Thứ Ba, 4 tháng 5, 2021

Nâng cao văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược: Tiền đề quan trọng cho sự phát triển của đất nước

Văn hóa chính trị là một bộ phận cấu thành quan trọng của văn hóa, kết tinh trong đó tri thức, tình cảm, niềm tin, lý tưởng, biểu hiện qua thái độ, hành vi, năng lực hoạt động chính trị của chủ thể chính trị. Trong văn hóa chính trị, cán bộ lãnh đạo là một chủ thể quan trọng. Không thể trở thành nhà lãnh đạo có kinh nghiệm, bản lĩnh, sáng suốt và trí tuệ trong thực tiễn chính trị đất nước nếu không có nguồn lực văn hóa chính trị dồi dào. Do vậy, nâng cao văn hóa chính trị cho đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ cấp chiến lược nói riêng là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của đất nước. Cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược là những người giữ cương vị chủ chốt trong hệ thống các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội có chức năng, nhiệm vụ đề ra đường lối, chủ trương, chính sách và tổ chức thực hiện theo phạm vi lãnh đạo của mình; đồng thời, là người lãnh đạo, quản lý toàn diện tổ chức mà họ phụ trách, bảo đảm cho tổ chức đó hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ chính trị được phân công. Trong bài viết Chuẩn bị và tiến hành thật tốt Đại hội XIII của Đảng, đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới nhân dịp chuẩn bị tiến hành đại hội các đảng bộ trực thuộc Trung ương tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh việc cần phải thấm nhuần di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”; đồng thời, Người đứng đầu Đảng và Nhà nước khẳng định mạnh mẽ: “công tác tổ chức, cán bộ phải là điểm đột phá”, là “then chốt” của nhiệm vụ “then chốt”, liên quan đến sự sống còn của Đảng, vận mệnh của chế độ, sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Phải hết sức chú trọng xây dựng và làm trong sạch đội ngũ cán bộ, nhất là xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; chức vụ càng cao càng phải gương mẫu(1). Kinh nghiệm thực tiễn đã chỉ rõ, mức độ đúng đắn của đường lối, việc cụ thể hóa đường lối chính xác, kịp thời cũng như việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thắng lợi đều phụ thuộc ở chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo. Vai trò và vị trí đó được quy định bởi các đặc điểm quan trọng: 1- Đây là đội ngũ xây dựng, hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội; 2- Phạm vi, đối tượng tác động và phương thức hoạt động của họ là rộng lớn, đa dạng và phức tạp; 3- Đạo đức, tác phong, sự gương mẫu của đội ngũ cán bộ cấp chiến lược có ảnh hưởng to lớn đến quyết định, hiệu quả hoạt động tổ chức, cơ quan, đơn vị, rộng hơn là của quốc gia - dân tộc. Xuất phát từ bài học của truyền thống văn hóa chính trị Việt Nam về tôn trọng và sử dụng hiền tài trong việc trị nước. Trong lịch sử Việt Nam, việc dùng người và sử dụng nhân tài vào các công việc nhà nước bao giờ cũng giữ một vị trí trọng yếu. Xây dựng đội ngũ quan lại là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với mọi triều đại phong kiến. Các quan lại được gọi là sĩ đại phu (người có chức tước) có địa vị và thứ bậc cao trong cơ cấu tổ chức xã hội, là những người lãnh trọng trách cai trị đất nước và quản lý nhân dân. Vì thế, để được đứng vào hàng ngũ quan lại đòi hỏi những tiêu chuẩn rất cao về trí tuệ và đạo đức, phải là những hiền sĩ để cai trị và giáo hóa thiên hạ. Tổng kết di sản của cha ông về việc dùng người dưới chế độ phong kiến, các nhà sử học đã rút ra một quy luật, có thể trình bày dưới dạng một hằng đẳng thức: “Minh quân (minh chúa) + hiền tài = nước nhà thịnh trị, nhân dân no ấm, yên vui, tiếng thơm muôn thuở để lại trong sử sách và trong lòng người. Bạo quân (bạo chúa) + nịnh thần = nhà nước suy vi, nhân dân đói rách, lầm than, tiếng xấu muôn đời để lại trong sử sách và trong lòng người”(2). Quan điểm “chiêu hiền đãi sĩ” trong lịch sử thực chất là chính sách dùng người hiền tài với cả hệ thống quan niệm và ứng xử kiên trì, tế nhị, bao gồm phát hiện nhân tài, chân thành tha thiết cầu người hiền tài, tiến hiền, treo bảng cầu hiền, tin tưởng vào hiền tài với tầm nhìn xa trông rộng. Từ truyền thống đó, dân tộc ta đã sản sinh ra nhiều người con ưu tú, với hiểu biết phong phú và sâu sắc, có tinh thần dấn thân hành động, biết hy sinh bản ngã trong niềm vui chung của cộng đồng dân tộc rộng lớn. Đó là một nhân tố quan trọng cho sự tiến bộ xã hội được lịch sử thừa nhận và tôn vinh. Xuất phát từ thực trạng chung về văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược ở nước ta hiện nay Thắng lợi của sự nghiệp đổi mới là kết quả của sự kiên định và vững vàng về lựa chọn chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, dám đối mặt với sai lầm, khuyết điểm, quyết tâm đổi mới dựa trên nguyên tắc, theo đuổi đến cùng mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn đó đã cho thấy ở đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược tinh thần năng động, sáng tạo, ý thức tự lực tự cường, tự tôn dân tộc, vượt lên khó khăn, thách thức để đưa đất nước sớm thoát khỏi tình trạng chậm phát triển, góp phần hoàn thiện đường lối đổi mới của Đảng và củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng. Mặc dù bị tác động của mặt trái cơ chế thị trường, sự đảo lộn của nhiều thang bậc hệ giá trị xã hội, nhưng số đông cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược vẫn biết bảo toàn, tôn vinh, không ngừng bồi đắp những phẩm chất đạo đức cách mạng của người cộng sản chân chính. Tuy nhiên, cán bộ lãnh đạo nước ta hiện nay, xét về văn hóa chính trị, còn có mặt chưa ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ cách mạng mới. Thậm chí, một bộ phận không nhỏ còn có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, làm biến dạng hệ thống giá trị và những tiêu chuẩn đích thực của người cán bộ lãnh đạo, gây tác hại không nhỏ cho việc thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng. Ngày càng nhiều cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược trẻ tuổi sinh ra và trưởng thành sau thời kỳ chiến tranh, ưu điểm nổi bật là năng động, sáng tạo; song, điểm yếu là chưa có độ nhạy cảm chính trị cao, chưa đủ chiều sâu trong nhận thức và vững lập trường với con đường xã hội chủ nghĩa. Đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng; kinh tế tri thức, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tình hình thế giới diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường đang đưa lại cho đất nước những thời cơ, thuận lợi và cả những khó khăn, thách thức đan xen nhau. Cách mạng Việt Nam đang ở thời kỳ chuyển đổi mạnh mẽ. Để đưa sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi, điều cốt tử và quan trọng nhất chính là coi trọng và phát huy cao độ nhân tố con người Việt Nam nhằm tạo động lực cho sự phát triển toàn diện đất nước. Chúng ta, những con người đang sống trong một môi trường biến động cao độ, không thể là những nhân chứng thụ động; dù muốn hay không cũng phải đối mặt với những vấn đề liên quan đến tư duy về tương lai phát triển của dân tộc và nhân loại. Tốc độ biến đổi của lịch sử sẽ diễn ra nhanh hơn, bất ngờ hơn, căng thẳng hơn, áp lực đè nặng sẽ thường xuyên hơn. Thời đại mới đòi hỏi những nhân tố lãnh đạo mới với một nguồn lực văn hóa chính trị thật dồi dào và giàu năng lực tiếp biến hơn.

Phương hướng và giải pháp nâng cao văn hóa chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược ở nước ta hiện nay

