Thứ Sáu, 2 tháng 7, 2021

ĐỊNH HƯỚNG ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG VỀ BẢO VỆ CÁN BỘ DÁM NGHĨ, DÁM LÀM, DÁM ĐỘT PHÁ, DÁM CHỊU TRÁCH NHIỆM VÌ LỢI ÍCH CHUNG GẮN VỚI SÀNG LỌC CÁN BỘ KHÔNG HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ

 

      Việc bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung đi đôi với sàng lọc, đưa ra khỏi vị trí công tác đối với những người không đủ phẩm chất, năng lực, uy tín được đề cập qua nhiều kỳ Đại hội và được đặc biệt nhấn mạnh tại Đại hội XIII của Đảng. Đây là hai mặt của một vấn đề, được Đảng ta quan tâm từ rất sớm nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ đủ đức, đủ tài, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

   Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã nêu, một trong những giải pháp xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là cần có cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung; đồng thời, cần có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ,... không còn uy tín đối với nhân dân.

   Đây không phải là lần đầu tiên Đảng ta đề cập tới vấn đề khuyến khích và bảo vệ cán bộ đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung cũng như việc sàng lọc, thay thế những cán bộ không đủ năng lực, phẩm chất, uy tín, không hoàn thành nhiệm vụ. Trong các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, Đảng ta luôn quan tâm đến nội dung này nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ có tâm, có tầm để phục vụ đất nước, phụng sự nhân dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”.

     Chủ trương của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung

   Nghị quyết Đại hội IV của Đảng đặt ra yêu cầu thực hiện triệt để nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong cấp ủy, trong đó nêu rõ, cần tránh tâm lý “ỷ lại vào tập thể, sợ trách nhiệm, không dám quyết đoán”. Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm không chỉ là việc cán bộ quyết liệt trong thực hiện nhiệm vụ được giao, mà còn thể hiện ở tinh thần dám đấu tranh chống lại những biểu hiện tiêu cực, dám đứng lên phê phán, nhìn thẳng vào những khuyết điểm của bản thân, của tập thể, của đồng nghiệp và của cấp trên.

   Tại Đại hội V của Đảng, báo cáo về công tác xây dựng Đảng đã thẳng thắn nêu ra tình trạng mất dân chủ, dân chủ hình thức, thiếu phê bình từ dưới lên do hiện tượng gia trưởng, độc đoán, thành kiến, trù dập những cán bộ dám phê bình khuyết điểm, xem đó là biểu hiện “tiêu cực”, khiến cho cán bộ không dám thẳng thắn đấu tranh, phê phán những biểu hiện sai trái. Báo cáo cũng nhấn mạnh, cần phát hiện và kết nạp những người “trung thực đã dám vì sự nghiệp chung mà vạch trần khuyết điểm bảo vệ chân lý”; đồng thời, tập hợp những cán bộ có “tinh thần dám quyết định và dám chịu trách nhiệm để hoàn thành nhiệm vụ”. Những nội dung trên đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng trong việc bảo vệ những cán bộ có tinh thần dám nhìn thẳng vào sự thật, dám đấu tranh vì sự vững mạnh của Đảng.

   Đặc biệt, Đại hội VI của Đảng đã mở ra một bước ngoặt lịch sử đối với đất nước ta khi quyết định xóa bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, thay đổi trong phân phối, lưu thông, đổi mới trong cách nghĩ, cách làm, cách tiếp cận của Đảng ta về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Báo cáo chính trị trình Đại hội VI khẳng định, để công cuộc đổi mới thành công, cần phải “dám thừa nhận và thay đổi những quyết định sai lầm, dám xử lý kiên quyết những trường hợp phức tạp”. Báo cáo cũng chỉ rõ những khó khăn, thách thức khi dám thay đổi tư duy và cơ chế quản lý, đó là “cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, cái tiến bộ và cái lạc hậu”, không những sẽ chịu lực cản từ những lề thói cũ, mà còn “vấp phải những đặc quyền, đặc lợi của một số người gắn bó với cơ chế cũ”.

   Nghị quyết số 05-NQ/HNTW, ngày 20-6-1988, của Hội nghị Trung ương 5 khóa VI, về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng bảo đảm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI của Đảng”, lần đầu tiên đưa “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” trở thành một tiêu chuẩn đối với cán bộ lãnh đạo, là tuyên ngôn chính trị mạnh mẽ của Đảng ta về phẩm chất cần có của những con người cách mạng. Dám nghĩ, dám làm không chỉ là một phẩm chất cần được khuyến khích, mà còn thể hiện tinh thần trách nhiệm cần phải có và nhiệt tình cách mạng của người cán bộ lãnh đạo.

   Những thành quả to lớn của công cuộc đổi mới bắt nguồn từ chính tinh thần dám thay đổi, dám kiên quyết đấu tranh của những cán bộ lãnh đạo vì lợi ích của nhân dân, vì sự lớn mạnh của Đảng, dám chịu trách nhiệm về những quyết định của mình dù gặp phải không ít khó khăn, thử thách. Đó là những tấm gương mẫu mực về bản lĩnh, tinh thần đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, như đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế, khởi xướng công cuộc đổi mới đất nước của đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh; “xóa bỏ tem phiếu”, “cơ chế một giá theo thị trường” của đồng chí Nguyễn Văn Chính (Chín Cần) tại tỉnh Long An; “những việc cần làm ngay” và “cơ chế thị trường” của đồng chí Nguyễn Văn Linh; xóa bỏ tình trạng “ngăn sông cấm chợ”, thực hiện dự án khai thác vùng Đồng Tháp Mười, xây dựng kênh thoát lũ ra biển Tây, “ngọt hóa” vùng Tứ giác Long Xuyên, xây dựng đường dây tải điện 500 kV của đồng chí Võ Văn Kiệt; chuyển đổi hệ thống ngân hàng, chính sách tỷ giá phù hợp với cơ chế thị trường của đồng chí Đỗ Mười;...

   Nhờ đó, cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã đi vào cuộc sống, công cuộc đổi mới trở thành cuộc bứt phá ngoạn mục của kinh tế Việt Nam, đưa đất nước ta thoát khỏi tình trạng trì trệ, nghèo nàn, lạc hậu. Trong suốt thời kỳ này, đất nước ta đã chứng kiến những bước chuyển mình mạnh mẽ cả về kinh tế, chính trị, ngoại giao; đó chính là thành quả từ những quyết định táo bạo, đột phá vào những thời điểm quan trọng của lịch sử của những cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Tuy vậy, vẫn còn tình trạng một bộ phận cán bộ có những biểu hiện phai nhạt lý tưởng, làm việc tắc trách, trì trệ, dựa dẫm vào tập thể, nói không đi đôi với làm hoặc làm chiếu lệ; khi có sai sót, khuyết điểm không dám chịu trách nhiệm mà tìm cách đổ lỗi cho hoàn cảnh hoặc cho người khác.

   Ngày 16-1-2012, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TW, “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, trong đó chỉ ra nguy cơ của việc thiếu một cơ chế xác định trách nhiệm rõ ràng trong thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách dẫn đến tình trạng không khuyến khích được người đứng đầu có nhiệt tình, tâm huyết, dám nghĩ, dám làm; đồng thời, đặt ra yêu cầu cần có cơ chế, chính sách để giải quyết mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân, phát huy vai trò của người đứng đầu nhằm “khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng”.

   Tới nhiệm kỳ Đại hội XI của Đảng, nhiệm vụ ban hành, bổ sung, sửa đổi cơ chế, chính sách mới lần đầu tiên được đặt ra nhằm khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đề ra phương hướng, nhiệm vụ cần phải “đổi mới công tác bầu cử trong Đảng, phương thức tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ,... để lựa chọn những người có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, năng động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm giữ các vị trí lãnh đạo, đặc biệt là người đứng đầu”.

   Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, đã đặt ra nhiệm vụ phải bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; đồng thời, coi việc xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung là một nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Bên cạnh đó, để xác định rõ trách nhiệm trong triển khai nhiệm vụ, Bộ Chính trị đã ban hành Kế hoạch số 10-KH/TW, ngày 6-6-2018, “Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”; trong đó, giao cho Ban Tổ chức Trung ương tham mưu ban hành cơ chế tạo điều kiện, khuyến khích và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Nhiệm vụ này một lần nữa được nhấn mạnh trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng, cụ thể là đề ra nhiệm vụ, giải pháp cần “có cơ chế khuyến khích, bảo vệ những cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”.

   Như vậy, việc xây dựng cơ chế khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, đổi mới, sáng tạo vì lợi ích chung xuất phát từ đòi hỏi, yêu cầu của tình hình thực tế. Qua thực tiễn điều hành công việc tại các địa phương, cơ quan, đơn vị, không ít cán bộ lãnh đạo gặp phải khó khăn trong triển khai các nhiệm vụ do hệ thống các quy định của Đảng và Nhà nước còn chưa hoàn thiện, thậm chí còn những điểm chồng chéo, thiếu thống nhất hoặc không còn phù hợp với thực tiễn, dễ gây rủi ro về pháp lý cho cán bộ trong quá trình triển khai. Điều này khiến cho cán bộ, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý, rơi vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan”, bởi nếu không thực hiện thì không thể hoàn thành nhiệm vụ và trọng trách mà Đảng và Nhà nước giao phó; nhưng nếu quyết tâm thực hiện lại rất dễ bị quy chụp, gán cho là “làm sai” chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thậm chí còn bị xử lý kỷ luật.

   Nếu nhận định “dám nghĩ, dám làm” là quyết tâm, sự táo bạo, dám ra quyết định của cán bộ trong thực hiện nhiệm vụ được giao, thì trong nhiều trường hợp, đó chính là nhân tố quyết định việc cán bộ có hoàn thành nhiệm vụ hay không. Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt, thì việc “dám nghĩ, dám làm” lại có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của địa phương, cơ quan, đơn vị nói riêng và của cả đất nước nói chung, tác động tới nhiều người, nhiều đối tượng, ảnh hưởng tích cực đến phát triển kinh tế - xã hội, “quốc kế dân sinh”, bảo đảm quốc phòng - an ninh và quan hệ quốc tế... Nếu không có bản lĩnh, dám đương đầu với khó khăn, thách thức, không dám đưa ra những quyết định táo bạo, đột phá thì người cán bộ lãnh đạo không thể hoàn thành những nhiệm vụ, trọng trách nặng nề mà Đảng và nhân dân giao phó.

   Sự nghiệp cách mạng của nước ta hiện nay được tiến hành trong bối cảnh thế giới và khu vực biến đổi rất nhanh chóng, khó lường; đất nước đứng trước nhiều cơ hội và thách thức đan xen, đòi hỏi phải có đột phá trong tư duy và hành động của đội ngũ cán bộ, nhất là cấp chiến lược thì mới có thể hiện thực hóa được khát vọng phát triển đất nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng vào năm 2045. Một lần nữa, vấn đề đổi mới, sáng tạo lại được Đại hội XIII của Đảng đặt ra như một yêu cầu cấp thiết của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

   Qua các kỳ đại hội, tinh thần dám nghĩ, dám làm của cán bộ luôn được Đảng ta coi trọng. “Dám nghĩ, dám làm” qua mỗi thời kỳ được biểu hiện một cách khác nhau tùy vào đặc điểm tình hình và những nhiệm vụ trọng tâm của cách mạng thời kỳ đó. Thực tiễn cho thấy, dù ở bất kỳ giai đoạn nào, những cán bộ dám nghĩ, dám làm, không quản ngại khó khăn, thử thách để hoàn thành nhiệm vụ chính là những thành tố đặc biệt quan trọng đóng góp vào thành công của cách mạng Việt Nam. Nhất là từ khi bước vào con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã nhìn thấy trước những nguy cơ, những biểu hiện sai lầm mà cán bộ ta dễ mắc phải nếu hiểu sai, vận dụng sai các nguyên tắc tổ chức hoạt động của Đảng. Vì thế, cơ chế khuyến khích và bảo vệ khi được ban hành sẽ trở thành cơ sở quan trọng để thúc đẩy cán bộ dám hành động, dám đổi mới, sáng tạo vì sự nghiệp chung.

