ta cũng kỷ niệm tròn 42 năm ngày Trung Quốc đưa hơn 60 vạn quân, phát động cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc! Và cũng là ngày mở đầu cho một thất bại lớn vô cùng ê chề của giới cầm quyền Bắc Kinh khi họ định “dạy cho Việt Nam một bài học!” Họ định “dạy” gì cho Việt Nam thì chưa biết, nhưng chắc chắn nhân dân Việt Nam đã “dạy” cho bọn xâm lược TQ ngấm một đòn đau nhớ đời - đó là dù hung hăng càn rỡ đến đâu thì rốt cuộc, TQ cũng phải trả một giá đắt cho những hành động ngang ngược của mình! Bởi cách đây gần 1000 năm, Anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt cũng từng tuyên bố “Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm / Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!” ( Cớ sao quân giặc dám xâm phạm / Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời)! Và Quang Trung Nguyễn Huệ (năm 1789) cũng hùng hồn tuyên bố “Đánh cho sử tri Nam Quốc anh hùng chi hữu chủ”! ( Đánh cho quân giặc biết nước Nam anh hùng là có chủ!). Dường như ở đây lịch sử đang lặp lại, rằng kẻ đi xâm lược luôn quên bài học lịch sử của họ? Chỉ đến khi quân TQ bị nhân dân Việt Nam đánh cho tơi tả, thì chúng mới hiểu vì sao các đạo quân xâm lược trước đây đến VN, thì xác của quân TQ đã phải phơi đầy nội cỏ, đến nỗi tắc nghẽn cả cửa sông Bạch Đằng, rồi chất thành gò cao như núi ở Đống Đa- Thăng Long ! Rồi vì sao đầu tướng Liễu Thăng phải lìa rơi ở Ải Chi Lăng, và vì sao tướng Sầm Nghi Đống phải tự treo cổ tự vẫn đầy nhục nhã ở ngay Gò Đống Đa? Và vì sao tàn quân giặc được tha chết, từ tướng đến binh, khi “về đến nước vẫn còn tim đập, chân run”? (Đại cáo bình Ngô - Nguyễn Trãi). Chỉ vì chúng quá hung hăng và ngạo mạn, quá tàn độc và dám coi thường dân tộc VN !
Có giai thoại kể lại rằng: Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, mặc dù ông rất yêu chuộng hoà bình và tình hữu nghị của nhân hai nước Việt -Trung, song trong đấu tranh ngoại giao ông luôn tỏ rõ thái độ cứng rắn và kiên quyết khi phía TQ nhiều lần cố tình đổi trắng thay đen! Nhất là đối với vấn đề biển Đông và quần đảo Hoàng Sa, Nguyễn Cơ Thạch luôn khẳng định- đó là quần đảo từ lâu đời thuộc chủ quyền VN, đã được sử sách hai nước ghi rõ rành rành, cũng như được Liên hợp quốc thừa nhận! Trong một lần đối thoại, Ngoại trưởng TQ lập luận rằng, ở Hoàng Sa có rất nhiều hài cốt cổ của người TQ - điều đó chứng tỏ HS là của TQ? Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch tức thì đã chỉ thẳng vào mặt ông này và nói: “Nếu ông nói vậy thì xin mời ông hãy đến Gò Đống Đa ở Hà Nội của chúng tôi - ở đấy còn chất đống hàng vạn hài cốt của quân TQ đấy? Liệu ông có định nói rằng Thăng Long -Hà Nội cũng là đất của TQ không?”. Nghe vậy ngoại trưởng TQ tím bầm cả mặt !
Nhắc lại những điều trên đây để hi vọng rằng những kẻ luôn cậy mình là bá chủ, nước lớn thì hãy học thuộc các bài học lịch sử, trước hết là bài học của các tiền nhân đã từng hung hăng đưa quân đi gây chiến với các quốc gia láng giềng. Chỉ có trên tinh thần thượng tôn hoà bình, hữu nghị, tôn trọng độc lập và chủ quyền của các quốc gia & dân tộc khác- đó mới là kế bền lâu để giữ gìn hoà bình và phát triển của chính quốc gia mình !
Nhân dân VN luôn quý trọng và biết ơn nhân dân TQ đã từng giúp đỡ VN trong kháng chiến trước đây vì lợi ích hoà bình chung của hai dân tộc, hai quốc gia! Nhưng nhân dân VN quyết không bao giờ nhân nhượng cho bọn bá quyền BK, dù chỉ là một tấc đất, một ngọn núi, một nhành sông mà bao thế hệ người VN đã đổ máu,mồ hôi và nước mắt để gây dựng và gìn giữ vẹn toàn! TQ hãy luôn hiểu và ghi nhớ điều đó !
Mai Năm Mới (ST)