Về phương hướng Phương hướng nâng cao văn hóa chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược nước ta hiện nay là hướng đến xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiêu biểu và trung thành tuyệt đối với lý tưởng của giai cấp công nhân và dân tộc; có trình độ kiến thức, năng lực toàn diện, vừa rộng, vừa sâu và thể hiện bằng hiệu quả, kết quả thực tế; có khả năng nắm bắt và xử lý thông tin, nắm bắt được các quy luật kinh tế - xã hội, biết vận dụng các quy luật đó trong lãnh đạo, quản lý ở từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể; đồng thời, là người có phong cách lãnh đạo, có khả năng liên kết và quy tụ nhân dân, phát huy được tinh thần lạc quan và nhiệt tình xã hội, thật sự tận tâm, tận lực phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Phương hướng đó chính là sự tổng hợp những yêu cầu về văn hóa chính trị, những chuẩn mực giá trị mà cộng đồng xã hội đòi hỏi, kỳ vọng ở người cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược, được cụ thể hóa trên các mặt: 1- Năng lực hoạt động chính trị, với các yếu tố cấu thành, như trình độ giác ngộ, lý tưởng, niềm tin, bản lĩnh chính trị; năng lực tư duy, trí tuệ; năng lực ra quyết định lãnh đạo; năng lực phát huy nguồn nhân lực và sử dụng người tài trí; khoa học, nghệ thuật và kinh nghiệm hoạt động chính trị; 2- Đạo đức cách mạng, với các chuẩn mực chủ yếu, như nguyện suốt đời phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; cần, kiệm, liêm, chính; nhân, nghĩa, trí, dũng, tín; đặt sự nghiệp cách mạng của Đảng, lợi ích của dân tộc, của nhân dân lên trên hết, trước hết, chống chủ nghĩa cá nhân và các thứ bệnh do chủ nghĩa cá nhân gây ra; thường xuyên tu dưỡng và thực hiện trách nhiệm nêu gương; 3- Phong cách lãnh đạo, với các đặc trưng cơ bản: Sự thống nhất giữa tính đảng, tính nguyên tắc cao với tính năng động, sáng tạo, nhạy cảm với cái mới; sự thống nhất giữa nhiệt tình cách mạng với tính trung thực, khách quan, khoa học; sự thống nhất giữa cách làm việc tập thể, dân chủ với tính quyết đoán và tinh thần chịu trách nhiệm cá nhân; lý luận gắn liền với thực tiễn, lời nói nhất quán với việc làm; thường xuyên liên hệ mật thiết với nhân dân; là hình mẫu về sự ứng xử văn hóa trong môi trường chính trị. Một số giải pháp cơ bản Một là, nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược cần gắn liền với việc nâng cao kiến thức cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư­ tưởng Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đã lựa chọn đúng cán bộ còn cần phải dạy bảo lý luận cho cán bộ”(3). Lý luận đóng vai trò quan trọng, vì đó là hệ thống tư tưởng chủ đạo được hình thành trên cơ sở tổng hợp các tri thức và kinh nghiệm của loài người tích lũy được trong quá trình lịch sử. Lý luận được đem ra giáo dục cho cán bộ lãnh đạo nước ta là lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là lý luận liên quan trực tiếp tới sự lãnh đạo của Đảng, tới việc củng cố lập trường và nhân sinh quan cộng sản của người cán bộ lãnh đạo. Học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin chính là học tập tinh thần, lập trường, quan điểm và phương pháp biện chứng nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra, nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn, đặc biệt là khả năng tập hợp, thuyết phục và cổ vũ quần chúng. Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là học lý luận mà còn là học tập phương pháp, phong cách, đạo đức, lối sống của Người. Đối với người cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược nước ta, việc không ngừng nghiên cứu, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác  - Lê-nin là một điều kiện cơ bản để nâng cao trình độ lý luận, khả năng công tác và đạo đức cách mạng - điều kiện cơ bản để nâng cao văn hóa chính trị. Hai là, nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược phải gắn liền với việc nắm vững Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng. Nắm vững Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng chính là cơ sở chủ yếu để nâng cao văn hóa chính trị. Cương lĩnh chính trị xác định mục tiêu chủ yếu, con đường và những phương pháp chủ yếu trong cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, của Đảng và của các lực lượng cách mạng ở một giai đoạn tương đối dài. Nó cũng chỉ ra những động lực, hình thức, phương tiện chủ yếu để đạt được những mục tiêu chiến lược trong những giai đoạn chiến lược cách mạng. Đội ngũ cán bộ cấp chiến lược cần nắm vững cương lĩnh, đường lối của Đảng, giữ vững tính kiên định chính trị, có khả năng đề ra và thực hiện những chủ trương, chính sách trên các lĩnh vực cụ thể thì mới có thể kiên trì sự lãnh đạo của Đảng, mới có cơ sở vững chắc để nâng cao phẩm chất và năng lực của người cán bộ lãnh đạo chính trị. Bất kỳ một sự dao động, nghiêng ngả hoặc tính toán sai lầm nào trong những vấn đề thuộc về nguyên tắc của Đảng đều có thể dẫn đến sự suy thoái không chỉ về văn hóa chính trị của cá nhân người cán bộ lãnh đạo, mà còn gây hại lớn cho chế độ và đất nước. Ba là, nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược cần gắn liền với việc trang bị những kiến thức cơ bản về chính trị học và khoa học lãnh đạo. Đất nước đang phải đối diện với nhiều nhiệm vụ quan trọng: Tiếp tục phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới hệ thống chính trị và thực hiện dân chủ hóa mạnh mẽ đời sống xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa, bùng nổ thông tin; cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; phòng, chống thiên tai, địch họa, cuộc đấu tranh tư tưởng và chính trị trên quy mô toàn thế giới ngày càng phức tạp và tinh vi,... Muốn giải quyết đúng đắn những vấn đề chính trị thực tiễn hết sức phức tạp hiện nay, chính trị cần phải dựa chắc trên những luận cứ chính xác của khoa học. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo cần được trang bị những kiến thức khoa học, có hệ thống về chính trị, chứ không thể bằng lòng hoặc dừng lại ở tầm hiểu biết của trình độ kinh nghiệm. Khoa học lãnh đạo phải trang bị kiến thức và kỹ năng cho người cán bộ nắm bắt và phân tích kịp thời những sự kiện, quá trình và tình huống chính trị cụ thể, khả năng phân tích tâm trạng, thái độ, phản ứng chính trị ở các đối tượng khác nhau trong những thời điểm khác nhau để có những quyết sách tương ứng và kịp thời, phù hợp. Thực tế cho thấy là, nếu thiếu những kiến thức và kỹ năng hành động chính trị cụ thể do khoa học chính trị, khoa học lãnh đạo đem lại, người cán bộ lãnh đạo có thể rất lúng túng trước các tình huống chính trị phức tạp và tế nhị đòi hỏi phải ứng xử nhanh nhạy, chính xác. Bốn là, nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược gắn liền với việc rèn luyện đạo đức, lối sống và phát huy tính tích cực chính trị của chính chủ thể này. Đội ngũ cán bộ cấp chiến lược phải là những người tiêu biểu về đạo đức và thực hành đạo đức cách mạng để trở thành chỗ dựa và củng cố niềm tin của nhân dân; nêu cao tinh thần tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức; chức vụ càng cao thì lại càng phải gương mẫu. Kết hợp giữa tăng cường kỷ cương, kỷ luật, thượng tôn pháp luật, xây dựng Đảng nghiêm minh với giáo dục, bồi dưỡng nhân cách, đạo đức cách mạng để phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả với các căn bệnh của chủ nghĩa cá nhân. Là những người tiêu biểu về tính tích cực chính trị, cán bộ cấp chiến lược cần không ngừng học tập, mở rộng tầm nhìn, đổi mới tư duy và coi trọng khổ luyện. Để đạt được một nền tảng trí tuệ vững chắc cùng với một phẩm chất cao đẹp thì người cán bộ phải trải qua quá trình gian nan rèn luyện và phấn đấu không ngừng. Người lãnh đạo trước hết phải biết cách thông qua tự lãnh đạo để nắm vững mình; rồi sau đó, mới trở thành cội nguồn phát triển của tổ chức và xã hội. Năm là, nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược phải gắn liền với việc nâng cao trình độ văn hóa chính trị của quần chúng nhân dân. Một mặt, nâng cao văn hóa chính trị của nhân dân nhằm lôi cuốn mọi người dân vào hoạt động chính trị - xã hội, phát triển tính tích cực chính trị, sự phản xạ và hưởng ứng nhanh chóng với các phong trào cách mạng, những nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước đề ra. Trình độ văn hóa chính trị của nhân dân là một thước đo về hiệu quả hoạt động chính trị của những người lãnh đạo hết lòng vì quyền lợi của nhân dân. Mặt khác, chỉ có dựa trên một nền tảng được bảo đảm về văn hóa chính trị của nhân dân thì việc nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo mới có cơ sở thực tế để tiến hành. Khi trình độ văn hóa chính trị của nhân dân được nâng cao sẽ đặt ra yêu cầu bức thiết đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo phải có bước trưởng thành cao hơn, vì tư cách của họ là chủ thể lãnh đạo mang tính tiền phong, dẫn đường. Một quốc gia - dân tộc có nền văn hóa chính trị cao biểu hiện trước hết ở trình độ văn hóa chính trị phổ quát của nhân dân và tầm cao văn hóa trí tuệ của những đại biểu ưu tú xuất hiện trên cái nền tảng phổ quát ấy. Sáu là, nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược phải luôn gắn liền với việc đổi mới công tác cán bộ của Đảng. Công tác cán bộ là một phương diện lãnh đạo chủ yếu và quan trọng của Đảng. Chất lượng công tác cán bộ tác động trực tiếp, nhiều mặt đến đời sống và sự nghiệp của người cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã dày công xây dựng và rèn luyện các thế hệ cán bộ kế tiếp nhau đảm đương và hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng. Trong thời kỳ đổi mới, so với những yêu cầu, nhiệm vụ chính trị đặt ra, đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược nước ta vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế cả về phẩm chất và năng lực. Tình hình trên có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân là công tác cán bộ còn chưa chủ động, nhạy bén; thiếu một chiến lược cán bộ, chiến lược nhân tài tổng thể; hệ thống chính sách cán bộ thiếu đồng bộ; việc quán triệt các quan điểm và nguyên tắc cơ bản của Đảng về công tác cán bộ chưa đầy đủ và sâu sắc. Do vậy, thường xuyên đổi mới công tác cán bộ của Đảng nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược đủ về số lượng, bảo đảm chất lượng và sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng là điều kiện quyết định chuẩn bị cho Đảng và dân tộc bước vào giai đoạn phát triển mới, giành được những thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nâng cao văn hóa chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược ở nước ta hiện nay chính là sự quán triệt tư tưởng, tầm nhìn xa và kỳ vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sự thống nhất nhuần nhuyễn giữa đức và tài trong hoạt động chính trị thực tiễn, trong một cấu trúc nhân cách sống động của người cán bộ cách mạng. Đó là cơ sở tạo lập uy tín với tư cách là tài sản vô hình quan trọng nhất, là tiêu chuẩn tổng hợp về phẩm chất và năng lực nằm sâu trong trái tim và khối óc của người cán bộ lãnh đạo. Phẩm chất văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược của Đảng phản ánh trình độ, phẩm chất và năng lực cầm quyền của Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam đang quyết tâm đổi mới không ngừng để luôn thực hiện đúng tinh thần lời dạy của V.I. Lê-nin và Hồ Chí Minh: “Đảng là trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại”, “là đạo đức, là văn minh”. Toàn thể cán bộ, đảng viên, trước hết là đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược phải ra sức phấn đấu, không ngừng nâng cao văn hóa chính trị để thực sự xứng đáng là thành viên của một Đảng như thế./.

Giải pháp nâng cao văn hóa chính trị cho cán bộ chủ chốt hiện nay

Để xây dựng văn hóa chính trị, nâng cao phẩm chất, năng lực và uy tín cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt, cần tập trung vào một số giải pháp trọng tâm sau: Một là, phát huy vai trò của cấp ủy các cấp, tổ chức đảng trong nâng cao văn hóa chính trị cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt. Cấp ủy các cấp, tổ chức đảng, với tư cách là chủ thể trực tiếp của quá trình bồi dưỡng, nâng cao văn hóa chính trị cho đơn vị, cần có nhận thức đúng đắn về nội dung này để làm cơ sở cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện bảo đảm hiệu quả; thường xuyên làm tốt công tác quán triệt, giáo dục để các tổ chức, các lực lượng trong từng cơ quan, đơn vị nhận thức rõ thực trạng, đề ra yêu cầu, giải pháp nâng cao trình độ văn hóa chính trị cho họ; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện lệch lạc về tư tưởng, những việc làm sai trái, thiếu trách nhiệm trong xây dựng, nâng cao văn hóa chính trị ở cơ quan, đơn vị. Bên cạnh đó, cấp ủy, tổ chức đảng cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, điều chỉnh những nhận thức lệch lạc và việc làm, hành vi không đúng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên để xây dựng văn hóa chính trị; thực hiện đúng nguyên tắc Đảng lãnh đạo cán bộ và trực tiếp quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên; nội dung xây dựng văn hóa chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị; thông qua sinh hoạt, hội họp, phân công nhiệm vụ để giáo dục cho cán bộ, đảng viên. Hai là, nâng cao trình độ tri thức về mọi mặt, đặc biệt về tri thức chính trị cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt. Chính trị là một lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm, đòi hỏi con người khi tham gia vào đời sống chính trị, hoạt động chính trị phải có những tri thức và sự hiểu biết toàn diện, đúng đắn và sâu sắc về nó. V.I. Lê-nin đặc biệt coi trọng vai trò của tri thức chính trị trong hoạt động chính trị và khẳng định: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”(4); “một người không biết chữ là người đứng ngoài chính trị”(5). Đối với tổ chức đảng của giai cấp công nhân, V.I. Lê-nin nhấn mạnh: “Chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong”(6); hay “người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng trí thức mà nhân loại đã tạo ra”(7). Chỉ có thông qua rèn luyện trong thực tiễn và học tập tri thức của nhân loại mới tạo ra được điều kiện hướng tới phát huy toàn diện năng lực, phẩm chất chính trị và nâng cao trình độ văn hóa chính trị của cán bộ. Tri thức chính trị của cán bộ lãnh đạo chủ chốt có vai trò định hướng cho các hoạt động trên những lĩnh vực chính trị và xã hội. Trang bị tri thức chính trị cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt cần tập trung vào nâng cao hiểu biết, nhận thức về lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; tri thức về chính trị, tri thức về lãnh đạo, quản lý… Đó là những giá trị, tri thức cốt lõi của văn hóa chính trị để cán bộ, đảng viên có cơ sở vững chắc trong nhận thức đầy đủ những đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Ba là, nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở nước ta hiện nay. Cán bộ, chiến sĩ Công an huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc giúp bà con nông dân thu hoạch lúa bị ngập úng_Ảnh: TTXVN Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(8). Theo Người, đạo đức là cái gốc của người cách mạng, là giá trị văn hóa cốt lõi của chính trị. Đạo đức chính là nhân tố cơ bản cấu thành nhân cách chính trị của cán bộ, đảng viên. Đạo đức cách mạng bắt nguồn từ bản chất cách mạng, khoa học và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; trong cuộc đấu tranh xóa bỏ giai cấp bóc lột, chế độ bóc lột, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, xã hội tự do, bình đẳng, bác ái. Đạo đức cách mạng là sự thống nhất giữa đạo đức và chính trị nhằm giải phóng con người, giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại. Để làm tròn trách nhiệm phụng sự đất nước, phục vụ nhân dân, người cách mạng nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt nói riêng phải luôn nỗ lực phấn đấu, thường xuyên nâng cao đạo đức cách mạng; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để “làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(9). Bốn là, nâng cao trình độ năng lực ra quyết định lãnh đạo, điều hành của cán bộ lãnh đạo chủ chốt. Việc đưa ra quyết định thể hiện năng lực, bản lĩnh chính trị cán bộ lãnh đạo chủ chốt. Đây được xem là khâu cốt lõi, quan trọng nhất của quá trình chính trị, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của cơ quan, đơn vị. Do đó, các quyết định mà cán bộ lãnh đạo chủ chốt đưa ra phải luôn phù hợp với sự vận động của thực tiễn, nhanh chóng, kịp thời, theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đó phải là những quyết định khoa học, sáng tạo, kịp thời, đúng đắn, bắt nguồn từ thực tiễn, chứ không phải là những quyết định mang tính cá nhân, trục lợi, dẫn đến “lợi ích nhóm”. Khi ban hành quyết định, phải có tầm nhìn xa, chiến lược, nắm vững chân lý và xu hướng lịch sử để nắm lấy thời cơ, đưa ra quyết định hợp lý; và “phải suy tính kỹ lưỡng. Chớ hấp tấp, chớ làm bừa, chớ làm liều. Chớ gặp sao làm vậy”(10). Thực tế tác động của hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa và mặt trái của nền kinh tế thị trường trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội đang đặt ra nhiều vấn đề phức tạp cần phải xử lý. Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt phải nâng cao năng lực ra quyết định và uy tín, giá trị của quyết định. Đó là thước đo trình độ văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo chủ chốt hiện nay. Cần có cơ chế kiểm soát quyền lực đi đôi với bảo vệ những cán bộ dám nghĩ, dám làm, biết làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Năm là, chú trọng công tác xây dựng, quy hoạch đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt. Công tác xây dựng, tạo nguồn cán bộ chất lượng có vai trò quan trọng, quyết định đến văn hóa chính trị của Đảng, Nhà nước nói chung và đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt nói riêng. Bởi lẽ, chủ thể chính trị là con người; uy tín chính trị của Đảng, Nhà nước, hiệu quả hoạt động của bộ máy phụ thuộc vào phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Do đó, trong công tác cán bộ, cần phải nhanh chóng khắc phục được một số hạn chế, yếu kém, như “việc sắp xếp, bố trí, phân công, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử vẫn còn tình trạng đúng quy trình nhưng chưa đúng người, đúng việc. Tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người nhà, người thân, họ hàng, “cánh hẩu” xảy ra ở một số nơi, gây búc xúc trong dư luận xã hội”(11). Tình trạng trên, nếu không được khắc phục, sẽ làm cho hoạt động của bộ máy chính trị bị suy thoái về văn hóa chính trị, quan liêu, xa dân, vi phạm dân chủ, lạm dụng quyền lực, không kiểm soát được quyền lực, chạy chức, chạy quyền,... Vì vậy, công tác cán bộ phải được nghiên cứu, xem xét kỹ lưỡng, có tính hệ thống và đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng để phát hiện được những cán bộ có trí tuệ, tầm nhìn xa, tư duy chiến lược, có óc tổ chức, quyết đoán và có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức chính trị tốt, góp phần đưa nghị quyết của Đảng nhanh chóng đi vào cuộc sống, thực hiện khát vọng phát triển đất nước theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng.

Văn hóa chính trị: Phẩm chất quan trọng đối với cán bộ lãnh đạo chủ chốt

Văn hóa chính trị nói chung là tổng thể những giá trị được hình thành trong thực tiễn chính trị, thể hiện nhận thức, lý tưởng - niềm tin chính trị và cách thức tham gia vào đời sống chính trị của các chủ thể, hướng tới tiêu chí chân, thiện, mỹ. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở các cơ quan đảng, chính quyền, ban, ngành, các đoàn thể chính trị - xã hội là những người lãnh đạo thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vào thực tiễn đời sống; đồng thời, họ cũng là người quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát, cho nên những hoạt động của họ rất cần sự nêu gương gắn với nền tảng văn hóa chính trị tương xứng, phù hợp với yêu cầu, chức năng, nhiệm vụ. Văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở nước ta là sự kết tinh toàn bộ các giá trị phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực, nhân cách chính trị; biểu hiện ở các chuẩn mực xã hội, ở trình độ và năng lực nhận thức chính trị trên từng cương vị, trong từng lĩnh vực công tác mà họ được phân công lãnh đạo, quản lý, điều hành. Hiện nay, quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng và sự vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã tác động tích cực đến tình hình kinh tế - xã hội, làm thay đổi tác phong công tác của đội ngũ cán bộ các cấp. Song, cùng với đó là những tác động tiêu cực gây ra không ít hệ lụy. Trước tình hình trên, Đảng ta xác định một trong những giải pháp quan trọng là: “Xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế. Chú trọng chăm lo xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước và các đoàn thể; coi đây là nhân tố quan trọng để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”(1). Vì vậy, xây dựng văn hóa chính trị cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở nước ta là vấn đề có ý nghĩa cấp bách cả về lý luận và thực tiễn hiện nay.

Tác động của hội nhập quốc tế, mặt trái của nền kinh tế thị trường tới văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt

Hội nhập quốc tế là xu thế tất yếu khách quan, lôi cuốn tất cả các quốc gia trên thế giới tham gia vào “sân chơi chung” và tác động sâu rộng tới các lĩnh vực của đời sống xã hội, đến sự vận động, phát triển của mọi dân tộc. Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đảng và nhân dân ta luôn chủ động, tích cực hội nhập trên các lĩnh vực và điều này được thể hiện rõ trong định hướng chiến lược nhằm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước. Hội nhập quốc tế bao hàm những yếu tố tích cực, khách quan và là điều kiện thuận lợi đối với quá trình xây dựng văn hóa chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Về nhận thức, cán bộ, đảng viên tiếp thu những thành tựu to lớn của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; có điều kiện học hỏi, nâng cao trình độ, tiếp thu, trao đổi kinh nghiệm quản lý của thế giới, đặc biệt là những tri thức về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; điều đó làm cho đội ngũ cán bộ trở nên năng động, linh hoạt, có khả năng tiếp thu tinh hoa khoa học chính trị của thế giới để áp dụng vào trong lãnh đạo, quản lý trên cương vị đảm nhiệm. Về mặt trình độ, cán bộ, đảng viên có điều kiện nâng cao nhận thức về chính trị; trình độ chuyên môn, nghiệp vụ được chuẩn hóa; nâng cao kiến thức về công nghệ thông tin và hoàn thiện năng lực làm việc trong môi trường quốc tế; tính chuyên nghiệp, minh bạch trong hoạt động lãnh đạo, quản lý được nâng lên… Về tư duy, quá trình hội nhập quốc tế giúp đội ngũ cán bộ mở rộng tầm nhìn mang tính toàn diện về những thuận lợi và khó khăn, những thời cơ và thách thức; có tính sáng tạo trong tư duy chiến lược, nhạy bén, thích ứng nhanh; có khả năng dự báo trong môi trường quốc tế thay đổi nhanh chóng và khó lường như hiện nay. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta vận hành theo các quy luật kinh tế khách quan của nền kinh tế thị trường, có sự quản lý, điều tiết của Nhà nước và sự lãnh đạo của Đảng, nhằm bảo đảm sự phát triển nhanh và bền vững đất nước, nâng cao đời sống nhân dân vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đặc biệt sau 35 năm đổi mới đất nước, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã tác động tích cực đến đội ngũ cán bộ chủ chốt về tác phong, tư duy, năng lực quản trị kinh tế hiện đại. Tuy nhiên, tiến trình hội nhập quốc tế cũng có những tác động tiêu cực, khiến cho chủ thể hoạt động chính trị dễ bị dao động về nhận thức chính trị khi tiếp xúc với đa dạng các quan điểm chính trị phi mác-xít, dễ bị ảnh hưởng bởi lối sống văn hóa phương Tây; bị lôi kéo, mua chuộc bởi chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, tăng nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ… Đó là những hệ lụy trái với bản chất văn hóa chính trị của giai cấp công nhân và những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta. Mặt trái của nền kinh tế thị trường làm cho một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt dễ bị sa ngã, bị cám dỗ trước đồng tiền, quyền lực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Thời gian qua, nhiều vụ, việc vi phạm phải xử lý kỷ luật đối với cán bộ rơi vào những lãnh đạo có vị trí chủ chốt trong các cơ quan, đơn vị, địa phương, do tham nhũng, lãng phí, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái quy định, vi phạm về đạo đức, lối sống… Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XII chỉ rõ: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, làm việc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược, thiếu gương mẫu, uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, quan liêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm. Không ít cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thiếu tính đảng, lợi dụng sơ hở trong cơ chế, chính sách, pháp luật, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát vốn, tài sản của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, bị xử lý kỷ luật đảng và xử lý theo pháp luật”(2). Trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.209 cán bộ, đảng viên có liên quan đến tham nhũng; trong đó có 113 cán bộ diện Trung ương quản lý, cả đương chức và đã nghỉ hưu. Trong đó, có 3 Ủy viên Bộ Chính trị, 1 nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; 7 Ủy viên Trung ương Đảng, 16 nguyên Ủy viên Trung ương Đảng; 1 bộ trưởng và 4 nguyên bộ trưởng; 22 thứ trưởng và nguyên thứ trưởng; 12 bí thư và nguyên bí thư tỉnh, thành ủy; 3 phó bí thư và nguyên phó bí thư tỉnh ủy; 15 chủ tịch và nguyên chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố; 26 sĩ quan cấp tướng trong Quân đội, Công an(3)... Những tiêu cực đó đã tạo lực cản đối với sự phát triển của đất nước, làm sụt giảm niềm tin của nhân dân đối với các cơ quan công quyền và đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay.

Phê phán quan điểm sai trái phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội”

Trong những năm qua, các thế lực thù địch luôn đẩy mạnh các hoạt động phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng. Mũi nhọn tấn công của chúng là gây nhiễu về chính trị, tư tưởng, văn hóa; ra sức phủ nhận nền tảng tư tưởng và công tác nhân sự của Đảng; kích động tư tưởng ly khai, chống đối; lợi dụng vấn đề “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”, “dân chủ”, “nhân quyền” “dân tộc”, “tôn giáo”; lợi dụng những vấn đề phức tạp trên Biển Đông và tình trạng tham nhũng, dịch bệnh để xuyên tạc, hạ thấp uy tín của Đảng và Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong đó, những luận điệu xuyên tạc, công kích Quân đội nhân dân Việt Nam, hòng gây mất ổn định chính trị, xã hội và làm cho quân đội ta mất định hướng chính trị, là những luận điệu phản động, hết sức nguy hiểm và thâm độc cần kiên quyết đấu tranh, vạch trần, lật tẩy bản chất. Những “âm mưu, thủ đoạn” thâm độc của các thế lực thù địch Hiện nay, lợi dụng việc góp ý vào dự thảo các văn kiện Đại hội XIII của Đảng, một số người đã viết cái gọi là “tâm thư” góp ý, kiến nghị: “Quân đội phải trung lập, phải đứng ngoài chính trị”, “quân đội chỉ bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia”, “quân đội phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân, chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức chính trị nào”. Cùng với đó, họ đưa ra yêu sách đòi Đảng, Nhà nước phải sửa đổi Hiến pháp năm 2013; theo đó, phải có điều khoản hiến định kiểu “nhập khẩu” phương Tây, rằng “quân đội phải duy trì tính trung lập về chính trị, đặt lợi ích của nhân dân lên trước bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào”, phải thực hiện “dân sự hóa” quân đội theo mô hình của quân đội các nước tư bản chủ nghĩa. Một trong những chiêu trò nổi lên gần đây không thể xem thường là chúng tìm mọi cách để phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội”, bằng việc đẩy mạnh thực hiện mưu đồ “phi chính trị hoá”, “trung lập hoá” và “dân sự hóa” quân đội, làm cho quân đội phai nhạt bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc. Quan điểm “phi chính trị hóa” quân đội là sai trái, hết sức phản động vì nó hướng đến mục đích: Tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho quân đội “bị lầm đường, lạc lối”, mất phương hướng chính trị, xa rời lý tưởng, mục tiêu chiến đấu, không còn là lực lượng chính trị tin cậy, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, công cụ bạo lực sắc bén bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đó là phương cách để chúng dễ bề thực hiện âm mưu, thủ đoạn chuyển hóa chế độ chính trị ở nước ta theo con đường tư bản chủ nghĩa, thực hiện ý đồ của chúng. Bài học “đắt giá” về sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, các nước Đông Âu vào cuối những năm 80 của thế kỷ XX đến nay vẫn còn nguyên giá trị, luôn nhắc nhở chúng ta phải đề cao cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn thâm độc này. Luận điệu và thủ đoạn “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” quân đội là sai lầm về nhận thức lý luận, không phản ánh đúng thực tiễn tổ chức và hoạt động của quân đội trong lịch sử nhân loại, cũng như thực tiễn hơn 75 năm chiến đấu và chiến thắng vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam. Hòng tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh thực hiện âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ như chúng đã thực hiện thành công ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây; trong đó, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ quân đội là chiêu thức tuy không mới, nhưng vô cùng thâm độc và được chúng đặc biệt coi trọng, triệt để tận dụng khai thác. Nhằm “góp gió thành bão”, “mưa dầm thấm sâu”, “nước chảy đá mòn”; gần đây, chúng đã triệt để phát huy “kinh nghiệm vốn có” của “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, của “cách mạng màu” và sử dụng nó bằng mọi biện pháp để chĩa mũi tiến công vào quân đội, trực tiếp đánh vào đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, chiến dịch; xuyên tạc, bôi nhọ đời tư, thân thế, sự nghiệp của các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cố tình hạ thấp uy tín, danh dự, phẩm chất, nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ”; tuyên truyền luận điệu giả dối, lừa mị nhân dân, như “quân đội đông nhưng không mạnh”, không đủ sức bảo vệ chủ quyền biển, đảo vì “sợ nước ngoài”,... Những luận điệu sai trái đó, vẫn là “tích cũ chiêu trò mới” được “tua đi tua lại”, sử dụng nhiều lần trên các phương tiện truyền thông, nhất là các trang mạng xã hội để kích động, gây hoang mang, nghi ngờ trong cán bộ, chiến sĩ và một bộ phận nhân dân do nhận thức, hiểu biết không đầy đủ, thiếu thông tin về vai trò, sức mạnh chiến đấu của quân đội; qua đó, từng bước hạ bệ thần tượng, làm lu mờ và tiến tới phủ nhận lịch sử, truyền thống vẻ vang của quân đội ta. Mục tiêu của chúng là gieo rắc sự hoài nghi, bi quan về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, chiến sĩ và nhân dân; đồng thời, cắt dán, lắp ghép, tung tin xấu, độc lên các trang mạng xã hội để kích động chống phá, gây rối loạn trận địa tư tưởng, lý luận, văn hóa của Đảng trong quân đội. Đây là một trong những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt và vô cùng thâm độc của các thế lực thù địch, hòng phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Đi kèm và hỗ trợ đắc lực cho quan điểm sai trái và hoạt động gây rối từ âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” quân đội, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đang cố tình “cải tiến” các mô thức, chiêu trò, hoạt động chống đối, xuyên tạc, hạ thấp, tiến tới xóa bỏ vai trò, hiệu lực, hiệu quả của công tác đảng, công tác chính trị cùng hệ thống cơ quan chính trị, đội ngũ cán bộ chính trị các cấp trong quân đội. Chúng xuyên tạc Nghị quyết số 51-NQ/TW, ngày 20-7-2005, của Bộ Chính trị khóa IX, về “Tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”, cho rằng đội ngũ chính ủy, chính trị viên “chỉ là cái đuôi của bộ máy chỉ huy”, “thành phần ăn theo của một chính sách sai lầm”, là “vật cản trở sự sáng tạo của người chỉ huy” và là sự “phình to biên chế”, “gây lãng phí tiền của”, công sức nhân dân. Từ đó, chúng thổi vào quân đội các luồng thông tin xấu, độc, gây mâu thuẫn, chia rẽ giữa đội ngũ cán bộ lãnh đạo với đội ngũ cán bộ chỉ huy; kích động tư tưởng công thần, địa vị, sự so bì tài - đức giữa thế hệ cán bộ kháng chiến và thế hệ cán bộ trẻ ngày nay. Đặc biệt, chúng gieo rắc tư tưởng hưởng lạc, đòi hỏi chế độ đãi ngộ, chỉ ra sự thiệt thòi của những đồng chí có nhiều cống hiến trong các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, cứu nước, đặt họ bên cạnh một số ngụy quân của chế độ Sài Gòn đã tử trận khi làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo; mưu toan gây tâm lý bất bình trong một bộ phận nhân dân, quấy rối nội bộ với dụng ý làm giảm sút niềm tin, phá hoại mối quan hệ giữa cấp trên với cấp dưới, giữa cán bộ với chiến sĩ thời nay - thời xưa, chia rẽ, xuyên tạc mối quan hệ đoàn kết quân  - dân, phủ nhận quan hệ “quân với dân là một ý chí”. Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực xã hội theo Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 30-10-2016, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ” để xử lý một số cán bộ cấp cao trong quân đội vi phạm kỷ luật; các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc phao tin quân đội có phe phái “thanh trừng lẫn nhau”, khoét sâu những yếu kém trong quản lý đơn vị, thực hiện chức năng là đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất, những khó khăn về đời sống, quản lý vũ khí, trang bị quân sự để sẵn sàng chiến đấu, thực hiện chính sách hậu phương quân đội, hòng làm cho cán bộ, chiến sĩ bi quan, chán nản, dao động về lập trường, quan điểm mác-xít, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, nảy sinh tư tưởng ghen tỵ, so bì, kèn cựa về lợi ích, sự hưởng thụ so với bạn bè cùng trang lứa, làm mất động lực phấn đấu của cán bộ, chiến sĩ trẻ. Bằng những hoạt động của bộ máy “sản xuất”, “chế biến”, tung tin giả rất tinh vi, xảo quyệt, các thế lực thù địch tìm mọi cách để thâm nhập, móc nối, cài cắm người có tư tưởng chống đối vào quân đội; qua đó, triệt để khai thác, lợi dụng mặt trái của kinh tế thị trường, tệ nạn tiêu cực xã hội để xuyên tạc bản chất, truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Cùng với đó, chúng tìm cách đưa lối sống thực dụng, đề cao vật chất, sùng bái đồng tiền và các “giá trị” văn hóa phương Tây, nhất là tư tưởng “sùng ngoại”, “hám đô-la”, kích thích tâm lý hưởng thụ, tung nó vào đời sống văn hóa, tinh thần của bộ đội với tham vọng tạo ra sự “nhạt Đảng, khô Đoàn”, làm mờ nhạt hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân và bạn bè quốc tế. Thực chất của các quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch chỉ nhằm mục đích duy nhất là phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội; làm cho quân đội xa rời sự lãnh đạo của Đảng, bị tha hóa, biến chất, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trở nên vô dụng; không còn là lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước; không còn là quân đội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”. Chúng xuyên tạc rằng, ở Việt Nam chừng nào còn có Quân đội nhân dân Việt Nam thì chừng ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam còn có chỗ dựa vững chắc để thực hiện vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội, tiếp tục thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, còn lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, và do vậy, chúng phải quyết liệt chống phá quân đội, làm xói mòn công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước. Vì lẽ đó, chúng đã và đang tìm mọi cách để thủ tiêu sức mạnh chiến đấu của quân đội, lấy chiêu trò “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” quân đội gắn chặt với âm mưu, chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ quân đội, làm đòn bẩy “đánh gục Đảng”, tước bỏ vũ khí “tuyệt đối trung thành của quân đội ta với Đảng”. Có thể khẳng định, quan điểm “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” quân đội là một âm mưu, thủ đoạn hết sức nguy hiểm, vô cùng độc hại của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Xét về bản chất, nội dung quan điểm này là hoàn toàn phản động, tuy nó không mới nhưng về hành vi, thủ đoạn, cách thức tiến hành, thực thi quan điểm sai trái ấy thì có một số thay đổi, nhất là các chiêu trò, hình thức chống phá bỉ ổi; làm cho quan điểm này tinh vi, xảo quyệt hơn so với trước đây, nhất là khi chúng đánh thẳng vào bộ máy, tổ chức biên chế quân đội, chĩa mũi nhọn vào các đồng chí lãnh đạo và nguyên lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; đẩy mạnh tâm lý chiến, gây mâu thuẫn, chia rẽ nội bộ quân đội. Cùng với đó, chúng triệt để lợi dụng in-tơ-nét, các trang mạng xã hội và đối ngoại quốc phòng để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội bằng mọi hình thức, song được che đậy bởi các vỏ bọc hết sức tinh vi, rất khó nhận diện. Vì vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta phải đề cao cảnh giác, chủ động và tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá, phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội. Một số nhiệm vụ quan trọng cần thực tiện tốt trong thời gian tới Để tiếp tục giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng đối với quân đội; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, kiên quyết, kiên trì xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống, thời gian tới cần thực hiện tốt một số nội dung sau: Một là, xây dựng, phát triển thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh để vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn và tác hại của các quan điểm sai trái, âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội. Xuất phát từ lập trường của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ phương châm xây dựng quân đội là lấy chính trị làm “gốc”, thực hiện “người trước, súng sau”. Bởi vì, “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”(1). Điều đó có nghĩa là, không có “quân đội trung lập”, “đứng trên giai cấp”, “đứng ngoài chính trị”, “phi đảng hóa” như một số người vẫn ra rả rêu rao, bàn đi nói lại. Việc một số người đòi hỏi một cách phi lý rằng Quân đội nhân dân Việt Nam phải “đứng ngoài chính trị”, chỉ phục tùng Nhà nước, không phục tùng Đảng Cộng sản (cầm quyền), về thực chất là tuyên truyền, cổ xúy cho cái gọi là “chuyển hóa lập trường chính trị”, “phi Đảng hóa”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong quân đội ta, dù họ biết rằng Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời từ phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện; được nhân dân nuôi dưỡng, đùm bọc, chở che. Vì vậy, lý tưởng, mục tiêu chiến đấu của Đảng cũng chính là lý tưởng, mục tiêu chiến đấu của quân đội. Quân đội không có mục tiêu, lợi ích nào khác là giành lại độc lập dân tộc, đem lại hòa bình, tự do, cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Quân đội không chỉ mang bản chất giai cấp công nhân mà còn mang tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc. Lịch sử hơn 75 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của quân đội đã chứng minh chân lý ấy. Để nhấn mạnh những nhân tố làm nên sức mạnh bách chiến bách thắng của quân đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”(2). Đây là sự tổng kết thực tiễn và khái quát cô đọng nhất quy luật xây dựng, phát triển tư duy lý luận của Đảng ta về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Hai là, chủ động, tích cực đổi mới nội dung, hình thức giáo dục nâng cao nhận thức và thực hiện nghiêm túc nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội trong bối cảnh tình hình mới. Quá trình xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam đã khẳng định sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội vừa là nguyên tắc, vừa là quy luật trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân; đồng thời, là nhân tố quyết định bảo đảm cho quân đội luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; xứng đáng là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhờ đó, quân đội đã hoàn thành trọng trách vẻ vang là chỗ dựa vững chắc nhất của Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; luôn sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì cuộc sống hòa bình, ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Bất luận trong điều kiện hoàn cảnh nào, dù khó khăn, thử thách đến đâu, quân đội luôn vững vàng, kiên định, không nao núng tinh thần, không dao động ngả nghiêng trước sự chống phá điên cuồng, nham hiểm của các thế lực thù địch. Vì vậy, khâu then chốt của mọi vấn đề then chốt để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội là tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị; tăng cường giáo dục cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, giúp họ có nhận thức, hiểu biết đầy đủ, sâu sắc về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng; bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của quân đội. Quan tâm chăm lo xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, tiêu biểu; nâng cao chất lượng, hiệu quả, hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị; bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững trận địa tư tưởng, văn hóa văn nghệ của Đảng trong quân đội; quan tâm chăm lo xây dựng, củng cố vững chắc mối quan hệ mật thiết giữa quân đội với nhân dân. Trên cơ sở đó, xây dựng, rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng cho cán bộ, chiến sĩ; giúp họ có đủ sức đề kháng, miễn dịch trước âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Ba là, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ và chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng, văn hóa của Đảng trong quân đội. Đây là giải pháp rất quan trọng để xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị; thực hiện nghiêm nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội. Cấp ủy, đội ngũ chính ủy, chính trị viên và người chỉ huy các cấp trong toàn quân cần quan tâm chăm lo thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; chú trọng bảo vệ tổ chức, con người, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, chiến dịch trong sạch, vững mạnh, an toàn tuyệt đối về chính trị, chống sự xâm nhập, móc nối, cài cắm, lộ, lọt thông tin; có biện pháp phòng ngừa “từ sớm, từ xa”, không để xảy ra tình trạng cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của quân đội; đồng thời, chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” quân đội và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đơn vị, góp phần bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng, văn hóa văn nghệ của Đảng trong toàn quân, toàn quốc. Trong quá trình đó, phải đẩy mạnh tự phê bình và phê bình; chú trọng đấu tranh trực diện với các âm mưu, thủ đoạn nguy hiểm của kẻ thù, kiên quyết bác bỏ những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, kích động, gây tâm lý hoài nghi, bi quan, chán nản ở cán bộ, chiến sĩ, đi đôi với khẳng định bản chất, giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thành tựu của cách mạng, của Đảng và Quân đội nhân dân Việt Nam. Cùng với đó, cần giúp cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân thấy rõ bản chất, âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” quân đội là cuộc chiến đấu trong thời bình, “thầm lặng”, “không khói súng”, nhưng vô cùng gay go, quyết liệt và phức tạp, liên quan trực tiếp đến uy tín, vị thế và sinh mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ. Bởi đây là cuộc đấu tranh về tư tưởng, lý luận, văn hóa; là sự giành giật niềm tin, trái tim, khối óc con người; quyền quản lý địa hạt chính trị, trận địa tư tưởng, văn hóa giữa ta và địch. Cuộc chiến đấu này không có giới tuyến, đối phương không lộ diện rõ hình, ta không nhìn thấy mặt, nhưng lại diễn ra thường xuyên, quyết liệt trên các lĩnh vực đối với quân đội và nhân dân, ngay trong đời sống tinh thần của từng cán bộ, chiến sĩ. Vì lẽ đó, đội ngũ cán bộ chính trị, trước hết là chính ủy, chính trị viên các cấp cần coi trọng công tác dự báo, nắm bắt tư tưởng, tăng cường giáo dục chính trị, làm cho cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; từ đó, có giải pháp phòng, chống hiệu quả, bảo vệ và tự bảo vệ an toàn cho đơn vị, gia đình và bản thân. Tranh sơn mài “Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ” của cố họa sĩ Nguyễn Sáng là một "Bảo vật quốc gia" - hình ảnh các chiến sĩ kết nạp Đảng nơi chiến hào khi trận chiến đấu vẫn đang diễn ra là sự tượng trưng cho đỉnh cao của tinh thần cách mạng, toàn dân, toàn quân một lòng với Đảng, với sự nghiệp giải phóng dân tộc _Ảnh: laodong.vn Bốn là, tiếp tục xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch vững mạnh tiêu biểu, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp. Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội, trước hết thông qua hệ thống cấp ủy, tổ chức đảng trong Đảng bộ Quân đội, từ Quân ủy Trung ương đến Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam và các tổ chức cơ sở đảng. Quân ủy Trung ương là cơ quan lãnh đạo cao nhất trong Đảng bộ Quân đội, có thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu, tham mưu đề xuất với Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết định những vấn đề trọng yếu về chủ trương, đường lối, chính sách, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và lãnh đạo mọi mặt công tác, như chính trị, tham mưu, hậu cần, kỹ thuật trong quân đội,... Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp và đội ngũ chính ủy, chính trị viên, những người chủ trì về công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội chịu trách nhiệm trước Đảng về lãnh đạo mọi mặt của đơn vị theo nội dung, chức trách, nhiệm vụ, phạm vi quy định cụ thể cho từng cấp. Trong quá trình lãnh đạo quân đội, nhất là trong những năm đổi mới đất nước, Đảng ta, trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, luôn dành sự quan tâm đặc biệt, chăm lo xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; tập trung củng cố, kiện toàn hệ thống cấp ủy, tổ chức đảng các cấp; kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng cấp ủy với xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì; giữa xây dựng đội ngũ cán bộ với xây dựng đội ngũ đảng viên và xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Nhờ đó, sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội được củng cố và tăng cường, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tiếp tục đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu phát triển lý luận công tác đảng, công tác chính trị, xây dựng quân đội về chính trị; đổi mới và hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội sao cho phù hợp với thực tiễn xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, thích ứng với những đòi hỏi khách quan của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, là biện pháp có ý nghĩa chiến lược trong xây dựng quân đội “tinh, gọn, mạnh”, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề cốt lõi, có tính nguyên tắc trong giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, quyết định mọi thắng lợi của quân đội ta trong bối cảnh, điều kiện lịch sử mới./.