     Gắn cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung với sàng lọc những cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ

   Cùng với việc xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, Đảng ta cũng đặt ra yêu cầu phải thay thế, sàng lọc những cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ. Điều này thể hiện quan điểm rất rõ ràng rằng, Đảng luôn khuyến khích và sẵn sàng bảo vệ những cán bộ nhiệt tình, vì công việc chung mà dám quyết liệt, dám xả thân vì đất nước, vì dân tộc; đồng thời, kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy những cán bộ thiếu tâm huyết, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, không đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, không đủ sức gánh vác những nhiệm vụ được giao phó. Điều này thể hiện sự thống nhất trong quan điểm của Đảng ta, vừa tạo cơ chế cởi mở để cán bộ thể hiện hết năng lực của mình, vừa có biện pháp để xử lý, thay thế kịp thời những cán bộ không đáp ứng được yêu cầu, cản trở sự phát triển.

   Nghị quyết Đại hội IV của Đảng đã nhấn mạnh, đối với những cán bộ mà “năng lực công tác không tương xứng với trách nhiệm cần được sắp xếp lại cho hợp lý”. Có thể nói, đây là bước tiến mới trong tư duy của Đảng ta về công tác cán bộ. Sau Đại hội, việc triển khai công tác đánh giá, sàng lọc cán bộ đã được tiến hành ở nhiều nơi, nhưng kết quả vẫn chưa đạt được như mong muốn. Nguyên nhân chính là do sự thiếu quyết tâm, dứt khoát của các cấp, các ngành, các địa phương, cơ quan, đơn vị. Chính vì thế, Báo cáo về công tác xây dựng Đảng của Ban Chấp hành Trung ương khóa IV tại Đại hội V của Đảng đặt ra yêu cầu phải kiên quyết, nhanh chóng đưa xuống hoặc bố trí công tác khác đối với những cán bộ không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; cần coi “có lên, có xuống” là việc bình thường trong bố trí cán bộ. Quan điểm này cũng được Đảng ta nhắc lại trong nhiệm kỳ Đại hội X, Đại hội XI và Đại hội XII.

   Tiếp đến, Nghị quyết số 05-NQ/HNTW, ngày 20-6-1988, của Hội nghị Trung ương 5 khóa VI, về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng bảo đảm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI của Đảng”, yêu cầu kiên quyết đưa xuống, không cất nhắc những cán bộ không đủ sức hoàn thành nhiệm vụ; chấm dứt tình trạng bố trí lại cán bộ yếu kém, không hoàn thành nhiệm vụ ở vị trí này vào vị trí khác tương đương hoặc cao hơn.

   Báo cáo chính trị trình Đại hội VI nêu rõ, việc bố trí cán bộ phải căn cứ vào kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị và yêu cầu công việc. Báo cáo đã khẳng định, để có thể thay thế, sàng lọc, bố trí đúng cán bộ, cần thực hiện 3 giải pháp sau: 1- Cần phải có một cơ chế quản lý cán bộ đúng đắn, phương pháp đánh giá phù hợp để loại trừ những yếu tố may rủi, ngẫu nhiên và động cơ không lành mạnh của cán bộ; 2- Cần hài hòa giữa tính tập thể và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong các quyết định về cán bộ, để tránh trường hợp người sử dụng cán bộ không có quyền hay trách nhiệm trong việc lựa chọn cán bộ mà mình sử dụng; 3- Đối với việc quản lý cán bộ chủ chốt ở các cấp, các ngành, cần xác định rõ trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng bởi đây là chức năng quan trọng, không thể thiếu của các cơ quan lãnh đạo của Đảng.

   Nghị quyết số 17-NQ/TW, ngày 1-8-2007, của Hội nghị Trung ương 5 khóa X, “Về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước”, đã bổ sung giải pháp đưa những người không đủ tiêu chuẩn ra khỏi bộ máy thông qua đánh giá, phân loại cán bộ, công chức để phân biệt rõ người đủ tiêu chuẩn và không đủ tiêu chuẩn. Tuy nhiên, cho đến nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, về cơ bản vẫn chưa có cơ chế cụ thể, rõ ràng để xử lý, thay thế kịp thời những cán bộ lãnh đạo, quản lý yếu về năng lực, giảm sút uy tín, trì trệ trong công tác. Nguyên nhân chính là do đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, chưa phản ánh đúng thực chất, chưa gắn với kết quả, sản phẩm cụ thể... Vì vậy, Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, đã kịp thời bổ sung một số giải pháp, như đổi mới công tác đánh giá cán bộ theo hướng xuyên suốt, liên tục, đa chiều, theo tiêu chí cụ thể và bằng sản phẩm, so sánh với các chức vụ tương đương, thông qua khảo sát,...; hoàn thiện các quy định về cách chức, bãi nhiệm, miễn nhiệm; hoàn thiện các quy định, quy chế để kiểm soát chặt chẽ, sàng lọc kỹ càng, thay thế kịp thời những người năng lực hạn chế, uy tín thấp, không đủ sức khỏe, có sai phạm, không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm; người đứng đầu chịu trách nhiệm chính về quản lý cán bộ theo phân cấp;...

   Có thể nói, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm gắn với sàng lọc, thay thế những cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ là những nhiệm vụ trọng tâm về công tác cán bộ để bảo đảm lựa chọn đúng và phát huy hết khả năng của những cán bộ đủ đức, đủ tài, đủ sức gánh vác trọng trách được giao phó. Nhiệm vụ trước mắt là cần phải cụ thể hóa những chủ trương này của Đảng thành cơ chế, quy định cụ thể để thực hiện; đồng thời, có phương án tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả ở tất cả các cấp; có như vậy, mới đáp ứng được yêu cầu về xây dựng đội ngũ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung, như Đại hội XIII của Đảng đặc biệt nhấn mạnh. Vấn đề quan trọng nhất là khâu cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng để triển khai trong thực tế, như lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Thành công của Đại hội không phải ở chỗ thông qua được nghị quyết, bầu ra được Ban Chấp hành Trung ương mới, mà quan trọng hơn là thời gian tới, chúng ta phải tổ chức đưa nghị quyết vào cuộc sống thế nào, biến nó thành hiện thực thế nào...”. Kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII phụ thuộc vào quyết tâm và năng lực của tổ chức đảng các cấp và đội ngũ cán bộ, đảng viên./.

Đã đủ nỗi đau, đừng ngoan cố


Vụ việc chiến sĩ nghĩa vụ Đô hi sinh đã làm cho dư luận dậy sóng trong thời gian gần đây. Theo quan điểm của cá nhân tôi, có một số điểm trong vụ án này có những điểm cộng đồng mạng rất đáng trách.

Học giả Nga đanh thép bác bỏ lập luận phi lý của Trung Quốc về Biển Đông

Nhân kỷ niệm ngày Tòa trọng tài quốc tế ra phán quyết về vụ kiện của Philippines với Trung Quốc, hai học giả Nga có bài viết đăng trên internet trong đó họ bác bỏ các lập luận sai trái của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông.

 Ngày 1/7, trang tin của Hội đồng các vấn đề đối ngoại (russiancouncil.ru) đăng bài viết với nhan đề “Kỷ niệm phán quyết Toà trọng tài về Biển Đông: Nơi giao thoa của địa chính trị và luật pháp quốc tế” của Tiến sĩ Alexandr Karalov và Tiến sĩ Irina Strelnikova, trường Kinh tế cao cấp.

Bài viết điểm lại cuộc chiến pháp lý của Philippines trong vụ kiện Trung Quốc về các yêu sách của nước này ở Biển Đông, việc thực thi và triển vọng giải quyết tranh chấp ở Biển Đông bằng luật pháp quốc tế.

Bài viết nêu kết quả trong vụ kiện của Philippines với Trung Quốc về các yêu sách của nước này ở Biển Đông, theo đó Tòa trọng tài phán quyết rằng các yêu sách của Trung Quốc đối với "quyền lịch sử" và quyền tài phán của nước này đối với các khu vực biển ở Biển Đông là trái với Công ước Luật Biển 1982, là bất hợp pháp và vượt quá ranh giới địa lý và thực chất các quyền của Trung Quốc.

Theo đó, các "quyền lịch sử" được Trung Quốc sử dụng như một công cụ pháp lý trong tranh chấp về quyền sở hữu các vùng lãnh thổ của Biển Đông chỉ được coi là tập quán pháp lý. Tuy nhiên, tập quán này chưa được coi là một nguồn luật bởi Trung Quốc đã không thể cung cấp bất kỳ bằng chứng nào về việc áp dụng lâu dài và có hệ thống của tập quán này.

Sự thật đằng sau chiêu bài lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí

Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, bất mãn trong và ngoài nước lấy danh nghĩa “dân chủ, nhân quyền” ra sức nguỵ biện để đổi trắng thay đen, nói không thành có, có thành không về thực tế tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam hiện nay. Đồng thời, họ triệt để lợi dụng sự đánh giá không khách quan, trung thực, thiếu thiện chí của một số hãng thông tấn, báo chí nước ngoài về tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam để vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền nhằm hạ thấp vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế.

Để đạt được mục đích, họ thành lập một số tổ chức nhân danh báo chí như: “Phóng viên không biên giới”, “The project 88”… để đấu tranh cho cái gọi là “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị”, đưa ra bảng xếp hạng sai lệch về tự do báo chí ở Việt Nam và một số quốc gia, vu khống Việt Nam bóp nghẹt tự do ngôn luận, tự do báo chí. Gây sức ép đòi thả tự do cho các đối tượng bị cơ quan chức năng bắt giữ do vi phạm pháp luật Việt Nam như: Trần Thị Tuyết Diệu, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Lê Hữu Minh Tuấn, Phạm Đoan Trang, Lê Trọng Hùng, Trần Quốc Khánh, Trương Châu Hữu Danh, Nguyễn Thanh Nhã, Đoàn Kiên Giang, Nguyễn Phước Trung Bảo… Sâu xa hơn là lợi dụng danh nghĩa đấu tranh “tự do báo chí” để tập hợp lực lượng, hình thành các tổ chức chống đối lật đổ chính quyền.

Cần khẳng định Việt Nam là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, chúng ta tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và biểu đạt; bao gồm tự do giữ ý kiến mà không bị can thiệp, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận và truyền bá thông tin và tư tưởng bằng bất cứ phương tiện truyền thông nào và không giới hạn về biên giới”.

Tuyên ngôn còn nguyên giá trị, có ý nghĩa nhân văn cao cả, luôn được Nhà nước Việt Nam tuân thủ, kế thừa, phát triển phù hợp trong từng điều kiện hoàn cảnh. Ngược dòng lịch sử, ngày 9/11/1946, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp gồm 7 chương, 70 điều, trong đó, quyền tự do ngôn luận được hiến định ở Điều thứ 10: “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”.

