Thư của Servais Joseph gửi các bạn trong quân đội viễn chinh Pháp ở Viễn Đông
Ngày 14 tháng 8 năm 1954
Các bạn thân mến,
Tôi trình bày tóm tắt với các bạn về những ngày lưu trú ở đây của tôi với tư cách là một tù binh của Quân đội nhân dân Việt Nam và xin bảo đảm với các bạn rằng nó hoàn toàn trung thực từ đầu chí cuối.
Tôi đến Đông Dương ngày 4 tháng 4 năm 1954 và ngày 17 cùng tháng, tôi đã tình nguyện nhảy dù xuống Điện Biên Phủ. Mấy ngày trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, các đồng đội cũ kể cho tôi nghe ít nhiều về cuộc sống của những người lính ở đây, và theo họ nói thì thà bị giết chết còn hơn là bị bắt làm tù binh vì bị bắt làm tù binh có nghĩa là phải chịu những đau đớn tồi tệ nhất.
Ngày 23 tháng 4 năm 1954, tôi bị bắt làm tù binh và thú thực rằng tôi đã có một nỗi sợ ghê gớm khi nghĩ đến những điều người ta đã nói với tôi về số phận của những tù binh, và tôi có thể nói với các bạn rằng tôi hết sức ngạc nhiên khi những người lính Việt Nam bảo chúng tôi phải nhanh chóng rút khỏi tuyến đầu vì sợ chúng tôi có thể trúng đạn pháo. Và thế là chúng tôi bắt đầu đi về phía trại tạm giam. Bị bắt lúc 2 giờ đêm, thế mà đến 8 giờ sáng chúng tôi đã được ăn bữa đầu tiên, trong khi đó những đồng đội bị thương của chúng tôi đã được các bác sĩ của Quân đội nhân dân Việt Nam săn sóc.
Ở trại tạm giam ba ngày, sau đó chúng tôi lại đi đến một trại khác. Tôi phải nói rằng trong suốt 30 ngày đi đường, các chiến sĩ cũng như các cán bộ của Quân đội nhân dân Việt Nam đã làm mọi cách có thể để làm cho cuộc di chuyển của chúng tôi đỡ vất vả nhất có thể, trong khi đó y tá đã không ngừng săn sóc những người bị thương và săn sóc ngay cả chúng tôi nữa.
Sau một thời gian ngắn ở trại tạm giam, chúng tôi được chuyển đến Trại 42 và ở lại đó khoảng hai tháng rưỡi. Ở trại này, chúng tôi được đối xử như những người bạn chứ không phải như những tù binh. Chúng tôi có tiêu chuẩn ăn uống như tiêu chuẩn của người lính Việt Nam và những người này, cũng như cán bộ của họ, đã làm tất cả để đem lại cho chúng tôi một cuộc sống dễ chịu nhất có thể. Họ cho phép chúng tôi viết thư về cho gia đình. Chúng tôi thường xuyên có thuốc lá và thức ăn thì đầy đủ. Mỗi bữa ăn, chúng tôi có cả thịt và rau.
Về vấn đề lao động, chúng tôi chỉ phải làm việc cho bản thân chúng tôi, có nghĩa là chúng tôi tự đi lấy gạo, rau, thịt cũng như thuốc lá và chúng tôi tự mình tổ chức để làm một mảnh vườn nhỏ, một nhà ăn tập thể, và cứ như thế, tất cả những việc làm đó đều có sự trợ giúp của những người lính Việt Nam. Những người này còn làm cho chúng tôi một phòng đọc - nơi chúng tôi có thể đến đọc báo và tạp chí và cả viết thư cho gia đình nữa.
Những người ốm, họ được chuyển đến bệnh xá để săn sóc và ở đó, hàng sáng chúng tôi có thể đến khám bệnh. Bản thân tôi cũng đã nằm một tháng ở bệnh xá để chữa sốt rét và được săn sóc rất chu đáo. Người nào bệnh hơi nặng liền được chuyển đến bệnh viện. Điều đập vào mắt tôi hơn cả là người nào trong số chúng tôi ăn cơm thấy khó tiêu, người ta có thể chuẩn bị cho họ một bát cháo hay họ còn có thể chọn chế độ: hoặc chuối, trứng, thịt gà, sữa, hoặc ăn mỳ.
Cần phải sống giữa quân đội và nhân dân Việt Nam như chúng tôi mới có thể hiểu thế nào là chính sách khoan hồng được áp dụng đối với tù binh chúng tôi. Bởi đó là một cử chỉ đẹp nhất mà một dân tộc bị chính chúng ta gây biết bao đau khổ có thể có được; bởi không bao giờ họ có một cử chỉ, một lời nói hằn thù nào đối với chúng tôi. Ngược lại, họ còn coi chúng tôi như những người bạn, nạn nhân của một sự tuyên truyền dối trá.
Khi biết tin đình chiến, người ta tổ chức những buổi liên hoan và nhân dân kéo đến thăm chúng tôi, mang tặng chúng tôi quà (trứng, chuối, sữa và thuốc lá). Để mọi người cùng vui, họ chỉ nói với chúng tôi về hoà bình và về việc hồi hương của chúng tôi.
Ngày 2 tháng 8 năm 1954, chúng tôi đã rời Trại 42. Những tù binh khoẻ mạnh thì đi đường bộ còn những người ốm chúng tôi thì đi thuyền xuôi sông cho đỡ mệt. Chính vì vậy mà chúng tôi đã tới bệnh viện Tuyên Quang, nơi chúng tôi đã được các anh chị bác sĩ chăm sóc cũng như là các anh chị y tá ngày đêm làm việc để hồi phục sức khoẻ cho chúng tôi với sự tận tụy vô hạn. Ở đây cũng vậy, ban chỉ huy bệnh viện cùng nhân dân còn tổ chức những hoạt động biểu thị tình hữu nghị đối với chúng tôi. Như bất cứ dịp nào, nhân dân đã mang quà tặng cho chúng tôi. Chính vì vậy, tất cả chúng tôi đều nhận được một huy hiệu bồ câu hoà bình mà lúc ấy cũng như mãi mãi về sau tôi rất hãnh diện được đeo. Bởi đối với tôi đó là kỷ niệm của một dân tộc khao khát hoà bình và đã đối xử hết sức nhân đạo đối với tù binh.
Tôi xin cảm ơn quân đội và nhân dân Việt Nam và đặc biệt cảm ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh về chính sách khoan hồng của Người, và với tất cả tấm lòng của mình, xin chúc Người lãnh đạo thành công nhân dân Việt Nam trên con đường đi tới hoà bình, hạnh phúc và thịnh vượng.
Servais Joseph, 1/13 DBLE
(Hồ sơ: No 1490)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét