Thứ Năm, 8 tháng 4, 2021

ĐỂ LỰA CHỌN ĐÚNG VÀ TRÚNG

Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng hơn 90 năm qua, nhất là trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, công tác cán bộ được Đảng luôn chú trọng triển khai phù hợp với điều kiện cụ thể và yêu cầu của sự nghiệp cách mạng. Thực hiện công tác cán bộ, triển khai các Nghị quyết Đại hội Đảng, Chiến lược cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước tại Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII (6/1997); Nghị quyết Trung ương 4 khóa X (1/2007) về đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan Đảng; định hướng về đổi mới tổ chức bộ máy Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội và xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính trị tại Hội nghị Trung ương 7 khóa XI (5/2013), Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng; Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII về "Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đầy đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ"; Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XI về "Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" và Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Quy định số 47-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về “Những điều đảng viên không được làm”, Quy định 101-QÐ/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”, Quy định 55-QĐ/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy đinh 08-QĐi/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương… đội ngũ cán bộ từ Trung ương đến địa phương đã không ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, trưởng thành, phát triển về nhiều mặt, từng bước đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đổi mới và hội nhập sâu rộng. Theo tinh thần của các Nghị quyết, Chỉ thị và các Quy định nêu trên, cán bộ nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu nói riêng có chức vụ càng cao bên cạnh yêu cầu về "tài" như trí tuệ, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng lãnh đạo, quản lý, v.v..; về bản lĩnh chính trị trước những thay đổi của tình hình trong nước và quốc tế, trước những hiện tượng, sự việc gây bức xúc trong nội bộ, trong nhân dân, còn phải liêm chính và gương mẫu trong suy nghĩ và hành động; phải nêu gương về đức liêm chính, tác phong sâu sát thực tế, gần gũi để thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng, thể hiện trước hết trong tổ chức, cơ quan, đơn vị công tác và mình nơi cư trú. Vì thế, tại mỗi cấp ủy, công tác cán bộ nói chung, việc lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch và bổ nhiệm cán bộ nói riêng cũng đã được chú trọng theo hướng lựa chọn cán bộ liêm chính và nêu gương trong công tác, trong cuộc sống đời thường, quy tụ được quần chúng để trở thành người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Cụ thể, người cán bộ đó phải luôn liêm chính trong suy nghĩ và hành động, luôn gương mẫu về mọi mặt, thể hiện trong cam kết và đăng ký thi đua hằng năm. Mỗi cán bộ nói chung, người đứng đầu các cơ quan, địa phương, đơn vị nói riêng căn cứ theo 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị; đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã chỉ ra để tự soi, tự sửa mình. Đồng thời, luôn nâng cao bản lĩnh chính trị, gương mẫu thực hành đạo đức cách mạng, lối sống giản dị, cần, kiệm, liêm, chính,v.v.. Đặc biệt, người đứng đầu phải là tấm gương tự phê bình và phê bình để cấp dưới làm theo; gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện vô cảm, quan liêu, cửa quyền, hách dịch và các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà nhân dân; kiên quyết chống tư tưởng cục bộ, bè phái và các biểu hiện cơ hội, thực dụng vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm… để lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức nhân dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - văn hóa, xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Trong những năm qua, bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác cán bộ nói chung, đội ngũ cán bộ các cấp nói riêng vẫn còn một số hạn chế đã được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng chỉ rõ. Đó là, đội ngũ cán bộ đông nhưng chưa mạnh; đội ngũ cán bộ cấp Trung ương, cấp chiến lược chưa được xây dựng một cách cơ bản; trong khi đó, một bộ phận cán bộ trẻ thiếu bản lĩnh chính trị, ngại rèn luyện, ngại thẳng tắn bày tỏ ý kiến... Công tác quy hoạch cán bộ tuy đã có triển khai theo lộ trình, song vẫn chưa đồng bộ, dẫn đến sự hẫng hụt và thiếu chủ động trong công tác bố trí, phân công cán bộ; vẫn còn thiếu tính tổng thể, liên thông giữa các cấp, các ngành, các địa phương; còn dàn trải, khép kín, chưa bảo đảm phương châm “động” và “mở”; chưa kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, chưa gắn quy hoạch theo chức danh… Việc sắp xếp, bố trí, phân công, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, nhất là trong công tác chuẩn bị nhân sự cho các kỳ Đại hội vẫn còn tình trạng đúng quy trình, song chưa thật đúng người, đúng việc. Tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người nhà, người thân, họ hàng, cánh hẩu vẫn xảy ra ở một số nơi, gây bức xúc trong dư luận xã hội, gây mất niềm tin của nhân dân. Một số trường hợp đánh giá, bố trí cán bộ chưa thật công tâm, khách quan, không vì yêu cầu công việc. Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý; trong đó, có cả cán bộ cấp chiến lược thiếu gương mẫu, uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, quan liêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm, “tự diễn biến", “tự chuyển hóa”, suy thoái về đạo đức, lối sống… Thực tế là, những cán bộ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" đã không từ một thủ đoạn nào, kể cả vi phạm pháp luật và Điều lệ Đảng và Quy định về những điều đảng viên không được làm để trao đổi, mua bán, ban phát chức vụ, quyền lợi kinh tế; lợi dụng vị thế của mình để trục lợi, chiếm đoạt tài sản, tiền bạc cho bản thân và phe nhóm mình, tạo kẽ hở cho những kẻ cơ hội luồn lách… Những biểu hiện suy thoái của họ không chỉ xâm hại lợi ích chung mà còn gây tác động xấu, làm phân liệt ý chí và tan rã sức mạnh đoàn kết, thống nhất của từng cơ quan, địa phương, đơn vị; làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng, làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng; là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ. Để xây dựng và chỉnh đốn Đảng nói chung, thực hiện công tác cán bộ và lựa chọn nhân sự cho cấp ủy khóa mới đúng và trúng, đảm bảo cho đại hội Đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng thành công, cấp ủy các cấp và mỗi cán bộ, đảng viên cần chú trọng thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm sau: Một là, tiếp tục thực hiện nghiêm các quy chế, quy định của Đảng, Nhà nước về cán bộ và công tác cán bộ như: Quy định số 89-QĐ/TW ngày 4/8/2017 của Bộ Chính trị khóa XII về “Khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”; Quy định số 90-QĐ/TW ngày 4/8/2017 về “Tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý”; Quy định số 105-QĐ/TW ngày 19/12/2017 về “Phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử”; Quy định số 109-QĐ/TW ngày 3/1/2018, của Ban Bí thư về “Công tác kiểm tra của tổ chức đảng đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên”; Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Bộ Chính trị về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” và Kết luận số 55-KL/TW ngày 15/8/2019 của Ban Bí thư về việc “Tiếp tục chấn chỉnh công tác cán bộ, chuẩn bị tốt nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng”… để chuẩn bị thật tốt đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng theo tinh thần Chỉ thị số 35-CT/TW của Bộ Chính trị và bài viết của đồng chí Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng về lựa chọn nhân sự cho cấp ủy khóa mới. Hai là, trong lựa chọn và giới thiệu cán bộ vào diện nguồn quy hoạch, nguồn nhân sự, phải chú trọng đến những cán bộ, nhất là cán bộ trẻ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, vì lợi ích chung; những cán bộ thanh liêm, chính trực, nêu gương và quỵ tụ được đồng chí, đồng nghiệp và quần chúng, để xây dựng và tạo nên một tổ chức thống nhất, đoàn kết, đồng lòng. Đi liền cùng đó, coi sự giám sát của nhân dân về tinh thần phấn đấu, rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, đức liêm chính, sự gương mẫu của đội ngũ cán bộ nói chung, của những cán bộ trẻ trong nguồn quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và những cán bộ là nguồn nhân sự cho cấp ủy khóa mới nói riêng là kênh thông tin quan trọng để giới thiệu. Thông qua đó, một mặt, lựa chọn được đúng cán bộ, để vừa không bỏ sót người có đức, có tài, vừa không để lọt vào cấp ủy khóa mới, vào các cơ quan lãnh đạo các cấp và Ban Chấp hành Trung ương những người có biểu hiện vi phạm, suy thoái; mặt khác, ngăn chặn những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống, đầu cơ chính trị, lợi ích nhóm, chạy chức, chạy quyền, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy phiếu bầu... Ba là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kiên quyết xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân vi phạm nhằm khắc phục những hạn chế, yếu kém, sơ hở trong công tác cán bộ; đẩy mạnh phân công, phân cấp, xác định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức Đảng, cơ quan, đơn vị, nhất là người đứng đầu và các cá nhân liên quan đến công tác cán bộ, chuẩn bị nhân sự cho cấp ủy. Đồng thời, đẩy mạnh sự phối hợp giữa các cơ quan truyền thông, báo chí, coi những ý kiến phản ánh từ các cơ quan truyền thông là một trong những kênh thông tin quan trọng để "có con mắt tinh đời” trong việc đánh giá, lựa chọn để giới thiêu/chọn cho được những “anh hùng đoán giữa trần ai mới tài”, góp phần chọn được những cán bộ có “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”; để phòng và tránh được các hiện tượng "nhìn gà hoá cuốc”, “thấy đỏ tưởng là chín”, "thấy cái mã bên ngoài, nó che đậy cái sơ sài bên trong” như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã lưu ý. Bốn là, để được cấp ủy lựa chọn, được nhân dân tin yêu và tín nhiệm, mỗi cán bộ trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn, trong cuộc sống đời thường cần phải nỗ lực hết mình về mọi mặt; phải thấm nhuần nguyên tắc hành động: "Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân, thì dân mới yêu ta, kính ta"; phải gần dân, hiểu dân, trọng dân, tin dân, học dân, dựa vào dân và thường xuyên đối thoại, lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến, giải quyết các khó khăn, vướng mắc và yêu cầu chính đáng của nhân dân để củng cố và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Mỗi người phải nêu cao đức liêm chính, gương mẫu đi đầu, nhất là tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nghiêm túc tiếp thu, sửa chữa những góp ý phê bình của nhân dân; phải khuyến khích nhân dân thực hiện vai trò giám sát của mình một cách tự nguyện, tự giác để được nhân dân tin yêu và "tâm phục, khẩu phục"../.