Kế thừa quy định về quyền tự do ngôn luận từ bản Hiến pháp đầu tiên, các văn kiện của Đảng, các bản Hiến pháp các năm 1959, 1980, 1992 và 2013 đều khẳng định và hiện thực hóa quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân. Điều 25 Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Để quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ngày càng được bảo đảm, thực thi trong thực tế đời sống, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật Tiếp cận thông tin và Luật Báo chí sửa đổi năm 2016. Trong đó, Điều 3 Luật Tiếp cận thông tin quy định: “Mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; thông tin được cung cấp phải chính xác, đầy đủ; việc cung cấp thông tin phải kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân; Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin”. Điều 10 của luật này cũng quy định công dân có quyền tự do tiếp cận thông tin được cơ quan nhà nước công khai, đồng thời được yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin.

Đối với quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân được quy định tại Điều 11, Luật Báo chí sửa đổi: “Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức và cá nhân”.

Điều 13 chỉ rõ: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình; báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân; báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng”.

Như vậy, từ khi Nhà nước ta ra đời đến nay, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí luôn được tôn trọng, bảo đảm và ngày càng được thực thi trong cuộc sống, tạo điều kiện cho công dân được nói lên tiếng nói của mình, đóng góp tài năng, trí tuệ công sức của mình vào công cuộc dựng nước và giữ nước. Đồng thời với việc bảo vệ, tôn trọng, bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật; không để các tổ chức, cá nhân lợi dụng để thực hiện sự tự do vượt quá luật định, với những mưu lợi bất chính, đi ngược lại giá trị của quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.

Từng nguy kịch, 2 bệnh nhân Covid-19 được xuất viện

Theo thông tin từ Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TW chiều 2/7, trường hợp đầu tiên được xuất viện trong hôm nay là H.T.L., nữ, 53 tuổi, có địa chỉ tại Hữu Lũng, Lạng Sơn.

Người này có tiền sử khỏe mạnh và được phát hiện mắc Covid-19 ngày 28/5 với mã hiệu 6404. Thời điểm đó, bệnh nhân sốt cao liên tục, ho khan và khó thở tăng dần.

Sau 4 ngày điều trị ở bệnh viện tuyến dưới, bệnh nhân có diễn biến nặng và được chuyển tới khoa Cấp cứu, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cơ sở Kim Chung (Đông Anh, Hà Nội) ngày 1/6.

Tại đây, bệnh nhân được thở oxy lưu lượng cao nhưng vẫn dần yếu hơn. Đến 21h ngày 3/6, bệnh nhân mệt nhiều, co kéo toàn bộ cơ hô hấp, phải được can thiệp đặt ống nội khí quản và chuyển về khoa Hồi sức tích cực.

Các bác sĩ tại đây thăm khám và đánh giá chi tiết cho bệnh nhân với chẩn đoán suy hô hấp cấp, viêm phổi ARDS và Covid-19. Bà L. sau đó được can thiệp thở máy thông số kỹ thuật cao ARDS, đặt catheter tĩnh mạch trung tâm và động mạch, theo dõi huyết động kết hợp lọc máu, sử dụng thuốc vận mạch nâng huyết áp, thuốc bổ trợ.

Trong thời gian sau đó, bệnh nhân tiếp tục được lọc máu thêm tổng cộng 4 lần kết hợp chăm sóc tích cực, thở máy thông số kỹ thuật cao, dẫn lưu tư thế. Nhờ vậy, bệnh nhân có dấu hiện tiến triển tốt hơn, được giảm nồng độ oxy máu.

Nhân viên y tế tiếp tục chăm sóc, theo dõi sát bệnh nhân, điều trị các dấu hiệu loạn thần kết hợp thuốc bổ trợ, vitamin, vỗ rung, dẫn lưu tư thế giải phóng đờm ứ đọng sâu.

Đến ngày 12/6, sau 12 ngày thở máy và chăm sóc tích cực, 5 lần lọc máu, bệnh nhân tiến triển rõ, có khả năng ho khạc, thể trạng tốt. Do đó, các bác sĩ quyết định cho bà L. dừng thở máy, rút ống nội khí quản thành công và chuyển sang thở oxy kính.

Đêm 15/6, bệnh nhân bất ngờ xuất hiện tình trạng mất máu tối cấp, chảy máu nhiều tại âm đạo và bàng quang. Các bác sĩ đã chỉ định truyền máu 500 ml khối hồng cầu cấp cho bệnh nhân, đồng thời áp dụng thuốc, nội soi bàng quang lấy máu cục, rửa bàng quang liên tục trong nhiều ngày.

Sau 3 ngày cấp cứu, tình trạng chảy máu của bệnh nhân tạm thời được kiểm soát. Tuy nhiên, bệnh nhân còn mệt nhiều, da niêm mạc nhợt.

Tới ngày 25/6, bệnh nhân thoát hoàn toàn tình trạng nguy hiểm do mất máu, siêu âm ổ bụng bình thường. Bệnh nhân lúc này được chỉ định bỏ oxy kính.

Hôm nay (2/7), sau 31 ngày điều trị, bà L. có sức khỏe tốt, tự đi lại bình thường, kết quả xét nghiệm RT-PCR 3 lần cho thấy bà âm tính với nCoV. Bệnh nhân được xuất viện và trở về tuyến cơ sở nhằm tiếp tục dưỡng sức.

Trường hợp thứ 2 là ông T.V.Đ., 74 tuổi, trú tại Lý Nhân, Hà Nam. Bệnh nhân được ghi nhận mắc Covid-19 với mã số 4141.

Ông Đ. là trường hợp cao tuổi, nhiều bệnh lý nền và được chuyển tuyến lên Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương theo dõi, điều trị.

Sau 45 ngày điều trị hồi sức tích cực, bệnh nhân này nhiều lần cho kết quả xét nghiệm âm tính với SARS-CoV-2. Đến ngày 2/7, ông được các bác sĩ tuyên bố khỏi Covid-19 và có thể xuất viện.

Việt Nam sản xuất thành công máy trợ thở giúp điều trị Covid-19

Máy oxy dòng cao với tên gọi là BKVM-HF1 được thiết kế và sản xuất hoàn toàn trong nước đã được Bộ Y tế cấp phép lưu hành, giá thành sản xuất tiết kiệm tới 50% so với các máy trợ thở ngoại nhập.

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội (HUST) và Tập đoàn VMED vừa hợp tác triển khai dự án nghiên cứu sản xuất máy oxy dòng cao dùng cho các bệnh nhân bị suy hô hấp. Ngày 2-7, nhóm nghiên cứu đã công bố chế tạo và sản xuất thành công thiết bị này.

Máy oxy dòng cao (HFNC-High Flow Nasal Cannula) được nghiên cứu sản xuất từ nhu cầu cao trong điều trị Covid-19 tại các cơ sở y tế và sự quan tâm tăng cường các trang thiết bị y tế từ các bộ, ngành.

Máy có chức năng cung cấp liên tục khí thở lưu lượng cao (60 l/phút) với nồng độ oxy điều chỉnh được (từ oxy không khí đến nguyên chất). Dòng khí thở được ổn định ở 37 độ C với độ ẩm bão hòa và cấp qua gọng mũi để giúp điều trị bệnh nhân suy hô hấp.

Máy được đo lường tại phòng thử nghiệm của VMED Group, xây dựng tiêu chuẩn cơ sở bởi HUST, giám định kỹ thuật từ Vinacontrol, thử nghiệm tại Trung tâm cấp cứu A9 Bệnh viện Bạch Mai, và được Bộ Y tế quyết định lưu hành vào giữa tháng 6-2021.

"Theo các báo cáo nghiên cứu lâm sàng, nếu được sử dụng máy oxy dòng cao này, 60-70 % bệnh nhân bị mắc Covid-19 sẽ được hồi phục, không bị nặng thêm và không phải sử dụng máy thở. Máy oxy dòng cao là thiết bị cần thiết để hỗ trợ điều trị cho bệnh nhân viêm phổi, suy hô hấp giai đoạn đầu do Covid-19" - PGS Nguyễn Văn Chi, Phụ trách Trung tâm Cấp cứu A9, Bệnh viện Bạch Mai, đánh giá.

Chú trọng giáo dục chính trị, tư tưởng để phòng ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

Có nhiều nguyên nhân, nhóm nguyên nhân dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tuy nhiên, Đảng ta xác định nguyên nhân chủ yếu của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là do cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất chính trị, dẫn tới lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài, làm giảm sút ý chí phấu đấu. Do vậy, để phòng ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, trước hết cấp ủy, chỉ huy các cấp phải tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, lấy xây dựng bản lĩnh chính trị, lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc, Nhà nước và nhân dân là mục tiêu giáo dục, rèn luyện cho cán bộ, chiến sĩ trước nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

 Những năm qua, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong Quân chủng luôn chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho bộ đội, không ngừng bồi đắp, nâng cao phẩm chất chính trị cho cán bộ, chiến sĩ, góp phần hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác giáo dục chính trị ở một vài đơn vị chưa thật hiệu quả. Cá biệt, có tập thể, cá nhân vẫn coi giáo dục chính trị tư tưởng là nhiệm vụ của cơ quan chính trị, cán bộ chính trị nên thờ ơ, thậm trí phó mặc, dẫn tới hiệu quả của mặt công tác này chưa cao…

Giáo dục chính trị tư tưởng là công việc của mọi cấp, mọi ngành. Bởi công tác giáo dục chính trị tư tưởng góp phần bồi đắp lý tưởng cách mạng trong sáng, bản lĩnh chính trị vững vàng, để khi đối mặt với khó khăn, thử thách; đứng trước những cám dỗ vật chất, tác động từ những tiêu cực, mặt trái của kinh tế thị trường hay đòn tấn công hiểm độc của các thế lực thù địch, cán bộ, chiến sĩ vẫn kiên định, vững vàng, không hoang mang, dao động, phai nhạt lý tưởng, giảm ý chí chiến đấu. Nếu mọi cán bộ, chiến sĩ đều có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, lối sống lành mạnh, thì sự “xâm nhập” của các tác nhân làm nảy sinh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sẽ bị triệt tiêu từ khi có “mầm”.

Để làm được điều đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần coi trọng triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ. Một trong những giải pháp hàng đầu là tổ chức thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”; thực hiện tốt tự phê bình và phê bình, công tác bảo vệ chính trị nội bộ, công tác quản lý cán bộ, chiến sĩ; kịp thời phát hiện, ngăn chặn những biểu hiện suy thoái ngay từ khi mới xuất hiện; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng. Chú trọng đúng mức công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng thành lũy tư tưởng vững chắc cho mọi cán bộ, chiến sĩ phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Đi đôi với đó, người chủ trì các cơ quan, đơn vị cần gương mẫu trong rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, đi đầu trong đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Sự nêu gương của đội ngũ cán bộ chủ trì sẽ có tác dụng thúc đẩy sự tự giác của cán bộ, chiến sĩ trong phấn đấu, rèn luyện và đấu tranh với các biểu hiện suy thoái, tiêu cực, mầm mống của “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”.

