Thứ Tư, 3 tháng 3, 2021

 

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA RFA

                                                                

          Vừa qua, Bộ Chính trị phân công Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng khóa XIII, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam giữ chức Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương. Trước công tác nhân sự trên, RFA Tiếng Việt và một số cá nhân cơ hội chính trị đã tiến hành xuyên tạc thông tin, bóp méo thực tiễn, gây ảnh hưởng xấu đến dư luận.

          Từ trước đến nay, một trong những trọng tâm chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam là lĩnh vực văn hóa, tư tưởng nhằm làm thay đổi nhận thức, tạo ra sự hoài nghi đối với chế độ, kích thích sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nảy sinh trong lòng xã hội Việt Nam. Chính vì vậy, mọi hoạt động của Ban Tuyên giáo Trung ương và Ban Tuyên giáo các cấp đều nằm trong tầm ngắm chống phá của các thế lực thù địch cũng như các đối tượng xấu, chống đối, cơ hội chính trị.

          Nhận diện luận điệu xuyên tạc

          Trước việc Bộ Chính trị phân công Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa giữ chức vụ Trưởng Ban Tuyên giáo trung ương, RFA Tiếng Việt đã đăng tải bài viết với tiêu đề “Tướng quân đội làm Trưởng Ban Tuyên giáo trung ương có ý nghĩa gì?” Nội dung bài viết chứa đựng nhiều thông tin, luận điệu sai trái, tiêu cực, mang tính chất xuyên tạc, biến tướng bản chất vấn đề.

          Bằng việc phỏng vấn các đối tượng chống phá, cơ hội chính trị trong nước, những ý kiến, nhận định, đánh giá sai trai được rêu rao như: “Việc siết chặt báo chí và mạng xã hội thì lâu nay Công an đã làm rồi. Bây giờ ông Nghĩa lên thì báo chí không được viết về Trung Quốc rộng rãi như trước đây nữa”, “Đại hội XIII vừa qua “phe miền Nam” bị “thất thủ” nên việc đưa ông Nghĩa là người nam bộ lên làm Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương chỉ là hình thức mị dân”.

          Thậm chí, các đối tượng này còn gia tăng công kích, lợi dụng vấn đề bổ nhiệm lãnh đạo của Ban Tuyên giáo trung ương để tấn công chế độ, rêu rao quan điểm hết sức tiêu cực rằng: “Chủ thuyết của cộng sản là chính quyền trên đầu ngọn súng. Súng đẻ ra chính quyền. Có súng sẽ có quyền”.

          Bản chất sự việc

          Dễ dàng có thể thấy những luận điệu, quan điểm mà các đối tượng xấu đang rêu rao như ở trên là hoàn toàn vô căn cứ, mang tính chất xuyên tạc trắng trợn.

          Trước hết, cần phải thấy rằng bảo đảm an ninh thông tin là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do báo chí, tự do thông tin của người dân. Tuy nhiên, với chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch, phản động, chống đối, cơ hội chính trị luôn tìm mọi cách nhằm chống phá nền tảng tư tưởng của ta, hướng lái, thay đổi nhận thức của người dân. Đặc biệt, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, nhất là mạng xã hội, các thế lực chống phá đã có thêm phương tiện nhằm truyền bá các quan điểm, tư tưởng, sai lệch; xuyên tạc thông tin, biến tướng bản chất vụ việc; kích động tư tưởng hoài nghi đối với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đối với sự nghiệp cách mạng của đất nước. Chính vì những lý do như trên, việc Đảng, Nhà nước ta đẩy mạng công tác bảo đảm an ninh thông tin, ngăn chặn, xử lý các hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là điều cần thiết. Việc siết chặt công tác quản lý báo chí không phải là ngăn chặn “tự do”, “dân chủ” như luận điệu các đối tượng tung ra mà là một giải pháp để bảo đảm môi trường thông tin “sạch”, phục vụ nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước.

          Thứ hai, không có việc Đảng bổ nhiệm ông Nguyễn Trọng Nghĩa vào vị trí Trưởng Ban Tuyên giáo trung ương để “mị hoặc quần chúng nhân dân” trước các “bất cân bằng trong cơ cấu vùng miền” sau Đại hội Đảng như luận điệu được các đối tượng xấu tung ra. Những luận điệu cho rằng các “phe phái” trong nội bộ “tranh giành quyền lực” hay những luận điệu về việc “phe này” đắc thắng, “phe kia” thất bại mà các đối tượng rêu rao chỉ là một thủ đoạn chính trị thâm độc nhằm chống phá Đại hội XIII, kích động tư tưởng hoài nghi trong quần chúng, từ đó tạo mầm mống để thúc đẩy các hoạt động chống đối

          Việc bổ nhiệm Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa là căn cứ trên nhu cầu về công tác cán bộ, dựa trên năng lực, sở trường, kinh nghiệm, kết quả quá trình công tác của ông. Với xuất phát là Bí thư Trung ương Đảng khóa XIII, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam, từng trải qua nhiều vị trí trong Quân đội nhân dân, chắc chắn trên vai trò là Trưởng Ban Tuyên giáo trung ương, Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa sẽ lãnh đạo ngành Tuyên giáo đạt được nhiều kết quả tích cực.

Việc các đối tượng lợi dụng công tác cán bộ của Đảng để tạo cớ tuyên truyền những luận điệu phản động, tiêu cực, chống phá chế độ là minh chứng cho thấy rõ bản chất dối trá của những kẻ núp bóng “dân chủ”, “nhân quyền”. Dù luôn miệng nói những lời hoa mỹ, cao xa nhưng hành động của các đối tượng này lại đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc. Vì vậy, cần phải kiên quyết vạch trần, đấu tranh với các luận điệu xảo trá, xuyên tạc mà những kẻ này tung ra để chặt đứt hoạt động chống phá mà các đối tượng đang tiến hành./.


 Phát động 'Phong trào hiến máu tình nguyện trong tuổi trẻ quân đội năm 2021'

Sáng 2-3, tại Hà Nội, Tổng cục Chính trị phối hợp với các cơ quan, đơn vị tổ chức phát động 'Phong trào hiến máu tình nguyện trong tuổi trẻ quân đội năm 2021'. Thượng tướng Trần Quang Phương, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam đến dự và phát biểu chỉ đạo.

Lễ phát động còn có sự tham dự của lãnh đạo, đại biểu các cơ quan, đơn vị, học viện, nhà trường trong quân đội và đại biểu Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; gần 900 cán bộ, đoàn viên thanh niên Học viện Kỹ thuật Quân sự (KTQS) và y sĩ, bác sĩ Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.

Được biết, nếu năm 2005, cán bộ, chiến sĩ quân đội mới hiến được hơn 16.000 đơn vị máu thì năm 2015 là gần 40.000 đơn vị (tăng 218%), năm 2020 là gần 50.000 đơn vị máu (tăng gần 300%). Riêng Học viện Kỹ thuật Quân sự đã duy trì phong trào liên tục 13 năm qua, với hơn 15.000 đơn vị máu an toàn. Trong toàn quân, lượng máu thu được những năm gần đây cơ bản đáp ứng nhu cầu điều trị tại các bệnh viện Quân đội. Một số đơn vị đã chuẩn bị lực lượng hiến máu, tạo các “ngân hàng máu sống”, sẵn sàng đáp ứng các tình huống.

Phát biểu tại lễ phát động, Thượng tướng Trần Quang Phương, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam biểu dương các học viện, nhà trường, Cục Quân y, các bệnh viện trong quân đội, Ban Thanh niên Quân đội, tổ chức Đoàn các cấp đã có nhiều cố gắng, khắc phục khó khăn, tổ chức tuyên truyền, vận động triển khai có hiệu quả phong trào hiến máu tình nguyện. Thượng tướng Trần Quang Phương cũng ghi nhận và biểu dương tuổi trẻ quân đội đã luôn xung kích, đi đầu tham gia hiến máu cứu người. “Nghĩa cử cao đẹp của các đồng chí vừa thể hiện tình đồng chí, đồng đội sâu nặng, vừa lan tỏa phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân”, Thượng tướng Trần Quang Phương nhấn mạnh.

Đồng chí Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị tin tưởng rằng, với tinh thần tình nguyện, xung kích, sáng tạo, quyết thắng, “Đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên”, cùng với tuổi trẻ cả nước, mỗi tổ chức đoàn, mỗi cán bộ, đoàn viên, thanh niên quân đội sẽ luôn sẵn sàng và hăng hái tham gia hiến máu tình nguyện.

Để phong trào hiến máu tình nguyện ngày càng lan tỏa, Thượng tướng Trần Quang Phương yêu cầu Ban Thanh niên Quân đội chủ trì, phối hợp với Cục Quân y (Tổng cục Hậu cần), Ban Phụ nữ Quân đội, Ban Công đoàn Quốc phòng và các cơ quan, đơn vị liên quan trong và ngoài quân đội đẩy mạnh phong trào hiến máu tình nguyện trong đoàn viên, hội viên bằng nhiều hình thức, cách làm mới, sáng tạo, hiệu quả; kịp thời biểu dương, khen thưởng, tôn vinh các tập thể, cá nhân tiêu biểu…

Ngay sau lễ phát động, Thượng tá Nguyễn Đức Cương, Phó trưởng Ban Thanh niên Quân đội cùng hơn 700 cán bộ, đoàn viên thanh niên đã tham gia hiến máu, thu về 630 đơn vị máu an



 NỤ CƯỜI CHIẾN THẮNG.


