Thứ Tư, 14 tháng 4, 2021

HÃY HỎI MÌNH LÀ AI

 

Bạn có đủ tư cách để tham gia ứng cử ĐBQH?!

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do dân chủ của nhân dân trong hoạt động bầu cử. Trong các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp trước đây, đã có một số người tự ứng cử và trên thực tế cũng đã có đại biểu đủ điều kiện, uy tín được cử tri tín nhiệm bầu và trúng cử.

Tuy nhiên bên cạnh đó cũng xuất hiện một số thành phần tuy không đủ điều kiện và phẩm chất, uy tín, đạo đức nhưng lợi dụng sự ưu việt của chế độ để tuyên bố tự ứng cử với âm mưu, mục đích gây rối, phá hoại cuộc bầu cử của chúng ta. Họ không đủ điều kiện, phẩm chất, uy tín, thậm chí là phần tử xấu trong xã hội, thường xuyên có những lời nói, việc làm mang tính chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, nhà nước và nhân dân, bị cử tri và nhân dân lên án, cơ quan chức năng, chính quyền địa phương xử phạt…nhưng vẫn tuyên bố ra ứng cử vào các cơ quan quyền lực của nhà nước.

Trong các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp trước đây, tình trạng này đã từng xảy ra. Một số đối tượng như Nguyễn Quang A, Nguyễn Thanh Giang, Nguyễn Xuân Diện… cũng từng tuyên bố tự ứng cử đại biểu Quốc hội, nhưng kết cục những phần tử “ bất hảo”, cơ hội, chống phá…này đều thất bại, bị dư luận bóc trần, lên án…

Trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026 hiện nay, vẫn có phần tử tiếp tục tuyên bố tự ứng cử để chống phá. Xin nêu hai trường hợp tuyên bố tự ứng cử đại biểu Quốc hội dưới đây:

Lê Văn Dũng (Dũng Vova) vừa tuyên bố trên Facebook cá nhân sẽ tham gia tự ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV và kêu gọi “ bà con ủng hộ nha!…”. Thực chất Lê Văn Dũng là đối tượng thường xuyên có các hành vi gây rối an ninh trật tự, chống phá Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Y cùng đồng bọn lập ra cái gọi là “ kênh truyền hình CHTV” để lừa bịp, trục lợi, chống đối; bản thân Lê Văn Dũng từng nhiều lần bị các cơ quan chức năng triệu tập làm việc, bị dư lận xã hội phản đối, lên án.

Lê Chí Thành, nguyên là đại úy cán bộ công an trại giam Thủ Đức đã bị kỷ luật buộc thôi việc. Thành vốn là một cán bộ công an có nhiều sai phạm, trong đó có đến hơn 50 lần bỏ vị trí công tác. Thành còn sử dụng mạng xã hội để xuyên tạc, nói xấu cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân, chống phá Nhà nước. Thành đã bị ngành Công an ra quyết định tước danh hiệu Công an nhân dân và bị tổ chức Đảng khai trừ ra khỏi Đảng. Gần đây, Thành càng quyết liệt chống phá, xuyên tạc, bôi nhọ chính quyền.

Sơ bộ mấy nét về nhân thân của hai đối tượng trên đây cho thấy thực chất phẩm chất, đạo đức, tư cách công dân của họ sai trái như thế nào. Rõ ràng dù có đủ tuổi và tuy vẫn là công dân, nhưng họ không đủ tư cách, phẩm chất, uy tín để tự ứng cử vào các cơ quan quyền lực, không có uy tín đại diện cho cử tri và nhân dân để đứng trong cơ quan quyền lực của Nhà nước ta. Chắc chắn với sự hiểu biết và tinh thần xây dựng, ý thức trách nhiệm của cử tri, nhân dân và cơ quan chức năng họ sẽ sớm bị loại. Đồng thời, chúng ta cũng cảnh báo cho những kẻ chống phá trên biết rằng: nếu cứ còn có các hành động chống phá sự nghiệp các mạng, gây rối trật tự, vi phạm pháp luật thì chắc chắn không sớm thì muộn sẽ có ngày họ bị luật pháp xử lý nghiêm khắc, đến quyền công dân cũng sẽ không còn chứ đừng có huênh hoang, vừa láo xược vừa như trò hề tuyên bố tự ứng cử đại biểu Quốc hội như vậy.

Chúng ta phải kiên quyết, kịp thời đấu tranh với những phần tử phá hoại, chống đối như Lê Dũng Vova, Lê Chí Thành, đồng thời, chủ động vạch mặt, kiên quyết đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, đã và đang tâng bốc, xúi giục, lợi dụng những kẻ chống đối, bất mãn, cơ hội chính trị như hai phần tử trên để chống phá. Sự lãnh đạo của Đảng, nỗ lực của cả hệ thống chính trị và sự đồng tình, ủng hộ của toàn dân, là cơ sở vững chắc cho thành công của cuộc bầu cử đã và đang được triển khai đúng luật với ý thức trách nhiệm và sự đoàn kết, tin tưởng, kỳ vọng cao nhất. St

 

Không hiểu rõ về Việt Nam thì ngừng xuyên tạc




Vừa qua, báo cáo nhân quyền  thường niên năm 2020 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lại tiếp tục có những nhận định thiếu khách quan, một số vấn đề mang tính phiến diện vô căn cứ cho rằng Việt Nam tiếp tục vi phạm nhân quyền.

Phát huy hơn nữa công tác dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở Việt nam hiện nay

 


Việt Nam là một quốc gia thống nhất đa dân tộc, đa tôn giáo. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, đồng bào các dân tộc không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đoàn kết một lòng trong cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm, giành độc lập, tự do cho dân tộc, từng bước giải phóng con người khỏi áp bức, bất công. Những thành tựu trong thời kỳ đổi mới đã tạo ra những tiền đề, điều kiện thuận lợi để Việt Nam thực hiện tốt công tác dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền. Những kết quả trong thực hiện các chính sách dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền đã góp phần thúc đẩy sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.

Việt Nam luôn khẳng định, con người là trung tâm của các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ quyền con người, thực hiện dân chủ rộng rãi  là nhân tố bảo đảm cho sự phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Những thành tựu của Việt Nam trong giải quyết các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá cách mạng Việt Nam; đó là những hành động vi phạm các Công ước quốc tế về nhân quyền và chủ quyền của một quốc gia độc lập. Nhân dân Việt Nam phản đối và quyết tâm chống lại những vấn đề đó.

 

 

Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền chống phá Việt Nam.

 


Các thế lực thù địch vẫn đang chống phá Việt Nam bằng chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm lật đổ chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; chủ trương từng bước diễn biến và tự diễn biến; chúng xác định mũi tiến công về dân tộc, tôn giáo là “ngòi nổ” của toàn bộ chiến lược; tiến công về dân chủ, nhân quyền để gây rối, kích động, bóp méo kết hợp với răn đe, uy hiếp về quân sự. Do đó, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch luôn gắn liền và thống nhất trong quá trình giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam hiện nay.

 

Nêu cao vai trò của lực lượng vũ trang cùng toàn dân giải quyết tốt vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền.

 

 


Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của lực lượng vũ trang là làm nòng cốt cho toàn dân giữ vững na ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nói chung và nhất là các điểm “nóng”, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Đây chính là thực hiện quyền thiêng liêng của con người, của nhân dân các dân tộc Việt Nam là được sống trong độc lập, tự do, tự mình quyết định vận mệnh của mình.

Cùng với việc phát huy vai trò của lực lượng vũ trang trong xây dựng các tiềm lực, thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân làm kế sách lâu dài để giữ nước. Lực lượng vũ trang cần làm tốt vai trò tiên phong cùng toàn dân giữ vững chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, đồng thời giải quyết tốt vấn đề dân tộc, tôn giáo trên các địa bàn trọng điểm như Tay Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ; nhất là đấu tranh phòng chống có hiệu quả âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá cách mạng, gây rối an ninh trật tự, tạo cớ can thiệp, xâm lược Việt Nam.

Phát huy vai trò tiên phong của lực lượng vũ trang trong tuyên truyền, giáo dục đồng bào các dân tộc về quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam; âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch. Giúp đỡ nhân dân xóa đói, giảm nghèo, xóa các hủ tục lạc hậu, tốn kém; phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, nâng cao dân trí. Giúp đỡ nhân dân xây dựng hệ thống chính trị, đội ngũ cán bộ con em các dân tộc; phát huy tốt vai trò của già làng, trưởng bản, những người có uy tín trongcộng đồng dân cư…Xây dựng thế trận lòng dân vững chắc.

Đổi mới chính sách và phương thức giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền.