Điều quan trọng, mấu chốt đó là bản thân mỗi cán bộ, chiến sĩ phải tự giác rèn luyện, nâng cao khả năng “tự bảo vệ”, tăng cường “sức đề kháng” và “độ miễn dịch” trước mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của các thế lực thù địch và sự tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường; không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng, xem xét đối chiếu mình với tiêu chuẩn đạo đức cách mạng, từ đó điều chỉnh hành vi của chính mình, tránh cám dỗ của lối sống hưởng thụ xa hoa, lãng phí, sách nhiễu, quan liêu, tham nhũng. Từng bước đẩy lùi cái xấu, làm cho đạo đức cách mạng trong mỗi cá nhân ngày càng phát triển, góp phần xây dựng các tổ chức đảng TSVM, đơn vị VMTD, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Đảng nghiêm minh - Đảng mạnh, dân tin

Thời gian qua, nhân việc Đảng và Nhà nước ta kịp thời phát hiện và xử lý kỷ luật những cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ cao cấp, cán bộ, đảng viên diện do Trung ương quản lý vi phạm kỷ luật của Đảng; các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong nước và nước ngoài lại ráo riết tìm mọi cách để chống phá. Vẫn chiêu bài sử dụng triệt để Internet, chúng lập các tài khoản ảo, tài khoản mạo danh trên mạng xã hội để tập trung viết các bài vu khống, lôi kéo những phần tử xấu tham gia phỏng vấn rồi dàn dựng, cắt ghép tạo các clip với nội dung sai trái tung tràn ngập trên Youtube phục vụ ý đồ gây loạn nhiễu nguồn tin chính thống, đánh lừa những người nhẹ dạ, cả tin cho rằng việc xử lý những cán bộ vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước là cuộc đấu đá nội bộ giữa các phe phái trong Đảng…

Chúng ta phải biết rằng, kỷ luật là thể hiện sự nghiêm minh của Đảng. Mọi đảng viên đều tự nguyện, tự giác tuân thủ từ khi được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Không chỉ bây giờ mà 88 năm qua, nhờ có kỷ luật nghiêm minh mà Đảng Cộng sản Việt Nam mạnh hơn, nhân nhân đặt lòng tin vào Đảng vững chãi hơn. Việc thi hành kỷ luật trong Đảng là công việc quan trọng và cần thiết nhằm giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng, bảo đảm sự thống nhất về ý chí và hành động, tăng cường sức chiến đấu của Đảng; là cơ sở để giáo dục tổ chức đảng và đảng viên; là điều kiện để xây dựng, phát triển đất nước. Việc xử lý kỷ luật là biện pháp cuối cùng, đồng thời cũng là nỗi đau xót không chỉ cho mỗi tổ chức Đảng, đảng viên mà là nỗi đau chung của nhân dân. Tuy nhiên, nếu Đảng không nghiêm minh, nếu Đảng không áp dụng biện pháp cuối cùng ấy, Đảng không chỉ mắc tội với chính Đảng, với nhân dân, với sự tồn vong của sự nghiệp cách mạng mà vô hình chung, Đảng lại chính là nơi đẩy đồng chí của mình sa ngã sâu hơn vào con đường lầm lỗi.

Đảng ta khẳng định, kỷ luật Đảng là thể hiện sức mạnh của Đảng. Tuy nhiên, đồng hành với pháp luật, ở bất cứ hoàn cảnh, tình huống nào, Đảng ta luôn coi trọng tính nhân văn, đặt tình người và lẽ sống song hành khăng khít trong kỷ luật. Kỷ luật của Đảng là kỷ luật dựa trên tình đồng chí, kỷ luật của những người cùng chung một lý tưởng, tự nguyện đứng trong hàng ngũ Đảng, sẵn sàng hi sinh vì lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc. Mọi đảng viên và tổ chức đảng liên kết với nhau theo một kỷ luật chung dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ, sự thống nhất chặt chẽ về chính trị, tư tưởng và tổ chức, được thể hiện tập trung trong các điều khoản của Điều lệ Đảng. Kỷ luật đó xuất phát từ ý chí của toàn Đảng nhằm bảo đảm cho sự thống nhất, tập trung cao trong Đảng, đồng thời để phát huy dân chủ, phát huy tính tích cực và sáng tạo của toàn thể đảng viên và các tổ chức đảng.

Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền. Sức mạnh của Đảng được thể hiện ở tinh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm minh của mỗi cán bộ, đảng viên. Kỷ luật là điều kiện tiên quyết bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, làm cho mọi cán bộ, đảng viên tuyệt đối phục tùng và chấp hành nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Một đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng. Một đảng mà có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. Thấm nhuần lời dạy của Người, mọi cán bộ, đảng viên và toàn Đảng đều coi đây là nhiệm vụ then chốt, nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với Đảng, đối với chế độ xã hội chủ nghĩa và sự tồn vong của dân tộc Việt Nam để từ đó tận tâm, tận lực, tự nguyện, tự giác ra sức thực hiện.

Lợi dụng sự nghiêm minh của Đảng để “thọc gậy bánh xe”, bêu riếu, xuyên tạc chỉ có ở kẻ xấu. Không coi cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng để tăng cường sức mạnh của Đảng, lòng tin của nhân dân với Đảng chỉ có ở những kẻ cơ hội chính trị thấp hèn. Không muốn Đảng ta mạnh hơn, chân chính hơn để đủ sức lãnh đạo cách mạng đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức chỉ có ở kẻ thù. Vậy nên, những kẻ đi ngược lại con đường cách mạng chân chính của Đảng, đi ngược lại với tâm nguyện và thành quả cách mạng mà Đảng ta, nhân dân và toàn dân tộc ta đã đổ bao máu xương để giành, giữ và dựng xây đều đáng phải lên án, vạch mặt.

Xem, đọc trên mạng xã hội bằng lý trí

Phải khẳng định rằng, khi tham gia mạng xã hội, chúng ta có điều kiện giao lưu, kết bạn, chia sẻ nhanh và rộng rãi hơn quan điểm của mình tới các vấn đề xã hội mình quan tâm. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực mà mạng xã hội mang lại, vẫn còn những hạn chế, rủi ro, nguy cơ tiềm ẩn đe dọa đến lợi ích của người dùng, đặc biệt là tình trạng nhiễu loạn thông tin, gây mất định hướng tư tưởng, nhận thức và hành động của mỗi cá nhân, tổ chức.

 Phân loại những thông tin xấu, độc trên mạng xã hội, chúng ta rất dễ nhận thấy có hai loại chính. Loại thứ nhất, do các phần tử phản động trong nước và nước ngoài cùng những người cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất, triệt để lợi dụng mạng xã hội đăng tải những thông tin sai trái, bịa đặt, nhằm nói xấu, bôi nhọ thanh danh của Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang... để chống phá cách mạng nước ta. Loại thứ hai, nhiều kẻ xấu lợi dụng mạng xã hội lập ra nhiều tài khoản facebook để thu thập, nhào nặn, trộn lẫn thông tin thật, giả, cắt ghép hình ảnh, tán phát, nhằm thu hút, lợi dụng sự hiếu kỳ của người đọc, nhất là thanh, thiếu niên để lừa đảo, trục lợi, và đôi khi để thỏa mãn những mong muốn ảo tưởng tầm thường như gây sự chú ý để nổi tiếng... gây ra nhiều hậu quả khó lường.

Loại thứ nhất là phổ biến và cũng là một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất hiện nay, đó là tình trạng nhiễu loạn thông tin xuất phát từ hoạt động tuyên truyền phá hoại tư tưởng, tán phát quan điểm, tư tưởng sai trái nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang thông qua mạng xã hội của các thế lực thù địch, phản động, chống đối trong và ngoài nước. Đáng lo ngại là những tin, bài viết tuyên truyền chống phá trên mạng xã hội có số lượng và tần suất đăng tải lớn, nội dung đa dạng, phong phú trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; thủ đoạn tuyên truyền, xuyên tạc tinh vi, xảo quyệt, khó nhận biết, khó phân biệt thật, giả, đã tác động tiêu cực đến tư tưởng, hành vi của một bộ phận quần chúng nhân dân, nhất là các tầng lớp trí thức, học sinh, sinh viên, văn nghệ sĩ, thậm chí cả người dân bình thường nhưng có lập trường tư tưởng không kiên định, vững vàng. Điều này dễ kiểm chứng nhất khi vừa qua, thông qua mạng xã hội, chúng tổ chức lôi kéo nhiều người tụ tập rồi kích động bạo lực ở một số địa phương. Hậu quả là nhiều người chỉ thấy được bộ mặt của kẻ xấu khi các cơ quan chức năng đấu tranh, làm rõ thì đã muộn.

 Loại thứ hai cũng rất đáng quan ngại, đó là kẻ xấu lợi dụng mạng xã hội lập những tài khoản ảo để lừa đảo tiền bạc, mượn gió bẻ măng, hoặc chia sẻ những thông tin thất thiệt, bịa đặt, thậm chí cắt ghép không đúng bản chất vấn đề đã gây hoang mang trong đời sống nhân dân, gây thiệt hại cho không ít tổ chức, cá nhân. Đó là chưa kể đến mặt tiêu cực, là có số đông người sử dụng mạng xã hội, tuy không có nhiều thông tin nhưng lại thừa quan điểm và thường xuyên quan tâm đến việc bày tỏ quan điểm đó, chính kiến đó, mặc dù chưa tìm hiểu sự việc, thậm chí chưa hiểu vấn đề đang diễn ra là gì.

Từ hai loại thông tin trên, chúng ta cần nhận thức rằng, xét về bản chất, những tài khoản, trang mạng xã hội không có chức năng thông tin như các cơ quan báo chí chính thống của Đảng, Nhà nước. Mà đã là thông tin không chính thống thì khoảng cách giữa sự thật và giả dối là rất mong manh. Do vậy, hơn ai hết, mỗi người sử dụng mạng xã hội cần phải có bản lĩnh vững vàng, hết sức tỉnh táo khi xem, đọc những thông tin trên mạng xã hội để tự bảo vệ mình trước những thông tin sai trái, tiêu cực; đồng thời, cần nâng cao ý thức cảnh giác, sàng lọc thông tin trước khi tiếp cận, nghiên cứu, sử dụng. Nói cách khác, chúng ta hãy xem, đọc thông tin trên mạng bằng lý trí.

 Bên cạnh vấn đề tự thân, vấn đề quản lý và hạn chế những tác động tiêu cực của mạng xã hội, trong đó có việc phải ngăn chặn, loại bỏ những thông tin xấu độc, tin giả, tin thất thiệt, tin xúc phạm danh dự tổ chức cá nhân, vi phạm các quy định khác của pháp luật của các cơ quan chức năng cũng cần được đẩy mạnh. Do vậy, để định hướng kịp thời dư luận xã hội bằng những thông tin chính thống, cấp ủy, chỉ huy các cấp, các tổ chức đoàn thể phải luôn chủ động, nhanh nhạy, linh hoạt trong công tác quản lý con người; thường xuyên tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao bản lĩnh chính trị, để mỗi cá nhân biết cách lựa chọn và tiếp nhận thông tin phù hợp, đặc biệt là thông tin trên mạng xã hội.

 

Từ những lời cảnh báo thói đời siểm nịnh của người xưa

Nhìn lại lịch sử cho thấy, xu nịnh là cách sống “vào luồn, ra cúi” của một bộ phận quan nịnh thần trong các triều đại phong kiến thuở trước. Những kẻ nịnh thần này thường tài hèn đức mọn, nhưng lại khéo ăn khéo nói, biết vuốt ve, “vỗ về” vua chúa đúng lúc, đúng chỗ bằng những lời nói mỹ miều, ngọt ngào, cốt là để lấy lòng bề trên. Nếu bề trên (ông vua, bà chúa, ông quan) nào tỉnh táo, sáng suốt và kiên quyết lánh xa, loại trừ thói xu nịnh vờ vĩnh, giả tạo thì giữ được tư thế, tác phong, nhân cách chân chính của bậc quang minh chính đại, góp phần bảo đảm cho triều chính được uy nghiêm, sơn hà xã tắc được bình an. Ngược lại, những người ở ngôi cao chức trọng và nắm giữ nhiều quyền bính mà dễ ngả lòng, a dua, thậm chí “đắm chìm” trong những lời bợ đỡ, ton hót của những kẻ “ngồi lê đôi mách” thì dễ làm cho các mối quan hệ trong triều chính trở nên rối ren, mọi người sống nghi kỵ, oán thán lẫn nhau và khiến lòng dân thêm bất an, ly tán.