Ngày 2/8/1968, trước Tòa án quân sự mặt trận vùng 3 chiến thuật của chính quyền Sài Gòn, sau khi nghe kết án, Võ Thị Thắng đã nở nụ cười, dõng dạc tuyên bố: “Liệu chính quyền của các ông có tồn tại đến 20 năm để bỏ tù tôi không?”. 
Là người nổi tiếng trong bức ảnh “Nụ cười chiến thắng”, bà Võ Thị Thắng (1945-2014) sinh tại xã Tân Bửu, huyện Bến Lức, tỉnh Long An trong một gia đình 9 anh chị em. Năm 11 tuổi, Võ Thị Thắng tham gia hoạt động cách mạng bằng việc đưa thư liên lạc và cùng gia đình nuôi giấu cán bộ, với suy nghĩ rất đơn giản rằng cả quê hương, toàn dân đánh giặc thì tất nhiên trong đó có mình.
Sau quá trình tham gia các phong trào đấu tranh xuống đường của thanh niên, sinh viên Sài Gòn, phong trào công nhân và nhân dân lao động khu xóm, xí nghiệp nội thành, diệt ác phá kềm, bà bị bắt giam. Suốt 6 năm dài, bà bị giam cầm và tra tấn ở các nhà lao Thủ Đức, Chí Hòa, Côn Đảo.
Đất nước thống nhất, bà Võ Thị Thắng tham gia công tác tại Thành đoàn, Hội liên hiệp Phụ nữ TP HCM, rồi được giao nhiệm vụ Phó Chủ tịch thường trực Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Bà từng trúng cử Ban chấp hành Trung ương Đảng, đại biểu Quốc hội, Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam – Cuba và sau này giữ cương vị Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch (1996-2007).
Trong ký ức của nhiều người thuộc thế hệ đi trước vẫn còn nhớ rất rõ sự kiện xảy ra ngày 2/8/1968. Trước Tòa án quân sự mặt trận vùng 3 chiến thuật của chính quyền Sài Gòn, sau khi nghe kết án, Võ Thị Thắng đã nở nụ cười, dõng dạc tuyên bố: “Liệu chính quyền của các ông có tồn tại đến 20 năm để bỏ tù tôi không?”.
Bức ảnh “Nụ cười chiến thắng” với câu nói ngắn gọn, đanh thép của cô gái miền Nam, nữ sinh Sài Gòn Võ Thị Thắng đã làm rung động lòng người, tác động tích cực đến tinh thần chiến đấu của chiến sĩ, là nguồn cảm hứng cho nhiều sáng của văn nghệ sĩ trong nước và ngoài nước vào thời bấy giờ.
Ngày 22/8/2014, bà Võ Thị Thắng qua đời tại TP HCM ở tuổi 69. Nụ cười của bà mãi mãi rạng ngời cùng lịch sử dân tộc.
QĐND.

 

THI ĐUA LÀ YÊU NƯỚC, YÊU NƯỚC THÌ PHẢI THI ĐUA

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua, những người thi đua là những yêu nước nhất”. Quan điểm ấy chính là động lực to lớn làm cho phong trào thi đua yêu nước có sức mạnh tinh thần vô cùng mạnh mẽ, tồn tại lâu dài, phát triển không ngừng, gắn liền với sự phát triển của dân tộc. Quan điểm thi đua là yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh được xây dựng trên nền tảng truyền thống của lịch sử văn hoá dân tộc Việt Nam, đó là lòng yêu nước, ý chí quật cường của con người Việt Nam. Người đã lấy thi đua làm động lực phát huy lòng yêu nước, qua phong trào thi đua bồi dưỡng, nâng cao lòng yêu nước, làm cho lòng yêu nước thể hiện bằng những hành động cụ thể trong lao động sản xuất và chiến đấu. Ngược lại, lấy lòng yêu nước thúc đẩy phong trào thi đua.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước không chỉ thể hiện qua những lời kêu gọi thi đua ái quốc của Người, mà nó còn được thể hiện ở sự quan tâm sâu sát của Người đến phong trào thi đua yêu nước, với mong muốn phong trào phải đi sâu vào thực tiễn của đời sống và biến nó thành những hành động cụ thể. Người nhấn mạnh: Muốn thực hiện tốt và hiệu quả phong trào thi đua yêu nước, thì phải có phương hướng đúng và vững, nghĩa là phải nâng cao lòng yêu nước và giác ngộ chính trị của mọi người. Phải có kế hoạch tỉ mỉ, kế hoạch ấy phải do từng đơn vị nhỏ, từng gia đình, từng cá nhân bàn bạc kỹ, hiểu biết thấu, vui vẻ làm, nội dung của kế hoạch phải thiết thực, rõ ràng, đúng mực, phải hướng phong trào đi vào thực chất, tránh hình thức và bệnh thành tích, sao cho những cá nhân điển hình xuất sắc được tuyên dương không chỉ là những người đại diện xứng đáng, tiêu biểu, tiên phong trong sản xuất và chiến đấu, mà còn là tấm gương về đạo đức cách mạng.

Đồng thời, Người cũng chỉ ra rằng: Để phong trào thi đua đạt hiệu quả cao thì phải có sự đánh giá, tổng kết thực tiễn, trên cơ sở đó rút ra những kinh nghiệm và đề ra những nội dung phù hợp, sát với thực tiễn của phong trào. “Thi đua phải có sự lãnh đạo đúng. Trước khi thi đua phải chuẩn bị đầy đủ (giải thích cổ động, xem xét kế hoạch mỗi nhóm, mỗi người) trong lúc thi đua phải thiết thực đôn đốc, giúp đỡ, sửa đổi. Sau đợt thi đua, phải thiết thực kiểm tra, tổng kết, phổ biến kinh nghiệm, khen thưởng những người kiểu mẫu, nâng đỡ những người kém cỏi” - Người chỉ rõ.

Trong mỗi giai đoạn cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chỉ đạo phong trào thi đua yêu nước phù hợp với nhiệm vụ cách mạng của từng thời kỳ. Người cũng chủ trương đa dạng các hình thức thi đua khen thưởng nhằm biểu dương và nhân rộng nhiều hơn nữa những tấm gương điển hình. Người cho rằng: “Số người và những tập thể được công nhận là anh hùng, chiến sĩ thi đua được tặng Huân chương, Huy chương vẫn chỉ là số ít so với hàng triệu, hàng chục triệu con người hàng ngày góp gió thành bão, đang gánh vác mọi việc nước, việc nhà… gọi là người tốt việc tốt”. Bên cạnh hình thức tuyên dương anh hùng, chiến sĩ thi đua, Người còn đề xuất hình thức tuyên dương gương người tốt việc tốt, để những việc bình thường nhưng ích nước lợi dân được trân trọng và nhân rộng trong xã hội.

Có thể khẳng định rằng trải qua hơn 6 thập kỷ, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc và phong trào thi đua yêu nước do Người phát động ngày càng thấm sâu vào đời sống xã hội và có giá trị thực tiễn to lớn. Từ những ngày đầu phát động, được kiểm nghiệm từ thực tiễn của hai cuộc kháng chiến và trong công cuộc đổi mới hiện nay, phong trào thi đua yêu nước đã được sự hưởng ứng và cổ vũ của đông đảo quần chúng nhân dân, tạo ra động lực tinh thần vô cùng mạnh mẽ vượt qua những thời điểm khó khăn của đất nước, thúc đẩy sự phát triển bền vững, xây dựng một xã hội tốt đẹp.

 

NGUỒN GỐC, Ý NGHĨA NGÀY 26 THÁNG 03

NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH

Lịch sử ra đời của đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh

Mùa xuân năm 1931, từ ngày 20 đến ngày 26 tháng 3, tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2, Trung ương Đảng đã giành một phần quan trọng trong chương trình làm việc để bàn về công tác thanh niên và đi đến những quyết định có ý nghĩa đặc biệt, như các cấp ủy Đảng từ Trung ương đến địa phương phải cử ngay các ủy viên của Đảng phụ trách công tác Đoàn. Trước sự phát triển lớn mạnh của Đoàn trên cả 3 miền Bắc, Trung, Nam, ở nước ta xuất hiện nhiều tổ chức Đoàn cơ sở với khoảng 1.500 đoàn viên và một số địa phương đã hình thành tổ chức Đoàn từ xã, huyện đến cơ sở.

Sự phát triển lớn mạnh của Đoàn đã đáp ứng kịp thời những đòi hỏi cấp bách của phong trào thanh niên nước ta. Đó là sự vận động khách quan phù hợp với cách mạng nước ta; đồng thời, phản ánh công lao trời biển của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh vô cùng kính yêu - Người đã sáng lập và rèn luyện tổ chức Đoàn.

Được Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng và Bác Hồ cho phép, theo đề nghị của Trung ương Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam, Đại hội toàn quốc lần thứ 3 họp từ ngày 22 - 25 tháng 3 năm 1961 đã quyết định lấy ngày 26 tháng 3 năm 1931 (một ngày trong thời gian cuối của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 2, dành để bàn bạc và quyết định những vấn đề rất quan trọng đối với công tác thanh niên) làm ngày thành lập Đoàn hàng năm. Ngày 26 tháng 3 trở thành ngày vẻ vang của tuổi trẻ Việt Nam, của Đoàn TNCS HCM quang vinh.