 


Phải có chính sách cụ thể gắn với từng dân tộc, tôn giáo, từng vùng miền, phù hợp với đặc điểm tâm lý, nét văn hóa; không nên rập khuôn máy móc. Việc di dời dân phục vụ cho các công trình của Nhà nước phải được tính toán kỹ lưỡng, không chỉ là việc chăl lo việc ăn, ở sinh hoạt mà quan trọng hơn là sản xuất, việc làm, điều kiện học hành, chăm sóc sức khỏe, tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào.

Phương thức giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa cũng cần phải phải có phương án tổng thể, cần phối hợp chặt chẽ với các chương trình, các dự án phát triển kinh tế - xã hội tạo nên sức mạnh tổng hợp và đỡ thất thoát, lãng phí.

Tỷ lệ hộ nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số rất cao so với bình quân chung của cả nước, khoảng cách chênh lệch giàu nghèo còn khá lớn và ngày càng gia tăng; trình độ phát triển giữa các vùng có cách biệt lớn và có xu hướng mở rộng, tỷ lệ tái nghèo cao. Cần phải thay đổi phương thức xóa đói, giảm nghèo ở miền núi, kết hợp sự nỗ lực của mỗi hộ dựa trên thế mạnh của đồi rừng là tự cung, tự cấp, tự trang trải với đầu tư của Nhà nước vào những việc như xóa nhà tạm, cấp nước sinh hoạt và các dịch vụ khác, quan trọng hơn là đường hướng sản xuất để ổn định lâu dài.

Củng cố và nâng cao chất lượng và hiệu lực hoạt động của hệ thống chính trị các cấp; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức; nhất là ở vùng miền núi, đồng bào dân tộc, tôn giáo.

 


Hệ thống tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể và đội ngũ cán bộ các cấp là đại biểu của dân về ý chí, nguyện vọng và lợi ích. Nâng cao chất lượng và hieẹu quả hoạt động của những yếu tố cấu thành hệ thống chính trị các cấp vừa là nhằm thực hiện dân chủ, quyền con người; quyền của dân tộc, tôn giáo vừa là công cụ hữu hiệu để giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền.

Đổi mới hệ thống chính trị các cấp thực chất là nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, không phải đổi mới bản chất chính trị. Đổi mới hệ thống chính trị phải nắm chắc mục đích và nguyên tắc của quá trình đổi mới; một tư tưởng bao trùm là thực hiện quyền lực của nhân dân và mang lại lợi ích cho nhân dân, cán bộ là công bộc của nhân dân.

Đọi ngũ cán bộ, đảng viên và công chức nhà nước là người đại diện cho nhân dân, thực thi quyền lực của nhân dân, mang lại lợi ích cho nhân dân. Đội ngũ này phải có phẩm chất và năng lực tốt, thực sự tận tụy phục vụ nhân dân. Trước hết đội ngũ này phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện khắc phục triệt để chủ nghĩa cá nhân, những biểu hiện quan liêu, của quyền, nhũng nhiễu quần chúng; đề cao phê bình và tự phê bình, chân thành tiếp thu ý kiến đóng góp của nhân dân, thực sự cầu tieén bộ.

Đội ngũ cán bộ, đảng viên ở các địa phương vùng núi, vùng đồmg bào dân tộc thiểu số vừa yếu, vừa thiếu. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thieẻu số, có tín ngưỡng tôn giáo là nhiệm vụ cấp bách hiện nay; vừa phải có kế hoạch bổ túc, bồi dưỡng để đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa phải đào tạo cơ bản để đáp ứng yêu cầu cơ bản, lâu dài. Chăm lo xây dựng cơ quan, đội ngũ cán bộ chuyên trách về công tác dân tộc, tôn giáo tinh thông về nghiệp vụ, có trách nhiệm cao, gắn bó với đồng bào để làm hạt nhân tham mưu đắc lực cho lãnh đạo, chính quyền giải quyết những vấn đề dân tộc, tôn giáo cụ thể.

Phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp chặt chẽ với quốc phòng, an ninh ở miền núi, vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo.

 


Phát triển kinh tế - xã hội kết hợp chặt chẽ với quốc phòng an ninh ở vùng núi, biên giới, hải đảo là một đòi hỏi khách quan vì đó là những địa bàn sung yếu, phên dậu của Tổ quốc. Phát triển kinh tế - xã hội là giải pháp cơ bản, quyết định nhất, nhưng cũng là một việc làm khó khăn, phức tạp đòi hỏi phải có sự tích cực vươn lên của chính đồng bào các dân tộc thiểu số và ưu tiên đặc biệt về vật chất, con người, khoa học công nghệ… của Nhà nước.

Hoàn thiện và củng cố cơ sở hạ tầng; tạo sự thông thương dễ dàng miền ngược và miền suôi, giữa các vùng núi với nhau, giữa Việt nam với các nước láng giềng tạo dựng hành lang cho sự phát triển. Phát huy thế mạnh của kinh tế vùng, đồi, rừng, chuyển đổi cơ cấu kinh té, sản xuất hướng ra thi trường, xuất khẩu; xóa bỏ các hủ tục lạc hậu như du canh, du cư, ổn định đời sống cho nhân dân; có chính sách ưu đãi để thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế Nhà nước, kinh tế tư nhân.

Đẩy mạnh phát triển giáo dục và đào tạo là vấn đề có ý nghĩa hàng đầu cho sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nguồn nhân lực con em các dân tộc thiểu số, xây dựng đội ngũ cán bộ tại chỗ; mở mang hệ thống các trường tiểu học, gắn với thôn bản, tăng số lượng các trường dân tộc nội trú, thêm các trường khu vực và cả Trung ương giành riền cho con em các dân tộc; xây dựng đội ngũ giáo viên, giảng viên là con em các dân tộc, có chính sách ưu đãi đặc biệt đối với đội ngũ này và học sinh, sinh viên.

Xây dựng các đồn biên phòng, các đoàn kinh tế quốc phòng vững mạnh, làm hạt nhân cho việc phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng ở vùng núi, biên giới, hải đảo; thu hút con em các dân tộc thiểu số vào các đơn vị này; tham gia có hiệu quả các hoạt động phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương; cùng với địa phương xây dựng khu vực phòng thủ, thế trận lòng dân vững chắc.

Đấu tranh có hiệu quả với những hiện tượng xâm phạm biên giới, buôn bán ma túy, phụ nữ, trẻ em, buôn lậu; các hủ tục lạc hậu như mê tín dị đoan. Ma tang, cưới xin tốn kém tốn không ít tiền bạc của đồng bào; phát triển mạnh các dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe của nhân dân; mở mang các điểm văn hóa xã, thôn. Bản, các lễ hội văn hóa…thu hút đồng bào nâng cao nhân thức, giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc.

Nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở Việt nam hiện nay.

 


Đây là giải pháp cơ bản vừa mang tính cấp bách, vừa phải kiên trì, bền bỉ, lâu dài. Cần phải tích cực tiến hành bằng nhiều nội dung, hình thức. phương pháp phong phú làm cho nhân dân hiểu những nội dung cốt lõi về quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền; hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn lợi dụng của các thế lực thù địch về vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền.

Tuyên truyền, giáo dục chung đồng thời, trú trọng đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng bào vùng núi, biên giới, hải đảo, đồng bào dân tộc thiểu số có tín ngưỡng, tôn giáo; những nhóm đối tượng đặc thù; những nội dung phức tạp, nhạy cảm; những thời điểm thu hút sự quan tâm của nhiều người.

Kết hợp nhiều kênh thông tin cả Trung ương, địa phương và cơ sở; xây dựng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, hạt nhân nòng cốt, người có uy tín trước cộng đồng, nhất là ở cơ sở, bám sát diễn biến nhận thức, tâm lý, tình cảm của nhân dân, tuyên truyền những nội dung thiết thực, hiệu quả định hướng tư tưởng và hành động của nhân dân.

Kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền giáo dục với đấu tranh chống những nhân thức tư tưởng lệch lạc; chống mọi biểu hiện vi phạm quyền con người, quyền lợi của nhân dân, quyền bình đẳng tự quyết dân tộc, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; chống mọi biểu hiện dân chủ hình thức, dân chủ cực đoan bất chấp kỷ cương, pháp luật; đấu tranh có hiệu quả với mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng những vấn đề trên để chống phá cách mạng, gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

 


 Quyền con người là giá trị chung của nhân loại. Quyền con người bắt nguồn từ phẩm giá con người. Mỗi quốc gia khi tham gia các công ước quốc tế về quyền con người đều phải có những cam kết nhất định về nghĩa vụ và trách nhiệm. Đảng và Nhà nước Việt Nam khẳng định quan điểm và trách nhiệm của mình khi giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền con người mang tính toàn cầu.

