Thứ Bảy, 6 tháng 11, 2021

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh: Vị tướng “xắn quần lội ruộng”

Vào những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ trước, miền Bắc sau khi đã hoàn thành kế hoạch khôi phục kinh tế, đang hoàn thành kế hoạch 3 năm phát triển kinh tế và văn hóa, Đảng ta thực hiện chủ trương đưa nông dân vào con đường làm ăn tập thể theo hình thức tổ đổi công và hợp tác xã. Theo nhận định của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Làm ăn tập thể, đó là một sự biến đổi cực kỳ to, cực kỳ mới, cực kỳ tốt, cho nên lúc đầu không tránh khỏi bỡ ngỡ và khó khăn”.


Đồng chí Nguyễn Chí Thanh cấy lúa với bà con xã viên Hợp tác xã Chiến Thắng, xã Lý Ninh, tháng 1-1962. 

 

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ sản xuất nông nghiệp là một mặt trận mà “cuốc cày là vũ khí, nhà nông là chiến sĩ”. Thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc, Bác Hồ coi nông nghiệp cùng với công nghiệp là hai chân của nền kinh tế. Khi được Đảng và Bác Hồ phân công, đồng chí Nguyễn Chí Thanh sang lãnh đạo chỉ đạo nông nghiệp với yêu cầu củng cố và phát triển phong trào hợp tác hóa nông thôn, Bác Hồ đã căn dặn: “Phong trào mới nhóm, trầm trầm chú hãy cố gắng tìm cho được điển hình tốt, rút kinh nghiệm và phát huy nó lên để đánh tan bầu không khí kém phấn khởi”. 

Thực hiện lời Bác dặn, khi phụ trách mặt trận nông nghiệp, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã cho thấy một tấm gương về một vị tướng không quản ngại bất cứ khó khăn nào, luôn làm việc với tinh thần “xốc tới” và là người lăn lộn với phong trào. Xuất thân từ nông dân, trưởng thành trong phong trào cách mạng, đã qua thử thách trong lao tù kẻ thù, bất kỳ ở cương vị nào, đồng chí Nguyễn Chí Thanh vẫn luôn cố gắng kiên trì và phát huy những năng lực của mình.

Điển hình như năm 1962, Trung ương Đảng, Chính phủ phát động phong trào thi đua đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp trong toàn miền Bắc nước ta. Một số địa phương thuộc tỉnh Thanh Hóa, do phô trương thành tích, sản lượng thu hoạch thấp lại báo cáo cao. Đến khi giáp hạt thiếu lương thực nghiêm trọng, nạn đói đã xảy ra, có nơi đã có người chết. Đảng và chính quyền tỉnh không dám báo cáo lên Chính phủ.

Biết được tình trạng đó, Bác Hồ cử đồng chí Nguyễn Chí Thanh về tận nơi kiểm tra cấp cứu tại chỗ. Khi về đến tỉnh thì trời mưa to, đường sá nước ngập, gió mùa lạnh buốt, các đồng chí lãnh đạo tỉnh, huyện ngại không muốn đồng chí Nguyễn Chí Thanh đến những nơi đang xảy ra sự cố nhưng đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã nhất quyết đi và động viên anh em cùng đi. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã băng đồng lội nước, hối hả xuống gặp dân, vào từng nhà, xem từng hũ gạo, bồ thóc, niêu cơm, từng người ốm đói…

Và khi biết rõ có người chết đói là sự thật, đồng chí Nguyễn Chí Thanh vội vã quay về tỉnh kiểm tra kho dự trữ lương thực quốc gia thấy còn lúa gạo, và được các đồng chí lãnh đạo tỉnh trả lời: “Chưa có lệnh Trung ương, tỉnh không dám mở kho xuất gạo”.

Đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã chỉ thị “mở kho xuất gạo ngay”. Thấy các đồng chí lãnh đạo tỉnh còn ái ngại, ông nói: “Tôi xin chịu trách nhiệm trước Trung ương, Chính phủ, luật pháp…”, rồi viết ngay lệnh xuất kho. Số gạo được chở đến những vùng có nạn đói, kịp thời cứu dân và ngăn chặn nguy cơ đói lan tràn.

 


Đồng chí Nguyễn Chí Thanh tăng gia sản xuất tại căn cứ Trung ương Cục miền Nam. 

 

Bất kỳ chuyến đi thực tế nào của ông cũng có mục đích cụ thể như tìm hiểu thâm canh lúa, tổ chức chăn nuôi đại trà, làm nghề phụ, tạo việc làm cho nông dân lúc nông nhàn…, nhưng đằng sau những cái đó chung quy hướng vào việc tìm lời giải cho việc nâng cao đời sống của người trồng lúa.

Đồng chí thường xuyên đi thăm để tìm hiểu tình hình các huyện, hợp tác xã. Nhiều lần không thông báo trước, đồng chí lội tắt cánh đồng, quan sát cung cách làm ăn của hợp tác xã rồi vào thẳng trụ sở bàn bạc với đảng ủy, ủy ban, ban quản lý hợp tác xã về các mặt công tác.

Trong những chuyến đi ngược Tây Bắc, từ Hòa Bình qua Yên Châu, Mộc Châu, Thuận Châu, lên đèo Pha Đin, sang Mường Lò, Nghĩa Lộ, vượt sông về Yên Bái, Phú Thọ… đến đâu ông cũng về bản làng thăm hỏi, động viên đồng bào.