Ý nghĩa ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

Đoàn TNCS HCM  là tổ chức chính trị - xã hội lớn nhất của thanh niên Việt Nam. Tổ chức này do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện. Sự phát triển lớn mạnh của Đoàn đã đáp ứng kịp thời những đòi hỏi cấp bách của phong trào thanh niên nước ta. Đó là sự vận động khách quan phù hợp với cách mạng nước ta.

Từ ngày 26 tháng 3 năm 1931 đến nay, để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng, Đoàn đã đổi tên nhiều lần:

Từ 1931 - 1936: Đoàn TNCS Việt Nam, Đoàn TNCS Đông Dương

Từ 1937 - 1939: Đoàn Thanh niên Dân chủ Đông Dương

Từ tháng 11 năm 1939 - 1941: Đoàn Thanh niên phản đế Đông Dương

Từ tháng 5 năm 1941 - 1956: Đoàn Thanh niên cứu quốc Việt Nam

Từ ngày 25 tháng 10 năm 1956 - 1970: Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam

Từ tháng 2 năm 1970 – tháng 11 năm 1976: Đoàn Thanh niên lao động Hồ Chí Minh

Từ tháng 12 năm 1976 đến nay: Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh

Tháng 4 năm 1975, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc thắng lợi, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Ngày 26 tháng 3 năm 1976, Lễ kỷ niệm lần thứ 45 ngày thành lập Đoàn đã được tổ chức trọng thể tại Hà Nội. Tại Lễ kỷ niệm này, tổ chức Đoàn trong cả nước đã thống nhất mang tên chung là Đoàn Thanh Niên Lao động Hồ Chí Minh.

Đại hội lần thứ IV của Đảng họp từ ngày 14 đến ngày 20 tháng 12 năm 1976 tại Thủ đô Hà Nội đã quyết định đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng Sản Việt Nam và thể theo nguyện vọng của cán bộ, ĐVTN cả nước, Đại hội Đảng lần thứ IV đã quyết định đổi tên Đoàn TNLĐ Hồ Chí Minh thành: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (Đoàn TNCS HCM). Đại hội Đảng chỉ rõ nhiệm vụ của Đoàn và phong trào thanh niên trong giai đoạn mới là: “Đoàn TNCS HCM phải được xây dựng và củng cố vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, xứng đáng là trường học CSCN của lớp người trẻ tuổi, là cánh tay đắc lực và đội hậu bị tin cậy của Đảng”.

 

THƯ CỦA TÙ BINH PHÁP GỬI CHO BẠN BÈ

 Thư của Servais Joseph gửi các bạn trong quân đội viễn chinh Pháp ở Viễn Đông

Ngày 14 tháng 8 năm 1954
Các bạn thân mến,
Tôi trình bày tóm tắt với các bạn về những ngày lưu trú ở đây của tôi với tư cách là một tù binh của Quân đội nhân dân Việt Nam và xin bảo đảm với các bạn rằng nó hoàn toàn trung thực từ đầu chí cuối.
Tôi đến Đông Dương ngày 4 tháng 4 năm 1954 và ngày 17 cùng tháng, tôi đã tình nguyện nhảy dù xuống Điện Biên Phủ. Mấy ngày trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, các đồng đội cũ kể cho tôi nghe ít nhiều về cuộc sống của những người lính ở đây, và theo họ nói thì thà bị giết chết còn hơn là bị bắt làm tù binh vì bị bắt làm tù binh có nghĩa là phải chịu những đau đớn tồi tệ nhất.
Ngày 23 tháng 4 năm 1954, tôi bị bắt làm tù binh và thú thực rằng tôi đã có một nỗi sợ ghê gớm khi nghĩ đến những điều người ta đã nói với tôi về số phận của những tù binh, và tôi có thể nói với các bạn rằng tôi hết sức ngạc nhiên khi những người lính Việt Nam bảo chúng tôi phải nhanh chóng rút khỏi tuyến đầu vì sợ chúng tôi có thể trúng đạn pháo. Và thế là chúng tôi bắt đầu đi về phía trại tạm giam. Bị bắt lúc 2 giờ đêm, thế mà đến 8 giờ sáng chúng tôi đã được ăn bữa đầu tiên, trong khi đó những đồng đội bị thương của chúng tôi đã được các bác sĩ của Quân đội nhân dân Việt Nam săn sóc.
Ở trại tạm giam ba ngày, sau đó chúng tôi lại đi đến một trại khác. Tôi phải nói rằng trong suốt 30 ngày đi đường, các chiến sĩ cũng như các cán bộ của Quân đội nhân dân Việt Nam đã làm mọi cách có thể để làm cho cuộc di chuyển của chúng tôi đỡ vất vả nhất có thể, trong khi đó y tá đã không ngừng săn sóc những người bị thương và săn sóc ngay cả chúng tôi nữa.
Sau một thời gian ngắn ở trại tạm giam, chúng tôi được chuyển đến Trại 42 và ở lại đó khoảng hai tháng rưỡi. Ở trại này, chúng tôi được đối xử như những người bạn chứ không phải như những tù binh. Chúng tôi có tiêu chuẩn ăn uống như tiêu chuẩn của người lính Việt Nam và những người này, cũng như cán bộ của họ, đã làm tất cả để đem lại cho chúng tôi một cuộc sống dễ chịu nhất có thể. Họ cho phép chúng tôi viết thư về cho gia đình. Chúng tôi thường xuyên có thuốc lá và thức ăn thì đầy đủ. Mỗi bữa ăn, chúng tôi có cả thịt và rau.
Về vấn đề lao động, chúng tôi chỉ phải làm việc cho bản thân chúng tôi, có nghĩa là chúng tôi tự đi lấy gạo, rau, thịt cũng như thuốc lá và chúng tôi tự mình tổ chức để làm một mảnh vườn nhỏ, một nhà ăn tập thể, và cứ như thế, tất cả những việc làm đó đều có sự trợ giúp của những người lính Việt Nam. Những người này còn làm cho chúng tôi một phòng đọc - nơi chúng tôi có thể đến đọc báo và tạp chí và cả viết thư cho gia đình nữa.
Những người ốm, họ được chuyển đến bệnh xá để săn sóc và ở đó, hàng sáng chúng tôi có thể đến khám bệnh. Bản thân tôi cũng đã nằm một tháng ở bệnh xá để chữa sốt rét và được săn sóc rất chu đáo. Người nào bệnh hơi nặng liền được chuyển đến bệnh viện. Điều đập vào mắt tôi hơn cả là người nào trong số chúng tôi ăn cơm thấy khó tiêu, người ta có thể chuẩn bị cho họ một bát cháo hay họ còn có thể chọn chế độ: hoặc chuối, trứng, thịt gà, sữa, hoặc ăn mỳ.
Cần phải sống giữa quân đội và nhân dân Việt Nam như chúng tôi mới có thể hiểu thế nào là chính sách khoan hồng được áp dụng đối với tù binh chúng tôi. Bởi đó là một cử chỉ đẹp nhất mà một dân tộc bị chính chúng ta gây biết bao đau khổ có thể có được; bởi không bao giờ họ có một cử chỉ, một lời nói hằn thù nào đối với chúng tôi. Ngược lại, họ còn coi chúng tôi như những người bạn, nạn nhân của một sự tuyên truyền dối trá.
Khi biết tin đình chiến, người ta tổ chức những buổi liên hoan và nhân dân kéo đến thăm chúng tôi, mang tặng chúng tôi quà (trứng, chuối, sữa và thuốc lá). Để mọi người cùng vui, họ chỉ nói với chúng tôi về hoà bình và về việc hồi hương của chúng tôi.
Ngày 2 tháng 8 năm 1954, chúng tôi đã rời Trại 42. Những tù binh khoẻ mạnh thì đi đường bộ còn những người ốm chúng tôi thì đi thuyền xuôi sông cho đỡ mệt. Chính vì vậy mà chúng tôi đã tới bệnh viện Tuyên Quang, nơi chúng tôi đã được các anh chị bác sĩ chăm sóc cũng như là các anh chị y tá ngày đêm làm việc để hồi phục sức khoẻ cho chúng tôi với sự tận tụy vô hạn. Ở đây cũng vậy, ban chỉ huy bệnh viện cùng nhân dân còn tổ chức những hoạt động biểu thị tình hữu nghị đối với chúng tôi. Như bất cứ dịp nào, nhân dân đã mang quà tặng cho chúng tôi. Chính vì vậy, tất cả chúng tôi đều nhận được một huy hiệu bồ câu hoà bình mà lúc ấy cũng như mãi mãi về sau tôi rất hãnh diện được đeo. Bởi đối với tôi đó là kỷ niệm của một dân tộc khao khát hoà bình và đã đối xử hết sức nhân đạo đối với tù binh.
Tôi xin cảm ơn quân đội và nhân dân Việt Nam và đặc biệt cảm ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh về chính sách khoan hồng của Người, và với tất cả tấm lòng của mình, xin chúc Người lãnh đạo thành công nhân dân Việt Nam trên con đường đi tới hoà bình, hạnh phúc và thịnh vượng.
Servais Joseph, 1/13 DBLE
(Hồ sơ: No 1490)

TÍN PHIẾU CỤ HỒ

 Ông Phan Sĩ Quán là cựu quân tình nguyện Việt Nam tại Trung Lào trong kháng chiến chống Pháp. Trong thời gian tham gia chiến đấu và làm việc tại Lào, ông có vô vàn những kỷ niệm không quên về tình đoàn kết, sự yêu thương chia sẻ của nhân dân Lào với bộ đội tình nguyện Việt Nam. Sau đây, xin giới thiệu bài viết “Tín phiếu Cụ Hồ” của ông được đăng trên Tạp chí Sự kiện và Nhân chứng số tháng 2/1999.