PHẢI THƯỜNG XUYÊN NÊU CAO Ý THỨC RÈN LUYỆN, TU DƯỠNG

. Trong bối cảnh hiện nay, có rất nhiều yếu tố tác động, ảnh hưởng đến bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đáng chú ý là từ mặt trái của cơ chế thị trường, tác động xấu từ các quan điểm sai trái, từ sự kích động, lôi kéo, móc nối của các thế lực thù địch. Đúng như nhận định của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII: “Các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo và những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để xuyên tạc, bóp méo tình hình; cổ xúy cho lối sống hưởng thụ, thực dụng, ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa”. Đồng thời, chúng còn “cấu kết với các phần tử cơ hội và bất mãn chính trị hoạt động ráo riết, chống phá cách mạng ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn”. Đặc biệt, chúng tìm mọi phương kế tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; phủ nhận bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; gieo rắc vào cán bộ, đảng viên tư tưởng hoài nghi về mục tiêu lý tưởng, con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Bài học đắt giá rút ra từ thực trạng như đã nêu trên là mọi cán bộ, đảng viên dù đảm nhiệm công việc gì, trên cương vị nào, trọng trách gì cũng phải thường xuyên nêu cao ý thức rèn luyện, tu dưỡng. Chỉ có thông qua tự rèn luyện, tu dưỡng phấn đấu mỗi cán bộ, đảng viên mới không ngừng bồi đắp nâng cao bản lĩnh chính trị, tăng cường “sức đề kháng”, khả năng “miễn dịch” cho bản thân trước mọi tác động tiêu cực từ bên ngoài. Bản lĩnh chính trị vững vàng là một phẩm chấtquyết định sự sống còn và thành công của mỗi cán bộ, đảng viên cũng như của toàn Đảng. Để không thoái hóa, biến chất, không “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cán bộ, đảng viên phải có bản lĩnh chính trị thật sự kiên định, vững vàng. Dưới góc nhìn chính trị tư tưởng, sự vững vàng về bản lĩnh, ý chí, niềm tin có vai trò rất quan trọng quyết định “sức đề kháng”, khả năng “miễn dịch” của mỗi cán bộ, đảng viên. Bản lĩnh chính trị vững vàng là một phẩm chất quyết định sự sống còn và thành công của mỗi cán bộ, đảng viên cũng như của toàn Đảng. Bản lĩnh chính trị không phải tự nhiên mà có, không phải có được trong một sớm một chiều, mà đó là sản phẩm của quá trình giáo dục, bồi dưỡng, học tập, nghiên cứu, rèn luyện thường xuyên, kiên trì và bền bỉ. Những tác động xấu từ mặt trái của xã hội, từ các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng là không hề nhỏ. Hằng ngày, hằng giờ những tư tưởng, quan điểm sai trái, những yếu tố tiêu cực len lỏi vào mọi ngõ ngách của đời sống xã hội, tác động đến mọi đối tượng. Để hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực đến bản lĩnh chính trị đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên và toàn Đảng ta phải có những giải pháp đồng bộ, thống nhất và quyết liệt. Một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu đó là phải coi trọng đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng. Đây là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài nhằm củng cố và tăng cường bản lĩnh chính trị trong Đảng, bồi đắp lý tưởng cách mạng, củng cố niềm tin khoa học, tạo sự thống nhất cao cả về ý chí và hành động trong toàn Đảng để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của đất nước trong từng giai đoạn. Quan trọng là vậy nhưng trên thực tế thời gian qua không ít cấp ủy, cán bộ lãnh đạo các cấp nhận thức chưa đúng, chưa thống nhất, nên chưa thấy hết trách nhiệm của mình với công tác giáo dục chính trị tư tưởng. Do đó, muốn đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị tư tưởng thì trước tiên phải đổi mới nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên về vai trò, vị trí của công tác này. Trên cơ sở thống nhất nhận thức, mỗi tổ chức đảng và từng cán bộ, đảng viên cần xác định đây là trách nhiệm chính trị của mình. Mặt khác, việc tiến hành công tác giáo dục chính trị tư tưởng, duy trì chế độ học tập, sinh hoạt chính trị ở không ít địa phương, cơ sở lâu nay vẫn nặng về hình thức. Vấn đề đặt ra đối với mỗi tổ chức Đảng hiện nay là phải đổi mới mạnh mẽ về phương pháp tiến hành công tác giáo dục chính trị tư tưởng theo hướng phù hợp với từng đối tượng, phù hợp môi trường, điều kiện công tác của cán bộ, đảng viên, có chiều sâu, khoa học và hiệu quả thiết thực. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, công tác tuyên truyền phải tập trung làm cho mọi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp hiểu rõ bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo trong đường lối lãnh đạo của Đảng ta. Hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng được thể hiện tập trung ở chất lượng xây dựng và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng của Đảng phải tập trung cao độ vào xây dựng ý thức, niềm tin và cổ vũ, khích lệ ý chí, quyết tâm của cán bộ, đảng viên và nhân dân để đưa nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống. Hiệu quả thực hiện nghị quyết của Đảng trên thực tế đó chính là thước đo bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên và toàn Đảng. Cơ sở nền tảng cho sự vững vàng bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên là sự kết hợp giữa trình độ lý luận, trình độ chuyên môn nghiệp vụ với kinh nghiệm rút ra từ hoạt động thực tiễn. Để có bản lĩnh chính trị thực sự vững vàng, từng cán bộ, đảng viên vừa phải tích cực học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ lý luận, chuyên môn nghiệp vụ, vừa phải lăn lộn vào phong trào hành động cách mạng để thử lửa, tôi luyện, tu dưỡng, phấn đấu. Không chỉ có khả năng và “sức đề kháng” tốt, trên cơ sở bản lĩnh chính trị vững vàng, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải chủ động, tích cực tham gia đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần làm thất bại âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời kỳ mới./.

BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ PHẢI THỰC SỰ VỮNG VÀNG

Theo Đại Từ điển tiếng Việt, bản lĩnh là khả năng và ý chí kiên định của con người trước mọi hoàn cảnh. Đối với mỗi cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị là tố chất không thể thiếu, mang tính quyết định tạo nên sự kiên định, khả năng độc lập, tự chủ trong hành động. Bản lĩnh chính trị của người cán bộ, đảng viên được cấu thành và chịu tác động bởi nhiều yếu tố, như: trình độ lý luận chính trị; quan điểm, lập trường chính trị; phẩm chất chính trị; năng lực chính trị; dũng khí chính trị… Bởi vậy, để bản lĩnh chính trị thực sự vững vàng, đạt đến trình độ cao, có khả năng tự quyết định một cách độc lập, sáng tạo, làm chủ hành vi chính trị của bản thân, người cán bộ, đảng viên phải trải qua quá trình rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu thường xuyên, kiên trì và bền bỉ. Trước những bước ngoặt hay những tình huống nhạy cảm, phức tạp về chính trị, cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng sẽ không nao núng, không chao đảo, ngả nghiêng mà luôn giữ vững lập trường, làm chủ tư duy của bản thân, có những quyết định chính xác để thực hiện tốt nhất nhiệm vụ được giao. Thực tế đã chứng minh bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định đến thành bại của mỗi Đảng nói chung và Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng. Ý thức rõ về điều đó nên trong nhiều văn kiện, đặc biệt Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng nhấn mạnh nhiệm vụ: “Nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp; không dao động trước bất kỳ tình huống nào”(1). Thực tiễn đã khẳng định, trong suốt hành trình hơn 90 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, bản chất cách mạng và khoa học; kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn và ngày càng lớn mạnh. Sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng là nhân tố quyết định đưa đất nước ta, nhân dân ta tiến lên giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích lịch sử trong thế kỷ XX và 20 năm đầu thế kỷ XXI. Trước những tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường, mở cửa hội nhập và âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, về cơ bản toàn Đảng, toàn dân ta có sức “đề kháng” tốt, bản lĩnh chính trị luôn vững vàng, nhận thức đúng về bản chất cách mạng, khoa học và kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tích cực, chủ động tham gia vào cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, làm thất mọi bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” hòng chống phá cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, chúng ta phải thẳng thắn nhìn nhận, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta vấp phải không ít hạn chế, khuyết điểm, đặc biệt là trong công tác xây dựng Đảng… Trước những tác động tiêu cực, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã nao núng, chao đảo, ngả nghiêng, thậm chí thay đổi hẳn về quan điểm, tư tưởng lập trường. Do không làm chủ bản thân nên không ít cán bộ, đảng viên đã có những quyết định, hành động sai trái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Chỉ tính từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Đảng ta đã thi hành kỷ luật hơn 100 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý. Số ít cán bộ, đảng viên, trong đó có người từng giữ những chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước, một thời được trọng dụng nay “trở cờ” quay lưng với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Điển hình phải nhắc tới là trường hợp Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đình Cống. Khi còn công tác vị giáo sư này luôn phấn đấu vì mục tiêu lý tưởng của Đảng và trở thành Nhà giáo Nhân dân, một chuyên gia đầu ngành đóng góp nhiều công sức cho công tác nghiên cứu khoa học và đào tạo trong lĩnh vực xây dựng. Nhưng do bản lĩnh chính trị thiếu vững vàng mà sau khi nghỉ hưu, thay vì đóng góp một phần nào công sức, trí tuệ vào sự nghiệp giáo dục - đào tạo, là tấm gương sáng để con cháu noi theo, chỉ vì những ích kỷ cá nhân, lại thêm bị kẻ xấu kích động, lôi kéo, ông đã lên mạng xã hội tuyên bố rời bỏ Đảng, sau nữa là liên tục viết bài tuyên truyền xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước… Tương tự là trường hợp ông Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học - Công nghệ. Sau khi nghỉ hưu, ông Chu Hảo chuyển sang công tác ở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam với cương vị là Tổng Biên tập, Giám đốc Nhà xuất bản Tri thức. Là một đảng viên lâu năm, gia đình có truyền thống cách mạng, từng giữ nhiều chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước nhưng ông Chu Hảo đã có những vi phạm rất nghiêm trọng. Ngoài cho xuất bản 5 cuốn sách có nội dung sai phạm về chính trị tư tưởng, trái quan điểm, chủ trương đường lối của Đảng, cơ quan chức năng đã thẩm định, kết luận và xử lý cấm phát hành, qua báo chí, mạng xã hội và thực tiễn ông Chu Hảo còn nói, viết và làm trái với Cương lĩnh chính trị, Điều lệ, Nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước.v.v. Tuy tính chất, mức độ ở từng vụ việc, ở từng đối tượng khác nhau nhưng nguyên nhân cơ bản, chủ quan, lớn nhất khiến một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là do bản lĩnh chính trị không vững vàng. Bản thân từng đồng chí thiếu tu dưỡng, rèn luyện nên đã dẫn đến nói, viết và làm trái quan điểm, đường lối của Đảng. Đứng trước các vấn đề, nhất là những vấn đề nhạy cảm, phức tạp trong đời sống xã hội, họ đã thiếu kiên định, thiếu sáng suốt, lựa chọn sai đường hướng, phương pháp tư duy dẫn tới sai lầm trong hành động và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Hay nói một cách khác, thoái hóa, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là hệ quả tất yếu của bản lĩnh chính trị không vững vàng. Vấn đề này cũng đã được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ ra là: “Do bản thân những cán bộ, đảng viên đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài;…” .

Tiếng nói lạc lõng, ngược dòng không thể làm giảm lòng tin với Đảng .