Triển khai Hội nghị Trung ương 5 (khóa III), Bộ Chính trị chuẩn bị ban hành Nghị quyết về miền núi, ông lại “kéo quân”, mà thực tế là vài ba chuyên viên và một nhà báo, “lùng sục” nhiều nơi. Từ Hà Nội lên huyện Bằng Mạc, tỉnh Bắc Giang nghiên cứu Hợp tác xã Nà Cà, đi tiếp lên một bản huyện Lộc Bình, Lạng Sơn chưa lập hợp tác xã xem nguyên nhân do đâu.

Về Hà Nội, đáp xe lửa thẳng Lào Cai tìm hiểu sản xuất và đời sống đồng bào Mông. Dạo ấy có phong trào nông dân vùng châu thổ Sông Hồng lên miền núi tham gia xây dựng kinh tế mới. Đồng bào miền xuôi lên đây có gắn bó như với quê hương bản quán mình? Mô hình hợp tác nào thuận lợi cho đồng bào dân tộc sống rải rác? Tìm cách gì dạy nghề, tạo việc làm cho bà con sống heo hút lưng chừng đèo?...

Với mỗi nhiệm vụ được giao, đồng chí Nguyễn Chí Thanh luôn lấy kiến thức từ thâm nhập thực tế để hiểu thật sâu về mảng mà mình phụ trách. Trong buổi dặn dò với lớp cán bộ quân đội được chuyển sang làm công tác nông nghiệp, đồng chí đã lấy kinh nghiệm bản thân làm minh chứng cụ thể, tạo sức thuyết phục với người nghe.

“Chính bản thân tôi khi mới ở quân đội chuyển sang tôi đã tự nêu cho mình mục tiêu phấn đấu lúc đầu là trong vòng một năm phải đuổi cho được trình độ hiểu thực tế của anh Chủ nhiệm hợp tác xã và Bí thư chi bộ. Xuống cơ sở, phải thực tế chứ không thể sách vở, tổ chức lao động thế nào, phân tro, giống má ra sao, giống thế nào là tốt, là xấu, chọn giống, giữ giống thế nào… Ý kiến phải cho cụ thể và cho tốt, chứ không thể chung chung, vì như thế sẽ không giúp được gì cả mà nghe báo cáo không biết đúng sai, hay dở nữa”.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh không mấy khi hài lòng với những việc làm được. Đến đâu ông cũng đề cao những nhân tố mới, khẳng định thành tựu, khích lệ đồng bào, nhưng bên cạnh đó luôn cánh cánh những vấn đề cuộc sống đặt ra, những việc thực tế đòi hỏi mà ta chưa nhìn rõ hướng làm.

Hình ảnh vị tướng xắn quần lội ruộng xem xét việc canh tác, khảo sát những khó khăn, tìm hiểu những nơi sản xuất khá đã không còn xa lạ với những người nông dân chân lấm tay bùn. Ông đã thực sự gây dựng được niềm tin và sự quý mến với nông dân, như cán bộ và bà con trên mặt trận nông nghiệp vẫn thường gọi ông là “Đại tướng nông dân”.
Trong quá trình thâm nhập, sâu sát thực tế tại một số địa phương đã giúp cho vị tướng trận mạc những kinh nghiệm quý báu trên mặt trận nông nghiệp.

“Nơi thành đồng Tổ quốc” - đứa con của “món nợ ân tình”

    Giữa làn sóng dịch bệnh thứ 4, Đại tá, nhà báo, nhà thơ Trần Thế Tuyển dành nhiều thời gian chăm sóc cho những đứa con tinh thần. Mới đây, ông trình làng tập truyện ký “Nơi thành đồng Tổ quốc” với gần 40 bút ký giàu cảm xúc, xoay quanh hình tượng người lính Bộ đội Cụ Hồ.
Bìa sách Nơi thành đồng Tổ quốc.
Mỗi lần nghe tin Đại tá, nhà báo, nhà thơ Trần Thế Tuyển ra mắt sách, những đồng nghiệp, bạn bè, các thế hệ học trò của ông lại mong ngóng. Văn, thơ của ông dù chỉ xoay quanh mảng đề tài về Bộ đội Cụ Hồ nhưng cuốn hút đến lạ, thậm chí đọc qua rồi vẫn muốn nghiền ngẫm từng câu chữ.
 
Sách ông hay không chỉ ở ngôn từ đa dạng, giọng điệu giàu cảm xúc mà còn hay ở tính chân thật. Những câu chuyện, con người mà Đại tá Trần Thế Tuyển viết, vẽ lên không phải là hình dung, mường tượng mà ông là người trực tiếp đi, thu thập và cất giữ. Mấy chục năm qua, ông xem những tư liệu đó là hiện thực lịch sử, là bệ phóng cho những đứa con tinh thần của mình.
 
Quay lại “Nơi thành đồng Tổ quốc”, truyện ký với hơn 300 trang, tập hợp những bút ký về hình tượng người Bộ đội Cụ Hồ, chiến trường xưa… Có thể kể đến “Chiến công thầm lặng”, “Một chuyến hành hương”, “Kỷ niệm ngày vào Đảng”, “Long Khốt vùng di sản quốc gia”… đan xen đó là những câu chuyện, ký ức của tác giả về các chuyến hành quân về chiến trường xưa.
 