Trong chiến dịch Trung Lào (1953), hậu cần không theo kịp cuộc hành quân thần tốc của đại quân. Được phép của Mặt trận Lào yêu nước Ítxala, các đơn vị bộ đội tình nguyện Việt Nam vay lương thực, thực phẩm của dân để giải quyết hậu cần tại chỗ.
Ở vùng căn cứ kháng chiến, phong trào ủng hộ bộ đội diễn ra sôi nổi chưa từng có - kho gạo kháng chiến được dựng lên ở các bản. Bộ đội đến chỉ có việc cho gạo vào bao tượng. Trên các nẻo đường, dân đi thành tốp bốn, năm người, dắt trâu, bò, lợn hoặc gùi gạo, rau quả chạy đuổi theo bộ đội hành quân.
Ở vùng mới giải phóng, tình hình khác hơn: cán bộ phải đi sâu vào các bản vận động nhân dân cho bộ đội vay - lệnh của Ban Chỉ huy mặt trận là không được tơ hào đến một ngọn rau của dân nước bạn. Bộ đội vay mượn gì phải có giấy biên nhận. Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam lần lượt rút về nước. Ban Chỉ huy Phân đoàn 13 chỉ định một số cán bộ ở lại đi thanh toán nợ cho dân. Có vay, có trả, phải trả hết nợ theo thời giá địa phương. Đó là lệnh trên.
Tôi với Xuân đều nói sõi tiếng Lào được phân công về tàxẻng Xiêng Khay (thuộc Mương Mahả Xây). Mỗi người mang theo một ba lô nhét đầy tiền Đông Dương. Chúng tôi lần lượt thanh toán cho từng bản. Tuy số dân cho bộ đội vay ở môi bàn chỉ trên dưới chục người, nhưng nghe tin bộ đội đến, từ ông già, bà lão đến trai làng, gái bản đều nghỉ việc ruộng rẫy ở nhà để xem bộ đội Cụ Hồ. Họ xúm xít quanh chúng tôi vòng trong vòng ngoài. Họ hỏi chuyện về Điện Biên Phủ... Bà con mang đến cho chúng tôi dưa, đu đủ, mía.
Chuyện trò với dân xong, chúng tôi bắt đầu thu biên lai của bộ đội để thanh toán. Điều xảy ra thật khó xử với chúng tôi. Tất cả biên lai đều không hợp lệ: hoặc không ghi rõ số lượng vay hoặc không ghi tên đơn vị. Mà cũng không thể coi đó là biên lai được vì chữ viết nguệch ngoạc bằng bút chì hoặc mực tím nhòe nhoẹt. Có tờ giấy vay nhỏ bằng nửa bàn tay, ghi vẻn vẹn một câu: “người vay là bộ đội tình nguyện Việt Nam đi đánh Pháp. Ký tên: Bao chiến sĩ anh hùng”. Tôi hỏi người có tờ biên lai đó:
- Bộ đội vay của bác thứ gì?
- Một con trâu.
- Bác cho con biết giá tiền?
- Bạc trắng thì bản đồng. Bạc giấy thì bảy chục tờ!. Và tiếp:
- Tùy các con, các con cho bác bao nhiêu thì cho. Nếu không có bác xin ủng hộ bộ đội!
Tôi tin dân Lào thật thà nhưng nguyên tắc tài chính lại là chuyện khác. Không thể đem mớ giấy tờ kia về thanh toán. Tôi bảo Xuân:
- Đồng chí ở lại! Tôi phải về phân đoàn xin ý kiến!
Tôi đi cấp tốc hai ngày đường mới về đến phân đoàn bộ gặp Phân đoàn trưởng Nguyên Nhung. Nghe tôi báo cáo tình hình, anh Nhung tỏ ra rất xúc động nói với tôi:
- Dân dám bỏ ra cả con trâu, cả tấn gạo giúp bộ đội Cụ Hồ, các cậu căn cứ vào lời khai của dân mà thanh toán!
Thực hiện chỉ thị cấp trên, tôi thu thập lời tự báo của người cho vay, ghi vào từng biên lai và thanh toán hết các khoản vay cho từng người. Cầm tập tiền Đông Dương, tay họ run run, nét mặt rạng rỡ, dân bản nhìn hai đứa chúng tôi với ánh mắt đầy thiện cảm.
Tôi mang về phân đoàn gần một nửa ba lô giấy tờ biên lai. Phân đoàn phó Nguyễn Nhung nói với tôi: Chúng mình phải mang những thứ này về nước giao cho bảo tàng quân đội. Đây thực sự là tín phiếu Cụ Hồ.
(Tg Phan Sỹ Quán v Nguyễn Thế Nghiệp)

CÁC NỮ TƯỚNG CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

 1. Thiếu tướng NGUYỄN THỊ ĐỊNH (1920-1992) - từng là Phó Tư lệnh Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam.

2. Trung tướng LÊ THU HÀ (sinh 1957) - nguyên Chính ủy Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.

3. Thiếu tướng NGUYỄN HỒNG GIANG (sinh năm 19xx) - nguyên Chính ủy Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.

4. Thiếu tướng HỒ THỦY (sinh năm 1957) - nguyên Giám đốc Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng.

5. Thiếu tướng NGUYỄN THỊ THANH HÀ (sinh 1957) - nguyên Chính ủy Viện Y học Cổ truyền Quân đội.

Ngoài bà ra còn có 9 nữ tướng trong lực lượng vũ trang:

1/ Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Quân ủy TW Thiếu tướng Bùi Thị Lan Phương.

2/ Cục trưởng Cục Xây dựng Phong trào Toàn dân Bảo vệ An ninh Tổ quốc Trung tướng Trần Thị Ngọc Đẹp.

3/ Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Công an TW Thiếu tướng Hoàng Thị Thủy.

4/ Giám đốc Công an tỉnh Kiên Giang Thiếu tướng Bùi Tuyết Minh.

5/ Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm môi trường Thiếu tướng Nhữ Thị Minh Nguyệt.

6/ Cục trưởng Cục Hồ sơ nghiệp vụ Thiếu tướng Ngô Thị Hoàng Yến.

7/ Phó Cục trưởng Cục Kế hoạch và Tài chính Thiếu tướng Nguyễn Thị Kim Dung.

8/ Phó Cục trưởng Cục An ninh chính trị nội bộ Thiếu tướng Trần Thị Bé Nhân

9/ Ủy viên Thường trực Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội Thiếu tướng Nguyễn Thị Xuân.

Xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác bầu cử

 

Hiện nay, công tác chuẩn bị cho bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND đang được các cơ quan chức năng tích cực tiến hành. Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá bầu cử, các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị đang tiến hành nhiều hoạt động chống phá với tính chất hết sức quyết liệt.

Thời gian vừa qua, ngoài các website, trang mạng xã hội do các cá nhân, tổ chức phản động, chống đối, cơ hội chính trị điều hành, một số trang báo nước ngoài có cái nhìn thiếu thiện cảm đối với Việt Nam cũng liên tục tung ra những bài viết, bài phỏng vấn chứa đựng nội dung tiêu cực, thiếu chính xác về công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp tại nước ta. Các đối tượng xấu đưa ra luận điệu hết sức sai lệch và thâm hiểm như: “Bầu cử chỉ là “màn kịch dân chủ” do Đảng đạo diễn, chỉ là hội nghị Đảng Cộng sản mở rộng”, “Đảng Cộng sản đang độc diễn trong bầu cử”, “Không thể có cuộc bầu cử dân chủ khi Đảng Cộng sản lãnh đạo cuộc bầu cử” v.v…

Căn cứ những nhận định phiến diện trên, các đối tượng xấu quy kết cho rằng cuộc bầu cử do Đảng Cộng sản lãnh đạo là không chính danh, không đúng quy định của pháp luật, ngăn cản quyền bầu cử của công dân. Từ đây, các đối tượng đưa ra yêu sách đòi Đảng Cộng sản không được tham gia vào công tác bầu cử, không được thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo công tác bầu cử; phải “tự rút lui” và từ bỏ quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội, chấp nhận đa nguyên, đa đảng, chấp nhận sự cạnh tranh với những đảng phái khác để thúc đẩy dân chủ v.v…

Những luận điệu, nhận định mà các đối tượng đang rêu rao như trên là hoàn toàn sai sự thật. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Trong đó, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Tại Khoản 1, Điều 4, Hiến pháp nước ta quy định rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Vì vậy, việc Đảng lãnh đạo đối với công tác bầu cử là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.

Về mặt thực tiễn, Đảng lãnh đạo công tác bầu cử là cơ sở quan trọng để bảo đảm sự thống nhất trong công tác bầu cử; góp phần lựa chọn, bầu ra những đại biểu tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ mới, bảo đảm đủ tiêu chuẩn, đủ số lượng, có cơ cấu hợp lý đối với đội ngũ đại biểu; tạo nền tảng cho việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nếu không có sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, về mọi mặt của Đảng Cộng sản, chắc chắn nhiều vấn đề bất ổn sẽ nảy sinh, là mầm mống cho sự suy yếu của đất nước.Đảng lãnh đạo bầu cử không phải là làm thay, không bao biện, không khuynh loát trong bầu cử. Ngày 20-6-2020, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 45-CT/TW về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026.

Bộ Chính trị xác định rõ công tác bầu cử diễn ra trong bối cảnh hết sức khó khăn. Chúng ta phải đối mặt với nhiều thách thức như: sự ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19; những diễn biến phức tạp, khó lường, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chiến tranh thương mại, công nghệ, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trong quan hệ quốc tế; hoạt động chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta của các thế lực thù địch v.v… Vì vậy, việc Đảng lãnh đạo công tác bầu cử là điều cần thiết để củng cố, đoàn kết thống nhất sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhằm tận dụng mọi thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức, tiếp tục đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững./.

Vững bước dưới cờ Đảng

 

Cách đây 62 năm, thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, ngày 3-3-1959, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị quyết số 100/TTg thành lập lực lượng Công an nhân dân vũ trang (nay là BĐBP). Từ đó, ngày 3-3-1959 chính thức trở thành Ngày truyền thống của BĐBP.

Ðược Ðảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, được nhân dân đùm bọc, tin yêu, 62 năm qua, BĐBP đã trưởng thành nhanh chóng, phát triển vượt bậc, cùng với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia; xây dựng nền Biên phòng toàn dân vững mạnh; thực hiện có hiệu quả công tác đảm bảo quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Đảng, Nhà nước, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, phục vụ, trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, lực lượng BĐBP đều một lòng, một dạ trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Ðảng và nhân dân, luôn xứng đáng với lời dạy của Bác Hồ: “Non xanh nước biếc trùng trùng/ Giữ gìn Tổ quốc ta không ngại ngùng gian lao/ Núi cao, sự nghiệp càng cao/ Biển sâu, chí khí ta so vào càng sâu/ Thi đua ta quyết giật cờ đầu”.

Thực hiện đường lối đổi mới của Ðảng, trong những năm qua, cùng với toàn quân, BĐBP đã góp phần giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, giữ vững độc lập, chủ quyền của Tổ quốc, đảm bảo an ninh trật tự, tạo môi trường thuận lợi cho sự nghiệp đổi mới, tham gia phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng đất nước.

Sau 32 năm thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân (3/3/1989 - 3/3/2021), khu vực biên giới đã có bước phát triển toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng, an ninh. Phòng tuyến nhân dân bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới ngày càng vững mạnh với 1.587 tổ tự quản đường biên, cột mốc; 14.822 tổ tự quản an ninh, trật tự ở khu vực biên giới; 3.200 tổ tàu thuyền an toàn trên biển; 39.700 hộ gia đình và hơn 60.400 cá nhân đăng ký tham gia tự quản hơn 4.245km đường biên giới, 3.141 mốc quốc giới.

Lực lượng BĐBP tiếp tục tô thắm phẩm chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới, luôn sẵn sàng chiến đấu, đối phó kịp thời và giành thắng lợi trong mọi tình huống, giữ vững vai trò là lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong sự nghiệp xây dựng, quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, góp phần quan trọng vào những thành tựu to lớn của đất nước.

Nhiều chương trình, mô hình, việc làm sáng tạo, hiệu quả thiết thực của BĐBP hướng về đồng bào các dân tộc ở khu vực biên giới, tiêu biểu như: Chương trình “Mái ấm biên cương” đã vận động, quyên góp xây dựng hơn 7.000 căn nhà trị giá 241 tỷ đồng; Chương trình “Bò giống giúp người nghèo biên giới” đã trao tặng hơn 25.000 con bò cho đồng bào nghèo; Chương trình “Đồng hành cùng phụ nữ biên cương” đỡ đầu, giúp đỡ phụ nữ ở hơn 100 xã biên giới đặc biệt khó khăn; Chương trình “Xuân Biên phòng ấm lòng dân bản” tặng hàng nghìn suất quà và hàng trăm ngôi nhà cho người nghèo trên các tuyến biên giới; Chương trình “Nâng bước em tới trường”, đỡ đầu 2.529 học sinh có hoàn cảnh khó khăn; nhận nuôi 355 cháu là “Con nuôi đồn Biên phòng” ở khu vực biên giới...

Đặc biệt, thực hiện nhiệm vụ phòng, chống dịch Covid-19, BĐBP thường xuyên duy trì 1.608 tổ, chốt với trên 10.000 cán bộ, chiến sĩ BĐBP và các lực lượng tại chỗ kiểm tra, kiểm soát, quản lý chặt chẽ cửa khẩu, đường mòn, lối mở biên giới; đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả hoạt động xuất nhập cảnh trái phép, quyết tâm không để dịch bệnh xâm nhập vào trong nước.

Với những hoạt động trên, BĐBP đã góp phần củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và quân đội, phát huy sức mạnh của toàn dân trong xây dựng nền Biên phòng toàn dân, thế trận Biên phòng toàn dân trong nền Quốc phòng toàn dân, thế trận Quốc phòng toàn dân gắn với nền An ninh nhân dân, thế trận An ninh nhân dân.

Thiết thực kỷ niệm 62 năm Ngày truyền thống BĐBP và 32 năm Ngày Biên phòng toàn dân, toàn lực lượng BĐBP tiếp tục đề cao trách nhiệm chính trị, tổ chức triển khai thực hiện Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia một cách quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả, trong đó, đặc biệt chú trọng xây dựng BĐBP cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số thành phần tiến thẳng hiện đại; đưa Luật Biên phòng Việt Nam vào cuộc sống, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trong tình hình mới.

Đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới, để thực hiện ngày càng tốt hơn nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân giao phó, lực lượng BĐBP tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng, những thành tích, chiến công đã giành được, đoàn kết, thống nhất, vững vàng vượt qua mọi khó khăn, thách thức, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia./.

VỮNG TIN THEO ĐANG

 ĐẢNG VÀ MÙA XUÂN DÂN TỘC - GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRƯỜNG TỒN

🌸🏵🌻🌺🌼💐🌸🏵🌻🌺🌼💐


Đại hội lần thứ XIII (Đại hội XIII) của Đảng ta là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo thêm một mốc son mới trong tiến trình thực hiện sứ mệnh của Đảng và lịch sử dựng nước, giữ nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta.

Thêm một lần chúng ta khẳng định chân lý vững chắc, ở Việt Nam, Đảng với dân tộc, nhân dân là một. Đảng và mùa xuân dân tộc là giá trị văn hóa bất tuyệt, kế thừa truyền thống lịch sử và tinh hoa bản sắc của tiên tổ, ông cha. Đó là bức tường thành vững chãi ngăn chặn, đẩy lùi mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng...

♦️ Hành trình lịch sử và giá trị bản sắc

Đại hội XIII của Đảng ta, ngày hội chính trị-văn hóa trọng đại của toàn dân ta, đã đặt vào hành trình lịch sử của dân tộc và của Đảng một mốc son chói lọi ngay trước thềm năm mới Tân Sửu 2021. Chính vì vậy, mặc dù phải đối mặt với diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 và những khó khăn, thách thức mới của nền kinh tế nhưng trong đời sống văn hóa tinh thần của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, Tết Tân Sửu 2021 là một cái Tết có ý nghĩa trọng đại. Thêm một lần nữa, linh khí tươi mới của đất trời vào xuân hòa quyện cùng hào khí của ý Đảng, lòng dân, làm cho niềm vui, niềm tự hào được nhân lên. Báo cáo của Ban Chấp hành (BCH) Trung ương Đảng khóa XII về các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trình bày, đã nêu rõ: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng là một sự kiện chính trị trọng đại của Đảng ta, đất nước ta và dân tộc ta, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển của đất nước. Cán bộ, đảng viên và nhân dân ta đang náo nức chờ mong, tin tưởng và đặt nhiều kỳ vọng vào những quyết sách đúng đắn, mạnh mẽ, sáng suốt của Đảng...

Đại hội đã thực sự là thành quả kết tinh trí tuệ, tâm huyết của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, thể hiện rõ sự thống nhất giữa ý Đảng, lòng dân, hòa quyện cùng quyết tâm và ý chí phát triển của dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Suốt 91 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu, dân tộc ta, nhân dân ta đã vượt qua bao gian nan, thử thách, đi từ vị trí thấp kém của một dân tộc thuộc địa, từ thân phận của những người dân nô lệ, vươn lên làm chủ đất nước, khẳng định vị thế của một dân tộc độc lập, tự do. Suốt chiều dài lịch sử dân tộc, đặc biệt kể từ ngày dân tộc ta có Đảng, rất nhiều sự kiện trọng đại của Đảng và đất nước đều gắn với mùa xuân. Đó là ngày thành lập Đảng, đánh dấu sự chuyển mình bước sang trang mới của dân tộc vào ngày 3-2-1930 (mồng Năm tháng Giêng năm Canh Ngọ), khởi đầu một mùa xuân mới của dân tộc. 15 năm sau, Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân thực hiện thành công Cách mạng Tháng Tám, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa vào ngày 2-9-1945. Tết Bính Tuất năm 1946 là cái Tết đầu tiên toàn dân ta được đón Tết trong niềm tự hào của những người làm chủ đất nước. Trong thư gửi đồng bào, chiến sĩ cả nước, Bác Hồ đã viết những vần thơ chúc Tết: “Trong năm Bính Tuất mới/ Muôn việc đều tiến tới./ Kiến quốc chóng thành công,/ Kháng chiến mau thắng lợi.”... Sự nghiệp kiến quốc, kháng chiến bền bỉ, trường kỳ, gian khổ, chúng ta phải đương đầu với hai cường quốc quân sự và kinh tế là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, những mùa xuân dân tộc nối tiếp nhau trong khói lửa chiến tranh. Chiến thắng Điện Biên Phủ vào mùa xuân Giáp Ngọ năm 1954 làm nên một cơn “địa chấn” khắp địa cầu, đặt dấu chấm hết cho ách thống trị của thực dân Pháp tại Việt Nam. Xuân Mậu Thân 1968 ghi dấu ấn đậm nét vào lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc bằng Cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân, dân cả nước, tạo thế và lực rút ngắn khoảng cách đến ngày toàn thắng. Để rồi 7 năm sau, mùa xuân Ất Mão năm 1975, cả dân tộc ta ca khúc khải hoàn mừng thắng lợi hoàn toàn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mở ngày hội non sông mừng đất nước thống nhất...