Đeo khẩu trang.Cứu người.

 Bảo vệ bản thân và mọi người xung quanh bằng cách tìm hiểu thông tin và thực hiện các biện pháp phòng ngừa thích hợp. Làm theo khuyến cáo của cơ quan y tế địa phương.

Để ngăn chặn COVID-19 lây lan, hãy:

Thường xuyên rửa tay. Dùng xà phòng và nước hoặc dung dịch rửa tay chứa cồn.
Giữ khoảng cách an toàn với những người đang ho hoặc hắt hơi.
Khi không thể giữ khoảng cách, hãy đeo khẩu trang.
Không chạm vào mắt, mũi hoặc miệng.
Khi ho hoặc hắt hơi, hãy dùng khăn giấy hoặc gập khuỷu tay lại để che mũi và miệng.
Hãy ở nhà khi bạn cảm thấy không khỏe.
Hãy đi khám nếu bạn bị sốt, ho và khó thở.
Nhớ gọi điện trước để nhà cung cấp dịch vụ y tế có thể nhanh chóng hướng dẫn bạn tìm đến cơ sở y tế phù hợp. Việc này không chỉ nhằm bảo vệ bạn mà còn ngăn ngừa sự lây lan của vi-rút và các bệnh truyền nhiễm khác.
Khẩu trang
Khẩu trang giúp ngăn chặn sự lây lan của vi-rút, không cho vi-rút truyền từ người đeo khẩu trang sang người khác. Tuy nhiên, chỉ đeo khẩu trang thôi thì không đủ để bảo vệ bạn khỏi COVID-19. Bạn phải kết hợp đeo khẩu trang với việc giữ khoảng cách và rửa tay sạch. Hãy làm theo khuyến cáo của cơ quan y tế địa phương.

“COVID19 GIAI ĐOẠN 3 - SỰ TIẾN BỘ CỦA VIỆT NAM LÀ CÓ THẬT”

 Từ Hoa Kỳ, đến Liên minh châu Âu và đến Ấn Độ, các cường quốc tự do đang gặp khủng hoảng.

NHÌN NHẬN CHO ĐÚNG VỀ ĐỘC LẬP

 Khi vừa giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước chưa được bao lâu thì đầu năm 1979, Tổ quốc ta lại một lần nữa đứng trước nguy cơ chiến tranh.

Cùng với những thay đổi trong quan hệ quốc tế giữa Trung Quốc và Liên Xô, đặc biệt là sau cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng tàn bạo càng giành chiến thắng, quan hệ Trung Quốc - Việt Nam cũng thêm căng thẳng và ngày càng dần xấu đi nghiêm trọng, thậm chí xảy ra tranh chấp, xâm lấn biên giới, do phía Trung Quốc không đạt được mục đích gây áp lực với Việt Nam trong vấn đề Campuchia.