 Quyền con người và quyền dân tộc cơ bản là thống nhất. Đảng và Nhà nước Việt Nam cho rằng, sự nghiệp giải phóng con người gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội; quyền con người chỉ có được trong độc lập dân tộc. Vì vậy, không thể có cái gọi là "nhân quyền cao hơn chủ quyền", chỉ có sự thống nhất giữa nhân quyền và chủ quyền quốc gia.

Kết hợp tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người trong nhận thức và giải quyết các vấn đề cụ thể. Quyền con người là một giá trị phổ biến được áp dụng phổ biến ở mọi nơi, mọi đối tượng nhưng mang tính đặc thù với bản sắc riêng phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội, mang sắc thái văn hóa, lịch sử và truyền thống của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, dân tộc, tôn giáo và những đặc điểm riêng khác. Đảng và Nhà nước Việt Nam thừa nhận và tán thành quan điểm về tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người. Việt Nam là một nước đa tôn giáo, đa dân tộc; có trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn thấp. Những đặc điểm đó quy định những đặc thù riêng trong việc thực hiện và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam.

Trong xã hội có đối kháng giai cấp, việc bảo đảm thực hiện quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc. Con người sinh ra vốn dĩ đã có quyền, quyền đó tồn tại dưới dạng những nhu cầu bức thiết, những yêu sách hợp lý. Nhưng, để trở thành quyền thực sự cần đến yếu tố pháp luật thiết định. Mà pháp luật bao giờ cũng là pháp luật của các chế độ chính trị khác nhau, nội dung của nó được ghi nhận trong khuôn khổ bảo đảm trước hết lợi ích của giai cấp thống trị xã hội. Do vậy, quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc, trong thực tế không thể có một thứ quyền trừu tượng siêu giai cấp.

 Quyền con người thể hiện trong quyền công dân và được pháp luật bảo hộ. Đảm bảo bằng pháp luật là một trong những điều kiện quan trọng nhất để các quyền con người, quyền công dân được thực hiện.Quyền con người, quyền công dân khi được hiến pháp, pháp luật ghi nhận trở thành độc lập đối với bất kỳ quyền uy nào, kể cả các cơ quan, viên chức nhà nước cao nhất.

Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương sẵn sàng đón tiếp, đối thoại và hợp tác với các nước và các tổ chức quốc tế nhằm tìm hiểu tình hình thực tế và trao đổi ý kiến về các lĩnh vực liên quan đến các quyền con người trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.

QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, NHÀNƯỚC VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ DÂN CHỦ

 


 

 Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại dieẹn, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Thực hiện tốt có hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làmm dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”

Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để nhân dân làm chủ. Cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị, đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, nêu gương thực hành dân chủ, tuân thủ pháp luật, đề cao đạo đức xã hội. Đảng và Nhà nước ban hành đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật tạo nền tảng chính trị, pháp lý, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân. Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát trieẻn đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy tính tích cực chính trị - xã hội, trí tuệ, quyền và trách nhiệm của nhân dân tham gia xây dựng chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, xây dựng đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức; động viên nhân dân tham gia phát triển kinh tế; góp phần quản lý xã hội thông qua các tổ chức chính trị- xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các hoạt động tự quản cộng đồng; xây dựng quản lý thụ hưởng văn hóa; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhan dân, ngoại giao nhân dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân. Xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân lợi dụng dân chủ, gây rối nội bộ, làm mất ổn định chính trị - xã hội hoặc vi phạm dân chủ, làm phương hại dến quyền làm chủ của nhân dân.

QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY VỀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO


Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ khi mới thành lập đã xác định đường lối tự do tín ngưỡng, đoàn kết lương giáo để giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Trong cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, chính sách “Tín ngưỡng, tự do, lương giáo đoàn kết” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đã góp phần to lớn vào thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Đế quốc Mỹ, đường lối đại đoàn kết toàn dân, tự do tín ngưỡng đã động viên hàng chục vạn tín đồ các tôn giáo tham gia cuộc đấu tranh giành và bảo vệ đất nước, đã có hàng vạn bộ đội thanh niên xung phong; hàng ngàn liệt sỹ, thương binh, hàng trăm bà mẹ Việt Nam anh hùng là tín đồ các tôn giáo. Trong sự nghiệp xây dựng đất nước sau chiến tranh, Đảng ta đã quan tâm đến công tác tôn giáo. Năm 1990 Bộ Chính trị khóa VI đã ra nghị quyết 24 về công tác tôn giáo. Các Đại hội Đảng VII, VIII tiếp tục khẳng định quan điểm đó. Năm 1998, Bộ Chính trị ban hành chỉ thị 37 - CT/TW về “Công tác tôn giáo trong tình hình mới” . Trong thời kỳ đổi mới, Đảng tiếp tục thực hiện quan điểm đó bằng Nghị quyết trung ương 7, khóa IX, với 5 quan điểm cơ bản. Từ quan điểm của Đảng, Nhà nước đã thể chế hóa bằng pháp luật đối với các hoạt động tôn giáo. Hướng dẫn giúp đỡ các tôn giáo xây dựng đường hướng hành đạo tiến bộ, gắn bó với dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa, sống “tốt đời, đẹp đạo”. Điều đó, được ghi nhận trong hiến pháp đầu tiên năm 1946. Trong Điều 10 quy định “Công dân Việt Nam có quyền…tự do tín ngưỡng”; Hiến pháp năm 1959, Điều 26 quy định “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”; Hiến pháp 1980, Điều 68 quy định “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”; Hiến pháp năm 1992, Điều 70 “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật…không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”; Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo năm 2004, Điều 1 quy định “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Công dân có tín ngưỡng tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng tôn giáo cũng như công dân có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn nhau”; hiến pháp năm 2013, xác định “tôn giáo là quyền con người”

Quan điểm chính sách đối với tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt nam tập trung trên 5 quan điểm cơ bản sau:

Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân các dân tộc, còn tồn tại lâu dài trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá”. Vì vậy, những giá trị của tín ngưỡng, tôn giáo, nổi lên là giá trị đạo đức chính là di sản để coi trọng kế thừa, phát huy để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Phải tôn trọng nhu cầu tinh thần, quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân các dân tộc nhằm phát huy nhân tố tinh thần trong sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc. Luật Tôn giáo Việt Nam khẳng định:

Thứ nhất, công dân có quyền tự do theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Công dân được quyền thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nhưng không cản trở việc thực hiện nghĩa vụ công dân với Tổ quốc. Tự do tín ngưỡng, tôn giáo không có nghĩa là hoạt động tôn giáo nằm ngoài khuôn khổ pháp luật, đi ngược lại lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân; không có nghĩa là lợi dụng tôn giáo để phá hoại cách mạng.

Thứ hai, người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không có tín ngưỡng, tôn giáo phải tôn trọng lẫn nhau; không ai được xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân... Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước không phân biệt đối xử với một tôn giáo nào. Người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không tín ngưỡng, tôn giáo đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 Thứ ba, Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân bằng pháp luật. Vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là vi phạm pháp luật, phải bị xử lý bằng pháp luật. Lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để gây rối, làm mất an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, chống đối Đảng, Nhà nước cũng là vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, phải bị pháp luật xử lý.

Đảng, Nhà nước Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách đoàn kết các dân tộc và các tôn giáo

Đồng bào dân tộc theo tôn giáo trước hết là người Việt nam, sau đó mới là tín đồ tôn giáo, là người Việt Nam theo tôn giáo chứ không phải là người theo tôn giáo nhập quốc tịch Việt Nam. Vì vậy, ở đồng bào dân tộc theo tôn giáo có tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào và ý thức dân tộc sâu sắc. Họ đều mong muốn xoá bỏ áp bức, bóc lột, bất công xã hội, khao khát có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc. Điều đó phù hợp với mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, là sự nghiệp do nhân dân và vì nhân dân. Đây chính là cơ sở để tập hợp lực lượng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp cách mạng.

Trong quá trình cách mạng, đồng bào các tôn giáo ngày càng nhận thức sâu sắc lợi ích của bản thân và của dân tộc mình, tôn giáo mình gắn bó với lợi ích của toàn dân tộc và của cách mạng; tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải gắn liền và phụ thuộc vào độc lập, tự do của Tổ quốc; Tổ quốc có độc lập, thống nhất thì tôn giáo mới có tự do. Sự thống nhất lợi ích đó là “điểm tương đồng” căn bản, tạo động lực để đồng bào các dân tộc, các tôn giáo một lòng, một dạ theo Đảng làm cách mạng trong đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay.