Mùa Xuân Đinh Mão năm 1987, đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, thực hiện Nghị quyết Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986). 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, phát triển đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta, nhân dân ta đã thực hiện những bước tiến vượt bậc, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, lập nên những thành tựu vẻ vang. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với gần 200 quốc gia trên thế giới, ngày càng khẳng định vị thế, đối tác quan trọng với bạn bè quốc tế. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Khẳng định của người lãnh đạo cao nhất Đảng và Nhà nước ta chính là sự kết tinh niềm tin, niềm hạnh phúc, tự hào to lớn của nhân dân ta.

Trong tiến trình lịch sử vẻ vang của dân tộc ta, cứ mỗi dịp Tết đến, xuân về, đồng bào, chiến sĩ và kiều bào yêu nước khắp nơi trên thế giới lại hòa chung niềm hân hoan của ngày hội non sông mừng xuân, mừng Đảng. Linh khí mùa xuân hòa quyện với hào khí muôn dân, trở thành thứ tình cảm thiêng liêng, cao quý, niềm tự hào của mọi người dân đất Việt. 91 mùa xuân kể từ ngày dân tộc ta có Đảng, độ lùi của thời gian càng sâu, dòng lịch sử càng dài, tình cảm thiêng liêng ấy trong các thế hệ đồng bào, chiến sĩ càng sâu đậm, kết thành giá trị bản sắc. Mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân đều có trách nhiệm, bổn phận nâng niu, gìn giữ, bảo vệ, làm giàu thêm giá trị bản sắc ấy để Đảng trường tồn cùng mùa xuân dân tộc bất tuyệt

Trung Kiên ST. 

LIỆU AI ĐÓ CÒN THẤY HỔ THẸN!

Cách đây hơn chục năm, một anh linh mục được sự hà hơi, tiếp sức của quan thầy ngoại bang đã dõng dạc phát ngôn trước giáo dân của anh rằng "Tôi cảm thấy hổ thẹn khi cầm tấm hộ chiếu Việt Nam…" Tất nhiên, sau phát biểu ấy, anh bị hàng người dài từ cựu chiến binh đến mấy cháu thanh niên "truy sát", đến nỗi phải nhờ đến chính lực lượng công an can thiệp mới bảo toàn tính mạng. Anh vẫn còn sống, tuy nhiên, phải sống ẩn dật ở một nhà thờ tại Ninh Bình, không khác gì đi đày biệt xứ.

Không biết, anh có còn đọc báo, có còn dùng facebook để nhận được tin từ trang Thông tin chính phủ, thông báo Chính phủ Việt Nam đã thu xếp chuyến bay riêng biệt để đưa 390 công dân Việt Nam đang mắc kẹt ở Myanmar về nước vào trưa ngày 4/3 và liệu anh có chút ngượng mồm về phát ngôn của thời non dại của mình hay không?

Theo thông tin tôi nắm được, Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên đưa chuyên cơ sang đón công dân Việt Nam về nước; cũng giống như cách chúng ta đã làm khi đưa 10000 lao động từ Lybia về nước chỉ trong khoảng thời gian vẻn vẹnh 10 ngày. Tất nhiên, trong bối cảnh đất nước khó khăn, Chính phủ đã phải cân nhắc rất kỹ, nhưng bao giờ, tính mạng của người dân luôn được đặt lên hàng đầu và không có gì quý giá hơn là chìa cánh tay để cứu giúp đồng bào mình ngay lúc khó khăn.

Khi đọc bản xếp hạng giá trị của tấm hộ chiếu của các quốc gia trên thế giới do hãng Henley Passport Index đưa ra, nhìn vào vị trí 88 của Việt Nam, tôi tự hỏi, giá trị tấm hộ chiếu nằm ở đâu. Đó không phải là uy thế, quyền lực của một quốc gia trên trường quốc tế, càng không phải là sự giàu có của quốc gia, mà cao nhất là quyền lợi của công dân một quốc gia khi được cầm tấm hộ chiếu trên tay. Nước chúng ta còn nghèo, vị thế của chúng ta còn khiêm tốn trên trường quốc tế, nhưng Chính phủ của chúng ta luôn quan tâm đến tính mạng, sức khỏe công dân của mình, sẵn sàng giúp đỡ, cứu giúp công dân của mình khi họ gặp khó khăn nơi đất khách quê người.

Tôi vẫn nhớ mãi hình ảnh các công dân Việt Nam khi trở về từ tâm dịch trên những chuyến bay "giải cứu". Thứ họ cầm trên tay không phải là tiền bạc, đồ trang sức mà đó là lá cờ Việt Nam. Và tôi hiểu, họ tự hào vì Tổ quốc mình, tự hào khi họ là công dân Việt Nam.

Lê Dung Anh

VỮNG TIN VÀO SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG


Nghị quyết số 01/NQ-CP và Nghị quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ vừa ban hành đầu năm 2021 thể hiện quyết tâm cao, hành động quyết liệt, nhất quán thực hiện hiệu quả mục tiêu kép, vừa PCD bệnh, bảo vệ sức khỏe nhân dân, vừa phục hồi và phát triển KT-XH. Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả các chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách khác để kích thích tổng cầu phù hợp, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng; đồng thời giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn. Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Theo dõi sát diễn biến tình hình trong nước và quốc tế, kịp thời dự báo và chuẩn bị phương án, kịch bản, biện pháp, đối sách ứng phó hiệu quả với những biến động, vấn đề mới phát sinh. Tiếp tục chú trọng hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phục hồi sản xuất, kinh doanh, khắc phục các tác động tiêu cực của dịch Covid-19. Chính phủ đặt mục tiêu phấn đấu năm 2021 là: Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) khoảng 6,5%; GDP bình quân đầu người khoảng 3.700USD; tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân khoảng 4%; tỷ trọng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng khoảng 45-47%; tốc độ tăng năng suất lao động xã hội khoảng 4,8%...

Từ kinh nghiệm và kết quả ứng phó, khống chế dịch Covid-19 trong năm 2020, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta luôn có niềm tin vững chắc vào sự thành công trong nhiệm vụ PCD Covid-19 từ đợt tái bùng phát này. Hiện chỉ còn tỉnh Hải Dương tình hình dịch đang diễn biến phức tạp, còn ở những địa phương khác, hầu hết các ổ dịch đã được khống chế hiệu quả. Thực hiện mục tiêu kép, các hoạt động sản xuất, kinh doanh luôn được duy trì, phát triển trong trạng thái bình thường mới. Ở những địa phương và những lĩnh vực kinh tế (nhất là khu vực nông nghiệp-nông thôn) ít chịu tác động của dịch bệnh, hiệu quả sản xuất, kinh doanh không những được giữ vững mà còn tăng tốc phát triển mạnh mẽ. Hiệu quả vượt bậc của chiến lược tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo 3 trục sản phẩm, gồm: Nhóm sản phẩm chủ lực quốc gia; nhóm sản phẩm chủ lực cấp tỉnh; nhóm sản phẩm là đặc sản địa phương là một điển hình. Chiến lược tái cơ cấu này đã và đang tạo nên những bước đột phá vượt bậc, đưa hàng loạt sản phẩm và vùng sản phẩm nông nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường quốc tế, nâng cao năng suất, hiệu quả và đặc biệt là giá trị sản phẩm cao gấp hàng chục lần so với sản xuất truyền thống trước đây.

Có thể thấy, bên cạnh những lĩnh vực chịu ảnh hưởng trực tiếp từ dịch Covid-19 như: Kinh doanh du lịch, dịch vụ giải trí... nhiều lĩnh vực khác trong nền kinh tế đã biến khó khăn thành cơ hội để bứt phá vượt lên. Hoàn toàn không có chuyện đời sống xã hội sẽ “toang”, nền kinh tế sẽ “sập” như những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các phần tử cực đoan, thế lực thù địch đã và đang rêu rao. Chúng ta tin tưởng dịch Covid-19 ở Hải Dương và một số địa phương sẽ sớm được khống chế. Những mục tiêu về KT-XH Chính phủ đề ra trong năm 2021 sẽ trở thành hiện thực bằng sự kiên định, quyết liệt, đoàn kết, thống nhất thực hiện mục tiêu kép trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và kiều bào yêu nước trên toàn cầu.