Dù truyện ký viết về hồi ức lịch sử, câu chuyện quá khứ nhưng cách thể hiện của ông luôn tươi mới, thu hút bởi vậy mà sách vừa ra lò đã “cháy hàng”. Có thể thấy, thành công lớn nhất trong cuộc đời cầm bút của Đại tá Trần Thế Tuyển là chạm đến trái tim của nhiều người, độc giả của ông không chỉ là những người cùng trang lứa mà đó còn là những cụ ông, cụ bà lớn tuổi, thậm chí là những người tuổi đôi mươi.
 
Trưởng thành từ một người lính của Trung đoàn 174 (Đoàn Cao - Bắc - Lạng), là người trực tiếp cầm súng chiến đấu trên chiến trường nên những ký ức bên đồng đội luôn sống mãi trong ông. Những đứa con tinh thần ra đời cũng là cách để ông trả món nợ nghĩa tình.
 
“Gừng càng già càng cay”, văn, thơ của Đại tá Trần Thế Tuyển qua nhiều năm lại càng mặn mà, đặc biệt, cách đúc kết, xâu chuỗi các sự kiện, nhân vật, bối cảnh từ quá khứ đến thực tại càng làm người đọc hiểu rõ hơn về những giá trị lịch sử, những hy sinh, cống hiến của người lính Bộ đội Cụ Hồ. Qua đó, giúp thế hệ trẻ nhận thức sâu sắc hơn về vai trò, trách nhiệm đối với quê hương, dân tộc...

“Học hành là vô cùng. Học càng nhiều biết càng nhiều càng tốt...”

    Đó là lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Thư gửi đồng bào xã Duyên Trang, huyện Tiên Hưng, tỉnh Thái Bình”, ngày 13-11-1947.

    Sau hơn hai năm Trung ương Đảng và Chính phủ phát động toàn dân thực hiện phong trào diệt giặc dốt, phong trào đã đạt được những kết quả quan trọng, hàng triệu người dân Việt Nam đã biết đọc, biết viết. Bác Hồ rất vui mừng khi nhận được báo cáo về kết quả kỳ thi ngày 6-9-1947, toàn dân xã Duyên Trang từ 8 tuổi trở lên đều thoát nạn mù chữ. Bác đã thay mặt Chính phủ gửi lời khen ngợi đến đồng bào toàn xã, nhất là cảm ơn các phụ lão, thân hào đã ra sức giúp đỡ, các cán bộ bình dân học vụ đã cố gắng dạy dỗ bà con nhân dân trong xã.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là tấm gương sáng về tinh thần tự học. Người không những là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất, mà còn là một nhà giáo dục, một tấm gương suốt đời tự học để trưởng thành, tiến bộ. Theo Người, muốn trở thành người có đức, có tài để phục vụ và cống hiến nhiều cho Đảng, cho nhân dân thì “suốt đời phải học tập”. Chỉ có học tập mới nâng cao sự hiểu biết về mọi mặt và phục vụ cho quê hương, đất nước nhiều hơn, tốt hơn.

    Thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong trào diệt giặc dốt đã được toàn dân đồng lòng, đồng sức triển khai với quyết tâm cao, toàn dân, toàn quân ra sức học tập, lao động sản xuất để chiến đấu và phục vụ chiến đấu, giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

    Ngày nay, lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn nguyên giá trị, nhất là đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo của nước nhà. Đảng, Nhà nước ta luôn coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội. Để thực hiện được mục tiêu đó, mỗi người dân Việt Nam cần nêu cao tinh thần tự học, tự rèn, tích cực “học tập suốt đời” theo gương Bác để phục vụ tốt hơn.

    Đối với Quân đội ta, thực hiện lời dạy của Bác, mỗi cán bộ, chiến sĩ cần nhận thức sâu sắc việc học tập, rèn luyện vừa là nghĩa vụ, vừa là trách nhiệm, là vinh dự của mỗi quân nhân; phải coi việc học tập là một nhu cầu tự thân, nó thấm sâu vào mỗi quân nhân, trở thành nếp nghĩ và hành động trong cuộc sống của mỗi người. Cần chủ động khắc phục mọi khó khăn, sử dụng mọi thời gian, tranh thủ mọi điều kiện để học tập, rèn luyện với tinh thần bền bỉ, kiên trì, cầu tiến bộ.

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới về kinh tế thị trường định hướng XHCN

    Thực tiễn quá trình cách mạng của nước ta hiện nay cũng chứa đựng những vấn đề không đơn giản. Chúng ta đang ở thời kỳ quá độ lên CNXH, trong đó nền kinh tế và cả xã hội cũng có những vấn đề quá độ đan xen nhau rất khó rạch ròi.

    Quá trình mở cửa hội nhập, chủ động làm ăn với các nước tư bản chủ nghĩa lại sử dụng những giải pháp và cách thức phát triển của CNTB để xây dựng CNXH đặt ra nhiều thách thức đối với công tác lý luận và có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch.

    Thực tế cho thấy, trước những bước ngoặt của sự nghiệp cách mạng, những khó khăn của đất nước hoặc ở thời điểm quan trọng, nhạy cảm, các thế lực thù địch thường đẩy mạnh chống phá về tư tưởng, còn trong nội bộ có thể xuất hiện những quan điểm lệch lạc.

    Vì thế, việc nghiên cứu xác định rõ những luận cứ phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng càng cần được chú trọng hơn; chống cả những quan điểm thù địch diễn ra thường xuyên và nhất là trong các thời điểm trước và sau những sự kiện quan trọng. Chúng ta cần tập trung một số vấn đề sau:

    Nhận thức không thể phủ nhận thành tựu xây dựng CNXH và công cuộc đổi mới.