Danh nho Chu Văn An (1292-1370), một vị quan thanh liêm đời Trần, tận mắt chứng kiến cảnh nhiễu nhương, suy đồi từ trong triều chính có nguyên nhân sâu xa là do những quan nịnh thần gây ra. Vì vậy, Chu Văn An đã dâng “Thất trảm sớ”, đề nghị vua Trần Dụ Tông (1336-1369) xử chém 7 tên nịnh thần để góp phần lấy lại sự nghiêm minh trong vương triều và củng cố niềm tin cho thần dân. “Thất trảm sớ” của Chu Văn An dù không được nhà vua chấp thuận, nhưng mãi là lời cảnh báo, cảnh tỉnh muôn đời đối với hậu họa khôn lường của thói gian thần, nịnh bợ.

Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889-1954) là một đại thần triều Nguyễn. Khi thi đỗ đại khoa, ông được cùng các vị tiến sĩ đồng khoa triều kiến vua Thành Thái (1879-1954). Khi nhà vua đề nghị mỗi vị đề xuất góp ý kế sách để phục hưng quốc gia, Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm đã đọc 4 câu: “Tôn tộc đại quy/ Tôn lộc đại nguy/ Tôn tài đại thịnh/ Tôn nịnh đại suy”. Bốn câu này được hiểu là: “Tôn trọng nòi giống ắt đại hòa hợp/ Tôn trọng bổng lộc ắt đại nguy nan/ Tôn trọng tài năng ắt đại phồn thịnh/ Tôn trọng siểm nịnh ắt đại suy vong”.

“Tôn nịnh đại suy” hiểu rộng ra là bất cứ chỗ nào, thể chế nào, xã hội nào, nếu không loại bỏ mà lại coi trọng thói siểm nịnh thì sớm muộn chỗ đó, thể chế đó, xã hội đó cũng sẽ mục ruỗng, thối nát và đi đến bờ vực suy vong thảm hại.

Những lời thương vay khóc mướn

Trang BBC tiếng Việt thời gian gần đây có một số bài viết với thông tin cho rằng ông Chu Hảo là “trí thức chân chính”, bị kỷ luật Đảng thì sẽ “trở về với nhân dân”, đóng góp cho sự phát triển đất nước tốt hơn “với tư cách là người tự do”. Trang này lượm lặt thông tin về một số nhân vật bất mãn để “thổi” lên thành sự kiện: “Rộ trào lưu bỏ Đảng sau vụ TS Chu Hảo bị đề nghị kỷ luật”.

Trên trang cá nhân, một số nhân vật tự cho mình là những nhà dân chủ, cấp tiến thay vì nhìn thẳng vào sự thật lại lấp liếm, đổi trắng thay đen, biến những việc làm vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Đảng của ông Chu Hảo thành những công lao, như: Đã dũng cảm cho in những cuốn sách có giá trị, thúc đẩy tự do, dân chủ; bỏ nhiều công sức cho việc chấn hưng dân trí... Họ nêu, kỷ luật ông Chu Hảo “với những lý do đầy tính chất vu khống là “đánh vào những người trí thức yêu nước, có tài và có tâm”, sẽ dẫn đến tình trạng “sĩ phu ngoảnh mặt”. Đài Á Châu tự do vẫn với giọng điệu cực đoan vốn có còn dựng chuyện: “Kỷ luật Giáo sư Chu Hảo là tuyên chiến chống giới trí thức Việt Nam”.

Một số người với cái nhìn cảm tính, phiến diện vội quy kết cho rằng Đảng, Nhà nước Việt Nam hành xử thô bạo với đội ngũ trí thức. Họ cố tình gạt bỏ, không đếm xỉa đến những sai phạm về pháp luật và kỷ luật Đảng của ông Chu Hảo mà quay sang đả phá Đảng, Nhà nước, cho rằng đây là một “nỗi đau”, một sự “lạc hậu”… 

Trước những lời xuyên tạc đó chúng ta phải hết sức cảnh giác, tăng cường đấu tranh chống lại các quan điểm xuyên tạc đó nhằm củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng. 

Lợi dụng dịch bệnh để bịa đặt, xuyên tạc là tội ác

Thời gian qua, bất chấp khó khăn đang “bủa vây” đe dọa sức khỏe, cướp đi bao mạng sống của nhân dân trên toàn cầu khi đại dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona gây ra, các thế lực thù địch, phản động và một số đối tượng chống đối trong và ngoài nước đã dã tâm đăng tải, phát tán lên không gian mạng các thông tin không đúng sự thật.

Bên cạnh thổi phồng nguy cơ, tự gán ghép những con số người nhiễm bệnh, số ca tử vong, gây hoang mang trong dư luận, tiềm ẩn nguy cơ gây mất an ninh, trật tự, chúng còn đang tâm, trắng trợn phủ nhận chính sách của chính đảng, sự nỗ lực chung của chính quyền mỗi nước trong xử lý các tình huống cấp bách mang tính toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Đây là những hành động tội ác, là loại virus độc hại, nguy hiểm hơn bất cứ loại virus độc hại nào mà chúng ta phải nhận diện, trừ khử đầu tiên.

Ngày 01-02, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã chính thức công bố dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona gây ra tại nước ta. Cụ thể, thời gian xảy ra dịch từ 23-1-2020, thời điểm xác định bệnh nhân đầu tiên nhiễm bệnh. Thời điểm công bố dịch, nước ta ghi nhận 6 ca dương tính với virus Corona tại 4 tỉnh là TP.HCM, Thanh Hóa, Vĩnh Phúc và Nha Trang. Tuy nhiên trước đó, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã  có Công văn số 79-CV/TW ngày 29-01-2020 của Ban Bí thư về việc phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do virus corona gây ra; Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 2-1-2020, số 06/CT-TTg ngày 3.1.2020 và Công điện số 121/CĐ-TTg ngày 23-1-2020 về việc phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona gây ra...  Ngay sau đó, toàn hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, lực lượng vũ trang và nhân dân cả nước đã đồng sức, đồng lòng, đoàn kết chống chọi với dịch bệnh trên quan điểm chống dịch như chống giặc, bằng những chủ trương, biện pháp quyết liệt, cụ thể, nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả, trên tinh thần sức khỏe, tính mạng của người dân là quan trọng nhất.

Từ những chủ trương, chính sách kịp thời, đúng đắn, biện pháp quyết liệt của Đảng, Nhà nước, toàn hệ thống chính trị, lực lượng vũ trang và nhân dân cả nước, chúng ta không những kiểm soát tốt dịch bệnh, bước đầu nỗ lực chữa trị khỏi bệnh cho người dân trong nước cũng như nước ngoài đang có mặt tại Việt Nam không may mắc dịch bệnh, đi đôi với kiểm soát tốt tình hình dịch bệnh, chúng ta còn lập tức triển khai những phương án, kịch bản để đối phó với dịch bệnh như: Ban Tuyên giáo Trung ương, các cơ quan thông tấn báo chí thường xuyên đăng tải, cập nhật  đầy đủ, chính xác, kịp thời về tình hình dịch bệnh và các biện pháp phòng chống; Quân đội tổ chức nơi ăn, chốn ở để đón tiếp người dân từ đất nước có dịch muốn trở về nước; các trường học cho học sinh nghỉ học để ngăn ngừa bệnh dịch lây lan; Bộ Văn hóa - Thể Thao - Du lịch cho  ngừng tổ chức mọi lễ hội; Bộ Y tế, Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với các bộ, ngành có liên quan xử lý kịp thời những tổ chức, cá nhân đầu cơ dịch bệnh để trục lợi; nhất là các tổ chức, cá nhân đưa thông tin sai sự thật về tình hình dịch bệnh..v..v.. Điều đó, đã tạo được niềm tin tuyệt đối của mọi tầng lớp nhân dân và trở thành sức mạnh toàn dân tộc trước diễn biến vô cùng phức tạp, mau lẹ, khó lường của dịch bệnh trong sự sẻ chia, nhân văn quốc tế sâu sắc.

Tuy nhiên, giữa tâm bão dịch bệnh, các thế lực thù địch và kẻ xấu lại dã  tâm lợi dụng mạng xã hội để tung những thông tin sai sự thật về tình hình dịch bệnh ở nước ta. Một mặt, chúng cấu kết với những phần tử cơ hội trong nước thổi phồng số ca mắc bệnh, số người tử vong để gây hoang mang cho người dân; mặt khác, chúng trắng trợn vu khống, xuyên tạc chủ trương, chính sách chống dịch bệnh như chống giặc của Đảng và Nhà nước ta khi cho rằng, Đảng, Nhà nước ta không những không có động thái rõ ràng nào để bảo vệ sức khỏe, tính mạng của người dân mà còn bưng bít thông tin... Đây là những hành động không những đi ngược lại với lẽ sống tương thân, tương ái ngàn đời sẵn có trong con người Việt Nam là “thương người như thể thương thân”; phủ nhận truyền thống chống giặc ngàn đời của dân tộc “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”; chia rẽ sự gắn bó máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân mà còn thể hiện rõ sự hiểm độc, vô nhân đạo, tội ác không thể dung thứ của các thế lực thù địch, phản động khi lợi dụng những tai ương của nhân loại để xuyên tạc, bịa đặt, vu khống, thổi phồng, bóp méo sự thật, phục vụ cho ý đồ xấu sa, thâm độc của họ.

Để không mắc mưu kẻ xấu, trước tiên, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần nhận định rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Song song với đó, cần tuyên truyền sâu rộng, kịp thời, chính xác, thiết thực, phù hợp với từng đối tượng, từng thời điểm và tình hình cụ thể; bám sát diễn biến tình hình dịch bệnh và sự chỉ đạo, định hướng của cấp ủy, chính quyền các cấp, làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ và nhân dân nhận thức đúng về tình hình, tính chất nguy hiểm và tác hại của dịch bệnh và cách phòng chống hữu hiệu. Bên cạnh đó, cần khẳng định quyết tâm của các cấp, các ngành trong công tác phòng, chống dịch; qua đó nâng cao ý thức, trách nhiệm của mỗi cá nhân, tập thể để chủ động, tích cực phòng, chống và kiểm soát dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe bản thân và cộng đồng. Thông qua tuyên truyền, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch; quyết tâm kiểm soát dịch, không để lây lan, góp phần giữ vững phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, ổn định đời sống nhân dân.

Đại dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona gây ra rất nguy hiểm cho sức khỏe, đời sống của nhân loại. Tuy nhiên, có một loại siêu virus còn nguy hiểm hơn rất nhiều, đó là sự lợi dụng dịch bệnh để thổi phồng, bóp méo, xuyên tạc, bịa đặt, vu khống của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị với ý đồ xấu, đi ngược lại với xu thế chung của toàn nhân loại mà chúng ta phải nhận diện, lên án, loại bỏ. Mọi hành động cổ súy, đồng lõa, tiếp tay đều là tội ác không thể dung thứ.