Dù cách thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt đến đâu thì những luận điệu xuyên tạc của các phần tử chống đối, thù địch cũng chỉ là những tiếng nói lạc lõng, đi ngược lại xu thế, dòng chảy chung. . Với tinh thần thượng tôn pháp luật, thời gian qua, Đảng, Nhà nước đã kiên quyết xử lý những cán bộ sai phạm, nhất là cán bộ cấp cao với quan điểm “cán bộ cấp càng cao càng phải nêu gương,” qua đó làm trong sạch đội ngũ, xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao uy tín và củng cố niềm tin trong nhân dân. Việc xử lý nghiêm minh những cán bộ sai phạm đã được cán bộ, đảng viên, nhân dân đồng tình, đánh giá cao. Vậy mà, những phần tử chống đối, thù địch lại đưa ra những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật, cố tình hướng lái việc xử lý cán bộ sai phạm và công tác cán bộ nhằm gây chia rẽ trong Đảng, làm suy giảm lòng tin của người dân đối với Đảng. Trong lịch sử 90 năm rèn luyện phấn đấu, xây dựng và trưởng thành, Đảng ta luôn đặc biệt coi trọng công tác xây Đảng, coi đây là “nhiệm vụ then chốt,” trong đó công tác cán bộ là “then chốt của then chốt.” Công tác xây dựng Đảng được triển khai thực hiện thường xuyên, liên tục, trên cả hai mặt “xây” và “chống,” trong đó “xây” trước “chống” sau, “xây” là cơ bản, lâu dài, “chống” là quan trọng, cấp bách, hai nhiệm vụ này luôn song hành, kết hợp nhuần nhuyễn nhằm làm trong sạch đội ngũ, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng. Công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực, việc kỷ luật, đưa ra xét xử các cán bộ, đảng viên vi phạm là một nhiệm vụ quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ.” Người cho đó là: “Kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta.” Bởi vậy, ngay từ khi Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền cách mạng mới được thành lập, Đảng, Nhà nước đã nhận diện, thẳng thắn chỉ ra các hiện tượng tham ô tài sản, nhận hối lộ, lạm dụng chức vụ, quyền hạn và có những hành động cụ thể nhằm kiên quyết xử lý những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, có hành vi sai phạm. Việc xét xử kịp thời vụ án Trần Dụ Châu năm 1950 và Chủ tịch Hồ Chí Minh dù rất đau lòng nhưng vẫn quyết định bác đơn xin ân xá án tử hình của Đại tá Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục Quân nhu, do vi phạm nghiêm trọng kỷ luật quân đội và kỷ luật của Đảng, thể hiện quyết tâm chống tham nhũng, tiêu cực ngay từ giai đoạn đầu lập quốc. Thực tiễn 75 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đã giành được nhiều thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, Việt Nam không ngừng phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, thế và lực ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, vẫn còn không ít tồn tại hạn chế, những vấn đề nhức nhối nảy sinh. Trước những tác động mặt trái của cơ chế thị trường, mở cửa hội nhập, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên không thường xuyên tu dưỡng, suy thoái biến chất, bị lợi ích cá nhân làm lóa mắt, tìm cách đục khoét tài sản công, gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng. Dẫu chỉ là “mía sâu có đốt, nhà dột có nơi,” nhưng Đảng ta đã chỉ rõ ba vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay, cần tập trung lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện thật tốt. Trước hết là kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” trong nội bộ, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân đối với Đảng. Để ngăn chặn tình trạng này, Đảng, Nhà nước thể hiện rõ quan điểm và quyết tâm không bao che, dung túng những hành vi sai phạm; kiên quyết xử lý, loại trừ khỏi bộ máy những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước, với tinh thần thượng tôn pháp luật, không có “vùng cấm,” không có ngoại lệ, bất kỳ cán bộ, đảng viên nào có sai phạm đều bị xử lý nghiêm minh, công bằng. Nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng được phát hiện, xử lý, nhất là những vụ án nghiêm trọng được Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng chỉ đạo điều tra, truy tố, xét xử, bước đầu khắc phục tình trạng án treo về tội phạm tham nhũng; từng bước chú trọng công tác thu hồi tài sản tham nhũng. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2020, các cơ quan tố tụng, thi hành án dân sự trong cả nước đã thu hồi trên 37.000 tỷ đồng. Riêng các vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo đã thu hồi, tạm giữ, kê biên, phong tỏa, ngăn chặn tẩu tán tài sản trị giá trên 11.700 tỷ đồng và nhiều tài sản, bất động sản có giá trị khác… Thời gian qua, cán bộ, đảng viên, nhân dân đồng tình, đánh giá cao việc xử lý nghiêm minh nhiều vụ tham nhũng, tiêu cực, liên quan đến cán bộ cấp cao trong hệ thống chính trị, như vụ “Vi phạm quy định về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công gây hậu quả nghiêm trọng; đưa hối lộ, nhận hối lộ” xảy ra tại Tổng công ty Viễn thông Mobifone; vụ án “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng; Vi phạm các quy định về quản lý đất đai; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xảy ra tại Công ty Hải Thành, liên quan đến thửa đất số 7-9 Tôn Đức Thắng, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh; vụ án “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam; vụ án “Vi phạm các quy định về quản lý đất đai; Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí” xảy ra tại Đà Nẵng… Trong các vụ án này, nhiều bị cáo mắc sai lầm, vi phạm nghiêm trọng khi đảm đương các cương vị cao trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, đã bị đưa ra xét xử trước pháp luật và nhận những bản án thích đáng. Cựu Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Bắc Son nhận bản án chung thân về hai tội “Nhận hối lộ,” "Vi phạm các quy định về quản lý đầu tư và sử dụng vốn công gây hậu quả nghiêm trọng; cựu Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Trương Minh Tuấn bị 14 năm tù về hai tội “Nhận hối lộ”, "Vi phạm các quy định về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công gây hậu quả nghiêm trọng"; cựu Tư lệnh Quân chủng Hải quân, cựu Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Văn Hiến, bị tuyên 4 năm tù về tội "Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng"... Việc xử lý các vụ án được tiến hành kỹ lưỡng và trên tinh thần thượng tôn pháp luật, căn cứ vào hành vi phạm tội của các bị cáo, hậu quả gây ra đối với Đảng, Nhà nước, nhân dân, căn cứ vào quy định, Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước, khiến chính các bị cáo phải tâm phục khẩu phục, nhiều bị cáo nhận thức rõ sai phạm của mình và đã thể hiện sự ăn năn, hối cải. Đây chính là hồi chuông cảnh tỉnh đối với những cán bộ, đảng viên nhen nhóm ý đồ lạm dụng quyền lực để trục lợi, cố tình chiếm dụng tài sản của Nhà nước và nhân dân. Con số hơn 100 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có người giữ cương vị cấp cao của Đảng cũng bị xem xét xử lý rất nghiêm minh, cả về kỷ luật Đảng, chính quyền và xử lý trách nhiệm hình sự tại nhiệm kỳ này là minh chứng cho thấy công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng “không chững lại, không chùng xuống,” mà ngày càng quyết liệt, hiệu quả, có sức răn đe lớn, trở thành một xu thế. Việc làm này cũng đã giúp trả lời câu hỏi “bộ phận không nhỏ là ai?” Và quan trọng hơn, việc loại ra khỏi Đảng những đảng viên thoái hóa biến chất nhằm làm trong sạch đội ngũ, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Đảng thực sự vững mạnh, tập hợp những cán bộ, đảng viên ưu tú, kiên định mục tiêu, lý tưởng và con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Điều này được đông đảo nhân dân đánh giá cao và đồng tình ủng hộ bởi người dân nhận thức được việc Đảng tự chỉnh đốn, hoàn thiện mình để phục vụ nhân dân tốt hơn. Vậy nhưng, các lực lượng thù địch luôn tìm cách chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Chúng không bao giờ muốn Đảng vững mạnh. Cứ mỗi lần trước thềm Đại hội Đảng, chúng lại cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật, rêu rao rằng việc xử lý cán bộ tham nhũng, tiêu cực là “đấu đá nội bộ,” “phe cánh chính trị,” là “sự thất bại nặng nề của công tác nhân sự mà Đảng Cộng sản lãnh đạo.” Chúng quy kết một cách vô lối rằng, nguyên nhân cán bộ, đảng viên sai phạm là bởi “Đảng Cộng sản thiếu năng lực, không đảm bảo dân chủ khi thực hiện lựa chọn nhân sự,” công tác cán bộ chỉ phục vụ các phe phái, lợi ích nhóm. Với luận điệu đó, bọn chúng kêu gọi thay đổi chế độ chính trị, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bọn chúng cố tình làm sai lệch bản chất sự việc, phủ nhận sạch trơn vai trò của đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ, với âm mưu gây mơ hồ, hoài nghi, tác động vào niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân về vai trò lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước; chia rẽ nội bộ, gây mất đoàn kết trong Đảng, trong dân, thâm độc hơn là nhằm gây bất ổn chính trị xã hội, lật đổ chế độ ta. Dù cách thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt đến đâu, thì đó cũng chỉ là những tiếng nói lạc lõng, đi ngược lại xu thế, dòng chảy chung. Những tiếng nói lạc lõng đó không thể đảo ngược quyết tâm chính trị của toàn Đảng, toàn dân ta trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nhằm xây dựng và chỉnh đốn Đảng ngày càng trong sạch vững mạnh, phù hợp với mong muốn, nguyện vọng chung của toàn Đảng, toàn dân, vì lợi ích và sự phát triển trường tồn của dân tộc Việt Nam. Thực tiễn của quá trình dựng nước và giữ nước cho thấy chỉ khi phát huy sức mạnh nội lực, kết hợp cùng với sức mạnh của thời đại, đất nước mới hưng thịnh. Chẳng có phép màu nào, cũng như chẳng lực lượng bên ngoài nào cùng với những chiếc “bánh vẽ” có thể mang đến độc lập, tự do, hạnh phúc và thịnh vượng như Đảng đã mang lại cho nhân dân và đất nước./.

TÂN THỦ TƯỚNG PHẠM MINH CHÍNH - DẦU ẤN TẦM NHÌN ĐỘT PHÁ (P.3)

 TÂN THỦ TƯỚNG PHẠM MINH CHÍNH - DẦU ẤN TẦM NHÌN ĐỘT PHÁ (P.3)

3. Đột phá ở “Then chốt của then chốt”: 6 giảm, 6 tăng và 6 dám


 TÂN THỦ TƯỚNG PHẠM MINH CHÍNH - DẦU ẤN TẦM NHÌN ĐỘT PHÁ (P.2)

2. Bí thư tỉnh ủy kiến tạo một Quảng Ninh cất cánh

TÂN THỦ TƯỚNG PHẠM MINH CHÍNH - DẦU ẤN TẦM NHÌN ĐỘT PHÁ (p.1)

TÂN THỦ TƯỚNG PHẠM MINH CHÍNH -  DẦU ẤN TẦM NHÌN ĐỘT PHÁ (p.1)

1. “Mổ xẻ lịch sử như là sự khỏi động đến tương lai”

Tiếp tục đổi mới công tác dân vận trong tình hình hiện nay

Tác phẩm “Dân vận” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là Cương lĩnh hành động và là “cẩm nang” trong công tác vận động quần chúng. Đại hội XII của Đảng đã bổ sung, nhấn mạnh những nội dung trọng tâm để nâng cao hiệu quả công tác dân vận trong tình hình mới. Đó là: 1. Củng cố vững chắc niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, tạo sinh lực mới cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; tập hợp, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, tạo thành phong trào cách mạng rộng lớn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; 2. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác dân vận trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế. Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thật sự tin dân, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, có trách nhiệm với dân. Giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc, những kiến nghị chính đáng của nhân dân và khiếu nại, tố cáo của công dân; 3. Kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật phù hợp với thực tiễn và đáp ứng lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa mối quan hệ "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ", nhất là nội dung nhân dân làm chủ và phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra"; bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống, từ nêu sáng kiến, tham gia thảo luận, tranh luận đến giám sát quá trình thực hiện; 4. Tăng cường và đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan nhà nước. Thực hiện tốt Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác dân vận. Trong bối cảnh đất nước đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang diễn ra; trình độ dân trí ngày càng cao; vai trò làm chủ của nhân dân ngày càng được mở rộng; các phương tiện thông tin trực tiếp tác động ngày càng đa dạng, đa chiều... để tiếp tục đẩy mạnh công tác dân vận của Đảng, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và cả hệ thống chính trị cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau: Một là, tiếp tục tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động về công tác dân vận của các cấp ủy đảng, hệ thống chính trị; phát huy vai trò của Nhân dân tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh. Đẩy mạnh tuyên truyền về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác dân vận; đổi mới cách thức tuyên truyền về công tác dân vận, sử dụng có hiệu quả các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội. Đổi mới công tác dân vận theo hướng thiết thực, sáng tạo, hướng đến mục tiêu đồng thuận, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, phát huy sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Hai là, tập trung làm tốt công tác dân vận của các cơ quan nhà nước các cấp, trọng tâm là: Nâng cao chất lượng, phát huy vai trò, sự tham gia của nhân dân trong xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên cơ sở bảo đảm hài hoà lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và Nhân dân, giữa các vùng, miền. Quan tâm đến các đối tượng yếu thế trong xã hội. Coi trọng chất lượng, khắc phục tính hình thức trong hoạt động tiếp xúc cử tri, hoạt động giám sát, tiếp dân, đối thoại, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của nhân dân. Thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở. Tăng cường đối thoại, tiếp xúc với nhân dân, sâu sát cơ sở, lắng nghe tâm tư, kịp thời giải quyết nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của Nhân dân. Ba là, phát huy vai trò, tích cực đổi mới nội dung, phương thức hoạt động và tổ chức của mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng theo hướng có trọng tâm, thực chất, hiệu quả hơn; nâng cao hiệu quả giám sát và phản biện xã hội của Nhân dân thông qua mặt trận Tổ quốc, các tổ chức, đoàn thể. Quan tâm lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng và có cơ chế, chính sách động viên đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, mặt trận, đoàn thể; kiên quyết không bố trí cán bộ thiếu gương mẫu, đạo đức kém, vi phạm kỷ luật làm công tác dân vận. Bốn là, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, thực hiện tốt phong trào thi đua “Dân vận khéo”, tích cực tuyên truyền, biểu dương, nhân rộng các mô hình, điển hình về công tác dân vận. Đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, công tác phòng, chống tham nhũng, mà trọng tâm là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, Trung ương 6, Trung ương 7 (khóa XII) và các văn bản của Đảng có liên quan. Nâng cao vai trò trách nhiệm và tính gương mẫu của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, các cơ quan, tổ chức.