âng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng

Thực tiễn cách mạng nước ta đã chứng minh, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng luôn là một trong những chức năng lãnh đạo quan trọng của Đảng. Trong lịch sử phát triển hơn 90 năm của Đảng ta, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng đã khẳng định được vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; góp phần quan trọng vào việc bảo vệ đường lối, tư tưởng, quan điểm, giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương của Đảng. Thời gian tới, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ này theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, để góp phần thực hiện thành công các nhiệm vụ chính trị của nhiệm kỳ. Kết quả và kinh nghiệm trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng thời gian qua Trong các nhiệm kỳ gần đây, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật (KTGSKL) của Đảng đã góp phần từng bước kiềm chế, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tình trạng tham nhũng, “lợi ích nhóm”, “tư duy nhiệm kỳ”, tha hóa quyền lực trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; đồng thời, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, góp phần xây dựng hệ thống chính trị liêm chính, hành động nhằm thực hiện thành công mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, mà trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp ủy các cấp, công tác KTGSKL của Đảng trong nhiệm kỳ Đại hội XII đã có nhiều chuyển biến rõ rệt và đạt được những kết quả quan trọng, toàn diện, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá tích cực, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự, kỷ cương, thúc đẩy kinh tế - xã hội của đất nước phát triển nhanh và bền vững; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Đánh giá về công tác KTGSKL đảng nhiệm kỳ vừa qua, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã nhận định: “Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xây dựng hệ thống chính trị được đặc biệt chú trọng, triển khai toàn diện, đồng bộ, hiệu quả. Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực chuyển biến mạnh mẽ, có bước đột phá gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, có hiệu quả, ngày càng đi vào chiều sâu. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam không ngừng được củng cố vững mạnh”(1). Công tác KTGSKL trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng đã có bước tiến mới với những kết quả rất quan trọng, mang tính đột phá, góp phần giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao uy tín của Đảng, thể hiện nhất quán quan điểm “nói đi đôi với làm”, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không có đặc quyền đặc lợi, bất kể người vi phạm là ai”. Thực tiễn công tác KTGSKL của nhiệm kỳ Đại hội XII đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm: Thứ nhất, các cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu cấp ủy phải thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện tốt công tác KTGSKL ở địa phương, đơn vị một cách chủ động, thường xuyên, liên tục theo tinh thần “lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo”. Vai trò của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng là hết sức quan trọng, ở Trung ương có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương mà trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, nhất là sự chỉ đạo trực tiếp, toàn diện, cụ thể, kiên quyết của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước; ở địa phương, ở các ban, bộ, ngành, vai trò của đồng chí bí thư cấp ủy là nhân tố quyết định. Thực tiễn cho thấy, ở đâu và khi nào, người đứng đầu cấp ủy quan tâm, coi trọng và trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện nghiêm túc công tác KTGSKL, thì ở đó, vai trò của ủy ban kiểm tra (UBKT) được phát huy, hoạt động kiểm tra, giám sát được đẩy mạnh; nội bộ đoàn kết thống nhất; kỷ luật, kỷ cương được giữ vững, cán bộ, đảng viên ít vi phạm; tổ chức đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh; từ đó, tạo cơ sở thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị. Thứ hai, việc xác định phương hướng nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát phải thiết thực, toàn diện, đồng bộ, bám sát yêu cầu nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng của địa phương, đơn vị trong từng thời kỳ và gắn chặt với giải quyết các vấn đề mà cán bộ, đảng viên và nhân dân đang quan tâm. Thứ ba, thực hiện đồng bộ giữa kiểm tra và giám sát theo phương châm“giám sát phải mở rộng”, “kiểm tra phải có trọng tâm, trọng điểm”; trong đó, coi trọng và tăng cường giám sát để nhắc nhở, cảnh báo, chủ động phòng ngừa những vi phạm. Trong kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, phải chủ động, kịp thời, chọn đúng thời điểm và đúng nội dung kiểm tra, tập trung vào những địa bàn, lĩnh vực dễ xảy ra vi phạm để kết luận rõ ràng, chính xác, khách quan, chứng cứ đến đâu kết luận xử lý đến đó. Việc xử lý kỷ luật phải nghiêm minh; song, cần phải trên tinh thần nhân văn, “trị bệnh cứu người”. Vi phạm của đảng viên, nhất là vi phạm có liên quan đến tham nhũng, cần phải được phát hiện trước hết trong nội bộ tổ chức đảng để sớm ngăn chặn ngay từ khi mới manh nha; tránh để vi phạm nhỏ trở thành vi phạm lớn, vi phạm ít nghiêm trọng trở thành vi phạm nghiêm trọng. Thứ tư, phải chú trọng chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra có trình độ chuyên môn nghiệp vụ giỏi, có bản lĩnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tăng cường việc đào tạo, bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ và chỉ đạo của UBKT cấp trên đối với UBKT cấp dưới, đặc biệt là đối với các vụ, việc nghiêm trọng, phức tạp, lĩnh vực nhạy cảm và khi xử lý vi phạm về tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Khi cần thiết, UBKT cấp trên tiến hành kiểm tra “cách cấp” hoặc trực tiếp chỉ đạo giải quyết một số vấn đề cụ thể, khó khăn, trở ngại, phức tạp, vấn đề mới phát sinh. Thứ năm, phải có sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa UBKT các cấp với các cơ quan chức năng của Đảng, Nhà nước, với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội để thực hiện công tác KTGSKL của Đảng trong việc phát hiện, xử lý và công khai kết quả xử lý tổ chức đảng, đảng viên vi phạm. Kết quả thanh tra, kiểm toán, điều tra từng bước được xác định là cơ sở, căn cứ quan trọng cho việc kiểm tra, giám sát, xử lý kỷ luật của Đảng. Bên cạnh việc đánh giá cao sự nỗ lực cố gắng của cấp ủy đảng, UBKT các cấp và kết quả đạt được khá toàn diện trong nhiệm kỳ, với tinh thần thẳng thắn, nghiêm túc, Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng cũng chỉ rõ những tồn tại, hạn chế của công tác KTGSKL của Đảng: “công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu trong tình hình mới, chất lượng, hiệu quả chưa đồng đều ở các cấp. Việc kiểm tra, giám sát thực hiện một số nghị quyết của Đảng chưa thường xuyên. Công tác kiểm tra ở một số nơi thiếu trọng tâm, trọng điểm; việc tự kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm của nhiều cấp ủy, tổ chức đảng vẫn là khâu yếu; còn nhiều tổ chức đảng và đảng viên có vi phạm nhưng chưa được phát hiện kịp thời; công tác kiểm tra, giám sát của các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy chưa đi vào nền nếp. Công tác giám sát ở các cấp chưa thường xuyên, có nơi, có lúc chưa thực chất, phạm vi, đối tượng còn hẹp; hiệu quả cảnh báo, phòng ngừa vi phạm còn hạn chế. Việc thi hành kỷ luật đảng ở một số nơi chưa nghiêm, còn hiện tượng nể nang, ngại va chạm. Giải quyết khiếu nại, tố cáo còn chậm, có nơi còn né tránh”(2). Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Trần Cẩm Tú chủ trì Kỳ họp thứ 2 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIII_Ảnh: TTXVN Những nhiệm vụ chủ yếu của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng thời gian tới Kiểm tra, giám sát là công việc hệ trọng, phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, kiên quyết, kiên trì, không tự thỏa mãn, bằng lòng với những kết quả đạt được. Bước sang nhiệm kỳ khóa XIII, trong bối cảnh “tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen; đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(3), để góp phần tích cực hơn nữa vào việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng Đảng và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, cần nhận thức đúng, đầy đủ và thực hiện đồng bộ một số nhiệm vụ chủ yếu sau đây: Một là, tiếp tục tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa về nhận thức, trách nhiệm và quyết tâm chính trị của cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên các cấp về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng Ngay sau Đại hội, công tác KTGSKL của Đảng phải được triển khai thực hiện trên cơ sở bám sát nhiệm vụ chính trị và thực tiễn của từng địa phương, đơn vị; tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên của các cấp ủy đảng đối với công tác này. Tiếp tục khẳng định KTGSKL là những chức năng, phương thức lãnh đạo của Đảng, như đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nói: “là thanh bảo kiếm của Đảng”, là bộ phận quan trọng trong chỉnh thể công tác xây dựng Đảng; là nhiệm vụ của toàn Đảng, trước hết là của cấp ủy và trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của cấp ủy, UBKT các cấp. Đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, các ngành, của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu về vị trí, vai trò, mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác KTGSKL đảng. Mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu, phải gương mẫu, đi đầu, tự giác, thống nhất cao về ý chí và hành động trong công tác kiểm tra, giám sát để giữ gìn uy tín, củng cố niềm tin của nhân dân và phải công khai để nhân dân biết, ủng hộ và tham gia giám sát. Phải kiên định, kiên quyết, kiên trì trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, không lùi bước trước bất cứ khó khăn nào. Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến công tác KTGSKL của Đảng trên các phương tiện thông tin đại chúng bằng nhiều hình thức, biện pháp thích hợp; chú trọng nhân rộng các nhân tố điển hình, kinh nghiệm hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả; rà soát, tiếp tục mở các chuyên trang, chuyên mục, xuất bản, phát hành sách, báo, các tác phẩm văn học, nghệ thuật về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng. Thực hiện tốt cơ chế phối hợp trao đổi thông tin và tuyên truyền, phổ biến về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật giữa UBKT với các cơ quan tư pháp, thanh tra, kiểm toán và các cơ quan báo chí. Xây dựng và tổ chức thực hiện Quy định về chế độ tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cấp ủy viên các cấp về công tác KTGSKL đảng để đội ngũ này nâng cao nhận thức và thực hiện đúng vai trò, trách nhiệm được giao phó. Hai là, tiếp tục chỉ đạo nghiên cứu xây dựng hoàn thiện hệ thống các quy định về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng; xây dựng hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng Đảng đoàn Quốc hội, Ban Cán sự đảng Chính phủ và các ban đảng ở Trung ương chỉ đạo sửa đổi, bổ sung, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác KTGSKL đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất trong thực hiện giữa quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Cấp ủy các cấp quan tâm chỉ đạo nghiên cứu xây dựng hoàn chỉnh các nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định về công tác xây dựng Đảng, công tác KTGSKL đảng đồng bộ, thống nhất với quy định của Trung ương; cải tiến, đổi mới phương pháp, kỹ năng, quy trình công tác KTGSKL đảng bảo đảm khoa học, dân chủ, đồng bộ, thống nhất, khả thi; trong đó, tập trung vào các cơ chế, biện pháp chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm, khuyết điểm của tổ chức đảng và đảng viên. Đồng thời, xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và các quy định về phòng, chống tham nhũng, lãng phí gắn với cơ chế kiểm soát quyền lực và thi hành kỷ luật của Đảng; kỷ luật hành chính, xử lý bằng pháp luật gắn với việc xây dựng hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức để cán bộ, đảng viên “không thể tham nhũng”, “không dám tham nhũng” và “không cần tham nhũng”. Cùng với các quy định, chính sách, pháp luật để xử lý nghiêm minh đối với những vi phạm, cần có cơ chế để bảo vệ, khuyến khích những cán bộ, đảng viên, người đứng đầu dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, mạnh dạn đi đầu trong đổi mới vì sự phát triển của đất nước; việc đánh giá về các sai phạm cần đặt trong những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể để có quan điểm xử lý khách quan, đúng đắn, phù hợp. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng cuộc đấu tranh phòng, chống suy thoái, tham nhũng, “lợi ích nhóm”, tiêu cực để chia rẽ nội bộ, nói xấu lãnh đạo, bôi nhọ Đảng, Nhà nước và chế độ. Ba là, tăng cường sự phối hợp chặt chẽ và đồng bộ giữa các cơ quan kiểm tra, thanh tra, điều tra, kiểm toán và các cơ quan quản lý nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong hoạt động kiểm tra, giám sát Ủy ban kiểm tra các cấp tiếp tục tham mưu cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy cùng cấp sửa đổi, bổ sung, xây dựng ban hành mới quy chế phối hợp giữa UBKT với cơ quan điều tra, thanh tra, kiểm toán, kiểm sát, tòa án; tổ chức thực hiện có chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác KTGSKL đảng đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan theo hướng có cơ quan được giao chủ trì điều phối, phối hợp. Tăng cường sự phối hợp giữa công tác giám sát trong Đảng với công tác giám sát của Nhà nước (Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp) và giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội để tăng cường sức mạnh tổng hợp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát, kiểm tra, tránh chồng chéo, trùng lặp, lúng túng trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát. Coi trọng sơ kết, tổng kết việc phối hợp thực hiện công tác kiểm tra, giám sát giữa UBKT với các cơ quan, tổ chức liên quan để rút kinh nghiệm và đề ra chủ trương, biện pháp thực hiện đạt kết quả trong từng thời gian cụ thể. Bốn là, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng Cấp ủy các cấp đổi mới sự lãnh đạo, chỉ đạo thông qua việc ban hành đầy đủ, kịp thời các quy định của Đảng về xây dựng Đảng, công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức nghiên cứu, quán triệt triển khai thực hiện; thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện trong thực tế. Các cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT các cấp phải chủ động xây dựng phương hướng, nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát nhiệm kỳ, hằng năm có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp điều kiện, hoàn cảnh và thực hiện có kết quả. Phân công thành viên cấp ủy, tổ chức đảng phụ trách và tiến hành công tác kiểm tra, giám sát theo chức trách, nhiệm vụ, huy động các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát; khắc phục tình trạng chồng chéo trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng với các cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội. Tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra tiêu cực. Cấp ủy các cấp phải thường xuyên tự kiểm tra, nhất là đối với cấp ủy viên và cán bộ diện cấp ủy cấp mình quản lý, kịp thời chỉ ra những ưu điểm để phát huy, phát hiện những hạn chế, khuyết điểm để chủ động khắc phục, chấn chỉnh; tăng cường giám sát chuyên đề trên tất cả các địa bàn, lĩnh vực; trong đó, tập trung vào những nơi có biểu hiện mất đoàn kết nội bộ, có vấn đề phức tạp mới nảy sinh, dư luận xã hội quan tâm để chủ động nhắc nhở, cảnh báo, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm từ sớm, từ xa. Cán bộ Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Hòa Bình tham mưu cho cấp ủy xây dựng, triển khai chương trình kiểm tra, giám sát năm 2021_Nguồn: baohoabinh.com.vn Các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy tăng cường phối hợp với UBKT cùng cấp tham mưu giúp cấp ủy tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách. Chi bộ tăng cường kiểm tra, giám sát đảng viên, kịp thời phát hiện, uốn nắn, khắc phục thiếu sót, khuyết điểm của đảng viên từ khi mới manh nha để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn xảy ra vi phạm trong nội bộ, ngay từ cơ sở. Ủy ban kiểm tra các cấp phải thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm theo Điều lệ Đảng và các quy định của Đảng; chủ động, tích cực tham mưu, giúp cấp ủy về công tác KTGSKL đảng. Ủy ban kiểm tra cấp trên tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT cấp dưới trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát. Thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa UBKT với các tổ chức đảng có liên quan; phối hợp chặt chẽ giữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với công tác thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử. Ủy ban kiểm tra các cấp tổ chức thực hiện toàn diện các nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Đảng và nhiệm vụ cấp ủy giao; trọng tâm là kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm với tinh thần chủ động hơn, nỗ lực quyết tâm cao hơn, hành động quyết liệt hơn, tập trung vào những nơi có vấn đề phức tạp, điểm “nóng”, những địa bàn, lĩnh vực dễ nảy sinh vi phạm, chú trọng những dấu hiệu suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, những vấn đề nổi cộm, gây bức xúc trong xã hội, như về các lĩnh vực kinh tế - tài chính, hành chính, tư pháp, y tế, giáo dục, quản lý báo chí, sử dụng nguồn viện trợ của nước ngoài, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và đặc biệt là công tác cán bộ. Tăng cường giám sát để giúp cho tổ chức đảng, đảng viên kịp thời chấn chỉnh, khắc phục, sửa chữa khuyết điểm, vi phạm, không để khuyết điểm kéo dài trở thành vi phạm, vi phạm nhỏ trở thành vi phạm lớn, vi phạm của một người trở thành vi phạm của cả tập thể. Việc xử lý kỷ luật phải nghiêm minh, kịp thời, không có vùng cấm, không có ngoại lệ; song, phải trên tinh thần nhân văn, “trị bệnh cứu người”, mục đích là làm cho tổ chức đảng, đảng viên tiến bộ hơn, thực hiện tốt hơn nhiệm vụ chính trị. Việc đánh giá, xử lý các sai phạm cần đặt trong những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể để có quan điểm xử lý khách quan, đúng đắn, phù hợp. Công khai kết quả xử lý các vụ, việc trên các phương tiện thông tin đại chúng để phát huy tối đa hiệu quả, tác dụng trong phòng ngừa, giáo dục, răn đe, cảnh tỉnh các vi phạm có thể xảy ra, tạo đồng thuận và hiệu ứng tốt trong xã hội, không để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước. Đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả đối với việc tổ chức triển khai thực hiện các thông báo kết luận, kiến nghị qua công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Đảng; bảo đảm các nội dung kết luận, kiến nghị được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Năm là, đổi mới, kiện toàn ủy ban kiểm tra, tổ chức bộ máy và cơ quan ủy ban kiểm tra đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới Thống nhất mô hình tổ chức bộ máy cơ quan UBKT từ Trung ương đến cấp huyện, bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đánh giá hiệu quả của việc sáp nhập cơ quan UBKT với cơ quan thanh tra cùng cấp tại một số địa phương, đơn vị đã thực hiện. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp theo hướng chuyên nghiệp hóa, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Cán bộ kiểm tra phải có phẩm chất đạo đức cách mạng, có bản lĩnh chính trị, tính chiến đấu cao, có kinh nghiệm công tác xây dựng Đảng, kỹ năng nghiệp vụ thuần thục, phương pháp công tác khoa học, dân chủ, thận trọng, chặt chẽ; nắm vững và thực hiện đúng các nguyên tắc, thẩm quyền, quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, cần đổi mới công tác tuyển dụng, bố trí, phân công, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng đối với cán bộ kiểm tra; có chế độ, chính sách đãi ngộ phù hợp đối với cán bộ kiểm tra và chế độ, chính sách thu hút cán bộ có chuyên môn giỏi và phẩm chất chính trị tốt về làm công tác kiểm tra. Tiếp tục hoàn thiện, đổi mới nội dung chương trình, hình thức, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kiểm tra theo hướng chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa về công tác KTGSKL đảng bằng giáo trình đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh, ngạch bậc và đội ngũ giảng viên, báo cáo viên bảo đảm điều kiện, tiêu chuẩn. Sáu là, đổi mới công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng Quan tâm đầu tư nghiên cứu nâng cao khả năng dự báo về tình hình vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên, nhất là những vi phạm mới do tác động bởi những mặt trái của toàn cầu hóa, cơ chế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển nhanh chóng của khoa học  - công nghệ mới,... để đề ra các chủ trương, biện pháp phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm từ xa, từ sớm. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ tham mưu chiến lược và cán bộ, chuyên gia theo hướng nghiên cứu lý luận gắn với tổng kết thực tiễn về công tác kiểm tra, giám sát; liên kết với các học viện, trường đại học, viện nghiên cứu để xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu vừa có kiến thức lý luận, vừa am hiểu thực tiễn; hoàn thiện hệ thống lý luận về kiểm tra, giám sát gắn với kiểm soát quyền lực trong điều kiện một đảng cầm quyền. Tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, học tập, trao đổi kinh nghiệm về công tác KTGSKL đảng với các đảng cộng sản và với các nước trên thế giới trong việc giám sát, kiểm soát quyền lực và phản biện xã hội./.