  Đoàn kết đồng bào dân tộc theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào dân tộc  theo tôn giáo và đồng bào dân tộc không theo tôn giáo. Cơ sở của đoàn kết là lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; xoá bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội. Đây là lập trường có tính nguyên tắc trong Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chính sách còn chỉ rõ trong mọi trường hợp, cần phân biệt rõ đâu là vấn đề thuộc dân tộc, tôn giáo, đâu là vấn đề các thế lực thù địch lợi dụng chống phá để có biện pháp xử lý đúng đắn.

Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng

Sở dĩ Việt Nam khẳng định nội dung cốt lõi của chính sách dân tộc, tôn giáo là công tác vận động quần chúng là bởi: Việt Nam có 54 dân tộc, với khoảng 23 triệu tín đồ các tôn giáo. Đó là lực lượng to lớn, vì vậy nếu làm tốt công tác vận động quần chúng trong đồng các dân tộc và trong các tín đồ tôn giáo sẽ tạo nên sức mạnh to lớn để thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

 Đảng luôn có chủ trương, chính sách đúng đắn về dân tộc, tôn giáo; Nhà nước trên cơ sở chủ trương, chính sách của Đảng ban hành pháp luật, chính sách cụ thể và tổ chức thực hiện. Trong đó chú trọng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội đối với đồng bào các dân tộc, tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa, các vùng đặc biệt khó khăn.

Nhà nước luôn có những giải pháp thích hợp đáp ứng nhu cầu tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào các dân tộc. Đồng thời việc giải quyết các vấn đề về hoạt động hợp pháp của các tổ chức tôn giáo, Nhà nước kiên quyết xử lý đối với mọi hành vi truyền đạo trái phép, lợi dụng tôn giáo làm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, làm mất trật tự, an toàn xã hội, gây tổn hại đến đạo đức, lối sống, văn hoá, thuần phong mỹ tục của các dân tộc; xử lý nghiêm những hành vi ngăn cản tín đồ, chức sắc các tôn giáo trong thực hiện nghĩa vụ công dân, những hành vi làm phương hại đến độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân, chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Các tổ chức chính trị - xã hội như: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng Liên đoàn lao động Viêt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Nông dân Việt nam, Hội Phụ nữ Việt Nam... là những tổ chức có vị trí, vai trò quan trọng, trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện  chính sách của Đảng và nhà nước về dân tộc và tôn giáo. Đó là lực lượng trực tiếp giáo dục đồng bào dân tộc, các tín đồ tôn giáo chấp hành tốt chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong thực hiện Chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đây là lực lượng đi đầu và là lực lượng chủ yếu thực hiện tuyên truyền, giáo dục cho mọi người dân hiểu rõ và chấp hành tốt chủ trương, chính sách, pháp luật về dân tộc, tôn giáo; đồng thời là lực lượng chủ yếu nắm bắt tình hình dân tộc, tôn giáo để  tham mưu với Đảng và Nhà nước về Chính sách dân tộc, tôn giáo và trực tiếp chịu trách nhiệm xử lý các vấn đề phức tạp của dân tộc và tôn giáo, xử lý các hành động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng của các thế lực thù địch với Việt Nam.

Vấn đề theo đạo và truyền đạo trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam  phải tuân thủ pháp luật của Nhà nước Việt Nam

Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được hoạt động tôn giáo, mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sách, giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo theo đúng quy định của pháp luật.

Việc theo đạo, truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ theo hiến pháp và pháp luật; không được lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, không ép buộc người dân theo đạo. Nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo, người truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái phép, vi phạm các quy định của hiến pháp và pháp luật 

QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ DÂN TỘC HIỆN NAY

 


Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam.

Quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là: vấn đề dân tộc là vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, Đảng Cộng sản Việt Nam ta khẳng định: Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ, tập quán tín ngưỡng của các dân tộc. Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị và chia rẽ dân tộc”. Mục tiêu cuối cùng của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là: các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc.

Qua các giai đoạn lịch sử, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán chủ trương, nguyên tắc trong đường lối, chính sách dân tộc, đó là xây dựng khối đoàn kết, bình đẳng giữa cộng đồng các tộc người, phát triển toàn diện về kinh tế- chính trị- xã hội, bảo đảm các quyền và tiếp cận các quyền của đồng bào dân tộc thiểu số trên các lĩnh vực.

Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”

Phát triển toàn diện chính trị,  kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh- quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, quốc phòng- an ninh

Về chính trị, mở rộng, phát huy dân chủ, nâng cao chất lượng tham kiến về chính trị đối với đồng bào các dân tộc thiểu số.

Về kinh tế, quy hoạch lại các điểm dân cư phân tán tại địa bàn Miền núi, đồng bào dân tộc. Nghiên cứu cơ chế quản lý liên kết hợp tác phát triển vùng phù hợp, tạo điều kiện phát triển các khu vực, địa bàn còn nhiều khó khăn, nhất là miền núi, biên giới hải đảo, Tây bắc, Tây nguyên, Tây Nam bộ và  phía tây các tỉnh miền trung.

Về văn hoá - xã hội, quan tâm phát triển giáo dục dạy nghề trong đồng bào dân tộc thiểu số và các vùng khó khăn. Đẩy mạnh giảm nghèo bền vững, nhất là các vùng đặc biệt khó khăn và có chính sách đặc thù để giảm nghèo nhanh hơn trong đồng bào dân tộc thiểu số. Hoàn thiện mạng lưới cơ sở y tế, nhất là miền núi, biên giới, hải đảo. Tăng cường nhân lực y tế cho khu vực nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo. Phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, giữ gìn bản sắc tốt đẹp của các dân tộc. Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Kịp thời di dời đồng bào ra khỏi khu vực sạt lở, lũ lụt. Tăng cường bảo vệ và phát triển rừng bền vững, nhất là rừng phòng hộ, ven biển, rừng đầu nguồn, rừng đặc dụng; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thuỷ sản. Xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Giữ gìn và phát huy truyền thống, tập quán tốt đẹp của làng quê Việt Nam.

Về quốc phòng - An ninh, kết hợp tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội trong các khu vực phòng thủ, phải bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh nhất là ở những vị trí trọng yếu, chiến lược. Xây dựng đường tuần tra biên giới. Nâng cao hiệu quả hoạt động các khu kinh tế- quốc phòng và phát triển bền vững kinh tế- xã hội khu vực dọc biên giới và biển đảo.

Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế, xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo.

Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế, xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo. Ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước, tín dụng ưu đãi và huy động các nguồn lực ngoài nhà nước để đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế- xã hội. Đẩy mạnh tạo nghề với các hình thức đa dạng, phù hợp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn, miền núi. Tập trung giải quyết tình trạng du canh, du cư, di dân tự do. Khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái. Phát huy nội lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước.Phát huy nội lực, tự lực, tự cường của đồng bào:

Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Đảng ra chủ trương, Nhà nước xác định chính sách và tổ chức thực hiện,các tổ chức đoàn thể tham mưu tổ chức thực hiện.

Thực hiện quan điểm trên, quân đội tham gia thực hiện chính sách dân tộc. Quân đội quán triệt sâu sắc quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động nhân dân…Tích cực tham gia xây dựng, phát triển vùng dân tộc, miền núi vững mạnh về mọi mặt. Xây dựng thế trận QP,AN vững mạnh vùng dân tộc thiểu số. Giáo dục cán bộ, chiến sỹ hiểu và tôn trọng phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa các dân tộc.

VẤN ĐỀ QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 


Quyền con người là các đặc quyền tự nhiên, bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người được cộng đồng quốc tế và quốc gia thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm bằng hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế

 Quyền con người đồng nghĩa với tự do của con người. Quyền con người bao gồm quyền tự nhiên và quyền xã hội. Quyền con người được biểu hiện ở nhiều mối quan hệ. Đó là các mối quan hệ: Quan hệ giữa cá nhân với nhà nước; con người với quyền lực xã hội. Quyền con người mang tính nhân loại, tính lịch sử và tính giai cấp sâu sắc. Quyền con người là công cụ để tự bảo vệ quyền của mình trước bạo lực, cường quyền.

Về mặt nhận thức

Nhận thức về nhân quyền của Đảng, Nhà nước và nhân dân ngày càng phát triển.Trong các cương lĩnh chính trị, các văn kiện các kỳ đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định quyền con người, quyền công dân và luôn đổi mới để tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân tốt hơn, phù hợp hơn với các điều ước quốc tế.Trên cơ sở quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã thể chế hóa quyền con người trong hiến pháp và pháp luật và các thể chế.  Đặc biệt là đã tăng cường kiểm soát yêu cầu bảo đảm tính hợp hiến của các dự thảo luật, bộ luật trước và trong quá trình soạn thảo và thông qua luật theo đúng trình tự, thủ tục.