    Đổi mới ở Việt Nam do Đảng khởi xướng và lãnh đạo bắt đầu từ Đại hội VI của Đảng (năm 1986). Đó là sự lựa chọn tất yếu nhằm đưa Việt Nam thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, là một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước.

    Sau 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Nền kinh tế của đất nước ngày càng phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực và thế giới.

    Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đã tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; khẳng định con đường đi lên CNXH của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

    Nhận thức chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản cùng tồn tại, vừa hợp tác, vừa đấu tranh

    Thế giới hiện nay là thế giới toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế; là cả một không gian mở, đan xen lợi ích, tùy thuộc lẫn nhau. Một khi khủng hoảng kinh tế ở một khu vực hoặc một nước lớn sẽ kéo theo khủng hoảng toàn cầu; một khi giá dầu mỏ lên xuống thất thường và đột biến đủ làm cho kinh tế thế giới bị ảnh hưởng…

    Như vậy, cùng với việc đổi mới nhận thức của toàn nhân loại, đặc biệt là của giới lãnh đạo các nước về trách nhiệm chung đối với sự phát triển thế giới, những nhân tố khách quan nêu trên vừa thúc đẩy, đòi hỏi, vừa tạo điều kiện cho việc cùng tồn tại và hợp tác cùng phát triển đối với tất cả các nước.

    Trong khi nhận thức rõ sự hợp tác giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản hiện nay là khá toàn diện, thì không thể quên rằng giữa hai chiều hướng phát triển này vẫn chứa đựng những mâu thuẫn vốn có.

    Các thế lực hiếu chiến và thù địch chưa bao giờ từ bỏ dã tâm muốn xóa sổ chủ nghĩa xã hội. “Diễn biến hòa bình” là một trong những chiến lược tổng thể của chủ nghĩa đế quốc nhằm thực hiện mục tiêu đó. Đây là cuộc chiến tranh không khói súng nhưng thực sự là kế sách nham hiểm phá vỡ thành lũy của chủ nghĩa xã hội từ bên trong.

    Tất cả những thủ đoạn mà các thế lực đế quốc đã và đang sử dụng đối với các nước XHCN, cũng như đối với giai cấp những người lao động trên toàn thế giới cho thấy, cuộc đấu tranh giai cấp hiện nay không kém phần gay gắt, quyết liệt và phức tạp.

    Bởi vậy, trong điều kiện mở cửa, hội nhập với thế giới, thu hút vốn đầu tư, công nghệ và hợp tác, giao lưu với các nước tư bản, các nước XHCN phải luôn kiên định bảo vệ nền tảng tư tưởng và giữ vững định hướng XHCN, hợp tác cùng phát triển nhưng luôn cảnh giác và sẵn sàng đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc và mục tiêu, lý tưởng của mình.

    Từ một nước kinh tế kém phát triển, nếu chúng ta biết tranh thủ những thời cơ, những thuận lợi và biết vượt qua những thách thức, những nguy cơ, chúng ta có thể “phát triển rút ngắn” lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa theo quan điểm của V.I.Leenin.

    Nhận thức phê phán quan điểm cho rằng Việt Nam đang đi theo con đường tư bản chủ nghĩa và trá hình chủ nghĩa xã hội

    Quan điểm trên hoàn toàn sai trái. Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức ngày càng rõ hơn nội dung bỏ qua chế độ TBCN. Xây dựng CNXH bỏ qua chế độ TBCN, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ”(11). Đây là bước tiến về nhận thức của     Đảng khi xác định rõ nội dung bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Hai là, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức về CNXH ngày càng rõ hơn.

    Nhận thức được những vấn đề lý luận căn bản đó sẽ giúp chúng ta hiểu một cách sâu sắc đường lối của Đảng về hoàn thiện KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, củng cố niềm tin đối với quá trình đổi mới và con đường phát triển đất nước trong bối cảnh mới.

    Chuyển hóa từ nhận thức vào hành động trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đối với mỗi cán bộ lãnh đạo quản lý theo vị trí việc làm đó là tổ chức thực thi các chính sách của Nhà nước và tham mưu cho các cấp lãnh đạo trong việc hoạch định chính sách nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi địa phương, mỗi ngành, trên cả nước.

 


Một số vấn đề đặt ra về nền kinh tế thị trường XHCN trong tình hình mới

    Những thách thức đối với cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch cũng không hề nhỏ mà lý do chính là những tồn tại, khiếm khuyết trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước.

    Trong những năm qua, kinh tế vĩ mô của nước ta cơ bản ổn định nhưng chưa vững chắc, nợ công tăng nhanh, nợ xấu giảm dần nhưng vẫn ở mức cao, sản xuất kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn; chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp. “Phát triển thiếu bền vững cả về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường.

    Nhiều vấn đề bức xúc nảy sinh, nhất là các vấn đề xã hội và quản lý xã hội chưa được nhận thức đầy đủ và giải quyết có hiệu quả; còn tiềm ẩn những nhân tố và nguy cơ mất ổn định xã hội.

    Trên một số mặt, một số lĩnh vực, một bộ phận nhân dân chưa được thụ hưởng đầy đủ, công bằng thành quả của công cuộc đổi mới… Bốn nguy cơ mà Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (năm 1994) nêu lên vẫn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp, như tham nhũng, lãng phí, “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với những thủ đoạn mới, nhất là triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông trên mạng Internet để chống phá ta và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, chế độ có mặt bị giảm sút” .