“Dân vận khéo” việc gì cũng thành công

Trong tác phẩm “Dân vận”, Bác Hồ đặt câu hỏi: “Ai phụ trách dân vận” và Người khẳng định: “Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân (Liên Việt, Việt minh, v.v) đều phải phụ trách dân vận”(1). Bác cho rằng Đảng phải chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị, thấm nhuần lý tưởng chính trị vì dân thì làm công tác dân vận mới thực sự có hiệu quả. Người từng nói: “Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”(2). Vì vậy khi bàn về phẩm chất và phong cách người cán bộ dân vận Bác Hồ đã đúc kết thành 12 từ: “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”(3). Đặt “óc nghĩ” lên hàng đầu, Hồ Chí Minh muốn khẳng định, công tác dân vận không chỉ là những thao tác cụ thể, những công thức có sẵn mà bản thân nó là một khoa học - khoa học về con người, một nghệ thuật - nghệ thuật tiếp cận và vận động con người. Đó là tầm cao trí tuệ của người làm công tác dân vận. Cho nên phải dày công tìm tòi suy nghĩ để phân tích chính xác tình hình nhân dân, vận dụng sáng tạo lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để vận dụng vào thực tiễn vận động nhân dân có hiệu quả. Muốn vậy, hoạt động dân vận phải coi trọng khả năng tuyên truyền, giáo dục, thu phục, thuyết phục quần chúng; khả năng nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của nhân dân để tham mưu, đề xuất cho Đảng, Nhà nước xây dựng, ban hành các chủ trương, đường lối, chính sách hợp lòng dân, đồng thời kịp thời ngăn chặn mặt tiêu cực phát sinh trong quần chúng nhân dân, góp phần thiết thực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. “Mắt trông, tai nghe, chân đi” là yêu cầu người làm công tác dân vận cần sát cơ sở, sát thực tế, đến với nhân dân để lắng nghe và hiểu tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; biết loại trừ những thông tin nhiễu, thiếu chân thực, không khách quan, không đúng sự thật mà giúp dân giải quyết các công việc cụ thể, đề xuất hoặc điều chỉnh chính sách cho phù hợp. Đồng thời, tiến hành công tác dân vận tuyệt đối không được quan liêu, hành chính nặng về làm việc theo kiểu giấy tờ, chỉ ngồi nghe điện thoại, nhận báo cáo rồi nhận định, phán xét chủ quan... dẫn tới tô vẽ, thổi phồng thành tích; nghe dân nói, nhưng không theo đuôi quần chúng mà phải biểu thị được thái độ vừa cầu thị, vừa định hướng, dẫn dắt, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và địa phương. “Miệng nói, tay làm” là phong cách quan trọng nhất hiện nay của người làm công tác dân vận. Vì vậy, “phải thật thà nhúng tay vào việc”, thường xuyên có trách nhiệm tuyên truyền và vận động nhân dân thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, pháp luật, văn hóa, xã hội và quốc phòng, an ninh... không được nói một đằng, làm một nẻo, miệng thì vận động người khác nhưng mình thì không làm hoặc làm ngược lại. Đối lập với tác phong “miệng nói, tay làm” là lối “chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh”, tức là nói mà không làm và nếu có làm thì chỉ làm theo lối quan liêu “bàn giấy”. Theo Người: “Cái lối làm việc như vậy rất có hại. Nó làm cho chúng ta không đi sát phong trào, không hiểu rõ được tình hình bên dưới, cho nên phần nhiều chủ trương của chúng ta không thi hành được đến nơi đến chốn”(4). Theo Hồ Chí Minh, người làm dân vận phải thật thà “nhúng” tay vào việc, tức là làm việc một cách thật sự, phải cùng lao động, cùng chiến đấu, lăn vào cuộc sống hằng ngày của nhân dân, coi trọng hiệu quả công việc, lấy hiệu quả của công việc làm thước đo, mục đích của công tác dân vận. Nếu “chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh” thì làm sao hiểu được dân, làm sao “vận” được dân, làm sao để dân có tự do, hạnh phúc thật sự. Các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Trần Quốc Vượng, Thường trực Ban Bí thư; Tòng Thị Phóng, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội; Trương Thị Mai, Trưởng Ban Dân vận Trung ương tặng Bằng khen cho các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua “Dân vận khéo” giai đoạn 2016-2020. Để xây dựng đội ngũ những người làm công tác dân vận hiện nay cần phải tập trung bồi dưỡng những phẩm chất năng lực sau đây: Một là, cán bộ dân vận phải có trí tuệ, bởi khi đã xác định công tác dân vận vừa là khoa học, vừa là chính trị, nghệ thuật, trong thời đại khoa học, công nghệ, kỹ thuật tiến như vũ bão thì chuẩn mực về trí tuệ đặt lên hàng đầu là rất cần thiết để họ có đủ sức tìm tòi, nghiên cứu, suy nghĩ, tư duy thấu đáo mới phát hiện và giải quyết những vấn đề đặt ra, giải quyết thấu đáo góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Hai là, cán bộ dân vận phải có uy tín, giỏi tuyên truyền, thuyết phục. Uy tín là phẩm chất hàng đầu của người làm công tác dân vận. Để được nhân dân hiểu, tin tưởng và làm theo thì nhất định người cán bộ làm công tác dân vận phải có uy tín. Uy tín của người làm công tác dân vận, nhất là cán bộ ở cơ sở hằng ngày tiếp xúc, giải quyết công việc trực tiếp với nhân dân lại càng quan trọng. Đồng thời, giỏi tuyên truyền, thuyết phục cũng là phẩm chất không thể thiếu của cán bộ làm dân vận. Cần thuyết phục bằng cả lời nói và việc làm, phải thống nhất trong nhận thức và hành động. Phải nâng cao khả năng dùng ngôn ngữ phù hợp với địa phương, vùng miền, dân tộc; phải hiểu được ít nhiều ngôn ngữ địa phương mới có thể vận động, thuyết phục nhân dân có hiệu quả. Ba là, cán bộ dân vận phải có tác phong quần chúng. Phải “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”, “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”. Có trọng dân thì người cán bộ mới thật sự xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ của nhân dân; mới đến với dân như người thầy, người chủ của mình. “Gần dân” là đòi hỏi khách quan của người cán bộ dân vận. Những người có phong cách gần dân sẽ tránh được căn bệnh quan liêu, hách dịch, mệnh lệnh; mới hiểu được cuộc sống tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của người dân và mới tham mưu đúng, trúng cho cấp ủy đảng, chính quyền những chủ trương, chính sách phù hợp với lòng dân. Muốn “học dân” thì người cán bộ phải thực sự biết lắng nghe, khiêm tốn, cầu thị. Bốn là, cán bộ dân vận phải biết nêu gương. Người yêu cầu cán bộ phải gương mẫu, cùng với nhân dân thực hiện công việc, đồng thời phê phán “bệnh nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh”, nói không đi đôi với làm, ít đi cơ sở, thiếu sâu sát nhân dân của một số cán bộ, trong đó có cán bộ làm công tác dân vận. Phải đưa cán bộ làm công tác dân vận vào rèn luyện, trưởng thành từ phong trào quần chúng, được nhân dân tín nhiệm, tin yêu. Bởi người cán bộ dân vận có từ nhân dân mà ra, có lăn lộn “cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói” với dân, có trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân, nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin, dân yêu... mới có “chiếc chìa khóa” đi vào lòng dân - nhân tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận. Ðó cũng là một trong những yếu tố để thực hiện tốt việc “dân vận khéo”. Mà “dân vận khéo” thì việc gì cũng thành công, từ đó mà tích lũy cho mình được nhiều kinh nghiệm quý, giúp ích cho công tác dân vận của mình. Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng và Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao Nguyễn Hòa Bình trao tặng Bằng khen của Ban Dân vận Trung ương cho các tác giả, nhóm tác giả đoạt giải Cuộc thi Báo chí viết về tấm gương “Dân vận khéo” giai đoạn 2017-2020. Đẩy mạnh phong trào “Dân vận khéo” Hơn 10 năm qua, phong trào “Dân vận khéo” đã đạt được hiệu quả trên tất cả các lĩnh vực. Chăm lo lợi ích hợp pháp chính đáng, phát huy quyền làm chủ của đoàn viên, hội viên, nhân dân, gắn công tác dân vận với các phong trào thi đua, các cuộc vận động… Phong trào “Dân vận khéo” đã xuất hiện nhưng mô hình, điển hình tiêu biểu như : “Ngày thứ 6 dân nói” ở Đồng Tháp, phong trào “xứ đạo bình yên - gia đình văn hóa” ở Nam Định, “Xây dựng khu, cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp an toàn về an ninh trật tự”, “Xây dựng xã không có tội phạm về tệ nạn ma túy” ở Thanh Hóa, là những điểm sáng trong phong trào thi đua dân vận khéo góp phần xây dựng mối quan hệ tích cực giữa chính quyền và nhân dân. Thực hiện công tác dân vận, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quanh vinh, con thuyền cách mạng của dân tộc ta đã và đang vượt qua thác ghềnh tiến về phía trước, hướng tới bến bờ vinh quang: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Tư tưởng dân vận Hồ Chí Minh mãi mãi là ngọn đuốc sáng soi đường chỉ lối cho chúng ta, Đại đoàn kết toàn dân tộc, cùng nhau xây dựng Việt Nam như mong ước cuối cùng của Người: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới ”.