TP Vinh dừng giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 từ 0 giờ ngày 3-7

Do dịch bệnh Covid-19 có chiều hướng giảm, ít xuất hiện các ca nhiễm trong cộng đồng, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An Nguyễn Đức Trung quyết định dừng thực hiện giãn cách xã hội TP Vinh theo Chỉ thị 16 từ ngày 3-7.

Ngày 2-7, ông Nguyễn Đức Trung, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An, đã quyết định về việc dừng thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ chuyển sang trạng thái mới là giãn cách xã hội theo Chỉ thị 15 của Thủ tướng Chính phủ tại TP Vinh, cộng thêm các biện pháp khác.

  Tại cuộc họp Ban Chỉ đạo Phòng chống dịch Covid-19 tỉnh Nghệ An sáng 2-7, Giám đốc sở Y tế Nghệ An Dương Đình Chỉnh cho biết tính đến 11 giờ ngày 2-7, tỉnh Nghệ An ghi nhận 111 ca Covid-19 tại 11 huyện, thành, thị. Trong đó, TP Vinh ghi nhận nhiều nhất với 72 ca bệnh. Trong thời gian qua, số ca bệnh tăng nhưng chủ yếu trong khu cách ly, đặc biệt 3 ngày qua không ghi nhận ca bệnh trong cộng đồng.

Theo Giám đốc sở Y tế Nghệ An, dựa trên diễn biến dịch của những ngày gần đây, có thể dừng áp dụng Chỉ thị 16 tại TP Vinh từ 0 giờ ngày 3-7 và chuyển sang áp dụng giãn cách xã hội theo Chỉ thị 15. Nếu dừng áp dụng Chỉ thị 16 thì công tác phòng, chống dịch phải theo phương châm khoanh vùng lớn, phong tỏa, cách ly theo diện hẹp với nguyên tắc không bỏ sót.

Chủ tịch UBND TP Vinh Trần Ngọc Tú cho biết hiên nay thành phố cơ bản đã xác định được các nguồn lây, kiểm soát được tình hình dịch. Vì thế, thành phố đề xuất dừng áp dụng giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 và áp dụng giãn cách xã hội theo Chỉ thị 15 nhằm đảm bảo phòng, chống dịch và phát triển kinh tế - xã hội.

Sau khi nghe báo cáo, phân tích, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Đức Trung cho phép nới lỏng từ thực hiện Chỉ thị 16 xuống Chỉ thị 15 đối với địa bàn TP Vinh, theo quan điểm siết chặt ngay nhưng nới lỏng từ từ. Thời gian áp dụng là từ 0 giờ ngày 3-7.

Trước đó từ 0 giờ ngày 19-6, TP Vinh đã thực hiện Cách ly xã hội theo Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ về phòng chống dịch Covid-19. Trong 14 ngày qua, Ban chỉ đạo phòng chống dịch Covid-19 tỉnh Nghệ An đã ngày đêm truy vết, khoanh vùng, lấy mẫu xét nghiệm để khống chế các ổ dịch.

Tính đến thời điểm hiện tại, Nghệ An đã phát hiện 111 ca bệnh Covid-19, trong đó: TP Vinh: 72 ca, Diễn Châu: 15 ca, Tân Kỳ: 1 ca, Quỳ Hợp: 5 ca, Nam Đàn: 4 ca, Đô Lương: 1 ca, thị xã Hoàng Mai: 2 ca, Nghĩa Đàn: 1 ca, Nghi Lộc: 4 ca, Quỳnh Lưu: 4 ca. Ngoài ra, phát hiện 2 trường hợp tái dương tính sau điều trị tại huyện Nghĩa Đàn và Quế Phong.

CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

 


Ra đời và phát triển gắn với thực tiễn cách mạng Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và Nhà nước xã hội chủ nghĩa tổ chức nuôi dưỡng, Quân đội nhân dân Việt Nam có các chức năng và nhiệm vụ riêng. Tuy nhiên, chức năng và nhiệm vụ của quân đội ta không phải thoát ly khỏi chức năng, nhiệm vụ của quân đội xã hội chủ nghĩa; vẫn là biểu hiện bản chất giai cấp công nhân, phản ánh sự phát triển phong phú các chức năng của quân đội xã hội chủ nghĩa, đồng thời, còn gắn với đặc thù của cách mạng Việt Nam.

Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội có chức năng chiến đấu. Là công cụ bạo lực vũ trang chủ yếu của nhà nước xã hội chủ nghĩa, quân đội ta có chức năng dùng sức mạnh bạo lực vũ trang để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, sẵn sàng đập tan các âm mưu xâm lược của các thế lực thù địch từ bên ngoài; bảo vệ các thành quả cách mạng và công cuộc lao động hoà bình của nhân dân và thực hiện các nghĩa vụ quốc tế trên lập trường của giai cấp công nhân. Bên cạnh đó, quân đội ta còn phải dùng sức mạnh bạo lực vũ trang để răn đe và sẵn sàng đập tan các cuộc vũ trang phản cách mạng của các thế lực phản động trong nước; bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động và góp phần bảo vệ trật tự, an toàn xã hội. Trong tình hình mới hiện nay, quân đội ta còn phải tham gia tiến công địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, văn hóa... làm thất bại âm mưu "diễn biến hoà bình" của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam.

Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội có chức năng công tác. Là  quân đội của dân, do dân, vì dân; công cụ bạo lực chủ yếu của Đảng Cộng sản Việt Nam và nhà nước xã hội chủ nghĩa, quân đội ta có chức năng công tác, vận động quần chúng nhân dân thực hiện thắng lợi đường lối chính trị của Đảng, chính sách của nhà nước; tham gia xây dựng chính quyền cơ sở vững mạnh. Chức năng công tác của quân đội ta góp phần tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân; giữa quân đội với nhân dân. Quân đội giúp đỡ nhân dân trong phòng chống thiên tai, giải quyết các khó khăn trong đời sống và sản xuất; cùng với nhân dân đấu tranh làm thất bại các âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội có chức năng sản xuất. Là  quân đội kiểu mới, một tổ chức của nhà nước và kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa, quân đội ta còn tham gia tăng gia sản xuất để nâng cao đời sống cho bộ đội và tham gia xây dựng, phát triển kinh tế đất nước. Từ khi ra đời đến nay, quân đội ta luôn tích cực tăng gia sản xuất ở mọi lúc, mọi nơi và tham gia có hiệu quả vào xây dựng, phát triển kinh tế đất nước. Trong giai đoạn hiện nay, quân đội ta tiếp tục đi đầu phát triển các khu kinh tế - quốc phòng ở các địa bàn trọng điểm chiến lược với mục tiêu tăng cường quốc phòng - an ninh là chủ yếu.

Trên cơ sở các chức năng cơ bản, nhiệm vụ của quân đội ta có sự vận động, phát triển để đáp ứng với từng giai đoạn cụ thể của sự nghiệp cách mạng. Trong giai đoạn mới của sự nghiệp cách mạng nhiệm vụ của quân đội ta có sự phát triển mới. Đảng ta xác định, Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị của đất nước, đẩy lùi và kiên quyết  làm thất bại mọi âm mưu và thủ đoạn "diễn biến hoà bình", bạo loạt lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam hiện nay.

BẢN CHẤT CỦA QUÂN DỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

 


Quân đội nhân dân Việt Nam được hình thành từ những tổ chức vũ trang  trong phong trào đấu tranh giành độc lập, tự do của dân tộc, do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp sáng lập, tổ chức, lãnh đạo. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã khẳng định tính tất yếu, đặc thù ra đời và vai trò to lớn của Quân đội nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Về bản chất, Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội kiểu mới, công cụ bạo lực vũ trang của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa và có bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc.

 Là công cụ bạo lực vũ trang chủ yếu của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa Quân đội nhân dân Việt Nam cùng với các lực lượng của toàn dân tộc, tiến hành đấu tranh chống lại các thế lực xâm lược để giành độc lập dân tộc và thực hiện thống nhất nước nhà. Sau khi đất nước độc lập thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ thành quả cách mạng và công cuộc lao động hoà bình xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân. Từ khi ra đời đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự quan tâm giáo dục, rèn luyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân đội ta luôn hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao. Bản chất giai cấp công nhân và truyền thống vinh quang của quân đội ta đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng".

Là quân đội kiểu mới do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn có bản chất giai cấp công nhân sâu sắc. Bản chất giai cấp công nhân của quân đội ta được biểu hiện ở mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; hệ tư tưởng và nguyên tắc tổ chức xây dựng quân đội. Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước xã hội chủ nghĩa quyết định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; quyết định các nguyên tắc tổ chức và cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Hệ tư tưởng thống trị trong quân đội ta là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân.

Bản chất giai cấp công nhân của quân đội ta còn được biểu hiện ra ở các đặc trưng chính trị - xã hội và chức năng cơ bản của nó. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là đặc trưng quan trọng nhất, nguồn gốc chủ yếu quyết định đến sức mạnh chiến đấu của quân đội ta. Quân đội ta còn là quân đội của dân, do dân và vì nhân dân. Từ khi ra đời đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mối liên hệ máu thịt giữa Quân đội nhân dân Việt Nam với nhân dân không ngừng được củng cố và tăng cường. Đảm bảo sự thống nhất và tăng cường mối liên hệ giữa quân đội với nhân dân là vấn đề có tính nguyên tắc trong xây dựng quân đội ta từ trước đến nay. Trong sự nghiệp xây dựng và chiến đấu của mình, quân đội ta còn mang tính quốc tế sâu sắc. Tính quốc tế của quân đội ta do bản chất của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và bản chất giai cấp công nhân của quân đội quy định. Các đặc trưng trên của quân đội ta không tách rời nhau, mà có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. Quân đội ta luôn có sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân sâu sắc và tính dân tộc chân chính. Sự thống nhất này biểu hiện toàn diện trong quá trình xây dựng và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của quân đội ta trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ  nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm trong phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

Đồng chí Nguyễn Thị Tuyến, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy, Trưởng ban Chỉ đạo Chương trình số 10-CTr/TU ngày 17-3-2021 của Thành ủy về “Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí giai đoạn 2021-2025” (gọi tắt là Chương trình số 10-CTr/TU) vừa ký ban hành Kế hoạch số 03-KH/BCĐ về tổ chức thực hiện Chương trình số 10-CTr/TU của Thành ủy giai đoạn 2021-2025.

Kế hoạch nêu rõ, các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và toàn thể cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên tổ chức nghiên cứu, quán triệt nội dung Chương trình số 10-CTr/TU nghiêm túc, hiệu quả để tiếp tục đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Gắn nhiệm vụ triển khai thực hiện Chương trình số 10-CTr/TU với việc tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội XVII Đảng bộ thành phố, nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhằm nâng cao nhận thức, ý thức, vai trò, xác định trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền, người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, tổ chức, đơn vị, cán bộ, đảng viên và nhân dân Thủ đô trong công tác phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Các cấp ủy, chính quyền từ thành phố tới cơ sở, căn cứ nội dung Chương trình số 10-CTr/TU, chức năng, nhiệm vụ được giao và tình hình thực tiễn của địa phương, đơn vị để xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện. Xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm, mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cụ thể để triển khai; thường xuyên đôn đốc, kiểm tra việc tổ chức thực hiện Chương trình số 10-CTr/TU bảo đảm hiệu quả.