    Về tiếp tục hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế KTTT định hướng XHCN, được bắt đầu ngay từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, tuy nhiên đây là vấn đề rường cột trong nội dung đổi mới và rất phức tạp, đòi hỏi sự đổi mới trong nhiều lĩnh vực.

    Vì vậy, trong nhiều nhiệm kỳ Đại hội vấn đề này luôn được coi là một nội dung trọng tâm, cần phải được quán triệt cả về nhận thức và hành động. Tuy nhiên, Văn kiện Đại hội XIII khẳng định: “Thể chế KTTT định hướng XHCN còn nhiều vướng mắc, bất cập.

    Năng lực xây dựng thể chế còn hạn chế; chất lượng luật pháp và chính sách trên một số lĩnh vực còn thấp. Môi trường đầu tư, kinh doanh chưa thực sự thông thoáng, minh bạch. Chưa tạo được đột phá trong huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển. Thể chế phát triển, điều phối kinh tế vùng chưa được quan tâm và chậm được cụ thể hóa bằng pháp luật nên liên kết vùng còn lỏng lẻo”.


 


Âm mưu sau lời kêu gọi “tẩy chay”

    Thật lạ là trong khi đại đa số người dân rất mong tuyến đường sắt Cát Linh-Hà Đông đi vào hoạt động để được đi lại nhanh chóng, thuận lợi, giảm ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường, thì một số phần tử lại ra sức kêu gọi “tẩy chay”, vận động người dân không sử dụng tàu điện này với lý do: Đó là đường sắt “Tàu” (!); đó là công trình điển hình về tham nhũng và chậm tiến độ (!); ai đi tàu điện này là… không yêu nước (!)

    Ngày 6-11, tuyến đường sắt Cát Linh-Hà Đông đã chính thức vận hành, khai thác thương mại giai đoạn 1 với tần suất từ 6-15 phút/chuyến.

Sự kiện này được người dân Hà Nội, nhất là những người có nhu cầu đi lại trên tuyến đường thuộc loại đông đúc nhất Thủ đô mong chờ từ lâu, bởi đường sắt trên cao đi vào hoạt động sẽ đánh dấu bước phát triển của vận tải hành khách công cộng, góp phần quan trọng giúp người dân đi lại nhanh chóng, thuận lợi, giảm ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường.

    Thực tế những năm qua, người dân đã rất sốt ruột, thậm chí kêu ca, phàn nàn nhiều vì dự án này bị chậm tiến độ, không kịp thời “gỡ khó” cho tuyến giao thông trọng điểm, thường xuyên bị quá tải, ùn tắc, lưu thông rất khó khăn.

    Thế nhưng, khác hẳn với đại đa số người dân rất mong tuyến đường sắt Cát Linh-Hà Đông hoạt động, thì một số phần tử lại ra sức kêu gọi “tẩy chay”, vận động người dân không sử dụng tàu điện này với lý do: Đó là đường sắt “Tàu” (!); đó là công trình điển hình về tham nhũng và chậm tiến độ (!); ai đi tàu điện này là… không yêu nước (!)

    Trước đó, ngay từ khi tuyến đường sắt đô thị Cát Linh-Hà Đông được khởi công xây dựng, những đối tượng này đã ra sức chống phá: Nào là Trung Quốc làm tuyến đường sẽ “trấn yểm long mạch” Thủ đô của Việt Nam, “chặn linh khí quốc gia” làm cho nước ta lụi bại (!); lãnh đạo Việt Nam sợ Trung Quốc nên buộc phải giao cho Trung Quốc làm tổng thầu (!); công nghệ tàu điện và đường sắt trên cao của Trung Quốc lạc hậu (!)…

    Đặc biệt, khi tuyến đường thi công chậm tiến độ, điều chỉnh, phát sinh nhiều hạng mục dẫn đến đội vốn (từ hơn 8.000 tỷ đồng lên hơn 18.000 tỷ đồng) thì các đối tượng càng lợi dụng để vu khống, chống phá quyết liệt. Dù không có bằng chứng, cơ sở nào nhưng họ vẫn ngang nhiên suy diễn, vu cáo rằng “các nhà lãnh đạo Việt Nam và Bộ Giao thông vận tải, TP Hà Nội tham nhũng rất nhiều từ dự án đường sắt Cát Linh-Hà Đông” (!)

    Âm mưu, bộ mặt thật của những đối tượng này đã bộc lộ rõ nhất ở chỗ: Mỗi lần dự án đường sắt Cát Linh-Hà Đông gặp sự cố (tai nạn lao động, chậm tiến độ…) thì chúng “vui như mở cờ” vì có cớ để thổi phồng, chống phá; còn khi công trình triển khai thuận lợi, được đơn vị liên danh tư vấn độc lập của Pháp (ATC) cấp chứng nhận an toàn, chạy thử thành công, được toàn bộ 9/9 thành viên Hội đồng kiểm tra Nhà nước chấp thuận đồng ý kết quả nghiệm thu có điều kiện để đưa vào vận hành, khai thác thương mại (ngày 29-10 vừa qua) thì chúng lại vô cùng tức tối.