Hồ Chí Minh - người tạo hành lang pháp lý cho thành công của Tổng tuyển cử

Sau khi quyết định tổ chức Tổng tuyển cử, Chính phủ lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu khẩn trương ban hành gần 10 sắc lệnh về bầu cử. Đó là những quyết sách của Hồ Chí Minh trong quá trình xây dựng Chính phủ, từ lâm thời đến chính thức, thể hiện bản lĩnh về ý thức độc lập dân tộc, trí tuệ và ứng phó chính trị của Người. Ngày 8-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 14/SL, ghi rõ: “Chiểu theo Nghị quyết của Quốc dân đại biểu Đại hội họp ngày 16, 17-8-1945 tại khu Giải phóng, ấn định rằng nước Việt Nam sẽ theo Chính thể Dân chủ Cộng hòa, và Chính phủ nhân dân toàn quốc sẽ do một quốc dân đại hội bầu theo lối phổ thông đầu phiếu cử lên”(4). Tiếp đó, ngày 26-9-1945, Người ký ban hành Sắc lệnh số 39/SL về thành lập Ủy ban dự thảo thể lệ cuộc Tổng tuyển cử; Sắc lệnh số 51/SL ngày 17-10-1945 ấn định ngày Tổng tuyển cử và thể lệ cuộc Tổng tuyển cử. Điều 2 của Sắc lệnh 14 và Sắc lệnh 51 quy định tất cả công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên không phân biệt nam nữ đều có quyền bầu cử và ứng cử(5). Đây là nguyên tắc phổ thông đầu phiếu nhằm thu hút tất cả các tầng lớp nhân dân trong nước, miễn là đến độ tuổi trưởng thành đều được tham gia bầu cử. Trong cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên ở Việt Nam, pháp luật không chỉ bảo đảm cho những người đang là công dân Việt Nam mà còn bảo đảm cho cả những người nước ngoài đã sống lâu năm ở Việt Nam, tỏ lòng trung thành với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và có mong muốn được tham gia Tổng tuyển cử cũng được tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để họ thực hiện quyền bầu cử. Điều 4 của Sắc lệnh số 73/SL ngày 7-12-1945 chỉ rõ cách thức xin nhập quốc tịch Việt Nam và Điều 5 của Sắc lệnh 73/SL khẳng định: “Tạm thời, vì sự giao thông khó khăn, những người nào xin nhập quốc tịch Việt Nam mà được Ủy ban nhân dân tỉnh ưng nhận, thì được hưởng ngay quyền bầu cử và ứng cử, không phải chờ Sắc lệnh cho nhập quốc tịch Việt Nam”(6). Nguyên tắc tự do, bình đẳng trong bầu cử được Hồ Chí Minh giải thích trong Sắc lệnh số 51/SL: Người ứng cử được tự do ứng cử nơi mình chọn nhưng chỉ một nơi (Điều thứ 12) và mỗi cử tri cũng chỉ được đi bầu một nơi (Điều thứ 17); Phiếu bầu sẽ do ban phụ trách cuộc bầu cử phát cho người đi bầu và chỉ phát lúc người đi bầu đã vào phòng bỏ phiếu (Điều thứ 40)(7). Như vậy, không ai có quyền sắp xếp, bố trí các ứng viên vào đơn vị bầu cử này hay đơn vị bầu cử khác và bảo đảm mỗi người chỉ có một nơi bầu và một phiếu bầu như nhau. Cử tri sẽ trực tiếp bầu ra cơ quan đại diện quyền lực nhà nước ở tất cả các cấp mà không qua tầng nấc trung gian nào. Sắc lệnh số 51/SL nêu rõ: “Mỗi cử tri phải thân hành đi bầu, không được ủy quyền, cũng không được bầu bằng cách gửi thư” (Điều thứ 31)(8); “Đơn vị tuyển cử là tỉnh, nghĩa là dân trong mỗi tỉnh bầu thẳng đại biểu tỉnh mình dự vào quốc dân đại hội” (Điều thứ 7)(9). Nguyên tắc này bảo đảm sự giám sát đối với đại biểu của cấp cơ quan quyền lực đó, bảo đảm tính chịu trách nhiệm trước cử tri. Đồng thời, cũng nhằm chống gian lận và lợi dụng kẽ hở để chống phá của các thế lực phản động, thù địch. Mỗi cử tri đi bỏ phiếu cần bảo đảm bí mật. Đây là nguyên tắc bỏ phiếu kín nhằm tạo sự an toàn và tự do ý chí của cử tri, bảo đảm cho cử tri được yên tâm thể hiện ý chí của mình mà không phải chịu một áp lực nào. Điều 36 và 38 của Sắc lệnh số 51/SL đã đề cập đến việc cử tri sẽ bầu bằng phiếu kín và giữ bí mật khi viết thay cho cử tri khác nếu họ không biết viết chữ(10). Đây là điểm rất sáng tạo, độc đáo và phù hợp với trình độ dân trí của Việt Nam, nhất là đối với tầng lớp dân nghèo không biết chữ. Vì thế, không khí dân chủ trong bầu cử đã bừng lên ở khắp nơi trong cả nước. Nhằm tạo điều kiện cho việc chuẩn bị chu đáo, nhất là khi có những nhân sĩ muốn ra ứng cử nhưng không đủ thời gian để nộp đơn và vận động tranh cử, ngày 18-12-1945 Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 76/SL về việc ấn định lại ngày Tổng tuyển cử và hạn nộp đơn ứng cử. Trong đó nêu rõ: “Cuộc Tổng tuyển cử trong toàn cõi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để bầu đại biểu dự vào Quốc dân Đại hội, trước định mở vào ngày 23-12-1945, nay hoãn đến ngày chủ nhật, 6-1-1946”(11). Hành động này thể hiện sự tôn trọng quyền tự do, dân chủ của Nhân dân, tôn trọng người tài, đoàn kết mọi lực lượng yêu nước, thiện tâm, thiện chí vì quyền lợi tối cao của dân tộc. Việc Hồ Chí Minh đề nghị, chỉ đạo tổ chức Tổng tuyển cử thể hiện quyết định dũng cảm, đúng đắn và quyết liệt, lòng tin tuyệt đối của Người vào Nhân dân. Với việc ban hành các sắc lệnh đầu tiên về bầu cử, Hồ Chí Minh đã tạo cơ sở pháp lý cho sự thành công của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên. Đó chính là nghệ thuật chớp thời cơ, vượt qua tình thế hiểm nghèo của một lãnh tụ thiên tài, có bản lĩnh chính trị sắc bén, nghệ thuật tổ chức linh hoạt, sáng tạo.

Dấu ấn Hồ Chí Minh trong Tổng tuyển cử đầu tiên

Sau Cách mạng Tháng Tám, giữa muôn vàn khó khăn thù trong giặc ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã quyết định và khẩn trương thực hiện Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là một sự kiện quan trọng trong lịch sử dân tộc, lần đầu tiên toàn dân được hưởng quyền làm chủ, tự do lựa chọn, bầu ra những người đại diện, xứng đáng thay mặt Nhân dân gánh vác công việc chung của đất nước. 1. Quyết tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc tiến hành Tổng tuyển cử, bảo vệ nền độc lập và xây dựng chế độ mới Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để bảo vệ độc lập, tự do là phải củng cố và tăng cường chính quyền của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, thực hiện quyền dân chủ của Nhân dân. Ngày 3-9-1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Trước chúng ta đã bị chế độ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do, dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái 18 tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống”(1). Sắc lệnh số 14/SL về việc tổ chức Tổng tuyển cử để bầu Quốc dân đại hội (Quốc hội) ký ngày 8-9-1945 nêu rõ: “Xét trong tình thế hiện giờ sự triệu tập quốc dân đại hội không những có thể thực hiện được mà lại rất cần thiết để cho toàn dân tham gia vào công cuộc củng cố nền độc lập và chống ngoại xâm”(2). Đây là văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đầu tiên chuẩn bị cho Tổng tuyển cử bầu cơ quan quyền lực cao nhất, nhằm bảo vệ vững chắc thành quả của Cách mạng Tháng Tám, từng bước hoàn chỉnh việc xây dựng và củng cố chính quyền, bảo đảm mọi quyền lợi của Nhân dân, nâng cao niềm tin của Nhân dân đối với chế độ mới. Tuy nhiên, vừa mới ra đời, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lâm vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Nạn đói do phát-xít Nhật gây ra làm hơn hai triệu đồng bào bị chết, tài chính đất nước kiệt quệ. Nạn mù chữ cùng những hủ tục mê tín, lạc hậu, tệ nạn xã hội do chế độ cũ để lại chưa được khắc phục. Nhân dân và chính quyền cách mạng phải đương đầu chống lại những âm mưu, hành động bao vây, câu kết của các thế lực đế quốc, phản động quốc tế nhằm thủ tiêu nền độc lập mà dân tộc Việt Nam vừa giành được. Trong hoàn cảnh ấy, chuẩn bị tiến tới Tổng tuyển cử thực chất là một cuộc đấu tranh chính trị, đấu tranh giai cấp và dân tộc vô cùng cam go, phức tạp. Trong cuộc đấu tranh này, Đảng và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà đứng đầu là Hồ Chí Minh vừa kiên quyết đấu tranh vạch trần và chống lại những hành động phá hoại của các thế lực phản động, vừa thực hiện sách lược nhân nhượng, hòa giải, sáng suốt, mềm dẻo, khéo léo trong cách ứng xử để tiến tới Tổng tuyển cử. Chỉ có Tổng tuyển cử dân chúng mới có dịp thể hiện ý muốn của họ; chỉ có Chính phủ được lập ra bởi Tổng tuyển cử mới là đại diện chân chính và trung thành của toàn thể quốc dân. Chỉ có Tổng tuyển cử mới có thể mang đến cho nước Việt Nam một Hiến pháp mới ấn định rõ ràng quyền lợi của quốc dân và của Chính phủ, phá tan được những nghi ngờ đối với chính quyền nhân dân. Hồ Chí Minh khẳng định: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh vác công việc nước nhà… Do Tổng tuyển cử mà bầu ra Quốc hội. Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ. Chính phủ đó thật là Chính phủ của toàn dân. Vậy nên khẩu hiệu cuộc Tổng tuyển cử thứ nhất của nước Việt Nam ta phải là: Kháng chiến đến cùng để hoàn toàn độc lập!”(3). Chủ trương này đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ quá trình chỉ đạo chuẩn bị và tổ chức Tổng tuyển cử.

Hồ Chí Minh vận động Nhân dân thực hiện quyền bầu cử

Trong bài “Ý nghĩa của Tổng tuyển cử”, Người viết: “Hễ là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử. Không chia gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó”(12). Nhằm mục đích nêu rõ giá trị của cuộc Tổng tuyển cử, giải thích thể lệ Tổng tuyển cử cho công dân Việt Nam hiểu về quyền hạn và bổn phận của mình trong khi chọn và cử đại biểu vào Quốc hội, Hồ Chí Minh có nhiều bài viết đăng trên các báo để tuyên truyền, hướng dẫn Nhân dân các công việc liên quan đến bầu cử. Hồ Chí Minh động viên Nhân dân trực tiếp đi bầu cử. Người khẳng định: “Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà Nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình… Ngày mai, tất cả các bạn cử tri, đều phải nhớ đi bầu cử. Ngày mai, mỗi người đều nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập, tự do”(13). Bởi lẽ, “Từ xưa đến nay, toàn quốc chưa bao giờ tuyển cử vì xưa dân chưa bao giờ làm chủ mình, xưa dân phải nghe lời vua quan, sau phải nghe thực dân Pháp, Nhật. Vừa rồi đây ta mới giành được độc lập… Ta đã phải hy sinh nhiều mới có cái quyền cầm lá phiếu ngày nay đó”(14). Với lời lẽ giản dị, xúc động, lời kêu gọi toàn dân đi bầu cử của Hồ Chí Minh đã thấm vào trái tim của từng người Việt Nam, khích lệ, động viên toàn thể quốc dân đồng bào vui vẻ, hứng khởi đi thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân của một dân tộc tự do, độc lập. Không chỉ thể hiện quan điểm, tư tưởng về một chế độ bầu cử tự do, dân chủ, ngay từ những ngày đầu diễn ra cuộc Tổng tuyển cử, Hồ Chí Minh đã đề ra tiêu chuẩn của người đại biểu Quốc hội. Người viết: “Các Ủy ban nhân dân làng, phủ là hình thức Chính phủ địa phương, phải chọn trong những người có công tâm, trung thành, sốt sắng với quyền lợi dân chúng, có năng lực làm việc, được đông đảo dân làng tín nhiệm. Không thể nhờ tiền tài hay một thế lực gì khác mà chui vào lọt các Ủy ban đó”(15). Vì thế, những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu. Nhân dân phải sử dụng lá phiếu của mình để nó “có sức lực như một viên đạn”(16), để “những người trúng cử, sẽ phải ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào”(17). Cùng với tuyên truyền để nhân dân hiểu rõ giá trị của bầu cử, Hồ Chí Minh động viên, kêu gọi những người có tài, có đức ra ứng cử, đóng góp sức lực cho đất nước. Người viết: “…Chúng tôi mong rằng đồng bào ta ai có tài năng và sáng kiến… sẵn lòng hăng hái giúp ích nước nhà thì xin gửi kế hoạch rõ ràng cho Chính phủ”(18). Nhờ có quan điểm đúng đắn trong việc tìm kiếm, thu hút và trọng dụng nhân tài, Chính phủ do Hồ Chí Minh đứng đầu đã thu hút được rất nhiều người có tài, có đức tham gia chính quyền để xây dựng và bảo vệ đất nước trong những ngày đầu đầy khó khăn, thử thách. Ngày 6-1-1946 cuộc Tổng tuyển cử đã diễn ra thắng lợi trong cả nước, bất chấp bom đạn của thực dân Pháp và sự phá hoại của các lực lượng phản động. Với lòng yêu nước nồng nàn, ý chí sắt đá nhằm bảo vệ nền độc lập dân tộc, cuộc Tổng tuyển cử đã thành công rực rỡ. Đây là một sự kiện quan trọng trong lịch sử dân tộc khi lần đầu tiên toàn thể Nhân dân được hưởng quyền làm chủ, độc lập, tự do của mình. Hồ Chí Minh khẳng định, Tổng tuyển cử là “kết quả của sự hy sinh, tranh đấu của tổ tiên ta, nó là kết quả của sự đoàn kết anh dũng phấn đấu của toàn thể đồng bào Việt Nam ta, sự đoàn kết của toàn thể đồng bào không kể già trẻ, lớn bé, gồm tất cả các tôn giáo, tất cả các dân tộc trên bờ cõi Việt Nam đoàn kết chặt chẽ thành một khối hy sinh không sợ nguy hiểm tranh lấy nền độc lập cho Tổ quốc”(19). Cuộc Tổng tuyển cử đã chứng tỏ ý thức sâu sắc của Hồ Chí Minh về tầm quan trọng của một Chính phủ dân cử hợp pháp và quyết tâm biến nó thành một một chính quyền của Nhân dân vững mạnh. Thực tiễn lịch sử và sự phát triển của cách mạng Việt Nam là bằng chứng sinh động minh chứng bản lĩnh và thiên tài Hồ Chí Minh trên cương vị trọng trách lãnh đạo cao nhất của Đảng và cách mạng Việt Nam. Bản lĩnh ấy thể hiện ý chí của Hồ Chí Minh: tất cả vì độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc của Nhân dân.