Quyền con người được bảo đảm trên thực tế

Chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn kết, trú trọng quan tâm đến đồng bào dân tộc ít người, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, nghiêm cấm các hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Hiện nay, ở các tỉnh miền núi, mức sống của nhân dân không ngừng được cải thiện, đã hạn chế gia tăng khoảng cách giàu nghèo, chênh lệch phát triển giữa các dân tộc, các vùng dân tộc. Tỷ lệ hộ nghèo trong vùng dân tộc giảm bình quân từ 3% đến 4% năm. Quyền tham gia và quản lý công việc Nhà nước và xã hội được tăng cường, (được thể hiện rõ ở các cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, bảo đảm khóa sau chất lượng hơn khóa trước).

Quyền khiếu nại tố cáo được thực hiện chất lượng. Ban hành và hướng dẫn tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, yêu cầu thủ trưởng cơ quan phải công khai chương trình kế hoạch công tác và kinh phí hoạt động; kê khai tài sản của cán bộ phải được niêm yết ở nơi công cộng của cơ quan, đơn vị…

Các quyền tự do dân chủ được thực hiện tốt. Đến nay, Việt Nam đã có hơn 50 cơ quan báo chí với hơn 650 ấn phẩm báo chí các loại, 47 nhà xuất bản, mỗi năm xuất bản hàng vạn đầu sách, in và phát hành trên 600 triệu bản báo.  Trên lĩnh vực kinh tế, quyền con người được bảo đảm, Nhà nước tôn trọng, bảo vệ, tạo điều kiện thuận lợi để mọi người, mọi thành phần kinh tế phát triển bình đẳng với nhau.

Trên lĩnh vực xã hội, bằng những chính sách xã hội thỏa đáng, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối dưới nhiều hình thức, như: xây nhà chung cư cho những người có mức sống còn thấp, xây hàng vạn ngôi nhà tình nghĩa cho những người có công với cách mạng, khám chữa bệnh cho người nghèo, giáo dục tiểu học bắt buộc, bảo đảm an sinh xã hội, chăm sóc những người yếu thế, rủi ro, thiệt thòi; thực hiện chế độ trợ cấp đầy tính nhân đạo đối với con người: trợ cấp ốm đau thai sản, trợ cấp cho người cao tuổi, trợ cấp cho người tàn tật, trợ cấp tai nạn nghề nghiệp...

Trên lĩnh vực văn hóa, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Hiến pháp và các văn bản luật quy định rõ quyền con người trong lĩnh vực văn hóa: Quyền được tiếp cận với văn hóa thông tin; quyền được sáng tạo và  thưởng thức văn hóa, nghệ thuật; quyền được giữ gìn bảo tồn các di sản văn hóa dân tộc.

Thành tựu trong thực hiện dân chủ ở Việt Nam hiện nay

 


Nhận thức về xây dựng và phát huy dân chủ của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân ngày càng sâu sắc hơn.

Thể chế thực thi các quyền dân chủ của nhân dân từng bước được xác lập và cụ thể hóa trên tất cả các lĩnh vực. Điều 6, Hiến pháp 2013 quy định rõ các hình thức thực hiện dân chủ: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng hình thức dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”. Hiến pháp năm 2013 dành riêng chương II với 36 điều (từ điều 14 đến điều 49) quy định cụ thể về Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn và hệ trọng của đất nước. Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội. Tăng cường và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tổ chức và công dân, kiên quyết sử lý các hành vi vi phạm pháp luật. Chú trọng thực hiện dân chủ cả trực tiếp và đại diện, nhất là ở cơ sở, bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình. Người đứng đầu ở nhiều cấp ủy đảng, chính quyền đã tăng cường tiếp xúc, đối thoại, lắng nghe, tiếp thu, giải quyết những bức xúc và nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Nội dung, hình thức dân chủ ở Việt Nam hiện nay

 


Về chính trị, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định nguyên tắc tối cao là tất cả quyền lực thuộc về nhân dân trong tổ chức và hoạt động của mình; động viên toàn dân xây dựng đường lói của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kiểm tra, giám sát, phản biện xã hội với các hoạt động của hệ thống chính trị. Mọi người dân có quyền ứng cử, đề cử, bầu cử vào các cơ quan quyền lực Nhà nước; quyền thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Về kinh tế, được thể hiện trong đường lối phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà  nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên nhiều hình thức sở hữu, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng

Dân giàu là mục tiêu của Nhà nước, của toàn xã hội. Mọi người dân có quyền sở hữu, sử dụng, định đoạt với các tư liệu sản xuất; tham gia vào các hoạt động quản lý nền kinh tế; tham gia quá trình phân phối và phân phối lại sản phẩm xã hội.

 Về văn hóa - xã hội, mọi người dân có quyền được thưởng thức và sáng tạo các giá trị văn hóa; quyền được học hành, phát triển, tự do đi lại, cư trú, tự do tôn giáo...; quyền được có công ăn việc làm, đảm bảo an sinh xã hội...

 Về quốc phòng, an ninh, mọi người dân có quyền được thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc; quyền được tham gia các hoạt động đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội và được đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản theo quy định của pháp luật.

VẤN ĐỀ DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 


Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, là quyền tự do bình đẳng của nhân dân trong đời sống xã hội, gắn liền với những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử nhất định.

Dân chủ là một giá trị xã hội (giá trị nhân văn) phản ánh những quyền cơ bản của con người; là một hình thức tổ chức nhà nước của giai cấp cầm quyền, một chế độ chính trị - xã hội mà ở đó những quyền cơ bản của con người (tự do, bình đẳng, tôn trọng sự thống nhất trong đa dạng…) được pháp luật thừa nhận và bảo vệ; đồng thời những quyền này được thể chế thành các nguyên tắc (quyền lực thuộc về nhân dân, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, thiểu số phục tùng đa số, quyền tự do tư tưởng, ý chí hành động, bầu cử tự do và công bằng…) để quy định quyền lợi, trách nhiệm của nhân dân đối với nhà nước, cộng đồng và ngược lại.

Bàn đến dân chủ là phải bàn đến bản chất, nội dung, hình thức, mức độ, tính chất của dân chủ; trong đó bản chất của dân chủ là yếu tố quyết định nhất quy định các yếu tố khác. Dân chủ mang bản chất giai cấp, bản chất của dân chủ do bản chất của chế độ xã hội, bản chất của nhà nước, bản chất của hệ thống pháp luật quy định; ngoài ra dân chủ còn phù thuộc vào truyền thống của dân tộc, phương thức sản xuất, phẩm chất năng lực của đội ngũ công chức nhà nước, ý thức thực hành dân chủ của công dân, trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội hiện tại ở mỗi quốc gia.

Sự hình thành và phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn liền với sự ra đời của ché độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đó là dân chủ có bản chất tốt dẹp nhất trong toàn bộ tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam và tiến bộ xã hội của nhân loại cho đến nay; đồng thời đó là kết quả của quá trình đấu tranh kiên cường, bất khuất của nhân dân và toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; được đánh dấu bằng sự kiện lịch sử vĩ đại đó là cách mạng Tháng tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Trải qua hơn 60 năm dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không ngừng được xây dựng, hoàn thiện và đã đạt được những thành tựu to lớn.

Chế độ dân chủ ở Việt Nam hiện nay là chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, mang bản chất của giai cấp công nhân. Chủ thể của quyền lực chính trị ở Việt Nam là đại đa số nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ở Việt Nam mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Ở Việt Nam mọi quyền sở hữu dều dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất; mọi tổ chức của hệ thống chính trị đều được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tổ chức và hoạt động của giai cấp công nhân; mọi công dân bình đẳng với nhau về quyền lợi và nghĩa vụ; mọi hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân và lợi dụng dân chủ làm tổn hại lợi ích của nhân dân và Tổ quốc đều phải được phê phán và nghiêm trị. Những tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và vô trách nhiệm, lạm quyền và xâm phạm quyền làm chủ của nhân dân đều phải được ngăn ngừa và trừng trị. Pháp chế xã hội chủ nghĩa luôn được tăng cường, trách nhiệm công dân luôn được đề cao, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các cơ chế và biện pháp kiểm soát quyền lực nhà nước, phòng ngừa, ngăn chặn và sử lý nghiêm những sai phạm làm suy thoái và biến chất quyền lực nhà nước của nhân dân.