    Bởi, thực tâm những đối tượng này chỉ mong tuyến đường sắt Cát Linh-Hà Đông (và các công trình khác ở Việt Nam) trở thành phế tích để có cớ chống phá Đảng, Nhà nước ta, chứ chúng hoàn toàn không xót gì tiền bạc của nhà nước và nhân dân, cũng không cần biết nỗi khổ của người dân khi đi lại khó khăn, giao thông ách tắc.

    Chủ trương xây dựng tuyến đường sắt Cát Linh-Hà Đông là hoàn toàn đúng, nhưng quá trình triển khai thực hiện dự án có nhiều thiếu sót do cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, dẫn đến dự án chậm tiến độ gần 6 năm và đội vốn hơn gấp đôi so với dự toán ban đầu. Điều này đã được Kiểm toán Nhà nước kết luận rõ ràng và Bộ Giao thông vận tải, UBND TP Hà Nội đã công khai giải trình từng vấn đề mà báo chí và nhân dân có ý kiến, nêu trách nhiệm cụ thể đối với từng thiếu sót.

    Nếu công dân không đồng tình với những kết luận, giải trình đó, có bằng chứng về những sai phạm thì hoàn toàn có thể đề nghị, thậm chí tố cáo để các cơ quan chức năng tiến hành thanh tra, làm rõ theo đúng quy định của pháp luật. Đảng, Nhà nước ta luôn khuyến khích nhân dân phát huy vai trò giám sát và chủ động tố giác khi phát hiện những sai phạm, chứ không hề cấm đoán việc này; nếu có sai phạm thì Đảng, Nhà nước sẽ xử lý nghiêm như thực tiễn đã chứng minh.

    Thế nhưng, việc một số đối tượng cố tình kêu gọi “tẩy chay tàu điện Cát Linh-Hà Đông” với những lý do chỉ có tính suy diễn, quy chụp, vu khống (hoàn toàn không có cơ sở nào) là không thể chấp nhận, cần phải xử lý nghiêm theo đúng quy định của pháp luật.

Ở bất kỳ quốc gia nào cũng không thể có chuyện tùy tiện suy diễn, quy chụp, vu cáo người nào đó tham nhũng trong khi không có bằng chứng gì. Khi xem xét bất kỳ sự việc gì cũng phải tuân thủ nguyên tắc khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển, chứ không thể phiến diện, thành kiến, chủ quan, “vơ đũa cả nắm”, áp đặt ác ý, gây tổn hại danh dự, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tổ chức, cá nhân.

    Thiết nghĩ, việc kêu gọi “tẩy chay tàu điện Cát Linh-Hà Đông” để nhằm mục đích gì, có lợi cho ai và gây thiệt hại cho ai thì tất cả những người có lương tri đều biết tỏng. Có những kẻ ra sức kêu gọi, chỉ mong người dân không đi tàu đó, để rồi lại có cớ rêu rao, phủ nhận hiệu quả của một chủ trương đúng, từ đó cho rằng việc quyết định làm tuyến đường này không phải vì sự đi lại thuận lợi của nhân dân, vì tiến bộ và văn minh đô thị mà vì… lợi ích nhóm (chúng hướng tới mục đích sâu xa là gây mất lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước).

    Bên cạnh đó, cũng có một số người a dua, hùa theo bởi sự đi lại thuận lợi của nhân dân phần nào làm giảm thu nhập của họ. Đó là bản chất của vấn đề mà mọi người cần tỉnh táo nhận rõ để có thái độ, ứng xử đúng đắn, không mắc phải những mưu đồ đen tối gây tổn hại cho nhân dân, đất nước và phụ công sức, sự nỗ lực của bao người.

 


Choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ của vùng núi cao Tây Bắc

    Lên với vùng cao Tây Bắc, du khách thường choáng ngợp trước những con đèo quanh co khúc khuỷu. Con người Tây Bắc hiền hậu, thật thà chân chất tô điểm thêm một Tây Bắc quyến rũ.
Choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ của vùng núi cao Tây Bắc - Ảnh 1
Tây Bắc nổi tiếng với những cung đường đèo núi quanh co.
Choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ của vùng núi cao Tây Bắc - Ảnh 2
Vẻ đẹp bình dị nơi núi rừng Tây Bắc. 
Choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ của vùng núi cao Tây Bắc - Ảnh 3
Lên Tây Bắc du khách sẽ được ngắm nhìn những biển mây mờ ảo. 
Choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ của vùng núi cao Tây Bắc - Ảnh 4
Biển mây nơi núi rừng Tây Bắc. 
Choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ của vùng núi cao Tây Bắc - Ảnh 5
Những thửa ruộng bậc thang xanh màu lúa trải dài phủ khắp các triền núi. 
Choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ của vùng núi cao Tây Bắc - Ảnh 6
Những thửa ruộng bậc thang níu chân du khách. 
Choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ của vùng núi cao Tây Bắc - Ảnh 7
Những con suối nhỏ len lỏi trong các vách núi. 
Choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ của vùng núi cao Tây Bắc - Ảnh 8
Tây Bắc là nơi sinh sống của nhiều đồng bào dân tộc. 
Choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ của vùng núi cao Tây Bắc - Ảnh 9
Đến Tây Bắc với những sắc màu và phong tục của nhiều đồng bào dân tộc đang sinh sống nơi đây. 
Choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ của vùng núi cao Tây Bắc - Ảnh 10
Hồ Pá Khoang (Điện Biên) với vẻ đẹp cuốn hút.
Choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ của vùng núi cao Tây Bắc - Ảnh 11
Hoa mận nở mỗi độ xuân về. 
Choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ của vùng núi cao Tây Bắc - Ảnh 12
Hang Chua Ta (huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên) là điểm đến khám phá của nhiều du khách. 
Choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ của vùng núi cao Tây Bắc - Ảnh 13
Hoa Ban nở dọc con đường lên Cửa khẩu quốc tế Tây Trang. 
Choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ của vùng núi cao Tây Bắc - Ảnh 14
Thành phố Điện Biên Phủ ngày càng đổi mới và phát triển. 
Choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ của vùng núi cao Tây Bắc - Ảnh 15
Sông núi hòa quyện vào nhau tạo nên vẻ đẹp hùng vĩ. 