TẨY CHAY, LOẠI BỎ UẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC


Để tăng độ "nóng" cho các luận điệu xuyên tạc, một bộ phận truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại tiếp tục lôi kéo, sử dụng các đối tượng bất mãn, có tư tưởng chống đối trong nước và tâng bốc họ bằng các loại danh xưng tự phong, như: “Nhà nghiên cứu”, “nhà dân chủ”, “nhà bất đồng chính kiến”, “nhà đấu tranh dân chủ, nhân quyền”, “nhà hoạt động môi trường”, “chuyên gia của dân oan”... Thông qua miệng lưỡi của các loại “nhà” này, họ cố tạo ra uy tín giả để xuyên tạc luận điểm, ngụy tạo luận chứng, bịa đặt luận cứ... vẽ ra bức tranh đen tối, tiêu cực về đời sống KT-XH để lèo lái dư luận. Tuy nhiên, khi vào trang cá nhân trên MXH của một số loại “nhà” này thì thấy, không ít đối tượng đã lợi dụng chiêu trò để đánh bóng tên tuổi, bán hàng online, kinh doanh kiếm tiền. Mục tiêu của nhiều đối tượng dạng này là trở thành những “Kols” (Kols là từ viết tắt của Key Opinions Leaders, nghĩa là những người có tầm ảnh hưởng lớn trên cộng đồng mạng, thường được mời tham gia các chiến dịch truyền thông để tạo sức lan tỏa). Lợi dụng quyền dân chủ và tự do ngôn luận, họ không ngừng đánh bóng tên tuổi để trở thành “Kols”, xâm hại lợi ích quốc gia, ám chỉ, bịa đặt, gây tổn hại uy tín, danh dự của tổ chức, cá nhân... Đây là chiêu trò rất nguy hiểm. Một số đối tượng hoạt động vi phạm pháp luật, bị khởi tố, bắt tạm giam để điều tra theo Điều 331 Bộ luật Hình sự thời gian gần đây, như: Trương Châu Hữu Danh, Nguyễn Thị Bích Thủy (Bích Thủy TV), Phan Bùi Bảo Thi... chính là những “Kols” dạng này. Sự vào cuộc kịp thời của các cơ quan chức năng và tính nghiêm minh của pháp luật đã có tác dụng răn đe, thức tỉnh nhiều người. Tuy nhiên, vẫn còn không ít đối tượng, vì nhiều lý do, vẫn tiếp tục bị lôi kéo, dụ dỗ, thực hiện các hoạt động trên không gian mạng theo kiểu lấp lửng, giả giả thật thật, u u minh minh, nhằm ám chỉ, bịa đặt, xâm hại quyền lợi, danh dự tổ chức, cá nhân và lợi ích quốc gia, dân tộc. Đáng tiếc, từ những thông tin kiểu dẫn dụ ấy, một số cá nhân, trong đó có cả một số người trong giới trí thức, văn nghệ sĩ, hưu trí... lại cả tin hùa theo, phát ngôn thiếu suy nghĩ kiểu ngẫu hứng cá nhân, bỡn cợt, đả kích, gây hoang mang dư luận.

Không khó nhận ra chân tướng của những chiêu trò này để phân biệt đâu là vàng, đâu là thau, đâu là hàng xi mạ bóng bẩy. Trong đối tượng có đối tác và trong đối tác có đối tượng. Hãy nhìn cách họ thể hiện thái độ, bày tỏ quan điểm cá nhân trên không gian mạng để chúng ta có cách ứng xử phù hợp. Cách tốt nhất là cùng nhau tẩy chay, đấu tranh thẳng thắn với những đối tượng có hành vi lệch lạc về tư tưởng, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, đồng thời góp ý chân thành, thẳng thắn với những cá nhân có biểu hiện dao động, bị lôi kéo, dụ dỗ. Bảo vệ môi trường văn hóa tư tưởng lành mạnh, nhất là trên không gian mạng, phải bắt đầu từ những việc làm mang tinh thần xây dựng, theo phương châm lấy xây để chống...


 Những đóng góp của thanh niên Việt Nam trong chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử

Ngày 07/5/1953, thực dân Pháp cử tướng Nava làm Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Sau khi sang Đông Dương, Nava đã đề ra kế hoạch quân sự mới với hy vọng kết thúc chiến tranh trong vòng 18 tháng và giành lấy thắng lợi quyết định để “kết thúc chiến tranh trong danh dự”. Khi Kế hoạch bước đầu phá sản, đầu tháng 12/1953, Nava quyết định xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh, sẵn sàng cho một cuộc quyết chiến chiến lược tại đây, với mục tiêu “nghiền nát” bộ đội chủ lực của ta.

Trước tình hình đó, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ và xác định nơi đây trở thành tâm điểm của kế hoạch đông - xuân năm 1953 - 1954 của ta, một trận quyết chiến chiến lược giữa ta với Pháp. Nhận định về tính chất và quy mô của chiến dịch Điện Biên Phủ, Bí thư Tổng Quân ủy, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp kết luận: “Chiến dịch này là chiến dịch lớn nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam từ trước đến nay... Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng, nhất định chúng ta phải thắng”(1).

Đối với thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, thanh niên Việt Nam đã nắm giữ vai trò quan trọng, là lực lượng chủ yếu trực tiếp chiến đấu để quyết định đến thắng lợi của chiến dịch này.

Chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ, Bộ Chính trị quyết định thành lập Bộ Chỉ huy và Đảng ủy mặt trận do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Chỉ huy trưởng, kiêm Bí thư Đảng ủy mặt trận, lực lượng chuẩn bị bao gồm: 4 đại đoàn bộ binh (308, 312, 316, 304), một đại đoàn pháo binh, nhiều tiểu đoàn công binh, thông tin, vận tải, quân y... huy động được 55 000 quân, trong đó phần lớn là thanh niên từ các vùng hậu phương.

Với khẩu hiệu: “Tất cả cho tiền tuyến”“Tất cả để chiến thắng”, hàng vạn thanh niên các tỉnh vùng tự do Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Phú Thọ, Vĩnh Phúc... và các tỉnh vùng giải phóng ở khu 3 đã tham gia lực lượng bộ đội chủ lực và thanh niên xung phong trực tiếp chiến đấu ở lòng chảo Điện Biên Phủ. Tuyển chọn đến đâu thì tổ chức thành đơn vị đại đội đến đó, đồng thời với việc lập chi bộ đảng là thành lập chi đoàn thanh niên cùng cấp, cứ 10 đại đội trở lên thành lập một liên chi ủy và liên chi đoàn thanh niên.

Trên chiến trường, sự hy sinh của những thanh niên Việt Nam đã tiếp thêm sức mạnh cho ngọn lửa yêu nước trong trái tim những người đồng đội trên tiền tuyến và cả triệu người nơi hậu phương. Lịch sử không thể nào quên tấm gương anh dũng hy sinh của anh hùng Phan Đình Giót, người đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai. Sau khi nâng súng tiểu liên bắn vào lỗ châu mai, người thanh niên ấy hô to: “Quyết hy sinh...Vì Đảng... Vì dân”. Lịch sử cũng ghi danh người anh hùng Tô Vĩnh Diện, người đã lấy thân mình chèn thân pháo, khi cả đơn vị kéo pháo ra tập kết ở Bắng Hôm để chờ lệnh mới... Tấm gương sáng của người anh hùng Trần Can, mặc dù bị thương, anh vẫn tập hợp những thương binh hạng nhẹ, chấn chỉnh tổ chức và tham chiến trước yêu cầu nhanh chóng kết thúc chiến dịch, xiết chặt vòng vây tấn công vào phân khu trung tâm của thực dân Pháp. Trên thân mình vẫn còn không ít những vết thương, người thanh niên ấy đã gạt đi nỗi đau về thể xác để chống trả quyết liệt, quyết tâm bảo vệ cánh cửa Mường Thanh, tạo thế mở cửa cho bộ đội tấn công vào phân khu trung tâm. Anh đã hy sinh vào sáng ngày 07/5/1954, khi mà chỉ còn mấy tiếng nữa là chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi vang dội. Lúc ngã xuống trên cây cầu Mường Thanh, Trần Can mới tròn 23 tuổi. Năm 1956, anh trở thành một trong 16 người được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Nhiều thanh niên đã trở thành những tổ viên hăng hái của các tổ “bắn bia sống”, phong trào “bắn tỉa, săn Tây”, thi đua giữa các lực lượng bộ binh, pháo binh, pháo cao xạ, đánh chắc, tiến chắc, từng bước siết chặt vòng vây, tiến tới tiêu diệt và bắt gọn toàn bộ quân địch trong tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Trong suốt 56 ngày đêm “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt”, “máu trộn bùn non”, những người thanh niên Việt Nam có mặt trong chiến dịch Điện Biên Phủ “gan không núng, chí không mòn”. Những chiến công hiển hách của các anh đã làm tỏa rạng chân lý “Đâu cần, thanh niên có; việc gì khó, thanh niên làm” và tô thắm thêm truyền thống kiên cường, dũng cảm, xung kích, anh hùng của thanh niên Việt Nam.

Thanh niên Việt Nam là lực lượng chủ lực đảm bảo cung cấp đầy đủ thuốc men, đạn dược, lương thực, thực phẩm, giao thông thông suốt cho chiến dịch, làm kho tàng, lán trại, canh gác bảo vệ, tải thương, tải đạn... Quân địch cho rằng, mặt trận xa hậu phương gần 600km nên ta không thể cung cấp cho bộ đội đủ súng đạn, lương thực, thực phẩm bằng việc tổ chức vận chuyển bằng thủ công. Theo kinh nghiệm vận tải đã tổng kết ở chiến dịch Tây Bắc (năm 1952), để có 1 kg gạo đến đích phải có 24 kg ăn dọc đường. Vậy, nếu cũng vận chuyển hoàn toàn bằng dân công gánh bộ, muốn có số gạo trên phải huy động từ hậu phương hơn 60 vạn tấn và phải huy động gần 2 triệu dân công để gánh. Do đó, để đánh giá mức độ quan trọng của công tác hậu cần, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận xét rằng, “việc đảm bảo cung cấp lương thực, đạn dược cho Điện Biên Phủ là một nhân tố vô cùng quan trọng, quan trọng không kém các vấn đề chiến thuật từng ngày, từng giờ... không kém tình hình chiến đấu”.