Những thành tựu trong công tác tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay

 


Công tác tôn giáo đã động viên được đồng bào có đạo, các tín đồ chức sắc… hưởng ứng và tham gia các phong traog thi đua yêu nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc đạt được nhiều tiến bộ

Đồng bào các tôn giáo đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ đổi mới đất nước.

Các tổ chức tôn giáo ở nước ta dã xây dựng được đường hướng, phương châm hành đạo tiến bộ, hoạt động gắn bó với dân tộc theo Hiến pháp, pháp luật; các tôn giáo được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân đã tập hợp đông đảo tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng cuộc sống tốt đời, đẹp đọa, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước.

Các ngành , các cấp đã chủ động, tích cực thực hiện chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và giữ vững  ninh chính trị ở các vùng đồng bào tôn giáo, đồng thời đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại những hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo của các thế lực thù địch.

Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo mang đậm nét cảm tính, tâm lý.

 


Đa số tín đồ các tôn giáo là người lao động, trong đó chủ yếu là nông dân. Từ lối sống mang đậm nét tiểu nông, nên nhiều tín đồ tôn giáo ở Việt Nam tuy khá sùng đạo nhưng lại không hiểu rõ giáo lý, thậm chí ra nhập đạo chỉ do sự lan truyền tâm lý, do sự lôi kéo. Đối với bộ phận khá lớn cư dân Việt nam, tôn giáo thuần tuý là lĩnh vực tình cảm, tâm lý, nó như cái gì bình thường tự nhiên, đây cũng là một nguyên nhân khiến người Việt Nam có thái độ dung hoà, cởi mở khi tiếp nhận các tôn giáo. Tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam có nhu cầu cao trong sinh hoạt tôn giáo, nhất là những sinh hoạt tôn giáo mang tính chất lễ hội. Một bộ phận tín đồ của một số tôn giáo vẫn còn mê tín dị đoan, thậm trí cuồng tín dễ bị các phần từ thù địch lôi kéo.

Các tôn giáo ở Việt Nam hoạt động ôn hòa, hòa quyện mà không hợp nhất.


Trong lịch sử các tôn giáo ở Việt Nam có lúc chung sống không thật yên ả, nhưng về cơ bản tôn trọng lẫn nhau, không đối đầu, không có chiến tranh tôn giáo, chỉ có các lực lượng chính trị lợi dụng vấn đề tôn giáo để hòng chia rẽ khối đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam, nhưng chúng đều thất bại. Tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam có tính dung hợp, đan xen, hòa đồng, dễ chấp nhận sự hiện diện của các vị thần, thánh của các tôn giáo khác. Những người theo tôn giáo khác nhau không xa lánh người mình thờ phụng; có thể sống chung trong một làng, một dòng họ, thậm chí một gia đình. 

Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo


 Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội, ra đời và phát triển từ hàng ngàn năm nay. Quá trình tồn tại và phát triển của tôn giáo ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống chính trị, văn hóa, xã hội, đến tâm lý, đạo đức, lối sống, phong tục, tập quán của nhiều dân tộc, quốc gia.

Việt Nam là quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo. Với vị trí nằm ở khu vực Đông Nam Á có ba mặt giáp biển, Việt Nam rất thuận lợi trong mối giao lưu với các nước trên thế giới và cũng là nơi rất dễ cho việc thâm nhập các luồng văn hóa, các tôn giáo trên thế giới.

Về mặt dân cư, Việt Nam là quốc gia đa dân tộc. Mỗi dân tộc đều lưu giữ các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo riêng mình. Người Việt có các hình thức dân gian như thờ cúng ông bà tổ tiên, thờ Thành hoàng, thờ những người có công với cộng đồng, dân tộc, thờ thần, thờ thánh, nhất là tục thờ Mẫu của cư dân nông nghiệp lúa nước. Đồng bào các dân tộc thiểu số với hình thức tín ngưỡng nguyên thủy (còn gọi là tín ngưỡng sơ khai) như Tô tem giáo, Bái vật giáo, Sa man giáo.

Ở Việt Nam có những tôn giáo có nguồn gốc từ phương Đông như Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo; có tôn giáo có nguồn gốc từ phương Tây như Thiên chúa giáo, Tin Lành; có tôn giáo sinh ra tại Việt Nam như Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo; có tôn giáo hoàn chỉnh (có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghị và tổ chức giáo hội), có những hình thức tôn giáo sơ khai. Có tôn giáo đã phát triển và hoạt động ổn định; có tôn giáo chưa ổn định, đang trong quá trình tìm kiếm đường hướng mới cho phù hợp.

Ước tính đến nay ở Việt Nam có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo. Tín ngưỡng ở Việt Nam rất đa dạng, bao gồm: Tín ngưỡng thờ cúng Việt Nam; tín ngưỡng thờ Thành hoàng; tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc; tín ngưỡng thờ Mẫu. Về tôn giáo, ở Việt Nam hiện nay có 43 tổ chức, hệ phái tôn giáo thuộc 16 tôn giáo, với trên 24 triệu tín đồ, chiếm khoảng 27% dân số cả nước; hiện có 6 tôn giáo lớn, trong đó có 2 tôn giáo nội sinh là Phật giáo Hoà hảo và Đạo Cao đài.

Với sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo nói trên, người ta thường ví Việt Nam như bảo tàng tôn giáo của thế giới. Về khía cạnh văn hóa, sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng tôn giáo đã góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam phong phú và đặc sắc. Tuy nhiên đó là những khó khăn đặt ra trong việc thực hiện chủ trương, chính sách đối với tôn giáo nói chung và đối với từng tôn giáo cụ thể. 

Thành tựu trong công tác dân tộc ở Việt Nam hiện nay

 


Quyền tự quyết, bình đẳng giữa các dân tộc được đảm bảo

 Các dân tộc luôn được bảo đảm quyền bình đẳng trên các lĩnh vực, quyền bình đẳng về chính trị của đồng bào dân tộc thiểu số từng bước được nâng cao. Trong những năm qua, số lượng đại biểu là người dân tộc thiểu số trong các khoá quốc hội luôn chiếm tỷ lệ cao hơn so với người dân tộc thiểu số của cả nước. Ở địa phương, người dân tộc thiểu số cũng chiếm tỷ lệ cao hơn trong tham gia hội đồng nhân dân. Nhiều người dân tộc thiểu số đã và đang giữ những chức vụ quan trọng trong các cơ quan lãnh đạo, các cơ quan quyền lực của đất nước.

Đời sống đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng được cải thiện

Với sự quyết tâm lớn của Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị và toàn dân, hiện nay đã hạn chế gia tăng khoảng cách giàu nghèo, chênh lệch phát triển giữa các dân tộc, các vùng dân tộc. Tỷ lệ hộ nghèo trong vùng dân tộc giảm bình quân từ 3% đến 4%/ năm. Bộ mặt vùng dân tộc miền núi, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội vùng dân tộc thay đổi rõ rệt.

Hệ thống chính trị vùng dân tộc ngày càng vững chắc

Hiện nay, có nhiều cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học. Năng lực, trình độ cán bộ xã, phường ngày càng nâng cao, phát triển đảng người dân tộc được trú trọng, Hoạt động của cấp uỷ, chính quyền, mặt trận và đoàn thể ở nhiều nơi đạt hiệu quả.

Mỗi dân tộc đều có sắc thái văn hóa riêng, góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng nhưng thống nhất trong nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

 


Cùng với nền văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, mỗi dân tộc có ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết), phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội, kiến trúc, ẩm thực, nghệ thuật dân gian, trang phục riêng... tạo nên một nền văn hóa đa dạng nhưng thống nhất trong nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc...Sự phát triển rực rỡ bản sắc văn hóa mỗi dân tộc, càng làm phong phú nền văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên nếu không có chính sách đúng, không tôn trọng văn hoá của nhau sẽ tạo nên xung đột văn hoá, hoà trộn văn hoá, phai nhạt, mất dần bản sắc văn hoá từng tộc người.

Sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới đang hướng vào việc củng cố và tăng cường sự thống nhất, nhân lên sức mạnh tinh thần chung của toàn dân tộc. Đồng thời phải khai thác và phát triển mọi sắc thái và giá trị văn hóa của các dân tộc, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần ngày càng cao và nhu cầu phát triển từng dân tộc.