Cuộc chiến xâm chiếm trên toàn tuyến biên giới Việt Nam bùng nổ sáng sớm ngày 17-2-1979 là kết quả một quá trình chuẩn bị, tính toán từ trước của Trung Quốc. Cụ thể, thực hiện tuyên bố của Đặng Tiểu Bình “dạy cho Việt Nam một bài học”. Trung Quốc đã chuẩn bị trước, tiến hành leo thang từng bước, từ gây áp lực trong vấn đề Campuchia, dựng lên “sự cố Hoa kiều” và chuẩn bị về binh lực đi đôi với việc tuyên truyền. Ngay từ cuối năm 1978, Trung Quốc đã âm thầm lựa chọn, điều động lực lượng binh lực cùng số lượng lớn trang thiết bị vũ khí áp sát trên toàn tuyến biên giới với Việt Nam. Đến trung tuần tháng 2-1979, Trung Quốc đã điều động tổng cộng 9 quân đoàn chủ lực và một số sư đoàn bộ binh độc lập với tổng số 32 sư đoàn, 6 trung đoàn xe tăng với hơn 500 xe tăng, 4 sư đoàn và nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không với khoảng 2.000 khẩu pháo... Bên cạnh đó, hơn 200 tàu chiến của hạm đội Nam Hải và hơn 900 máy bay được đặt trong tình trạng báo động cao độ. Cùng với chuyến công du của Đặng Tiểu Bình tới Mỹ vào tháng 1-1979, Trung Quốc cũng tiến hành xúi giục người Hoa ở Việt Nam từ bỏ quốc tịch Việt Nam để trở về Trung Quốc, đồng thời lập trạm đón tiếp ở biên giới, đưa tàu sang đón Hoa kiều về nước. Cũng từ tháng 1-1979, Trung Quốc bắt đầu đẩy mạnh các hoạt động trinh sát vũ trang để chuẩn bị cho chiến dịch xâm chiếm dọc biên giới với Việt Nam. Trong tháng 1 và tuần đầu tiên của tháng 2-1979, Trung Quốc đã gây ra hàng trăm vụ xâm phạm vũ trang vào lãnh thổ Việt Nam, từ gây hấn cho tới tập kích, bắn phá các đồn biên phòng và trạm gác của Công an; phục kích, bắt cóc người đưa về Trung Quốc...

Vào 3 giờ 30 phút rạng sáng 17-2-1979, quân Trung Quốc sử dụng pháo binh bắn phá một số mục tiêu trong lãnh thổ của nước ta, sau đó huy động 600.000 quân, trên 500 xe tăng, xe bọc thép, hàng nghìn khẩu pháo các loại tấn công toàn tuyến biên giới Việt Nam dài hơn 1.400km. Hướng tấn công chủ yếu của quân Trung Quốc là Lạng Sơn và Cao Bằng; hướng quan trọng là Lào Cai (Hoàng Liên Sơn); hướng phối hợp là Phong Thổ (Lai Châu); hướng nghi binh, thu hút lực lượng ta là Quảng Ninh và Hà Tuyên. Và như một số người Trung Quốc nói rằng đây chỉ là một “cuộc phản công tự vệ”?.

Trước tình cảnh Tổ quốc lâm nguy, quân và dân Việt Nam không còn con đường nào khác là buộc phải cầm súng chiến đấu để bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của mình. Với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, quân và dân ta, nhất là ở các tỉnh Việt Bắc và Tây Bắc, một lần nữa đã phát huy cao độ truyền thống cách mạng, sát cánh cùng các lực lượng vũ trang, kiên quyết chiến đấu, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Mặc dù sự chênh lệch về lực lượng, về vũ khí trang bị là rất lớn (quân Trung Quốc đông tới 60 vạn người cùng hàng nghìn xe tăng và pháo hạng nặng, Việt Nam vào ngày 17-2-1979 chỉ có lực lượng công an vũ trang, dân quân địa phương và 7 sư đoàn với tổng số quân khoảng 7 vạn người), nhưng, tinh thần chiến đấu của quân và dân ta là anh dũng vô song, ta chiến đấu ngoan cường, anh dũng chặn đứng bước tiến của đội quân đông hơn gấp bội. Những trận chiến đấu bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng khắc sâu vào tâm khảm chúng ta những chiến đấu anh dũng ở Pháo đài Đồng Đăng (Lạng Sơn); Bát Xát, Mường Khương (Lào Cai); Trà Lĩnh, Trùng Khánh (Cao Bằng); Pò Hèn (Quảng Ninh)…