TỰ HÀO LÀ CON DÂN CỦA ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM!

1. Đánh hạ Pháp 1954 (Trùm thực dân) - Mỹ 1975 (Siêu cường quân sự) - Trung Quốc 1979 (Biển người)

2. Khai thác nhôm: Bắn rơi máy bay B52 (vào thời điểm Mỹ tuyên bố không ai có thể hạ được).

3. Biến CIA thành trò hề khi cài gián điệp tận đầu não " ngụy" , Địa đạo Củ Chi , rừng Sác nằm trong vùng Mỹ kiểm soát nhưng tồn tại suốt cả cuộc chiến.

4. Dân tộc Việt Nam bị giặc Phương Bắc đô hộ hơn 1.000 năm nhưng vẫn không bị mất gốc & tiếng nói của mình, ngược lại ta còn đồng hóa dân Phương Bắc khi họ đến lập nghiệp ở Việt Nam dần trở thành một bộ phận của dân tộc ta.

5. Cờ Việt Nam có thể nói tương đối giống cờ Trung Quốc, tuy nhiên Cờ Việt Nam xuất hiện trước Trung Quốc (Việt Nam tuyên bố độc lập ngày 02/9/1945; Trung Quốc tuyên bố độc lập tháng 10/1949, sau Việt Nam 4 năm) và Cờ Việt Nam chỉ có 01 ngôi sao 5 cánh tượng trưng cho sự đoàn kết các tầng lớp trong đại gia đình dân tộc Việt Nam (sĩ, nông, công, thương, binh) Chỉ bọn phản động, óc c.hó mới nói ngu: "cờ Việt Nam sao chép Trung Quốc"

6. Liên Xô anh cả của phe XHCN đã sụp đổ, như vậy hiện nay Việt Nam là nước theo CNXH lâu đời nhất trên thế giới (trước cả Trung Quốc) nên vai vế là còn trên cả của Trung Quốc, Cuba và Lào…

7. Cũng không ít người vô học hay so sánh Việt Nam với Thái Lan, Hàn Quốc... thậm chí còn dè bỉu chê bai Việt Nam thua kém họ! Nhưng do họ chả hề biết Thái Lan có cả 100 năm hòa bình để phát triển, không biết gì đến chiến tranh; còn Hàn Quốc giàu lên nhanh là nhờ chiến tranh Việt Nam (cho lính đi đánh thuê do chủ Mỹ trả công) như Philippines cũng vậy. Trong khi Việt Nam ta bị các đế quốc, bành trướng bá quyền xâu xé, chiến tranh tàn phá hàng trăm năm; chỉ có 20 năm sau này được yên, được hội nhập quốc tế và phát triển đất nước (xin nhớ 1995 ta mới hết bị cấm vận, năm 2000 ta bắt đầu mở cửa), vậy mà nhiều thành tựu đã đạt mức kỳ diệu; kinh tế Việt Nam đang dần đi lên, chế tạo thành công nhiều loại vũ khí như ngư lôi, đạn pháo. Còn bọn 3 que vào bảo VN không sản xuất nổi cái ốc vít thì bọn mày thử tới xưởng sản xuất vũ khí của VN đi. Các bác ở đấy sẽ cho bọn mày biết thế nào là "ốc vít biết bay"

8. ASEAN ban đầu được thành lập là để chống Việt Nam” cố kìm hãm Việt Nam phát triển... dù vẫn luôn còn nhiều kẻ ganh ăn, tức ở, như Sing, như Thái… nhưng năm 2020 Việt Nam chúng ta vẫn là Chủ tịch ASEAN...


Môi Trường ST.

Vắc xin Covid-19 dạng miếng dán có thể hiệu quả hơn tiêm

    Những loại vắc xin Covid-19 đang sử dụng phổ biến hiện nay thường được bảo quản ở nhiệt độ lạnh. Mới đây, giới chuyên môn đưa ra thông tin về một loại vắc xin dạng miếng dán không đòi hỏi các điều kiện lưu trữ phức tạp như vậy.

Vắc xin Covid-19 dạng miếng dán có thể hiệu quả hơn tiêm

Vắc xin Covid-19 dạng miếng dán có nhiều ưu điểm 

    Theo kết quả thử nghiệm trên chuột, miếng dán vắc xin Covid-19 mang lại khả năng bảo vệ miễn dịch tốt hơn so với cách tiêm truyền thống. Miếng dán chỉ cần bảo quản ở nhiệt độ phòng và mọi người có thể tự sử dụng. Các ưu điểm này thích hợp với những nơi thiếu kho lạnh và nhân viên y tế.

    Các loại vắc xin Covid-19 hiện đã được phổ biến rộng rãi ở nhiều quốc gia. Tuy nhiên, chúng phải được vận chuyển và bảo quản ở nhiệt độ lạnh, thậm chí âm sâu -25 độ C như Pfizer.