Các dân tộc ở Việt Nam có dân số và trình độ phát triển kinh tế- xã hội không đều nhau

 


Hiện nay, dân tộc kinh chiếm khoảng 85,3`% dân số cả nước. Các dân tộc thiểu số còn lại chiếm khoảng 14,7% dân số cả nước. Các dân tộc thiểu số có 6 dân tộc có số dân 1 triệu người trở lên như: Tày, Thái, Mường, Nùng, Mông, Khơ me; 33 dân tộc có dân số từ 10 nghìn người đến 1 triệu người; 14 dân tộc dưới 10 ngìn người, trong đó có một số dân tộc chỉ có mấy trăm người như dân tộc:  Ơ Đo, Pu péo, Si la, Brâu, Rơ măm.

Do những nguyên nhân lịch sử, xã hội và hoàn cảnh tự nhiên nên các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế xã hội không đều nhau. Các dân tộc sống ở vùng thấp có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn các dân tộc ít người sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao. Hiện nay có một số dân tộc đạt trình độ phát triển tương đối cao như Tày, Thái, Mường, Nùng, Ngái, Sán Dìu. Các dân tộc này biết canh tác ruộng nước, biết sản xuất hàng hoá, cư trú ở vùng thấp, đô thị.  Một số dân tộc có trình độ phát triển thấp như La hủ, Cống, Mảng, Chứt,..., do sống bằng canh tác nương rẫy, tự cung, tự túc, cư trú ở vùng cao khó khăn, vùng sâu, vùng xa, quen với cuộc sống du canh, du cư...

Bên cạnh nguyên nhân lịch sử và hoàn cảnh tự nhiên, còn có nguyên nhân chủ yếu là do hậu quả của sự áp bức, bóc lột của chế độ thực dân, phong kiến và đất nước phải liên tục đối phó với chiến tranh xâm lược trong nhiều năm. Đây là nguồn gốc của sự không bình đẳng giữa các dân tộc trên thực tế. Giải quyết hậu quả lịch sử này phải có quá trình phấn đấu tích cực, bền bỉ, lâu dài mới làm cho các dân tộc từng bước tiến kịp trình độ chung.

Các dân tộc ở Việt Nam cư trú phân tán, xen kẽ nhau; các dân tộc thiểu số chủ yếu cư trú trên các địa bàn có giá trị chiến lược- Đây là yếu tố thuận lợi nhưng cũng rất khó khăn trong xây dựng mối đoàn kết các dân tộc

 


Ở một số vùng nhất định có dân tộc cư trú tương đối tập trung. Song nhìn chung các dân tộc Việt Nam sống xen kẽ nhau, không có lãnh thổ riêng biệt như một số nước trên thế giới. Địa bàn cư trú của người Kinh chủ yếu ở đồng bằng, ven biển và trung du; còn các dân tộc ít người cư trú chủ yếu ở các vùng miền núi và vùng cao, một số dân tộc như Khơ me, Hoa, Chăm sống ở đồng bằng. Các dân tộc thiểu số có sự tập trung ở một số vùng, nhưng không cứ trú tahnhf những khu vực riêng biệt mà xen kẽ với các dân tộc khác trong phạm vi của tỉnh, huyện, xã  và các bản, mường. Hiện nay, hầu như không có một đơn vị hành chính xã, huyện, tỉnh, nào ở vùng dân tộc thiểu số chỉ có một dân tộc cư trú. Nhiều tỉnh có tới trên 20 dân tộc cư trú như Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quan, Lâm Đồng... Phần lớn các huyện có từ 5 dân tộc trở lên cư trú. Nhiều xã, bản, mường có tới 3-4 dân tộc cùng sinh sống.

Việc cư trú đan xen giữa các dân tộc, tạo điều kiện để các dân tộc giao lưu phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, nhưng cũng rất dễ nảy sinh các vấn đề mất ngôn ngữ, văn hoá, phân hoá giàu nghèo, tranh chấp đất đai, tài nguyên, gia tăng các tệ nạn xã hội, tiềm ẩn xung đột dân tộc. Ngày nay, tình trạng cư trú xen kẽ của các dân tộc chủ yếu dẫn tới sự giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các dân tộc cũng như sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau, càng có thêm điều kiện đoàn kết và hòa hợp giữa các dân tộc anh em.

Các dân tộc thiểu số chủ yếu cư trú ở miền núi, chiếm ¾ diện tích cả nước. Đây là khu vực có tiềm năng phát triển kinh tế to lớn mà trước hết là tiềm lực về tài nguyên rừng và đất rừng. Không những thế, miền núi còn có vai trò đặc biệt quan trọng về môi trường sinh thái đối với cả nước như điều hòa khí hạu, điều tiết nguồn nước, bảo vệ lớp đất màu trong mùa mưa lũ.

Vị trí chiến lược quan trọng của miền núi đã được thực tế lịch sử khẳng định. Từ xưa đến nay, các thế lực bên ngoài đều sử dụng địa bàn miền núi để xâm lược, xâm nhập, phá hoại sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam.

Rừng núi đã từng là căn cứ địa cách mạng trong kháng chiến chống Pháp, Nhật, Mỹ. Trong giai đoạn hiện nay, miền núi - biên giới là thành lũy vững chắc của Tổ quốc, là địa bàn chiến lược về quốc phòng - an ninh trong bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, chống âm mưu xâm nhập, gây bạo loạn, lật đổ, bảo vệ sự nghiệp hòa bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Ở vùng biên giới, một số dân tộc có quan hệ đồng tộc với dân tộc của các nước láng giềng, nên khách quan có nhu cầu thăm thân, mở rộng giao lư kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc ở hai bên biên giới. Bởi vậy chính sách dân tộc của Đảng nhà nước Việt Nam không chỉ vì lợi ích các dân tộc thieẻu số mà còn vì lợi ích của cả nước, không chỉ còn là đối nội mà còn là đối ngoại, không chỉ vì kinh tế - xã hội, mà cả về chính trị, quốc phòng, anh ninh quốc gia.

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, đồng bào chung sống đoàn kết, gắn bó trong quá trình dựng nước, giữ nước


Hiện nay nước ta có 54 thành phần dân tộc, dân tộc Kinh và 53 dân tộc thiểu số, dân tộc kinh là dân tộc đa số. Tính đến 01/4/2019, dân tộc Kinh chiếm 85,3% dân số; 53 dân tộc thiểu số chiếm 14,7% dân số cả nước. Trong số 54 dân tộc, có những dân tộc vốn sinh ra và phát triển trên mảnh đất Việt Nam ngay từ thủa ban đầu, có những dân tộc từ nơi khác di cư đến rồi định cư trên lãnh thổ Việt Nam. Dân tộc tại chỗ như dân tộc Việt (còn gọi là dân tộc Kinh ngày nay); dân tộc Việt- Mường (còn gọi là dân tộc Mường ngày nay). Di cư từ Trung Quốc như dân tộc Thái, Hoa, Cao Lan, HMông, Sán Chỉ, Giáy v.v..., dân tộc HMông, Cao Lan, Sán chỉ và Giáy di cư đến Việt Nam khoảng 300 năm trước. Di cư  từ Lào có dân tộc Chăm. Di cư từ Camphuchia có dân tộc Kheme v.v... Thời kỳ hội nhập có một số dân tộc từ các nước khác như: Triều Tiên, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ, Châu Âu, Châu Mỹ sang làm việc, sinh sống tại Việt Nam…

Các dân tộc ở Việt Nam rất đoàn kết. Đoàn kết đã trở thành truyền thống, thành sức mạnh và là nền móng để xây dựng một quốc gia dân tộc bền vững xuyên suốt mọi thời kỳ lịch sử của dân tộc Việt nam.

Trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, nhiều dân tộc có chung cội nguồn. Nói về nguồn gốc dân tộc Việt Nam đã có nhiều truyền thuyết như truyện „Quả bầu mẹ“ giải thích các dân tộc có chung nguồn gốc; truyện „ Đôi chim“ để ra hàng trăm, hành ngàn trứng nở ra người Kinh, người Mường, người Thái, người Khơ-mú...; truyện của dân tộc Ba-na, Ê-đê kể rằng người Kinh, người Thượng là anh em một nhà; đặc biệt là truyện Lạc Long Quân lấy bà Âu cơ đẻ ra một bọc trăm trứng nở ra trăm người con, một nửa theo cha xuống biển trở thành người Kinh, một nửa theo mẹ lên núi thành các dân tộc thiểu số. Vua Hùng được coi là Tổ tiên chung của cả nước.

Các dân tộc có cùng nguồn gốc lịch sử, có nhiều điểm đương đồng là điều kiện thuận lợi dễ gần gũi, gắn bó với nhau. Song dù cùng hoạc không cùng một nguồn gốc sinh ra, có sự khác nhau về tâm lý, phong tục, tập quán... thì đều là người trong một nước, con trong một nhà, vận mệnh gắn chặt với nhau, các dân tộc tren đất nước Việt nam luôn kề vai, sát cánh bên nhau, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau.