Nghi án con trai cắt cổ mẹ tử vong

Dân trí Bà Nguyễn Thị D. (phường Quảng Thịnh, TP Thanh Hóa) vừa được phát hiện tử vong với vết cắt ở cổ. Nghi phạm được xác định là con trai nạn nhân. Chiều ngày 4/5, tin từ UBND phường Quảng Thịnh, TP Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xác nhận trên địa bàn vừa xảy ra một vụ án mạng nghiêm trọng. Nạn nhân là bà Nguyễn Thị D. (SN 1961, trú tại số nhà 20/28 Nguyễn Hữu Cảnh, thôn Trường Sơn, phường Quảng Thịnh. Vụ án mạng xảy ra vào khoảng 14h chiều ngày 4/5. Người dân phát hiện có tiếng la hét trong nhà bà D., tuy nhiên do căn nhà khóa cửa nên không ai vào được. Khoảng 30 phút sau, khi người dân tiếp cận được vào bên trong căn nhà thì bà D. đã tử vong với vết cắt trên cổ, bên cạnh là con trai Lê Hoàng Nam (SN 1987) có biểu hiện "ngáo đá". Nghi phạm Lê Hoàng Nam đã bị cảnh sát bắt giữ ngay sau đó. Hiện vụ việc đang được cơ quan chức năng điều tra, làm rõ.

Bổ nhiệm Trung tướng Trịnh Văn Quyết làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị

Dân trí Thủ tướng vừa ký quyết định bổ nhiệm Trung tướng Trịnh Văn Quyết, Chính ủy Quân khu 2, giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Hôm nay (4/5), tại Hà Nội, Quân ủy Trung ương (QUTƯ), Bộ Quốc phòng (BQP) tổ chức Hội nghị công bố, trao quyết định về công tác cán bộ. Thượng tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư QUTƯ, Bộ trưởng BQP chủ trì hội nghị. Thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, Thượng tướng Phan Văn Giang (bìa phải), Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư QUTƯ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trao Quyết định cho Trung tướng Trịnh Văn Quyết. Căn cứ đề nghị của Thường vụ QUTƯ, BQP, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định bổ nhiệm Trung tướng Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 2 giữ chức Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Thay mặt QUTƯ, BQP, cán bộ, chiến sĩ toàn quân, Thượng tướng Phan Văn Giang chúc mừng Trung tướng Trịnh Văn Quyết được bổ nhiệm giữ cương vị Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (TCCT), đồng thời khẳng định: Được bổ nhiệm Phó chủ nhiệm TCCT là vinh dự lớn mà Đảng, Nhà nước, Quân đội tin tưởng, giao trọng trách; đồng thời cũng là vinh dự đối với cá nhân đồng chí, tự hào của quân đội, của đơn vị, của quê hương, gia đình, dòng họ. Bộ trưởng Phan Văn Giang mong rằng, trên cương vị mới, Trung tướng Trịnh Văn Quyết xác định tốt trách nhiệm; kiên định lập trường, tư tưởng; nhanh chóng tiếp cận công việc; quyết tâm phấn đấu hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao; tiếp tục nỗ lực phấn đấu, rèn luyện, học tập; thực sự tiêu biểu về trí tuệ, phẩm chất, đạo đức, lối sống để tham mưu, đề xuất những chủ trương, giải pháp lãnh đạo trên cương vị công tác của mình cho thủ trưởng TCCT, QUTƯ, BQP về xây dựng quân đội và thực hiện nhiệm vụ quân sự - quốc phòng, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI. Ở cương vị mới, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Thượng tướng Phan Văn Giang cũng lưu ý, tân Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị phải luôn đề cao trách nhiệm, thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, chấp hành và giữ vững nguyên tắc trong công tác, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; nghiêm chỉnh chấp hành kỷ luật, đạo đức, pháp luật và kỷ luật quân đội; chăm lo xây dựng nội bộ đoàn kết, thống nhất, thực sự là hạt nhân đoàn kết trong cấp ủy, chỉ huy đơn vị; khiêm tốn, lắng nghe ý kiến tập thể; gương mẫu trong cuộc sống, gần gũi, yêu thương, quan tâm chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ. Trung tướng Trịnh Văn Quyết phát biểu đã gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Đảng, Nhà nước, QUTƯ, BQP đã tin tưởng, giao trọng trách; đồng thời xin hứa trên cương vị mới sẽ nỗ lực cố gắng thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao, chấp hành nghiêm những quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước quy định.

Từ 5/5 thực hiện quy định mới về quản lý, bàn giao người hoàn thành cách ly

Dân trí Nói tới những ca Covid-19 lây lan ra cộng đồng từ những người hoàn thành việc cách ly về địa phương những ngày qua, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam yêu cầu thắt chặt quy định bàn giao đối tượng này... Chủ trì cuộc họp Thường trực Ban Chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch Covid-19 chiều nay (4/5), Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam yêu cầu, phải cách ly triệt để, không được để lây nhiễm trong khu cách ly, từ khu cách ly ra cộng đồng. Phó Thủ tướng đề cập bối cảnh nhiều địa phương những ngày qua lại bước vào "trận chiến" căng thẳng mới. "Đến nay, đương nhiên tình hình còn rất phức tạp nhưng cơ bản đến giờ phút này, tình hình vẫn đang được kiểm soát tốt" - Phó Thủ tướng khái quát. Phó Thủ tướng đặc biệt lưu ý, 3 đợt dịch trước, hoặc dịch bùng phát từ nguồn bệnh xâm nhập từ bên ngoài hoặc từ bên trong, nhưng đợt dịch lần này thì vừa có từ bên trong, mà áp lực từ biên giới Tây Nam cũng rất lớn. Thêm nữa, biến thể virus mới từ Ấn Độ lây lan nhanh hơn, bệnh nặng hơn nên càng phải quyết tâm chặn dịch. Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam chủ trì phiên họp chiều 4/5 của Thường trực Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống Covid-19 (ảnh: VGP). Xử lý nghiêm địa phương, cá nhân lơ là chống dịch Nói về đặc điểm đợt dịch lần này, Cục trưởng Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế Đặng Quang Tấn đề cập những trường hợp nhập cảnh trái phép hoặc nhập cảnh không được quản lý cách ly chặt chẽ, có nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh ra cộng đồng cao. Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long nhận định, tình hình dịch bệnh hiện nay rất đáng quan ngại với nhiều yếu tố nguy cơ lây nhiễm từ người nhập cảnh hợp pháp, nhập cảnh trái phép, tâm lý chủ quan, lơ là, mất cảnh giác. Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn mạnh, tại phiên họp trước của Ban Chỉ đạo, ông đã yêu cầu Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng và các bộ rà soát, chuẩn bị cho tình huống có 30.000 người nhiễm. "Không phải chúng ta dự báo sẽ có 30.000 người nhiễm mà tính đến trường hợp xấu để sẵn sàng chuẩn bị và phải phấn đấu để không bao giờ có tình huống đó xảy ra", Phó Thủ tướng giải thích. Phó Thủ tướng yêu cầu tới đây phải quản lý, kiểm soát chặt chẽ biên giới, người nhập cảnh; cách ly triệt để không được để lây nhiễm trong khu cách ly, từ khu cách ly ra cộng đồng. Thời gian tới, cả nước sẽ triển khai đợt cao điểm rà soát tất cả người nhập cảnh theo phương châm "đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng" không được bỏ sót; kể cả những người phục vụ, làm việc tại các cơ sở có nhiều người nước ngoài đến. Qua phân tích một số trường hợp phát bệnh sau khi hoàn thành cách ly tập trung và lây nhiễm cho cộng đồng, Thường trực Ban Chỉ đạo đã thảo luận về việc thực hiện các quy định cách ly tập trung, theo dõi, giám sát y tế tại nhà. Các ý kiến thống nhất đánh giá, một số cơ sở cách ly tập trung chưa thực hiện đầy đủ các quy định, hướng dẫn của Bộ Y tế, đặc biệt trong xử trí khi phát hiện trường hợp cách ly nhiễm Covid-19. Công tác bàn giao, tiếp nhận người hoàn thành thời gian cách ly tập trung, sau đó theo dõi, giám sát y tế tại nơi cư trú ở nhiều nơi rất lỏng lẻo. Điển hình là ca bệnh 2899 tại thôn Quan Nhân, xã Đạo Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, sau khi về theo dõi, giám sát y tế tại nhà đã gặp gỡ, tiếp xúc, tổ chức ăn uống với rất nhiều người. Hay trường hợp ca bệnh là chuyên gia Trung Quốc sau khi hoàn thành cách ly tập trung tại Yên Bái đã di chuyển đến rất nhiều tỉnh thành. Vấn đề rà soát quy trình cách ly, bàn giao người hoàn thành cách ly về địa phương được tập trung thảo luận trong phiên họp. Từ thực tế đó, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã chỉ đạo từ 0h ngày 4/5, các trung tâm cách ly chưa đưa người đã hết thời gian cách ly tập trung về địa phương. Bộ Y tế phải rà soát lại quy định, hướng dẫn và trong ngày 4/5, phải có văn bản gửi tất cả địa phương, trung tâm cách ly để quán triệt nhằm bảo đảm việc bàn giao giữa trung tâm cách ly với địa phương có người cách ly về cư trú, về làm việc phải có bàn giao, tiếp nhận, được quản lý chặt chẽ trong 14 ngày sau khi hoàn thành cách ly tập trung. Theo báo cáo của Bộ trưởng Y tế, Bộ sẽ hoàn thành văn bản này và ban hành trong chiều tối 4/5 để từ sáng 5/5, các trung tâm và các địa phương căn cứ thực hiện đúng. Trưởng Ban chỉ đạo quốc gia yêu cầu cơ quan tổ chức, giám sát hoạt động cách ly tuyệt đối không được để tình trạng trong thời gian theo dõi, giám sát y tế sau cách ly mà người phải thực hiện cách ly lại tiếp tục đi tụ tập đông người, đi ăn uống, những nơi công cộng mà không giữ nguyên tắc phòng dịch, để lây lan ra cộng đồng cực kỳ nguy hiểm. Tại phiên họp, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cũng cảnh báo, thời gian qua, cả nước mới tập trung phát biểu về ngăn chặn người nhập cảnh trái phép qua biên giới nhưng qua đợt này cũng phải chú ý nguy cơ dịch bệnh trong nước từ người nhập cảnh hợp pháp do công tác cách ly tập trung và quản lý y tế sau cách ly không tốt. Đối phó với tình hình hiện tại, Trưởng Ban chỉ đạo quốc gia nhắc nhở, không được bỏ quên nguy cơ dịch bệnh có thể thẩm thấu từ những người nhập cảnh trái phép ở khu vực biên giới bất kỳ lúc nào vì để dịch cùng lúc xuất hiện trong nước lẫn xâm nhập từ bên ngoài thì rất phức tạp. Phó Thủ tướng yêu cầu lực lượng công an, bộ đội biên phòng, chính quyền, đoàn thể tất cả các tỉnh biên giới tiếp tục tăng cường kêu gọi nhân dân tiếp tục cùng với chính quyền quản lý thật tốt, không để nhập cảnh trái phép xảy ra, gây họa cho cộng đồng.