Kế hoạch phân công cụ thể từng cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện Chương trình số 10-CTr/TU. Trong đó, Ban Chỉ đạo Chương trình số 10-CTr/TU giúp Ban Thường vụ Thành ủy chỉ đạo triển khai việc tổ chức thực hiện chương trình; hằng năm tổ chức kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả triển khai thực hiện ở các cấp ủy trực thuộc, các sở, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội thành phố; sửa đổi, bổ sung các nội dung, nhiệm vụ phát sinh và giải pháp để thực hiện có hiệu quả Chương trình số 10-CTr/TU…

HÃY ĐỂ SỰ THẬT LÊN TIẾNG

 

Sự việc quân nhân Trần Đức Đô ở Trường Quân sự Quân khu 1 chết bất thường đang được 5 đơn vị tiến hành điều tra. Các đơn vị đang vào cuộc gồm: Phòng Điều tra hình sự Quân khu 1, Cục Điều tra hình sự (Bộ Quốc phòng), Cục Bảo vệ an ninh quân đội (Bộ Quốc phòng), Viện Pháp y quân đội và Công an tỉnh Thái Nguyên.

Nên gọi đây là vụ quân nhân chết bất thường. Bất thường, vì đây là tân binh, chết trong giờ hành chính, khi đơn vị đang huấn luyện, trong khu vực thao trường dã ngoại, địa bàn đơn vị đang kiểm soát; và ngay từ đầu, giữa gia đình và đơn vị có phát ngôn khác nhau.

Trong trường hợp cái chết này, ngay lúc này, ai đó nói quân nhân Trần Đức Đô chết do nguyên nhân nào, đều là vội vàng, chủ quan, và rất dễ vi phạm luật tố tụng. Bởi đây là vụ việc nghiêm trọng, một cái chết bất thường, có nhiều nghi vấn; đặc biệt, cơ quan chức năng đang trong quá trình điều tra.

Khi cơ quan chức năng đang trong quá trình điều tra, những nội dung khám nghiệm hiện trường, dựng hiện trường, thực nghiệm điều tra… chưa hoàn tất, chưa có kết luận chính thức, thì mọi suy đoán, suy luận, thậm chí, đi xa hơn, thay cơ quan điều tra kết luận, đều không được phép. Nó sẽ tác động tiêu cực đến tính khách quan, tuân thủ sự thật của pháp luật; nó không có lợi trong việc trấn an dư luận, tạo đồng thuận xã hội, điều rất nên chú ý trong những vụ việc như thế này. Lúc này, dư luận cần nghe thông tin chuẩn xác từ cấp đơn vị trực tiếp quản lý quân nhân, tiểu đội, trung đội, đại đội.

Vụ quân nhân chết bất thường là nỗi đau, trước hết cho gia đình quân nhân, đơn vị, đồng đội, thêm nữa, quân đội, cộng đồng xã hội. Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ, huống hồ sinh mạng một quân nhân, từng tự nguyện viết đơn xin nhập ngũ, được đánh giá là quân nhân tu dưỡng tốt, được chọn đi học lớp tiểu đội trưởng! Cái chết bất thường, nhưng đừng để vụ việc thành phức tạp, nghiêm trọng.

Trong chế độ ta, môi trường xã hội, môi trường quân đội là rất ưu việt, tốt đẹp, nhưng không hoàn toàn vô trùng, vô nhiễm. Trong cuộc sống này, chuyện gì cũng có thể xảy ra. “Lò” đốt tiêu cực mà Tổng bí thư của Đảng nhóm lên từ nhiều năm qua vẫn thường xuyên đỏ lửa! Vậy thì, đừng ngại ngần, hãy để sự thật cất tiếng nói! Biết đâu, đây là cơ hội, để Quân đội càng xứng đáng là Quân đội Nhân dân, để Nhân dân thêm tin yêu Quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu!


ĐỪNG “CHỈ THẤY CÂY MÀ KHÔNG THẤY RỪNG”

 


"Mất niềm tin vào Quân đội" "Không tham gia quân đội, không tham gia nghĩa vụ quân sự..." có lẽ đây là những câu xuất hiện nhiều nhất trong mấy ngày hôm nay trên khắp mặt trận, khắp các diễn đàn trên mạng xã hội… Xin hỏi nếu bạn không tin vào Quân đội nhân dân Việt Nam thì bạn sẽ tin ai"..?

Nếu như đất nước Việt Nam chúng ta, không còn lực lược vũ trang nhân dân, Quân đội nhân dân thì lấy ai bảo vệ Tổ quốc, lấy ai bảo vệ biên giới, hải đảo, giặc ngoại xâm. Thiên tai bão lũ, lũ lụt sạt lở đất miền núi, bão lũ miền biển lấy ai cứu hộ nhân dân, cứu hộ thiên tai, cứu hộ ngư dân gặp nạn, cứ hộ đê kè... Thiên tai qua đi vẫn là "màu xanh" đó hỗ trợ khắc phục hậu quả bão lũ, sát vai cùng nhân dân từng phút. Vai trò của lực lượng vũ trang nhân dân, Quân đội nhân dân là không thể thay thế được. Dịch bệnh hoành hành, lực lượng vũ trang Quân đội nhân dân vẫn là lực lượng xung kích cùng với ngành Y tế tham gia trên tuyến đầu công tác phòng chống dịch Sars-covi-2. Trong cuộc chiến thời bình hiện nay cũng đã có biết bao nhiêu cán bộ, chiến sỹ hy sinh khi làm nhiệm vụ; có bao nhiêu con người phải từ biệt mẹ già, con thơ, xa gia đình cả năm không về; có những đồng chí hoãn cưới hay gia đình có người thân mất cũng không về mà phải lập bàn thờ "bái vọng" từ xa không?..nhưng trên hết họ vẫn kiên cường vượt qua tất cả. Bởi họ luôn tâm niệm rằng " Tổ quốc ở trong tim, Nhân dân ở phía trước".. như vậy đã đủ cống hiến, đã đủ hy sinh chưa các bạn..?

"Nghĩa vụ quân sự" là nghĩa vụ thiêng liêng cao cả của bất kỳ quốc gia nào không riêng gì ở Việt Nam, con em chúng ta khi tham gia nghĩ vụ quân sự, có thể xa gia đình 2 năm nhưng cũng có nhiều người trưởng thành, họ đã dành cả tuổi trẻ nhiệt huyết, dành cả cuộc đời cho Quân đội, cho Tổ quốc tới lúc đoàn tụ với gia đình có lẽ mái tóc đã điểm bạc...

Sự việc của đồng chí Đô của Quân khu 1, Chính phủ, Bộ quốc phòng vẫn đang trong quá trình điều tra xác minh, chưa có thông tin thông cáo báo chí chính thức, nhưng người đọc chỉ đọc qua các bài báo, các phát ngôn cá nhân mà đã quy chụp kết luận từ đó bài xích đánh đồng chức năng nhiệm vụ của Quân đội nhân Việt Nam. Ai thấy, ai biết vụ việc này mà không đau, không xót. Các cấp chỉ huy trong Quân đội, đồng đội của đồng chí Đô… họ cũng đau, cũng xót lắm chứ...và trong vụ việc cũng còn có nhiều điều cần phải làm, nhưng không vì thế mà vội vàng kết luận sự việc mà phải chờ vào kết quả điều tra rõ ràng, cụ thể và chính thức thừ Bộ Quốc Phòng. Cha mẹ mất đi con cái đó là điều vô cùng đau xót. Cũng rất mong các cơ quan chức năng sớm điều tra làm rõ nguyên nhân tử vong của đồng chí, cho gia đình, người thân cũng cho nhân dân 1 câu trả lời sớm nhất, thỏa đáng nhất.

Nhưng... không phải thế mà chúng ta mất đi niềm tin vào lực lượng vũ trang, Quân đội nhân dân Việt Nam. Và xin được khẳng định lại rằng:  Ở bất kỳ nơi đâu, bất kỳ lúc nào, ở bất kỳ thời điểm nào, từ 2 cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước đến cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở Biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc... Ở khắp nơi, biên cương, hải đảo xa xôi, thời chiến cũng như thời bình lực lượng Quân đội nhân dân vẫn đang ngày đêm vững tay súng, sẵn sàng chiến đấu, kiên quyết không để Tổ quốc bị bất ngờ, và cũng từ đó mà có rất nhiều sự hi sinh thầm lặng vẫn diễn ra hằng ngày, để xã hội và Nhân dân có được cuộc sống bình yên, đất nước được hòa bình...

Thượng tướng Phan văn Giang, Bộ trưởng Bộ quốc phòng đã từng nói: "Quân đội sẽ cố gắng làm, làm hết mình, vì Nhân dân, vì Tổ quốc, vì sự trường tồn của Đất nước này"..! Phẫn nộ, bức xúc... là tâm trạng của mọi người khi theo dõi về vụ việc, nhưng hãy là người tỉnh táo, sáng suốt, công tâm nhất, khách quan nhất đừng vì 1 sự việc chưa có kết luận, một hiện tượng đơn lẻ mà phủ nhận,  đánh đồng cho toàn bộ lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Đột phá mạnh vào sắp xếp tổ chức các bộ...

Bộ trrưởng Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà cho biết sẽ có đột phá mạnh trong sắp xếp tổ chức của các bộ, cơ quan ngang bộ, các đơn vị sự nghiệp công lập và các đơn vị hành chính...

Ngày 2-7, Bộ Nội vụ tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai công tác 6 tháng cuối năm 2021 của ngành Nội vụ.

Giảm đầu mối gắn với giảm biên chế

Phát biểu tại hội nghị, Bộ trưởng Phạm Thị Thanh Trà đánh giá vấn đề sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập vẫn còn chậm, lúng túng.

“Nơi nào sáng tạo, linh hoạt, năng động, tích cực, quyết tâm, quyết liệt thì nơi đó thực hiện rất tốt. Nơi nào thấy còn băn khoăn, chưa quyết liệt, chưa quyết tâm cao thì nơi đó chậm chạp”- Bộ trưởng nói và đánh giá việc sắp xếp tổ chức bộ máy chưa tạo ra được sự nhận thức thống nhất, đồng bộ và quyết tâm, quyết liệt.

“Đây là tồn tại, hạn chế của một số địa phương”- bà nói thêm.

Cũng theo Bộ trưởng Nội vụ, bộ máy hiện nay còn quá cồng kềnh, nhiều tầng nấc trong tổ chức đầu mối bên trong. Các bộ và cơ quan ngang bộ cũng rất chồng chéo.

“Tới đây, chúng tôi sẽ phải đột phá rất mạnh vào vấn đề sắp xếp tổ chức bên trong của các bộ, cơ quan ngang bộ, các đơn vị sự nghiệp công lập và các đơn vị hành chính. Đồng thời thay đổi mô hình quản lý, đẩy mạnh tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp”- bà Trà nhấn mạnh.

Bộ trưởng Nội vụ sau đó cũng lưu ý việc đột phá vào việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện và cấp xã. Theo bà, nếu không giảm được đầu mối sẽ không thể tinh giản biên chế.

“Đầu mối cứ nguyên trạng thế này thì không bao giờ giảm biên chế được. Do vậy, việc giảm đầu mối gắn với giảm biên chế là một nguyên tắc, phải tập trung đột phá vấn đề này”- bà Trà nói.