Việt nam ở khu vực địa lý có nhiều thuận lợi, song điều kiện tự nhiên cũng rất khắc nghiệt. Do nắng lắm, mưa nhiều nên hành năm thường bị hạn hán, lũ lụt. Do yêu cầu tồn tại và phát triển ở một nước nông nghiệp, trồng lúa nước là chính, cư dân ở Việt Nam phải liên kết nhau lại, hợp sức đè khai phá đất hoang, chống thú dữ, xây dựng các hệ thống thủy lợi, đê, đập, nhằm đảm bảo phát triển sản xuất. Trải qua nhiều thế kỷ dựng nước và giữ nước, sự gắn bó, giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất của đồng bào các dân tộc đã được coi như một tiêu chuẩn đạo đức.

Cùng với lịch sử trinh phục thiên nhiên, nhân dân Việt Nam còn có lịch sử chống giặc ngoại xâm vô cùng oanh liệt. Do Việt nam ở vào nơi thuận tiện trên trục đường giao thông Bắc - Nam, Đông - Tây của thế giới, có tài nguyên, thiên nhiên phong phú và vị trí địa lý - chính trị có tính chiến lược. Cho nên các thế lực bành trướng, xâm lược luôn nhòm ngó và tìm cách thôn tính Việt Nam. Đặc điểm nổi bật của lịch sử Việt nam là lịch sử chống giặc ngoại xâm liên tục và nhiều lần, trong đó có nhiều cuộc đấu tranh chống lại những thế lực hùng mạnh, giàu có và hung bạo nhất thế giới. Chính vì vậy mà cộng đồng các dân tộc Việt Nam luôn sát cánh bên nhau, liên tục đứng lên chống giặc ngoại xâm, đánh thắng quân xâm lược.

Đoàn kết trong lao động và đấu tranh là truyền thống nổi bật nhất của các dân tộc Việt Nam được hun đúc qua mấy nàgn năm lịch sử. Trong sự nghiệp cách mạng do Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, truyền thống đoàn kết dân tộc được phát huy cao độ, là một trong những nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Những thành tựu đạt được trong quá trình đổi mới rất to lớn và dáng tự hào cho thấy khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam đã được nâng lên tầm cao và chiều sâu mới, là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển của đất nước, làm cho thế và lực của cách mạng Việt Nam ngày càng được tăng cường.

Tuy nhiên bên cạnh mặt đoàn kết là cơ bản, có nơi, có lúc vẫn xẩy ra những va chạm trong quan hệ dân tộc, còn có những biểu hiện mặc cảm, thành kiến dân tộc. Chính vì thế ở một số nơi, các lực lượng thù địch đã lợi dụng để kích động chia rẽ dân tộc. Do đó việc tăng cường đoàn kết, nâng cao cảnh giác, kịp thời đập tan mọi âm mưu và hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nhiệm vụ của mỗi người dân Việt Nam. 

VIỆT NAM THỰC HIỆN TỐT VẤN ĐỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO, DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN

 


Dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền là những vấn đề phức tạp có liên quan chặt chẽ với nhau không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhất là các quốc gia đa dân tộc, tôn giáo. Lịch sử thế giới cho thấy, khi nào vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền đ­­ược giải quyết thành công thì xã hội mới có sự ổn định và phát triển; nếu giải quyết không tốt sẽ dẫn đến xung đột, làm mất ổn định xã hội. Nhà nước Việt Nam thường xuyên quan tâm thực hiện tốt công tác dân tộc, tôn giáo, phát huy dân chủ và bảo đảm nhân quyền, tạo động lực to lớn góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trong những năm vừa qua.

 

 

 

 

 

 

 

 TƯ TƯỞNG BÁC HỒ VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT

"Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay cũng có ngón ngắn, ngón dài. Nhưng ngắn dài đều họp lại nơi bàn tay. Trong mấy chục triệu người, cũng có người thế này, thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều là dòng dõi tổ tiên ta. Vậy ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng, đã là con Lạc, cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối, lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắc sẽ vẻ vang".

 



Hoàng Sa - Trường Sa lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Phát hiện bộ tem Đăng tháp bưu phiếu do bưu chính Đài Loan phát hành vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa, CLB Viet Stamp (Hội Tem TP.HCM) vừa có công văn gửi Bộ TT-TT và cơ quan chức năng kiến nghị.

Theo đó, bộ tem Đăng tháp bưu phiếu mà bưu chính Đài Loan phát hành gồm 5 mẫu tem mang tên Đăng tháp bưu phiếu (Tem bưu chính về đèn biển), thể hiện hình ảnh 5 công trình đèn biển do Đài Loan xây dựng, trong đó có 1 công trình đèn biển do Đài Loan xây dựng trái phép trên đảo Ba Bình (tên quốc tế là Itu Aba Island, bị Đài Loan chiếm đóng trái phép từ năm 1956 và gọi là Thái Bình đảo/Tàipíng dǎo) - là đảo lớn nhất nằm trong quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.
Được biết, mẫu tem thứ năm trong bộ tem Đăng tháp bưu phiếu tên gọi là Thái Bình đảo đăng tháp (Đèn biển trên đảo Thái Bình), có giá cao nhất trong bộ tem là 15 tân đài tệ, thể hiện hình ảnh công trình đèn biển do Đài Loan xây dựng trái phép trên đảo Ba Bình năm 2015, cao 13,7 mét trên mực nước biển và có tầm hoạt động 10 hải lý.
Theo ông Hoàng Anh Thi – Chủ nhiệm CLB Viet Stamp (Hội Tem TP.HCM): “Bưu chính Đài Loan đã mượn cớ phát hành tem bưu chính về đèn biển để tuyên truyền rộng rãi cho cái gọi là 'chủ quyền của Đài Loan' đối với đảo Ba Bình nằm trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam đã bị Đài Loan chiếm đóng trái phép, nhằm đánh lừa dư luận trong và ngoài nước về hành động phi pháp”.

Đây là lần thứ ba bưu chính Đài Loan phát hành tem vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa. Trước đó, họ đã từng phát hành những bộ tem bưu chính phi pháp tương tự như: Năm 1996, phát hành bộ tem gồm 2 mẫu tem và 1 bloc tem thể hiện đường lưỡi bò phi pháp trên biển Đông và hình ảnh về đảo Ba Bình của Việt Nam; Năm 2016, phát hành bộ tem gồm 4 mẫu tem thể hiện những hình ảnh về đảo Ba Bình của Việt Nam
“Hành động này của bưu chính Đài Loan vi phạm luật quốc tế, vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa, không phù hợp với các quy định của Văn kiện Liên minh Bưu chính thế giới (điều 8, Công ước)”, công văn của Viet Stamp nhấn mạnh.

Đây là lần thứ ba Bưu chính Đài Loan phát hành tem bưu chính vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa.

Trước đây, ngay sau khi bưu chính Đài Loan phát hành bộ tem vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa năm 2016, trên cơ sở kiến nghị của Câu lạc bộ Viet Stamp, Cơ quan bưu chính Việt Nam đã lên tiếng phản đối hành động sai trái của bưu chính Đài Loan và yêu cầu bưu chính Đài Loan tôn trọng sự thật, hủy ngay bộ tem và các ấn phẩm có liên quan, không để tái diễn hành động tương tự.
Thế nhưng, vừa qua bưu chính Đài Loan vẫn tiếp tục không tôn trọng sự thật, tiếp tục có hành động sai trái thông qua việc phát hành bộ tem Đăng tháp bưu phiếu nêu trên, trong khi Việt Nam có đầy đủ chứng cứ pháp lý và lịch sử để chứng minh và khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Vì vậy, Câu lạc bộ Viet Stamp đề nghị Bộ TT-TT, Tổng công ty Bưu điện Việt Nam và Hội Tem Việt Nam xem xét, chính thức có ý kiến phản đối bưu chính Đài Loan và Hội Tem Đài Loan về hành động phát hành tem bưu chính vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa.
Từ bộ tem Đăng tháp bưu phiếu của bưu chính Đài Loan phát hành vi phạm chủ quyền của Việt Nam, thể theo nguyện vọng của đông đảo người sưu tập tem trong và ngoài nước, Câu lạc bộ Viet Stamp (Hội Tem TP.HCM) cũng đề nghị Bộ TT-TT xem xét, quyết định phát hành một bộ tem phổ thông, thể hiện hình ảnh bản đồ Việt Nam với hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa nhằm góp phần tuyên truyền, giáo dục tình yêu nước, yêu biển đảo đến đông đảo công chúng; khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam với thế giới thông qua tem bưu chính.