 

NHẬN DIỆN LUẬN ĐIỀU XUYÊN TẠC VỀ DỊCH BỆNH COVID-19 TẠI VIỆT NAM


Những ngày qua, kể từ khi những ca nhiễm Covid-19 đầu tiên ở Việt Nam, chúng ta đã liên tục đưa công khai thông tin về tình hình dịch bệnh, về những chỉ đạo của Chính phủ, sự nỗ lực của các cấp, các ngành… Tuy nhiên, bất chấp sự thật đó, một bộ phận kẻ xấu ở trong và ngoài nước vẫn lu loa rằng, Việt Nam không phán ánh đúng sự thật về dịch bệnh và các biện pháp của Chính phủ là “mị dân”. Vậy mục đích của họ là gì?

Phòng chống dịch bệnh, đặc biệt là dịch Covid-19 là vấn đề hết sức nhạy cảm, có liên quan trực tiếp đến sức khỏe của mọi người nên đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của quần chúng nhân dân trong thời gian qua. Lợi dụng điều này, những kẻ xấu, những phần tử cơ hội chính trị đã tìm cách tuyên truyền, chống phá, gây bất ổn về trật tự xã hội, gây hoang mang dư luận, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và nhà nước Việt Nam đối với công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của người dân. Các quyết sách mà Đảng và Chính phủ đưa ra đều rất nhân văn, hướng đến mục đích cao nhất là đảm bảo tính mạng con người và sức khỏe cộng đồng. Tuy nhiên, lợi dụng không gian mạng, các thế lực thù địch đã cố tình bóp méo và cho rằng, đó là “mị dân”. Những nội dung thông tin do các cơ quan chính thống cung cấp bị chúng xuyên tạc là “không phản ánh đúng sự thật”. Từ đó chúng tìm cách thổi phồng tình hình dịch bệnh, thổi phồng những thiếu sót khuyết điểm để bóp méo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước. Nghiêm trọng hơn, các thế lực thù địch lợi dụng việc phòng chống dịch bệnh Covid-19 để chia rẽ chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam với các nước, đặc biệt là các nước láng giềng trong khu vực và trên thế giới. Từ câu chuyện “đóng cửa biên giới hay không đóng cửa biên giới”, đến việc các doanh nghiệp nước ngoài làm ăn ở Việt Nam như thế nào trong điều kiện dịch bệnh phức tạp đều bị chúng lợi dụng xuyên tạc, bóp méo để chống phá. Hệ lụy từ các hành vi xuyên tạc, bịa đặt và thông tin sai sự thật của các thế lực thù địch là hết sức nghiêm trọng đối với xã hội. Những thông tin như thế này đã gây ra những bất ổn về an ninh, trật tự xã hội thể hiện rất rõ trong thời gian qua khiến người dân hoang mang, đổ xô đi vào cửa hàng, siêu thị tích trữ hàng hóa, lương thực thực phẩm để “phòng chống dịch bệnh lâu dài” dẫn đến hệ lụy về việc thổi giá, tăng giá, đầu cơ hàng hóa.

Để phòng chống nạn tin tức giả mạo, xấu độc trong đợt dịch Covid-19 này, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền hiện nay là rất quan trọng, làm sao cho người dân hiểu đúng, có kiến thức về dịch bệnh và có thái độ ứng xử phù hợp để không tin vào những luận điệu sai trái, những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, vững vàng, không hoang mang xao động trước những thông tin bịa đặt.

Bên cạnh sự tích cực vào cuộc của các cơ quan truyền thông thì chính mỗi người dân cũng phải tỉnh táo nhận diện nguồn thông tin chính thống để tiếp nhận đồng thời loại bỏ thông tin ngoài luồng, xuyên tạc. Người dân có hiểu biết, có kiến thức, khi tham gia vào không gian mạng sẽ luôn là một “người tiêu dùng thông thái” biết lựa chọn “những sản phẩm tốt nhất” cho mình”. Cùng với đó muốn chống lại tin tức giả, xấu độc, các nhà báo cũng phải liên tục sàng lọc, kiểm chứng thông tin từ nhiều nguồn khác nhau đồng thời cung cấp thông tin chính thống có độ chính xác, tin cậy cao để phản bác lại những thông tin xấu độc, sai sự thật.

Trên thực tế, cộng đồng quốc tế, trong đó có Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đều đánh giá cao sự công khai minh bạch thông tin của Việt Nam. Thậm chí, ngay khi có bất kỳ ca nhiễm bệnh mới nào, chúng ta cũng đều công khai chi tiết thông tin. Tôi cho rằng, tất cả những gì chúng ta đang làm đã là câu trả lời thuyết phục. Chúng ta không cần giải thích với những người luôn có định kiến rằng, những thông tin đến từ các cơ quan truyền thông chính thống là giả mạo”./.

 

 

MƯU TOAN XUYÊN TẠC LỊCH SỬ CỦA ĐỖ NGÀ


             Xuyên tạc, bôi đen lịch sử Đảng, lịch sử dân tộc là một thủ đoạn quen thuộc của các phần tử cơ hội, chống phá cách mạng, trong đó có Đỗ Ngà. Mới đây, trên trang mạng xã hội, Đỗ Ngà đã giật tít: “Xóa tội ác khỏi lịch sử – Những nỗ lực vô ích của CS” nhằm tìm cách thuyết phục, kêu gọi các lực lượng thù địch chống phá Đảng, Nhà nước ta. Nhưng xuất phát điểm vốn đã sai lầm, nên càng cố giải thích, phân tích bao nhiêu, Đỗ Ngà càng lún sâu vào sự vô lý, sai lầm bấy nhiêu, vì bất cứ ai, dù là người dân bình thường nhất trên đất nước Việt Nam đều hiểu rằng:
Thứ nhất, lịch sử dân tộc ta từ khi có Đảng là lịch sử đấu tranh anh dũng và giành những thắng lợi vẻ vang
Cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đất nước ta chìm trong đêm dài nô lệ. Nhân dân ta liên tiếp đứng lên chống ách áp bức, bóc lột của thực dân cướp nước và phong kiến tay sai. Các phong trào diễn ra mạnh mẽ, tràn đầy khí phách bất khuất và sáng ngời tinh thần yêu nước, nhưng tất cả đều không thành công, vì thiếu một đường lối cách mạng đúng đắn.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt to lớn trong lịch sử cách mạng nước ta, đánh dấu một mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc Việt Nam. Hơn 90 năm qua, được nhân dân tin yêu, ủng hộ, Đảng đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, không một thế lực nào ngăn cản nổi. Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã lập nên những kỳ tích trong thế kỷ XX, mà đỉnh cao là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945; thắng lợi của các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc; thắng lợi của công cuộc đổi mới và đang vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, chịu hậu quả nặng nề của nhiều năm chiến tranh, lại bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã vươn lên trở thành quốc gia đang phát triển, có thu nhập trung bình thấp với quy mô nền kinh tế đứng thứ 44 thế giới. Lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, cải cách hành chính, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, đạt nhiều kết quả tích cực. Quốc phòng, an ninh được tăng cường, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Hiện nay, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 187 nước, trong đó có tất cả các nước lớn, có quan hệ kinh tế với hơn 220 thị trường nước ngoài và là thành viên của nhiều tổ chức và diễn đàn quốc tế. Với những thành tựu nêu trên, có thể nói trong lịch sử dân tộc, nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, vị thế và uy tín như ngày hôm nay.
Thứ hai, nhân dân Việt Nam vững tin theo Đảng viết tiếp những trang sử vàng của dân tộc
Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang ra sức phấn đấu thực hiện Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước, đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đây là một sự nghiệp cách mạng vô cùng to lớn, vĩ đại, nhưng cũng cực kỳ khó khăn, phức tạp.
Với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, với bề dày kinh nghiệm được thử lửa, kiểm nghiệm qua thực tiễn cách mạng, hơn 96 triệu người Việt Nam hôm nay tiếp tục chung sức, đồng lòng, vững bước dưới cờ Đảng quang vinh trên con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và dân tộc ta đã lựa chọn. Tất cả đang hội tụ, kết nên thời cơ mới, mở ra con đường lớn cho sự bứt tốc, đưa sự nghiệp đổi mới vào giai đoạn có tính chất và trình độ cao hơn, với kỳ vọng lớn hơn, viết tiếp những trang sử vàng dân tộc.
Vì vậy, dù có xảo trá, ngụy biện thế nào, Đỗ Ngà cũng không thể lung lạc được ý chí, niềm tin của nhân dân đối với truyền thống và lịch sử vẻ vang của Đảng, của dân tộc. Chúng ta cần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh vạch trần những thủ đoạn xuyên tạc, bóp méo lịch sử của Đỗ Ngà./.

Thứ Tư, 7 tháng 4, 2021

Quốc hội chính thức phê chuẩn bổ nhiệm 2 Phó Thủ tướng, 12 Bộ trưởng, Trưởng ngành

 

Với 455/459 phiếu đồng ý (chiếm 94,79%), Quốc hội đã chính thức thông qua Nghị quyết phê chuẩn bổ nhiệm 2 Phó Thủ tướng và 12 Bộ trưởng, thành viên Chính phủ do Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đề nghị.

Theo đó, đồng chí Lê Minh Khái và đồng chí Lê Văn Thành đã chính thức trở thành Phó Thủ tướng của nước ta.