Hải Dương phát hiện 2 trường hợp nghi nhiễm SARS-CoV-2

Dân trí Cơ quan chức năng của tỉnh Hải Dương cho biết, trong ngày 4/5, tỉnh ghi nhận có 2 trường hợp nghi nhiễm SARS-CoV-2 tại huyện Tứ Kỳ và TP Hải Dương. Tối 4/5, trao đổi với phóng viên Dân trí, lãnh đạo Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật (CDC) tỉnh Hải Dương cho biết, trong ngày 4/5, tỉnh này ghi nhận có 2 trường hợp nghi nhiễm SARS-CoV-2 tại huyện Tứ Kỳ và TP Hải Dương. Cụ thể, trường hợp thứ nhất là anh Đ.V.H. (SN 1995, ở khu An Nhân Đông, thị trấn Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương). Nguồn nghi nhiễm, anh H. đi cùng chuyến bay VN160 có bệnh nhân Covid-19. Về lộ trình di chuyển của H., lãnh đạo CDC Hải Dương cho biết: Anh H. từ Đà Nẵng về Nội Bài trên chuyến bay VN160, chuyến bay khởi hành lúc 10h46 ngày 29/4/2021 đến sân bay Nội Bài lúc 12h10 phút cùng ngày. Sau khi xuống sân bay, 13h cùng ngày, anh H. đi xe taxi hãng Xuân Quỳnh từ Hà Nội về Hải Tân, TP Hải Dương, đi cùng xe có 5 người (anh H., lái xe, 2 người ở Bình Giang, 1 người ở TP Hải Dương). Đến khoảng 15h, anh H. bắt xe bus số 09 từ Hải Tân về nhà tại khu An Nhân Đông, thị trấn Tứ Kỳ, tiếp xúc với gia đình. Đến 7h30 ngày 30/4, anh H. đi ăn cùng 7 người bạn tại quán lẩu Trung Kiên ở khu An Nhân Đông (gần siêu thị CTECH Plaza), sau đó đi uống nước mía tại quán vỉa hè cổng trường THPT Tứ Kỳ, sau đó về nhà tại khu An Nhân Đông, thị trấn Tứ Kỳ, huyện Tứ Kỳ và nghỉ ngơi tại nhà. Ngày 2/5, anh H. biết được thông tin 2 chuyên gia Trung Quốc mắc Covid-19 đi cùng chuyến bay VN160 nên đã chủ động khai báo y tế tại Trạm Y tế thị trấn Tứ Kỳ, huyện Tứ Kỳ. Sau đó anh H. được đưa đi cách ly tập trung tại Khoa Truyền Nhiễm, Trung tâm Y tế huyện Tứ Kỳ. Ngày 3/5/2021, Trung tâm Y tế huyện Tứ Kỳ lấy mẫu xét nghiệm lần 1 gửi CDC Hải Dương làm xét nghiệm. Ngày 4/5/2021, kết quả xét nghiệm nghi ngờ anh H. dương tính với SARS-CoV-2. Ngay khi có kết quả nghi ngờ, CDC Hải Dương đã lấy lại mẫu xét nghiệm gửi Viện vệ sinh dịch tễ Trung ương làm xét nghiệm khẳng định đồng thời chuyển trường hợp trên lên bệnh viện Bệnh nhiệt đới tỉnh Hải Dương cách ly, điều trị. Thực hiện điều tra truy vết các trường hợp tiếp xúc gần, hiện tại truy vết được 18 trường hợp tiếp xúc gần với anh H., 11/18 trường hợp đã có kết quả âm tính lần 1 ngày 4/5. Chiều ngày 4/5/2021, CDC Hải Dương đã tổ chức giám sát các khu vực cách ly tập trung của huyện Tứ Kỳ. Trường hợp thứ 2 là anh N.H.T. (SN 1987, ở Nghĩa Hưng, Nam Định, là Việt kiều hồi hương). Anh T. nhập cảnh Việt Nam vào đêm ngày 29/4/2021 trên chuyến bay VJ5103 từ Nhật Bản hạ cánh tại sân bay Nội Bài. Đoàn khách có 46 khách chia làm 2 xe 47 chỗ di chuyển từ Sân bay Nội về cách ly y tế tại phòng 309, khách sạn Purple Lotus, TP Hải Dương (tỉnh Hải Dương) lúc 4h ngày 30/4. Trong quá trình cách ly anh T. được lấy mẫu như sau: Lấy mẫu xét nghiệm lần 1 ngày 30/4 (lấy mẫu lại sau 3 ngày); lấy mẫu xét nghiệm lần 2 ngày 3/5; ngày 4/5, kết quả xét nghiệm nghi ngờ với SARS-CoV-2. Ngay khi có kết quả nghi ngờ, CDC Hải Dương đã lấy lại mẫu xét nghiệm gửi Viện vệ sinh dịch tễ Trung ương làm xét nghiệm khẳng định, đồng thời chuyển trường hợp trên lên bệnh viện Bệnh nhiệt đới tỉnh Hải Dương cách ly, điều trị. Chiều ngày 4/5/2021 Lãnh đạo Sở Y tế Hải Dương, lãnh đạo UBND TP Hải Dương và CDC Hải Dương tổ chức kiểm tra, giám sát công tác thực hiện cách ly y tế tại khách sạn Purple Lotus, TP Hải Dương.

Hà Nội: Cảnh sát phá cửa, bắt quả tang 12 người Trung Quốc nhập cảnh "chui"

Dân trí Kiểm tra căn hộ chung cư ở quận Hà Đông nhưng các đối tượng bên trong cố thủ, không chịu mở cửa, cảnh sát phá cửa ập vào, phát hiện 12 người Trung Quốc không có giấy tờ nhập cảnh hợp lệ. Quá trình xác minh, mở rộng vụ việc phát hiện 50 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép, tá túc tại quận Cầu Giấy và Nam Từ Liêm, Phòng Quản lý xuất nhập cảnh - Công an TP Hà Nội phát giác manh mối về nhóm người Trung Quốc khác cũng mới nhập cảnh "chui" vào Việt Nam và tìm cách về Hà Nội. Bằng các biện pháp nghiệp vụ, chiều 4/5, lực lượng Quản lý xuất nhập cảnh phát hiện một đối tượng nữ người Trung Quốc lảng vảng ở sảnh tòa nhà Samsora (số 105 đường Chu Văn An, phường Yết Kiêu, quận Hà Đông). Căn cứ tài liệu thu thập, lực lượng Quản lý xuất nhập cảnh phối hợp cùng Công an phường Yết Kiêu, Công an quận Hà Đông đã xác định và thực hiện kiểm tra căn phòng số 3017, tòa A chung cư Samsora. Tuy nhiên, các đối tượng bên trong đã cố thủ, không chịu mở cửa. 19h cùng ngày, lực lượng chức năng quyết định phá khóa ập vào. Thời điểm cảnh sát kiểm tra, trong phòng có 11 đối tượng, đều mang quốc tịch Trung Quốc, không có giấy tờ nhập cảnh hợp lệ. Cùng với đối tượng nữ ở sảnh tòa nhà, tổng số đối tượng bị cảnh sát phát hiện là 12 người (7 nam, 5 nữ). Trong đó, đối tượng ít tuối nhất sinh năm 1994 và lớn tuổi nhất sinh năm 1973. Hiện cơ quan chức năng đang tiếp tục xác minh, xử lý số đối tượng trên theo quy định pháp luật.

CẢNH GIÁC TRƯỚC ÂM MƯU CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRONG NGÀY BẦU CỬ

 

Ngày 23 tháng 05 năm 2021, một sự kiện chính trị trọng đại, có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với vận mệnh của dân tộc sẽ diễn ra - Đó là ngày bầu cử Đại biểu Quốc hội Khóa XV và Đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026.

Sẽ không lạ gì khi đây là dịp để các thế lực thù địch trong và ngoài nước lợi dụng chống phá, gây sức ép với nhà nước ta. Và tất nhiên, những chiêu trò cũ vẫn sẽ được chúng tiếp tục diễn trong dịp bầu cử này.

Có người đã quen, có người đã biết, đã chứng kiến, nhưng mọi sự cảnh giác vẫn không bao giờ thừa bởi “đám rận” luôn sẵn sàng bất chấp mọi thứ để có được điều chúng muốn.

Điều đầu tiên và cần cảnh giác đó là việc tụ tập đông người rồi kiếm cớ biểu tình. Đây là điều chúng ta có thể dự đoán từ trước bởi đó là cách đầu tiên và hiệu quả nhất để bọn chúng tiến hành các hoạt động chống phá tiếp theo.

 Đám người biểu tình sẽ như là tấm màn bao bọc cho thân phận của bọn chúng, gây khó khăn cho các lực lượng chức năng trong việc phát hiện những kẻ kích động biểu tình để “kiếm tiền”.

Và trong tấm màn bao phủ đó, tay chân của một số tổ chức chống Việt Nam ở nước ngoài về nước, móc nối với đám "nhân sĩ, trí thức bất mãn", lũ lưu manh đường phố, và những kẻ lợi dụng "dân oan" sẽ âm thầm, lựa chọn thời cơ để gây rối, biến cuộc biểu tình “ôn hòa” thành một cuộc chống phá, gây rối.

Một vấn đề nữa mà cũng cần có sự cảnh giác cao độ. Nhiều khả năng, các đối tượng sẽ lợi dụng việc một số người dân không thể đi bầu cử và thường nhờ người thân, bạn bè bỏ phiếu hộ. Khi đó, các đối tượng sẽ quay phim, chụp ảnh làm bằng chứng để yêu cầu Tổ bầu cử lập biên bản, sau đó tung lên mạng làm chứng để tố cáo chính quyền với luận điệu rằng quá trình tổ chức bầu cử sai nguyên tắc, và kêu gọi không công nhận kết quả bỏ phiếu.

 Chiêu trò này chắc chẵn cũng sẽ được bọn chúng lợi dụng. Quá trình yêu cầu lập biên bản, chúng sẽ cố ý nhục mạ, xúc phạm hoặc tạo ra lý do dẫn đến xô xát.

Chính vì lẽ đó, trước hết, bản thân mỗi cử tri nên sắp xếp thời gian, công việc để thực hiện trách nhiệm, quyền lợi chính đáng của mình, hãy chứng tỏ mình là một người có trách nhiệm với đất nước, với xã hội và với chính tương lai con em của chúng ta.

Một sự cảnh giác có lẽ cũng không thừa, đó là nhiều đối tượng sẽ lợi dụng quá trình giám sát bỏ phiếu để cố tình gây sự với nhân viên cơ quan công quyền, nhất là các cán bộ làm nhiệm vụ tổ chức cuộc bầu cử và các lực lượng khác bảo vệ bầu cử đang làm nhiệm vụ, từ đó tạo ra các vụ xô xát, ăn vạ để quay phim, chụp ảnh rồi tung lên mạng, vu cáo chính quyền này nọ…

Riêng về bản thân những đối tượng này, nếu bạn có theo dõi trên các trang mạng xã hội, sẽ thấy nhiều thẻ cử tri đã bị các đối tượng viết, vẽ, bày tỏ quan điểm chống đối ngay trên tờ phiếu cử tri.