Sự đánh trả dũng mãnh bảo vệ biên giới của quân và dân ta đã gây thiệt hại nặng nề cho quân Trung Quốc. Khoảng 6 vạn quân Trung Quốc đã bị thương vong cùng hàng trăm tù binh bị bắt sống. Thiệt hại nặng nề trên chiến trường, bị dư luận thế giới lên án, Trung Quốc buộc phải rút quân vào ngày 6-3-1979. Thế nhưng, để giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh khắc nghiệt này, nhân dân Việt Nam đã phải chịu những tổn thất nặng nề: hơn 30.000 cán bộ, chiến sĩ thương vong; hàng chục nghìn dân thường bị thiệt mạng. Các thị xã Cao Bằng, Lạng Sơn, Cam Đường, Lào Cai gần như bị hủy diệt hoàn toàn; tổng cộng có 320 xã, 735 trường học, 41 nông trường, 81 xí nghiệp, hầm mỏ và 38 lâm trường bị tàn phá; 400 nghìn gia súc bị giết, bị cướp. Khoảng 50% trong tổng số 3,5 triệu người ở 6 tỉnh biên giới bị mất nhà cửa, tài sản và phương tiện sinh sống. Nhà báo Nayan Chanda - người sáng lập và là Tổng Biên tập của Tạp chí trực tuyến chuyên viết về toàn cầu hóa YaleGlobal online thuộc trường Đại học Yale của Mỹ - người từng có mặt tại Việt Nam cả trước và sau khi đất nước ta thống nhất - đã mô tả những gì mà ông tận mắt chứng kiến: “Sau chiến cuộc, trong một chuyến đi Cao Bằng, tôi thật sự giật mình vì quân Trung Quốc đã san bằng gần như tất cả những gì có trên mặt đất, từ những tòa nhà công cộng cho đến bưu điện, trường học. Những ngọn đồi xanh tươi trở nên hoang tàn vì bom đạn”.

Nhìn lại cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc năm 1979, chúng ta một lần nữa thấy rõ sự thật lịch sử: Nhân dân Việt Nam không bao giờ chịu quỳ gối trước bất kỳ thế lực xâm lược ngoại bang nào. Nó khẳng định ý chí, sức mạnh bền bỉ của nhân dân Việt Nam quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thử thách để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc,

Quá khứ bi hùng đó nhắc nhở chúng ta, tất cả các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau, phải luôn tăng cường đoàn kết, xây dựng đất nước giàu mạnh để đủ sức đối phó với mọi tình huống trong một thế giới tiềm ẩn nhiều nguy cơ, bất trắc. Trên cơ sở đó, có chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột; phát huy truyền thống “giữ nước từ khi nước chưa nguy”.

Trong thực hiện nhiệm vụ giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, phải quán triệt quan điểm “Kiên quyết, kiên trì”. Quan điểm này vừa thể hiện quyết tâm cao độ, ý chí sắt đá, bản lĩnh trước sau như một của nhân dân ta, vừa thể hiện tính chất lâu dài, phức tạp của cuộc đấu tranh. Đây cũng là đối sách mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo, không chủ quan, manh động trong quá trình hiện thực hóa mục tiêu bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh lịch sử mới.