Bà cũng chỉ ra rằng, kỷ cương, kỷ luật hoạt động công vụ, công chức ở nhiều nơi chưa nghiêm và hiệu quả còn thấp; quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực còn nhiều hạn chế ở nhiều địa phương, nhất là tổ chức bộ máy, biên chế công chức, viên chức và quản lý tín ngưỡng, tôn giáo…

Dám nghĩ, dám làm, dám đột phá

Lưu ý một số nhiệm vụ trọng tâm trong 6 tháng cuối năm, Bộ trưởng Nội vụ nhận định nhiệm vụ của ngành thời gian tới rất nặng nề, khó khăn và nhiều việc rất phức tạp, nhạy cảm. Do vậy, nếu không quyết tâm, nỗ lực và không năng động, sáng tạo sẽ không làm được.

Toàn ngành cần lưu ý bám sát tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Chương trình hành động của Chính phủ, Bộ Nội vụ và địa phương để tập trung đổi mới nội dung, phương thức chỉ đạo, điều hành, bám sát thực tiễn địa phương, cơ sở, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá.

“Nếu chúng ta không dám nghĩ, dám làm, không dám đột phá sẽ không giải quyết được những vấn đề rất lớn mà Đảng, Nhà nước và xã hội đang mong đợi”- Bộ trưởng nói.

Bà Trà lưu ý cần triển khai đồng bộ, toàn diện, quyết liệt, trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả nhiệm vụ chính trị của bộ, ngành, để vừa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước mắt cũng như có một tầm nhìn chiến lược lâu dài cho sự phát triển của ngành Nội vụ. Theo bà, sự phát triển của ngành Nội vụ tác động trực tiếp đến việc xây dựng một nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, hiệu lực, hiệu quả.

Để có một hệ thống công vụ, công chức đảm bảo theo đúng yêu cầu của tình hình mới, Bộ trưởng cho rằng toàn ngành phải đổi mới tư duy, đổi mới phương pháp, đổi mới phương thức chỉ đạo và điều hành.

Người đứng đầu ngành Nội vụ đặc biệt lưu ý việc xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách trong lĩnh vực của ngành. Trong đó, tập trung hoàn thiện và tăng cường phân cấp, phân quyền; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, khơi thông những “điểm nghẽn” để thúc đẩy sự phát triển của ngành, nhất là các lĩnh vực khó như tổ chức bộ máy, biên chế, công vụ, công chức, thu hút và trọng dụng nhân tài, cải cách hành chính.

“Đây là những vấn đề rất nhiều nút thắt, rào cản, cần tập trung thực hiện”.

 


NHẬN RÕ ÂM MƯU THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 


Trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” với cấp độ ngày càng gay gắt, quyết liệt, hòng làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về tư tưởng, tạo ra “những khoảng trống” để dần đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên và nhân dân, từng bước chuyển hóa, xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Chúng tập trung triệt để sử dụng Internet, các trang mạng xã hội, các blog để truyền bá các quan điểm sai trái, tung tin xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vu cáo, bịa đặt, bôi nhọ hình ảnh các đồng chí lãnh đạo cấp cao nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm niềm tin của  Nhân dân với Đảng, Nhà nước.

Bằng việc sử dụng thông tin thật giả lẫn lộn, bịa đặt, sử dụng mạng xã hội để tác động, chuyển hóa người dân Việt Nam. Sản xuất những kênh, những video clip phản động, chống phá trực diện, cập nhật liên tục trên kênh Youtube, với thủ đoạn  cắt ghép hình ảnh từ các báo chí chính thống và lồng ghép nội dung xuyên tạc, bịa đặt để đánh lừa, kích động người xem, người đọc, gây phân tâm lớn trong xã hội. Ngoài ra các thế lực phản động còn kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi và cực đoan trong các tôn giáo; tán phát nhiều tài liệu có nội dung xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam ; kích động để đẩy mạnh “dân chủ, nhân quyền”, tạo bất ổn về an ninh chính trị; lợi dụng những diễn biến phức tạp trên biển Đông, quan hệ giữa Việt Nam - Trung Quốc để chống phá. Thâm hiểm hơn, chúng lợi dụng những hạn chế, khuyết điểm trong công tác lãnh đạo, quản lý điều hành của chính quyền một số nơi để xuyên tạc chống phá nhằm thúc đẩy xu hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Để đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, thời gian qua Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và các đơn vị trong toàn quân đã có những chủ trương, giải pháp về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực phản động. Cụ thể hoá các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo của trên vào nghị quyết của cấp uỷ, chi bộ và các kế hoạch, chương trình hoạt động của cơ quan, đơn vị. Không ngừng nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn; không dao động trước mọi khó khăn, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Tăng cường giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ chấp hành nghiêm chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước bằng nhiều hình thức, phương pháp; kịp thời thông tin, vạch trần bản chất của các đạo lạ, các tổ chức bất hợp pháp như: Tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình, tà đạo Hội Thánh Đức Chúa Trời, Pháp Luân công, Tâm linh Hồ Chí Minh…kịp thời cung cấp và định hướng thông tin về tình hình hoạt động của các tổ chức “hội”, “đoàn”, “nhóm”, “câu lạc bộ”, “nhân vật” chống phá liên quan đến lĩnh vực dân tộc, tôn giáo, hoạt động của một số linh mục, đối tượng chống đối… để cán bộ, chiến sĩ và nhân dân nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch trên lĩnh vực dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, không để các thế lực phản động lợi dụng chống phá.

Đồng thời chỉ đạo các lực lượng không ngừng đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động đấu tranh trên internet, mạng xã hội. Tập trung lựa chọn những vấn đề chính trị, xã hội mang tính thời sự, tổ chức viết bài đăng tải trên các trang mạng xã hội để lan toả thông tin cho nhiều người. Chia sẻ các nguồn thông tin chính thống từ các đài, báo của Trung ương và các địa phương, tổ chức comment, thể hiện trạng thái, ủng hộ những nội dung tích cực; phản bác những quan điểm sai trái, tiêu cực. Cung cấp đường link các trang mạng, tài khoản facebook xấu độc để đấu tranh, phản bác trực diện, kịp thời. Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”; thực hiện phương châm “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”; chia sẻ, lan toả thông tin tích cực, bóc gỡ thông tin xấu độc; bảo đảm an toàn không để lộ, lọt thông tin bí mật quân sự.

Đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân khi sử dụng mạng xã hội, để mỗi người dân trở thành người có trách nhiệm khi tham gia sử dụng mạng xã hội: Trách nhiệm chia sẻ thông tin cá nhân lên trang của cá nhân mình; trách nhiệm chia sẻ lại thông tin của người khác; trách nhiệm phản bác lại thông tin xuyên tạc, bịa đặt gây hại cho cộng đồng trên môi trường mạng để mỗi người dân cùng chung tay với các cơ quan chức năng bảo đảm môi trường mạng lành mạnh, phản bác các luận điệu chống phá của các thế lực thù địch; hướng dẫn, định hướng cho nhân dân  nâng cao cảnh giác cách mạng, nhận biết và tiếp cận những nguồn thông tin chính thống, không để các thế lực thù địch tuyên truyền, phá hoạt tư tưởng.

Nhận diện rõ những âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch cũng là để cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và nhân dân nâng cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội để đẩy nhanh phát triển kinh tế- xã hội.

NÊU CAO TINH THẦN TỰ HỌC, TỰ NGHIÊN CỨU NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

 


Việc nghiên cứu học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII có ý nghĩa hết sức quan trọng về mặt nhận thức; nhằm giúp cán bộ, đảng viên nắm vững nội dung cốt lõi, những điểm mới trong các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Trên cơ sở đó, cấp ủy các cấp lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chương trình hành động để tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, đồng thời tuyên truyền sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, tạo sự thống nhất về ý chí và hành động trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết.

Để bảo đảm nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết đại hội XIII của Đảng đạt kết quả cao, các cấp ủy, tổ chức Đảng cần thực hiện một số vấn đề trọng tâm. Cụ thể, cần nhận thức sâu sắc nghiên cứu học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết đại hội XIII của Đảng là việc thường xuyên, phải được thực hiện một cách nghiêm túc, bài bản, khoa học trong suốt nhiệm kỳ và là nhiệm vụ trọng tâm năm 2021, là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong Đảng và cả hệ thống chính trị để mỗi cán bộ Đảng viên nắm vững và thực hiện đúng đắn, sáng tạo Nghị quyết của Đảng, tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức, thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng, tạo sự đồng thuận cao trong nhân dân, phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, quyết tâm phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết đại hội XIII của Đảng.

Đồng thời góp phần xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về đạo đức, lối sống, những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ, uốn nắn những nhận thức lệch lạc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc.

Bên cạnh đó, việc triển khai nghiên cứu học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết cần tiến hành nghiêm túc, có chất lượng. Tập trung làm rõ những quan điểm, nội dung cốt lõi, những chủ trương mới trong các văn kiện Đại hội XIII từ tầm bao quát, cách tiếp cận mới, mục tiêu tổng quát, các định hướng lớn, nhiệm vụ trọng tâm, các chỉ tiêu chủ yếu, các khâu đột phá chiến lược để thấy rõ sự kế thừa, bổ sung phát triển tư duy lý luận của Đảng, nắm vững những bài học kinh nghiệm từ thành tựu 35 năm đổi mới đất nước, nhất là 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, nhận diện đầy đủ những thuận lợi, thời cơ, khó khăn thách thức và nhiệm vụ của các cấp ủy trong thời gian tới, liên hệ vận dụng phù hợp với yêu cầu điều kiện cụ thể của mỗi đơn vị để xác định và thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị trong nhiệm kỳ 2021-2025.

Trong quá trình nghiên cứu học tập Nghị quyết phải đề cao tinh thần tự học, tự nghiên cứu, ý thức tự giác gương mẫu của cán bộ đảng viên, nhất là người đứng đầu các cấp ủy, tổ chức Đảng.

Công tác tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng phải được tiến hành thường xuyên, bền bỉ, đồng bộ, sáng tạo với nhiều hình thức phong phú đa dạng, phù hợp với từng đối tượng, phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống tuyên giáo các cấp, các cơ quan báo chí xuất bản, đội ngũ giảng viên lý luận chính trị, văn nghệ sỹ, báo cáo viên, tuyên truyền viên. Trong quá trình tuyên truyền phải kịp thời lý giải những băn khoăn vướng mắc của cán bộ, đảng viên và nhân dân về nội dung Nghị quyết. Kịp thời uốn nắn những nhận thức chưa đúng, chủ động định hướng dư luận, tạo sự đồng thuận tích cực trong xã hội. Kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch.

Việc nghiên cứu học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII chỉ là bước đầu, điều quan trọng là phải sớm đưa nội dung Nghị quyết vào thực tiễn cuộc sống, nói đi đôi với làm, thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Bác Hồ: “Kế hoạch 10 phần thì biện pháp 20 phần và quyết tâm 30 phần”. Biến những quyết định của Đại hội thành hiện thực sinh động trong thực tế, thành của cải vật chất, mang lại giàu có và hạnh phúc cho nhân dân. Các cấp ủy, tổ chức Đảng phải tập trung xây dựng chương trình hành động cụ thể hóa bằng các kế hoạch, dự án, đề án khả thi sát với điều kiện thực tế, định lượng được kết quả, góp phần nâng cao đời sống nhân dân và sự phát triển mạnh mẽ trong các đơn vị, địa phương. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá chất lượng nghiên cứu học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội và việc xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết của mỗi đơn vị. Khắc phục triệt để bệnh hình thức, qua loa, đại khái; kịp thời phát hiện khen thưởng biểu dương các tập thể, cá nhân có thành tích trong nghiên cứu học tập, nhất là việc thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng ở mỗi cấp.