Chính vì thế, các cán bộ thuộc tổ chức bầu cử cần chú ý đến việc xử lý những Thẻ cử tri không hợp lệ, hoặc thẻ cử tri có dấu hiệu bị làm giả, bị tẩy xóa, bị viết vẽ bậy… Việc xử lý những trường hợp như thế cũng đòi hỏi phải tuân thủ các quy định của pháp luật, tránh để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, vu cáo chính quyền.

Để ngày bầu cử diễn ra an toàn, đúng quy trình, đúng pháp luật, khi có nghi vấn hoặc có sự việc xảy ra, các cán bộ ngay lập tức dùng camera cá nhân ghi lại toàn bộ diễn biến vụ việc để tự bảo vệ mình và làm chứng cứ xử lý vụ việc trước pháp luật.

Ngoài những lưu ý mà chúng ta cần cảnh giác nêu trên thì còn tùy thuộc vào tình hình thực tế, các đối tượng sẽ sử dụng nhiều cách khác nhau để đạt được mục đích cuối cùng./.


Sẵn sàng phương án ôn thi tốt nghiệp THPT trong dịch Covid - 19 phức tạp

Dân trí Bộ GD&ĐT yêu cầu các Sở GD&ĐT, Cục nhà trường, nhà trường chủ động xây dựng phương án tổ chức ôn tập cho HS trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2021 khi điều kiện dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp. Bộ GD&ĐT vừa có văn bản gửi các Sở GD&ĐT, Cục Nhà trường (Bộ Quốc phòng), Cục Nhà trường (Bộ Công an), các cơ sở giáo dục trung học trực thuộc, về việc tổ chức ôn tập đối với học sinh lớp 12, chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2021 trong điều kiện dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp hoặc thiên tai xảy ra ở địa phương. Đơn vị này cũng yêu cầu các địa phương chủ động sẵn sàng phương án chuyển sang dạy học trực tuyến, dạy học trên truyền hình, dạy học qua mạng internet nếu dịch Covid-19 bùng phát trở lại. Chỉ còn thời gian ngắn, kỳ thi tốt nghiệp THPT sẽ diễn ra, Bộ GD&ĐT yêu cầu các cơ sở giáo dục căn cứ đề thi tham khảo để xây dựng kế hoạch tổ chức dạy học, ôn tập cho học sinh lớp 12 phù hợp điều kiện thực tế địa phương. Trong quá trình ôn tập, chú trọng trang bị, củng cố cho học sinh nắm vững những kiến thức, kĩ năng cơ bản trong chương trình cấp THPT, trong đó tập trung chủ yếu ở chương trình lớp 12. Riêng với nội dung kiến thức lớp 11 học kỳ II năm học 2019 - 2020, thực hiện theo Công văn số 1113/BGDĐT-GDTrH ngày 30/3/2020 về hướng dẫn thực hiện điều chỉnh nội dung dạy học học kỳ II năm học 2019 - 2020. Các sở GD&ĐT, cục nhà trường tổ chức tập huấn, hướng dẫn cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh lớp 12 nghiên cứu, học tập quy chế thi tốt nghiệp THPT bảo đảm chất lượng, hiệu quả, nhằm giúp cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh tham gia kỳ thi nghiêm túc, an toàn. Bộ GD&ĐT cũng lưu ý, việc phân loại các nhóm đối tượng học sinh để tổ chức ôn tập cho phù hợp, không gây quá tải, bảo đảm sức khỏe cho học sinh. Các cơ sở giáo dục THPT trực thuộc tiếp tục thực hiện đúng hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2020 - 2021 đối với giáo dục trung học, giáo dục thường xuyên (GDTX) và hoàn thành theo khung kế hoạch thời gian năm học 2020 - 2021 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành, không dạy dồn, cắt xén chương trình. Sở GD&ĐT Hà Nội sẽ thành lập các đoàn kiểm tra công tác phòng, chống dịch Covid-19 tại các đơn vị, trường học trên địa bàn. Tính từ 18h ngày 29/4 đến 6h ngày 30/4, Việt Nam thêm 4 ca mắc mới Covid-19 (BN2911-2914), trong đó có 3 ca ghi nhận trong nước tại Hà Nội (1), Hưng Yên (2) và 1 ca được cách ly ngay sau khi nhập cảnh tại Quảng Trị. Ca bệnh 2911 (BN2911) ghi nhận tại Hà Nội là bệnh nhân nam, 28 tuổi, địa chỉ tại xã Việt Hùng, huyện Đông Anh, TP Hà Nội, là F1 của BN2899. Ngày 22/4, bệnh nhân đi ăn liên hoan cùng BN2899 tại thị trấn Vĩnh Trụ, Lý Nhân, Hà Nam. Ngày 29/4, bệnh nhân có kết quả dương tính với SARS-CoV-2. Hiện bệnh nhân đang được cách ly điều trị tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương cơ sở Đông Anh. Trước tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, Hà Nội mới có ca lây nhiễm trong cộng đồng, để đảm bảo an toàn, đại diện Sở GD&ĐT Hà Nội cho biết, sẽ thành lập các đoàn kiểm tra công tác phòng, chống dịch Covid-19 tại các đơn vị, trường học trên địa bàn thành phố. Thủ trưởng các đơn vị, trường học phải chịu trách nhiệm nếu để xảy ra trường hợp cá nhân vi phạm quy định phòng, chống dịch Covid-19. Sở Giáo dục và Đào tạo cũng yêu cầu các phòng giáo dục và đào tạo tăng cường công tác kiểm tra việc thực hiện các quy định về phòng, chống dịch Covid-19 tại các trường học thuộc địa bàn quản lý; nhắc nhở các nhà trường duy trì nghiêm túc công tác vệ sinh, khử khuẩn trường, lớp học; rà soát trang thiết bị, vật tư y tế, bảo đảm sẵn sàng ứng phó trước mọi diễn biến phức tạp của dịch.

Hà Nội: Trường học sẵn sàng "kịch bản" thi trực tuyến vì Covid-19 khó lường

Diễn biến dịch Covid-19 phức tạp, các trường ở Hà Nội phải nghỉ học tập trung nên lịch kiểm tra học kỳ cũng ảnh hưởng. Nhiều trường sẵn sàng phương án thi trực tuyến trong trường hợp cần thiết. Theo lịch gửi đến phụ huynh học sinh, Trường tiểu học Đặng Trần Côn (Quận Thanh Xuân) dự kiến kiểm tra học kỳ cao điểm rơi vào giữa tháng 5. Lường trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, ngay trước kỳ nghỉ lễ 30/4-1/5, nhà trường đã đẩy lịch kiểm tra học kỳ của học sinh sớm hơn so với dự kiến trước đó. Tuy nhiên, nỗ lực của trường này và một số trường khác trên địa bàn TP Hà Nội "bất thành" bởi chiều tối 3/5, Sở GD&ĐT thông báo cho học sinh toàn thành phố tạm dừng đến trường, các trường này cũng chưa hoàn thành việc kiểm tra học kỳ. Ngay trong đêm, giáo viên chủ nhiệm các lớp thông báo trên nhóm Zalo lớp việc thay đổi thời khóa biểu, học sinh chuẩn bị bài để học trực tuyến ngay từ 14h chiều 4/5. Trường tiểu học Phan Đình Giót (quận Thanh Xuân) cũng gửi thông báo khẩn tới phụ huynh và học sinh về việc điều chỉnh lịch thi học kỳ sớm hơn so với dự định, vào ngày 4 - 7/5. Ngay sau khi có lịch nghỉ để chống dịch, trường này chủ động thông báo lịch học trực tuyến. Trường tiểu học Xuân Phương (quận Nam Từ Liêm) dự định tổ chức thi kết thúc học kỳ II sớm hơn 1 tuần so với lịch đã thông báo, đồng thời tính đến việc giảm tải một số nội dung thi cho học sinh. Tuy nhiên, do những thay đổi hôm 3/5, nhà trường ngay lập tức thiết lập kế hoạch mới, sẵn sàng cho phương án học trực tuyến. Đồng thời, thầy cô của tất cả các khối đã xây dựng kế hoạch học tập trong 3 tuần còn lại. Ngay khi có lịch nghỉ học để chống dịch Covid-19, Trường tiểu học Khương Thượng (quận Đống Đa) yêu cầu giáo viên thiết lập lại thói quen cũ, đồng thời gửi thông báo tới phụ huynh học sinh trong toàn trường về việc triển khai hình thức này để đảm bảo việc học không bị gián đoạn. Hiện Trường Tiểu học Xuân Phương vẫn đang chờ Phòng GD&ĐT thống nhất hình thức thi học kỳ trong toàn quận. Tuy nhiên, cô Lê Thị Tuyết Lan, Hiệu trưởng nhà trường cho biết, trong trường hợp dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, học sinh không thể trở lại trường, đơn vị này sẵn sàng tổ chức thi học kỳ II bằng hình thức trực tuyến. Nhà trường dự kiến có thể thiết lập một ngân hàng đề thi, sau đó tổ chức cho học sinh thi trực tuyến. Phương án này sẽ phù hợp với các môn thi trắc nghiệm như tiếng Anh, Lịch sử,… Đối với các môn cần thi đọc và viết như Tiếng Việt, thầy cô có thể kiểm tra từng học sinh theo hình thức mặt đối mặt thông qua Zoom. Một "kịch bản" khác cũng được đưa ra ở trường này, giáo viên đánh giá dựa vào những kết quả trước đó và thông qua kết quả trong quá trình ôn tập học kỳ. Tại quận Ba Đình, ông Lê Đức Thuận, Trường Phòng GD&ĐT cho biết, quận đã tổ chức dạy học trực tuyến ôn tập các môn Toán, Ngữ Văn, tiếng Anh, Lịch Sử theo lịch cố định cho học sinh lớp 9 từ cách đây 2 tuần. Từ ngày 4/5, các trường tùy theo điều kiện cụ thể, khối lớp này sẽ được thầy cô giảng dạy trực tuyến các môn học theo chương trình. Về câu hỏi, lịch kiểm tra học kỳ cho học sinh tiểu học có khó khăn nếu việc nghỉ dịch kéo dài, các nhà trường có sẵn sàng thi trực tuyến hay không? Ông Thuận cho hay, các trường căn cứ tình hình thực tiễn để hoàn thành kế hoạch dạy học, trong đó có kiểm tra học kỳ và tổng kết năm học, trên cơ sở an toàn tuyệt đối phòng chống Covid-19. Về việc thi học kỳ bằng hình thức trực tuyến, ông Thuận cho hay, các trường thực hiện theo quy định của Bộ và Sở GD&ĐT về dạy học trực tuyến, trong đó có quy định về kiểm tra học kỳ.

Lực lượng làm nhiệm vụ trên biển hôm nay đi bầu cử sớm nhất nước

Ủy ban bầu cử tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã tổ chức bầu cử sớm nhất cả nước cho các đơn vị làm nhiệm vụ trên biển không có điều kiện tham gia vào ngày bầu cử toàn quốc 23/5 tới đây. Ngày 4/5, Ủy ban Bầu cử tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã tổ chức 5 điểm bầu cử trên địa bàn tỉnh là Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải Quân (2 điểm), Lữ đoàn 171, Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 3 và Công ty Vietsovpetro để cử tri đi bầu cử sớm. Tại Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 3, ông Nguyễn Văn Thọ - Chủ tịch UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Thiếu tướng Lê Xuân Thanh Tư lệnh, Thiếu tướng Đỗ Hồng Đó Chính ủy Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 3 dự lễ khai mạc. Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 3 (khu vực bỏ phiếu số 8) có tổng số 446 cử tri. Sau lễ khai mạc, 44 cử tri là cán bộ, chiến sĩ công tác tại Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 3 đã bỏ phiếu bầu cử sớm để bầu chọn đại biểu 3 cấp trước khi thực hiện nhiệm vụ trên biển. Lữ đoàn 171, Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân có 471 cử tri là cán bộ, chiến sĩ thuộc các tàu Trường Sa 4 và Trường Sa 19. Tất cả cán bộ, chiến sĩ có mặt và thực hiện nghi thức chào cờ, khai mạc bầu cử. Đến trưa cùng ngày, cán bộ chiến sĩ thuộc tàu Trường Sa 4 và Trường Sa 19 thuộc Vùng 2 Hải Quân đã hoàn thành quyền bầu cử. Tỷ lệ cử tri đi bầu đạt 100% theo đúng danh sách niêm yết. Ngay sau đó, tàu Trường Sa 4 và Trường Sa 19 lên đường đi làm nhiệm vụ, mang theo thùng phiếu ra các nhà giàn DK1 để cán bộ chiến sĩ thực hiện quyền cử tri trong thời gian từ 15 - 18 ngày và trở về đất liền trước ngày bầu cử 23/5. Những lá phiếu đầu tiên bầu đại biểu Quốc hội khóa 15 và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021- 2026 được cán bộ, chiến sĩ công tác tại Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 3 bỏ vào thùng phiếu. Tại hội trường Hải đoàn 129 Hải quân (khu vực bỏ phiếu số 1 của đơn vị Hải đoàn 129 Hải quân) có 207 cử tri là cán bộ, chiến sĩ tham gia bỏ phiếu sớm. Còn 138 cử tri đang làm nhiệm vụ ở quần đảo Trường Sa sẽ tham gia bầu cử trên biển. Những lá phiếu đầu tiên bầu đại biểu Quốc hội khóa 15 và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021- 2026 đã được các cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên, người lao động tại các đơn vị bỏ vào thùng phiếu, thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình. Tại các điểm bầu cử, công tác phòng chống dịch bệnh cũng được triển khai theo quy định 5K của Bộ Y tế.