42 năm đã trôi qua, đất nước đã hòa bình và đang trên đà hội nhập, phát triển mạnh mẽ. Nhắc lại sự thật lịch sử về cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, bên cạnh việc khẳng định sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, đây còn là dịp để chúng ta tôn vinh, tri ân những người đã ngã xuống vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, đồng thời giáo dục cho thế hệ trẻ về truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường và quyết tâm bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.

Cuộc chiến đấu này cần được lịch sử ghi lại để thế hệ trẻ hôm nay hiểu rõ hơn về tính chính nghĩa, sự quả cảm của thế hệ đi trước bảo vệ chủ quyền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ bằng mọi giá. Nhắc lại cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và diễn biến những gì xảy ra ở biên giới phía Bắc năm 1979, để các thế hệ mai sau trân trọng giá trị của hòa bình. Nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc đều mong muốn hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển!

“Nỗi đau mà nhân dân hai nước phải gánh chịu trong chiến tranh là bài học xương máu phải được nhận thức đầy đủ. Tôn trọng lịch sử, trung thực với lịch sử không có nghĩa là kích động hận thù. Lịch sử không thể bị lãng quên. Tôi luôn mong muốn thế hệ đi sau tự hào về truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm của dân tộc. Chúng ta gác lại quá khứ, hướng tới tương lai nhưng không quên quá khứ, không quên lịch sử”, Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy – tác giả cuốn sách “Hồi ức chiến tranh Vị Xuyên” phát hành vào tháng 3-2020 nói.

Với quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, 42 năm là khoảng thời gian đủ dài để hai nước có điều kiện nhìn lại cuộc chiến này một cách khách quan, khoa học để tìm ra phương thức xử lý tối ưu các vấn đề do lịch sử để lại. Lịch sử cho thấy, việc không ngừng củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa hai nước là hoàn toàn phù hợp với lợi ích căn bản và lâu dài của nhân dân hai nước, góp phần củng cố hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực cũng như trên thế giới.

Nguyễn Hải Sơn, Sưu tầm, tổng hợp

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM THẬT SỰ VÌ DÂN, VÌ NƯỚC

 

Những ngày qua, khi mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vừa đón tết nguyên đán Tân Sửu vừa phải tổ chức phòng chống dịch bệnh Covid-19 thì một số trang báo điện tử nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam, đã đưa ra những thông tin sai trái, những bình luận ác ý, những lời lẽ xuyên tạc nhằm hướng lái dư luận theo một cái nhìn tiêu cực về lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, về nhiệm vụ phòng chống dịch của Việt Nam.

Các đối tượng thù địch, cơ hội chính trị vẫn những chiêu trò cũ soạn lại, chúng còn cho rằng, “Đại hội XIII: Dân chủ chỉ là cột mỡ”, “Vẫn là đại hội trấn áp tiếng nói bất đồng”, “Đại hội XIII chả có gì mới”... Thậm chí, có đối tượng còn xuyên tạc Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ tập trung lo cho đại hội toàn quốc “để chia chác quyền lực”, “chi tiêu cả nghìn tỷ đồng của dân, trong khi để cho hàng triệu bà con miền Trung sau lũ lụt vẫn chịu thảm cảnh đói rét”. Táng tận lương tâm hơn, có kẻ còn rêu rao rằng, Đảng và Chính phủ Việt Nam “bưng bít thông tin về đại dịch Covid-19” xảy ra trước thời điểm Đại hội XIII, cho đến khi dịch bệnh bung ra khắp nơi thì không kiểm soát nổi khiến dân tình lâm vào cảnh mất vui, mất Tết(!).

Trước sau như một, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lấy lợi ích tối cao của quốc gia-dân tộc và của nhân dân Việt Nam làm mục tiêu phấn đấu của mình. Càng những lúc khó khăn, gian khổ, tinh thần “lấy dân làm gốc” của Đảng càng được thể hiện rõ ràng, nhất quán thông qua những việc làm thiết thực để góp phần hiện thực hóa mục tiêu “Tất cả vì hạnh phúc của nhân dân”./.