Phó Thủ tướng Lê Minh Khái sinh năm 1964. Quê quán: xã Vĩnh Phú Tây, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu. Bí thư Trung ương Đảng Khóa XIII; Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII, XIII; Đại biểu Quốc hội khóa XIV. Đồng chí từng kinh qua nhiều vị trí công tác như: Phó Tổng Kiểm toán Nhà nước, Phó Bí thư Tỉnh ủy Bạc Liêu, Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu, Bí thư Tỉnh ủy Bạc Liêu, Tổng Thanh tra Chính phủ.

Phó Thủ tướng Lê Văn Thành sinh năm 1962. Quê quán: xã Tân Liên, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII, XIII; Đại biếu Quốc hội khóa XII. Đồng chí Lê Văn Thành từng giữ các chức vụ: Phó Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng, Phó Bí thư Thành ủy Hải Phòng, Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng, Bí thư Thành ủy Hải Phòng, Chủ tịch HĐND thành phố Hải Phòng.

12 Bộ trưởng vừa được Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm là:

1. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Văn Giang

Thượng tướng Phan Văn Giang sinh năm 1960. Quê quán: xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Ủy viên Bộ Chính trị: Khóa XIII; Ủy viên Trung ương Đảng: Khóa XII, XIII; Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương. Đồng chí từng giữ chức Tư lệnh Quân khu 1; Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thượng tướng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

2. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn sinh năm 1962. Quê quán: phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Ủy viên Trung ương Đảng: Khóa XII, XIII. Đại biểu Quốc hội khóa XIV.

Trước khi được giới thiệu vào vị trí mới, đồng chí từng là Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao, Vụ trưởng Vụ Chính sách Đối ngoại, Bộ Ngoại giao; Trưởng đoàn đàm phán Hiệp định Đối tác và Hợp tác toàn diện (PCA) Việt Nam - Liên minh châu Âu (EU), Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, sau là Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao...

3. Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà sinh năm 1964. Quê quán: Xã Nam Yên, huyện Nam Đàn, Nghệ An. Ủy viên Trung ương Đảng: Khóa XII, XIII.

Bà từng giữ các chức vụ: Phó Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái, Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái, Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái, Chủ tịch HĐND tỉnh Yên Bái, Thứ trưởng Bộ Nội vụ. Ngày 25/9/2020 Bộ Chính trị điều động, phân công giữ chức Phó Ban Tổ chức Trung ương, chỉ định tham gia Ban Cán sự Đảng Bộ Nội vụ.

4. Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc sinh năm 1963. Quê quán: xã Quỳnh Thạch, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Ủy viên Trung ương Đảng: Khóa XII, XIII; Đại biểu Quốc hội khóa XIV. Đồng chí từng giữ các chức vụ: Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An; Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An; Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Nghệ An, Chủ tịch HĐND tỉnh Nghệ An; Tổng kiểm toán Nhà nước.

5. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Trần Văn Sơn sinh năm 1961. Quê quán: xã Hải Anh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Ủy viên Trung ương Đảng: Khóa XII, XIII; Đại biểu Quốc hội khóa XIV. Trước khi được giới thiệu, đồng chí từng giữ các chức vụ: Thứ trưởng Bộ Xây dựng, Phó Bí thư Tỉnh ủy Điện Biên, Bí thư Tỉnh ủy Điện Biên, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ.

6. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan sinh năm 1961. Quê quán: xã Mỹ Trà, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Ủy viên Trung ương Đảng: Khóa XII, XIII; Đại biểu Quốc hội: Khóa XI, XIII, XIV. Đồng chí từng giữ các vị trí: Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp; Bí thư Thành ủy Cao Lãnh; Phó Bí thư Tỉnh ủy; Chủ tịch UBND tỉnh, Bí thư Tỉnh ủy và Chủ tịch HĐND tỉnh Đồng Tháp; Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

7. Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên sinh năm 1965. Quê quán: xã Hồng Minh, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Ủy viên Trung ương Đảng: Khóa XII, XIII; Đại biểu Quốc hội khóa XIV. Đồng chí từng giữ các chức vụ: Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thái Bình, Phó Bí thư rồi Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Thái Bình, Chủ tịch HĐND tỉnh Thái Bình, Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Thái Bình và Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương.

8. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn sinh năm 1966. Quê quán: xã Tân Trào, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII. Đồng chí từng giữ các vị trí: Phó Hiệu trưởng, Phó Bí thư Đảng ủy trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, kiêm Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc; Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội; Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Phó Giám đốc Thường trực Đại học Quốc gia Hà Nội; Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội; Chủ tịch Hội đồng Đại học Quốc gia Hà Nội và Bí thư Đảng ủy Đại học Quốc gia Hà Nội.

9. Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng sinh năm 1961. Quê quán: huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Ủy viên Trung ương Đảng: Khóa XII, XIII. Đồng chí từng giữ các chức vụ: Phó Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị, Chủ tịch HĐND tỉnh Quảng Trị, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

10. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Hầu A Lềnh sinh năm 1973. Quê quán: xã Tả Van, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Ủy viên Trung ương Đảng: Khóa X (dự khuyết), XI (dự khuyết), XII, XIII. Đồng chí từng giữ các vị trí: Bí thư huyện ủy Sa Pa, tỉnh Lào Cai; Phó Bí thư Tỉnh ủy Lào Cai; Phó Trưởng ban Chỉ đạo và Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Bắc; Phó Chủ tịch - Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí thư Đảng ủy cơ quan Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

11. Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Thanh Nghị sinh năm 1976. Quê quán: Thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Ủy viên Trung ương Đảng: Khóa XI (dự khuyết), XII, XIII; Đại biểu Quốc hội khóa XIV. Đồng chí từng giữ các chức vụ: Phó Hiệu trưởng trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh, Thứ trưởng Bộ Xây dựng, Phó Bí thư Tỉnh ủy rồi Bí thư Tỉnh ủy Kiên Giang. Ngày 5/10/2020, Thủ tướng Chính phủ điều động, bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ Xây dựng.

12. Tổng Thanh tra Chính phủ Đoàn Hồng Phong sinh năm 1963. Quê quán: thị trấn Quỹ Nhất, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. Ủy viên Trung ương Đảng: Khóa XII, XIII; Đại biểu Quốc hội khóa XIV. Đồng chí từng giữ chức vụ: Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nam Định; Phó Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Ban Cán sự Đảng UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh Nam Định; Bí thư Tỉnh ủy Nam Định.

PHẠM TRẦN KẺ XUYÊN TẠC VÔ CĂN CỨ

 

Bằng cách đưa ra các dẫn chứng, các lập luận vô căn cứ Phạm Trần, đã xuyên tạc từ đường lối chủ trương, mục tiêu phấn đấu mà Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đề ra; xuyên tạc về tôn chỉ, mục đích hoạt động của nền báo chí cách mạng Việt Nam; bôi xấu, hạ thấp uy tín lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Để rồi cuối cùng với lời kết: “phồn vinh và hạnh phúc” chỉ thành hiện thực khi nào các quyền tự do và dân chủ được bảo đảm và tôn trọng trên đất nước Việt Nam. Đây cũng chính là mưu đồ cuối cùng để xuyên tạc quyền tự do và dân chủ của chế độ xã hội và người dân Việt Nam, trong bài viết: “Muốn hạnh phúc, dân phải có tự do và dân chủ” mà Phạm Trần đăng trên Danlambao.

Trong bài viết Phạm Trần cho rằng: “Nhà nước chẳng những không cho phép tư nhân ra báo mà còn bị cấm tổ chức đảng đối lập, lập hội, biểu tình như đã quy định trong Điều 25 Hiến pháp”.

Điều này cho thấy:

Một là, Phạm Trần phải hiểu rằng, chế độ chính trị ở Việt Nam là chế độ một đảng cầm quyền, chỉ duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam mới có quyền cầm quyền, lãnh đạo với Nhà nước và toàn bộ hệ thống chính trị mà thôi. Tức là, Đảng lãnh đạo cách mạng thành công, chính quyền thuộc về giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Đảng được nhân dân uỷ quyền thiết lập xây dựng, bảo vệ và sử dụng chính quyền thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, phục vụ lợi ích của nhân dân và dân tộc. Vì thế trong Hiến pháp, Nhà nước ta không cho phép tổ chức các đảng đối lập (thực hiện đa nguyên, đa đảng) như giọng điệu “mập mờ” của Phạm Trần nêu ra.

Hai là, với luận điệu cho rằng, Nhà nước Việt Nam cấm người dân lập hội, biểu tình. Điều này cho thấy, Phạm Trần không hiểu biết gì về đời sống chính trị, về Hiến pháp và pháp luật ở Việt Nam, chỉ là kẻ “ăn theo, nói leo” như bao kẻ phản bội khác mà thôi. Phạm Trần đâu có biết: Quyền lập hội, là một trong những quyền cơ bản của công dân Việt Nam được ghi nhận xuyên suốt trong tất cả các bản Hiến pháp, được Quốc hội Việt Nam thông qua từ trước đến nay.

Cụ thể:

Điều 10 Hiến pháp năm 1946 nêu rõ, công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài. Điều 25 Hiến pháp năm 1959: “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình. Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền đó”. Điều 67 Hiến pháp năm 1980: “Công dân có các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tình, phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và của nhân dân. Nhà nước tạo điều kiện vật chất cần thiết để công dân sử dụng các quyền đó. Không ai được lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước và của nhân dân”. Điều 69 Hiến pháp năm 1992: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”. Và Điều 25 Hiến pháp năm 2013: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Trên thực tế, theo thống kê của Bộ Nội vụ, đến nay cả nước có khoảng 52.565 hội, với 483 hội hoạt động trên phạm vi cả nước và 52.082 hội hoạt động trên phạm vi từng địa phương. Trong đó, có 8.792 hội có tính chất đặc thù, gồm 28 hội hoạt động trên phạm vi cả nước và 8.764 hội hoạt động trên phạm vi từng địa phương. Về phân loại, một số hội được xác định là tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp và 10 hội được thành lập đảng, đoàn để lãnh đạo hoạt động của tổ chức. Các hội còn lại được xác định là tổ chức xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội-nhân đạo, hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự bảo đảm kinh phí hoạt động. Ngoài những tổ chức hội có đăng ký hoạt động và được cấp có thẩm quyền cho phép, trong xã hội Việt Nam còn tồn tại nhiều loại hội, nhóm khác nhau như: hội đồng hương, đồng ngũ, đồng niên, đồng khóa, cho đến các hội có chung sở thích như cổ động viên, hội chơi các môn thể thao, làm thơ, trồng trọt…

Ở Việt Nam, chưa hề có ai ngăn cản việc các cá nhân, tổ chức thành lập hội, nhóm hay kiểm soát, hạn chế các hội, nhóm ấy hoạt động hợp pháp, trừ phi các hội, nhóm có hành vi vi phạm pháp luật như: các hội, nhóm giang hồ, trộm cướp, cờ bạc, hành nghề mê tín dị đoan hoặc nguy hại hơn là chống phá Đảng, chính quyền Nhà nước, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích cộng đồng hoặc xâm phạm lợi ích, bí mật của cá nhân, tổ chức.

Với số liệu trên, chứng tỏ tên Phạm Trần chỉ là kẻ “chuyên chọc gậy bánh xe”, “ăn theo, nói leo”, với những giọng điệu phản động, xuyên tạc, bóp méo sự thực. Mỗi người dân Việt Nam phải hết sức cảnh giác./.

Hải Đăng ST

"Kỳ vọng người đứng đầu Chính phủ sẽ thúc đẩy một Chính phủ hành động"

 Với tư duy và tầm nhìn sắc sảo, sự quyết đoán trong hành động, chúng ta kỳ vọng người đứng đầu Chính phủ sẽ thúc đẩy một Chính phủ hành động.

Kỳ vọng người đứng đầu Chính phủ sẽ thúc đẩy một Chính phủ hành động - 1

Nhấn để phóng to ảnh

Tân Thủ tướng Phạm Minh Chính tặng hoa người tiền nhiệm Nguyễn Xuân Phúc (Ảnh: Quốc Chính).