Trước tình hình đó, Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy Trung ương đã đưa ra giải pháp: một mặt, động viên nhân dân Tây Bắc ra sức tiết kiệm để đóng góp tại chỗ, mặt khác đẩy mạnh làm đường, sửa đường, huy động tối đa các phương tiện vận chuyển thô sơ như ngựa thồ, xe đạp thồ, thuyền mảng... nhằm giảm đến mức tối đa lượng lương thực thực phẩm tiêu thụ dọc đường do phải đưa từ xa tới.

Để đáp ứng yêu cầu hậu cần của chiến dịch, 1,5 vạn thanh niên tình nguyện đã được bố trí thành Đội Thanh niên xung phong, biên chế như tổ chức quân đội. Đội 38 làm đường 1B từ biên giới Lạng Sơn - Trung Quốc đến Thái Nguyên để tiếp nhận hàng viện trợ của các nước, làm đường 13 từ Yên Bái sang Sơn La. Đội 34 và Đội 40 trực tiếp bảo đảm giao thông từ Mộc Châu đến gần Điện Biên Phủ, dài trên 200km. Trừ các đại đội phục vụ hỏa tuyến, các đại đội còn lại phục vụ Hội đồng cung cấp mặt trận T100 (tên mật của chiến dịch Điện Biên Phủ). Các đại đội còn lại đóng rải rác trên đường 6 nhưng tập trung nhất là ở Ngã ba Cò Nòi, đèo Chiềng Đông, đèo Chiềng Pắc, đèo Sơn La, đèo Pha Đin, Ngã ba Tuần Giáo, cầu Tà Vài, Yên Châu...

Lực lượng thanh niên xung phong đã sửa chữa, mở rộng, làm mới hàng nghìn ki-lô-mét đường, cầu mở đường cho các đoàn vận tải bằng ô tô, xe đạp thồ, ngựa thồ, gánh bộ, thuyền gỗ, thuyền nan từ các miền tập trung về hướng Điện Biên Phủ. Máy bay địch càng tăng cường đánh phá các tuyến đường vận tải của ta thì lực lượng thanh niên càng ra sức nối lại các tuyến đường huyết mạch. Sau các trận đánh chỉ vài tiếng đồng hồ là đường lại thông. Một trong những lực lượng quan trọng phục vụ hậu cầu cho chiến dịch là đội xe đạp thồ trên 2 vạn người, trong đó phần lớn là ở độ tuổi thanh niên. Mỗi xe đạp thồ trung bình chở khoảng 200 - 300kg, trong đó, kỷ lục xe đạp thồ chở tới 345,5 kg thuộc về dân công Trịnh Ngọc. Xe đạp được cải tiến có thể thồ cao gấp hơn 10 lần dân công gánh bộ, đồng thời giảm được mức tiêu hao gạo ăn dọc đường cho người chuyên chở. Tổng kết chiến dịch, đã có khoảng 26 vạn dân công tham gia tiếp tế cho chiến dịch Điện Biên Phủ, đóng góp 2 triệu ngày công để phục vụ chiến dịch. Từng đoàn người, đa phần đều ở độ tuổi thanh niên nối đuôi nhau trên các con đường vận tải, tất cả đều hướng về Điện Biên Phủ. Mặc cho máy bay Pháp cứ ném bom, những vũ khí, khí tài của chúng không thể nào cản được bước tiến của quân và dân ta hiên ngang mà tiến về phía trước. Xúc động trước hình ảnh ấy, nhà thơ Tố Hữu trong bài thơ “Hoan hô chiến sỹ Điện Biên” đã viết:

          “...Dốc Pha Đin, chị gánh anh thồ

          Đèo Lũng Lô, anh hò chị hát

          Dù bom đạn, xương tan thịt nát

          Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh...”

Tuy nhiên, đã có hàng ngàn thanh niên hy sinh anh dũng tại nhiều tuyến đường dẫn vào Điện Biên Phủ. Đồng chí Nguyễn Văn Trân, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng cung cấp mặt trận đánh giá: “Việc vận chuyển từ hậu phương ra tiền phương biết bao hy sinh. Phải nói rằng thanh niên xung phong là lực lượng nòng cốt không những vận tải mà còn đảm bảo giao thông trên bộ, trên sông. Ở các điểm nóng của chiến dịch đều có mặt thanh niên xung phong”.

Có thể nói rằng, lực lượng thanh niên đã trở thành lực lượng chủ lực đảm bảo cung cấp đầy đủ hậu cần, giao thông thông suốt phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong thư ngày 08/5/1954, Bác Hồ đã gửi lời khen ngợi: “Bác và Chính phủ thân ái gửi lời khen ngợi cán bộ, chiến sỹ, dân công, thanh niên xung phong... đã làm tròn nhiệm vụ một cách vẻ vang”. Bức thư là sự ghi nhận những đóng góp của thanh niên Việt Nam nói chung và lực lượng thanh niên xung phong nói riêng.

Nhờ có sự lao động quên mình của nhân dân nói chung và thế hệ trẻ nói riêng mà vùng hậu phương không những đảm bảo nhu cầu cuộc sống mà còn đáp ứng được nhu cầu lớn về vật chất cho chiến trường. Thanh niên Việt Nam đã chiến đấu kiên cường, đập tan âm mưu lấn chiếm, mở rộng càn quét vùng đồng bằng đông dân, thọc sâu vào hậu phương kháng chiến làm cản trở việc chi viện cho mặt trận Điện Biên Phủ.

Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử đã diễn ra cách đây 65 năm, những đóng góp của thế hệ thanh niên năm ấy đến nay vẫn còn nguyên giá trị, trở thành động lực thôi thúc thế hệ trẻ hôm nay tiến bước noi theo thế hệ đi trước và kế tục sự nghiệp cách mạng của cha anh.

Nhận diện âm mưu “mượn gió bẻ măng” của các thế lực thù địch

 


Trước và trong thời gian diễn ra Đại hội XIII của Đảng, không ít phương tiện truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại và trang cá nhân của nhiều đối tượng cực đoan trên mạng xã hội (MXH) rộ lên những thông tin nhiễu loạn, xuyên tạc về nhân sự, các nội dung văn kiện, Điều lệ Đảng và công tác tổ chức đại hội... nhằm mưu đồ phá hoại. Đến nay, cơn “bão” thông tin xấu độc nhằm vào Đại hội XIII của Đảng gần như tắt ngấm. Sự thành công rất tốt đẹp Đại hội XIII của Đảng chính là bằng chứng thuyết phục nhất đẩy lùi, chặn đứng những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch và phần tử cơ hội, phản động. Qua đó giúp chúng ta thêm một lần nữa thấy rõ hơn âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Với chiêu bài bám vào dòng thời sự chủ lưu, diễn biến tình hình đời sống KT-XH trong nước và những biến động trong môi trường quốc tế, các thế lực thù địch tạo cớ theo kiểu “mượn gió để gây bão”. Khi “gió” đã thành “bão” thì nhân cơ hội “bẻ măng”. Chiêu bài không mới nhưng luôn tỏ ra đắc dụng trong không ít trường hợp, vì vậy nó luôn được áp dụng ở những mức độ, phạm vi, quy mô khác nhau, tùy theo diễn biến của tình hình.

Đại hội XIII của Đảng thành công rất tốt đẹp tạo nên bầu không khí phấn khởi, lạc quan, tin tưởng bao trùm lên đời sống xã hội của toàn dân và kiều bào yêu nước khắp nơi trên thế giới. Khí thế thi đua mừng xuân, mừng Đảng, mừng Đại hội XIII thành công diễn ra sôi nổi, rộng khắp, tạo nên xung lực mới cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Hiện thực sống động ấy khiến những phần tử cơ hội, chống đối không khỏi cay cú, nên lập tức chuyển hướng tuyên truyền, kích động chống phá. Dịch Covid-19 tái bùng phát ở một số địa phương thời điểm giáp Tết Nguyên đán Tân Sửu 2021 đến nay chính là cái cớ để các thế lực thù địch bám vào. Bắt đầu là việc tung tin thất thiệt về dịch bệnh nhằm gây tâm lý hoang mang, lo ngại trong cộng đồng; tiếp đó, thông qua các hình thức như “đối thoại”, “phỏng vấn”, “bàn tròn”, “trực tuyến”, “luận bàn”... nhiều đối tượng và nhóm đối tượng ra sức thực hiện các sản phẩm truyền thông xuyên tạc. Những clip được thực hiện với cái gọi là “sự thật”, “khách quan”... thực chất chỉ là trò đánh tráo khái niệm, bóng gió, ám chỉ, lấy các sự việc, sự kiện liên quan đến dịch bệnh và những khó khăn của một số lĩnh vực trong nền kinh tế để công kích, xuyên tạc nghị quyết của Chính phủ, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta...

Hãy nhận diện rõ và kiên quyết đấu tranh, loại bỏ!