Nguyên Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và các cộng sự của mình đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong một nhiệm kỳ mà "mưa chẳng thuận, gió chẳng hòa". Tăng trưởng kinh tế đạt ở mức cao hơn trong khi ổn định kinh tế vĩ mô được bảo đảm, lạm phát duy trì ở mức thấp chỉ bằng một nửa so với nhiệm kỳ 5 năm trước đó.

Nhiệm kỳ qua cũng là một nhiệm kỳ Việt Nam đạt được nhiều thành tựu trong đối ngoại và hội nhập đỉnh cao. Việt Nam thành công trong phòng chống đại dịch Covid-19 cũng là một tấm huân chương nữa dành cho cả hệ thống chính trị, cho toàn dân và cho Chính phủ.

2016 - 2020 cũng là một nhiệm kỳ mà công cuộc cải cách được thúc đẩy. Hàng ngàn giấy phép con bị xóa sổ. 50% -60% điều kiện kinh doanh và thủ tục hành chính kiểm tra chuyên ngành được đơn giản hóa và cắt bỏ. Chính phủ điện tử được khởi động; Đổi mới sáng tạo được đề cao; Khởi nghiệp được khơi dậy. Chỉ số hài lòng của người dân được cải thiện. Việt Nam thăng hạng trong các bảng xếp hạng toàn cầu...

Nhưng tất cả mới chỉ là những bước khởi đầu. Hành trình cải cách và phát triển đất nước còn rất nhiều việc phải làm và rất gian nan. Ổn định kinh tế vĩ mô phải dựa trên nền tảng vững chắc hơn là một chính sách tiền tệ, tín dụng linh hoạt nhưng thận trọng, phù hợp với tốc độ tăng GDP danh nghĩa và một chính sách tài khóa dựa chủ yếu vào tăng trưởng nguồn thu bền vững từ khu vực sản xuất kinh doanh để giảm được sự lệ thuộc vào đất đai và tài nguyên. Đồng thời, chi tiêu thường xuyên phải giảm được trên cơ sở tinh giản bộ máy hành chính để dành được nhiều nguồn lực hơn cho đầu tư phát triển. Phải tăng được hiệu quả đầu tư công và huy động được tối đa các nguồn lực từ dân để giải quyết được các nút thắt về cơ sở hạ tầng được dự báo sẽ là một trong những điểm nghẽn lớn nhất trước yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế trong những năm sắp tới.

Về cải cách thể chế, pháp luật kinh doanh còn chồng chéo, thủ tục hành chính vẫn còn phiền hà. Không ít thủ tục hành chính làm khổ người dân vẫn chưa được xóa bỏ...

Cũng phải nói rằng, những năm qua, trong lĩnh vực cải cách thể chế và thủ tục hành chính, chúng ta đã làm được nhiều việc, nhưng nhiều vấn đề "xương xẩu" khó khăn vẫn còn.

Cải cách - đổi mới đang đứng trước một giai đoạn cần những nỗ lực đột phá hơn và quyết liệt hơn để đáp ứng đòi hỏi của người dân, của cộng đồng doanh nghiệp, của nền kinh tế và cũng để phù hợp với xu thế hội nhập và trào lưu của cuộc cách mạng 4.0 đang diễn ra như vũ bão.

Nhiệm kỳ của Chính phủ vừa qua có thể được coi là một nhiệm kỳ "thắp lửa". Chúng ta đã nói nhiều đến khát vọng bay lên - khát vọng hùng cường, nhưng nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình vẫn luôn hiện hữu. Không thể vượt khỏi bẫy thu nhập trung bình nếu không vượt khỏi bẫy chất lượng thể chế trung bình.

Quốc hội đã bầu ông Phạm Minh Chính làm tân Thủ tướng - một sự lựa chọn cho tương lai của nền kinh tế Việt Nam. Nhìn lại hành trang mà tân Thủ tướng có được từ những trọng trách đã trải nghiệm, chúng ta có niềm tin về một nhiệm kỳ Chính phủ thành công. 

Ông Chính đã viết nên câu chuyện Quảng Ninh trong lịch sử kinh tế nước nhà, bắt đầu từ thời ông về làm Bí thư vùng đất mỏ. Sau này về Trung ương, ông vẫn gắn bó với Quảng Ninh, truyền cảm hứng giúp thai nghén các mô hình phát triển ở tỉnh này.

Ông là người có công đầu trong việc đưa Quảng Ninh thành "chiếc nôi cải cách" trong thời kỳ mới ở nước ta. "Chiếc nôi cải cách" được gây dựng từ tầm nhìn và các quy hoạch phát triển bền vững: "chuyển từ nâu sang xanh" và các đột phá chính sách cơ cấu thúc đẩy phát triển du lịch, thương mại, dịch vụ, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển các khu đô thị và công nghiệp...

Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Muốn hiểu về mỗi con người, chúng ta hãy nhìn những việc mà họ đã làm và những sản phẩm và thành quả mà họ để lại phía sau! Với những sáng kiến và mô hình cải cách đầy thuyết phục mang dấu ấn tiên phong, với tư duy và tầm nhìn sắc sảo, với sự quyết đoán trong hành động, chúng ta kỳ vọng người đứng đầu Chính phủ sẽ thúc đẩy một Chính phủ hành động.

Nguồn: Dân trí.

Đánh mất tuổi thanh xuân vì những điều viển vông, đen tối

 

Thời gian qua, cái gọi là Voice - tổ chức bị cho là ngoại vi của Việt Tân đã xây dựng, quảng bá 3 nhân vật Phạm Đoan Trang, Nguyễn Anh Tuấn, Trịnh Hữu Long bằng mỹ từ "những ngôi sao" “đấu tranh dân chủ”. Sự thật, họ chỉ là những kẻ "bán nước cầu vinh", đánh mất tuổi thanh xuân cho những điều viển vông, đen tối.

KỶ NIỆM VỀ BÁC HỒ TRONG LÒNG CON TRAI CỐ HOÀNG THÂN SUPHANOUVONG

 Nhiều thập niên đã trôi qua, các con cháu của cố Hoàng thân Suphanouvong vẫn trang trọng thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh tại căn nhà mà cố Hoàng thân và gia đình ở trước khi ông mất.

Từng cùng gia đình sinh sống ở Việt Bắc, được gặp Bác Hồ từ nhỏ và được Bác Hồ đặt tên Việt Nam, dù đã 74 tuổi, nhưng ông Vinaythong Suphanouvong, tên Bác Hồ đặt là Nguyễn Văn Chính, con trai cố Hoàng thân Suphanouvong (người cũng là Chủ tịch đầu tiên của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào), vẫn luôn nhớ về Bác.
Hồi tưởng về lần đầu tiên được gặp Bác Hồ tại chiến khu Việt Bắc, ông Vinaythong cho biết khi đó 4 anh em ông từ Thái Lan trở về và vinh dự được Bác Hồ đặt tên.
Anh cả được Bác đặt là Quang, người anh thứ hai được đặt là Minh, ông được đặt là Chính và em trai ông được đặt tên là Đại.
Ông Vinaythong cho biết “Bác bảo một trong những tiêu chuẩn của đạo đức cách mạng là phải quang, minh, chính, đại và lấy tên đó đặt cho 4 anh em tôi.”
Nói về điều ấn tượng nhất với Bác Hồ, ông Vinaythong khẳng định đó chính là “sự giản dị, sự chân thành và thẳng thắn. Khi chưa được gặp, nhiều người có thể sẽ nghĩ những gì mọi người nói về Bác là hơi cường điệu hay gì đó, nhưng khi được gặp Người rồi thì tôi nghĩ mọi người đều sẽ có cảm giác rất, rất, rất là con người, không khác ai cả, nhưng đó lại là một người rất vĩ đại, có tầm nhìn, có tư tưởng và sự nghiệp rất vĩ đại. Lớn là lớn ở chỗ đó.”
Đối với ông Vinathong, kỷ niệm sâu sắc, nhưng buồn nhất về Bác Hồ, đó là khi nghe tin Bác mất.
Ông nhớ lại, mặc dù khi đó Bộ Chính trị hai nước thường xuyên có trao đổi và bố ông, cố Chủ tịch Suphanouvong biết rằng tình hình sức khỏe của Bác rất yếu, nhưng khi nghe tin Người qua đời vào tháng 9/1969, “cả nhà vẫn khóc, cả nhà tự nhiên đến với nhau, cùng tập trung và bắt đầu ngồi kể về những kỷ niệm, cảm xúc và những sự kiện mà mỗi người đều đã gặp, đều đã cảm nhận được trong suốt những lần được gặp Bác.”
Nói về cảm xúc lúc đó, ông Vinaythong gọi đó là một cảm giác sốc, mất mát và hụt hẫng. Cảm giác này không chỉ riêng ông mà người Lào cũng rất xúc động khi nghe Bác đã ra đi.
Ông nói: “Đó là một cảm giác sốc đối với mọi người, khiến người lặng đi, cả người không liên quan đến chính trị, không biết Cụ Hồ cũng cảm thấy sự mất mát, hụt hẫng trong cảm xúc, tôi nghĩ như vậy bởi tên tuổi và sự nghiệp của Cụ Hồ gắn với cả cuộc đấu tranh của Đông Dương từ lâu rồi, ngược lại, nền độc lập của 3 nước Đông Dương cũng gắn với tên tuổi và sự nghiệp của Cụ Hồ. Những cái này gắn liền nhau và đây là điều không ai có thể phủ nhận được. Cho nên, tin Bác ra đi là sự mất mát lớn cho tất cả mọi người.”
Theo ông Vinaythong, sau khi được tin Bác mất, Hoàng thân Suphanouvong đã bay sang Hà Nội để dự lễ tang của Người và ở Lào cũng tổ chức lễ tang rất lớn cho Bác.
Lý do là bởi nhân dân Lào, các lực lượng cách mạng, các lực lượng tiến bộ của Lào đều rất kính trọng Cụ Hồ vì trong suốt hai cuộc kháng chiến, kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ, hai nước đã cùng chung lưng đấu cật, chia ngọt sẻ bùi, rất nhiều người Lào biết Bác, được nghe về Bác.
Nói về tình cảm của gia đình cố Hoàng thân Suphanouvong với Bác Hồ, ông Vinaythong cho biết “khi Bác mất, dù lúc đó còn chiến tranh, ở trong hang, nhưng bố mẹ tôi đã lập ngay bàn thờ và con cháu chúng tôi cũng coi như bàn thờ trong nhà.”
Đến nay, nhiều thập niên đã trôi qua, dù Chủ tịch Suphanouvong cùng vợ đều đã khuất núi, nhưng con cháu vẫn tiếp tục duy trì ban thờ Hồ Chủ tịch tại căn nhà mà cố Hoàng thân và gia đình ở trước khi ông mất.
Căn nhà này sau đó được gia đình trao lại cho Nhà nước để làm khu lưu niệm Chủ tịch Suphanouvong, đây là nơi trưng bày rất nhiều ảnh lưu lại những kỷ niệm của gia đình Hoàng thân Souphanouvong với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những bức ảnh này đã giúp du khách quốc tế và thế hệ trẻ của Lào hiểu hơn về quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam.
Mặc dù đã bàn giao cho Nhà nước, nhưng nhớ lời cha mẹ dạy, vào các dịp kỷ niệm như ngày sinh của Bác Hồ, ngày sinh của Hoàng thân Suphanouvong, Quốc khánh Lào và Việt Nam, hoặc là các ngày lễ quan trọng khác của hai nước, con cháu cố Hoàng thân vẫn về đây thắp nhang, dâng hoa để bày tỏ lòng thành kính trước anh linh của Bác Hồ và các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì sự nghiệp dân tộc của hai nước Lào-Việt Nam anh em./.