    Nhà virus học David Muller, Đại học Queensland ở Brisbane, Australia cho biết: “Chúng tôi muốn đưa ra một giải pháp để vắc xin có thể vận chuyển dễ dàng, đặc biệt là tới những nơi hạn chế cơ sở vật chất và nhân lực”.

    Muller và các đồng nghiệp của ông đã dành nhiều năm để phát triển miếng dán da phòng ngừa cúm, bại liệt, sốt xuất huyết và một số loại bệnh khác mà không cần kim tiêm hoặc bảo quản lạnh. Họ đã đặt ra câu hỏi liệu công nghệ tương tự có áp dụng cho vắc xin Covid-19 được hay không.

    Miếng dán kích thước vài cm có tới 5.000 gai nhỏ bằng nhựa, mỗi gai dài 0,25mm và được phủ một lớp vắc xin khô, ổn định hơn so với dạng lỏng. Miếng dán có chất dính giúp ép vắc xin vào da không gây đau đớn.

    Nhà virus học Muller thông tin, vắc xin dạng này tạo ra các phản ứng miễn dịch mạnh hơn. Khi họ sử dụng vắc xin cúm dạng miếng dán, chỉ cần 1/6 liều lượng do với vắc xin tiêm.  

    Vắc xin Covid-19 loại dán vẫn đang được thử nghiệm lâm sàng. Những con chuột sử dụng miếng dán vắc xin đã phát triển nhiều kháng thể hơn những con được tiêm. Chúng hoàn toàn không nhiễm bệnh, chống lại được biến thể, ngay cả khi chỉ dùng vắc xin một lần.

    Vắc xin Covid-19 dạng dán giữ được chất lượng ổn định trong 1 tháng khi bảo quản ở 25 độ C và trong một tuần ở 40 độ C.

    Cuộc thử nghiệm loại vắc xin Covid-19 này trên người sẽ bắt đầu vào năm tới. Ông Muller cho biết, nếu được chấp thuận, vắc xin dán có thể được sử dụng làm liều tăng cường.

"Nhanh hơn xe buýt"

    Ông Phạm Văn Thành lập cập bước ra khỏi nhà, mắt hướng về phía âm thanh huyên náo phía nhà ga. "Cả đêm qua tôi cứ thấp thỏm, mấy đứa hàng xóm mách tôi là hôm nay tàu chạy", ông lão 86 tuổi nói.

    Mới đó đã hơn 10 năm từ ngày căn nhà 3 tầng của gia đình ông bị đập bỏ để nhường đất xây ga đường sắt. Cầm 2 tỷ đồng tiền đền bù, ông chia cho những đứa con đi nơi khác ở. Phần đất còn lại chỉ vỏn vẹn một góc hình tam giác rộng 7 m2, ông thuê người xây tường, lắp cửa rồi sống một mình bằng lương hưu của vị giám đốc xí nghiệp Nhà nước.

    Cứ mỗi sáng sớm, ông lại đi bộ tập thể dục quanh nhà ga Cát Linh. Thói quen đó lặp lại đã nhiều năm, đến nỗi có lần ông bảo: "Tôi tưởng nhà ga này không dùng được nữa, chắc sắp đập bỏ".

    Từ cửa nhà bước thêm 3 bước, ông Thành đã tiến sát chân ga Cát Linh. Con ngõ ngăn cách dãy phố nhà ông với nhà ga sáng nay đã biến thành bãi đỗ xe máy cho người dân đến đi tàu điện.

    "20.000 đồng/xe, khóa cổ vào, không phải vé", người phụ nữ cầm trên tay xấp tiền lẻ, hăm hở chỉ chỗ để xe máy cho người dân vãng lai ghé thăm ga Cát Linh. Cách đó vài căn nhà, bà chủ hàng trà đá rót nước luôn tay, khách ngồi tràn ra ngõ. "Phố nhà ga" đã qua cái thời đìu hiu vì đường sắt Cát Linh liên tục trễ hẹn.

    "Để xem hôm nay đi tàu có nhanh hơn xe buýt không nào", ông Thành nhấc cặp kính đen khỏi sống mũi, mắt liếc xuống chiếc đồng hồ Seiko mạ vàng. Khi tàu chuyển bánh, đồng hồ chỉ 9h15.

    Như không hẹn mà gặp, chuyến tàu điện đầu tiên phục vụ người dân Hà Nội chở phần lớn hành khách tóc đã điểm bạc. Những cặp vợ chồng già dắt tay nhau, những ông lão đi cùng cháu. Một người đàn ông trung niên dáng vẻ lịch thiệp, kể chuyện đường sắt đô thị ở Nhật, Pháp, trong lúc ngắm nghía khoang tàu.

    Ông Thành trầm ngâm nhìn qua ô cửa kính khi đoàn tàu lao vun vút qua các dãy phố 2 bên đường. Vị giám đốc về hưu chưa một lần đặt chân ra nước ngoài. Thứ duy nhất ông có thể mang ra để so sánh với đường sắt Cát Linh - Hà Đông là tuyến tàu điện "leng keng" mà ông đi hồi 25 tuổi.

    "Ngày ấy nắm xôi một xu rưỡi, bát phở 3 xu, tàu điện thì 2 xu cả chuyến. Sáng nào tôi cũng đi làm bằng tàu điện từ bờ hồ ra Long Biên", ông cụ nhớ lại.

    Sau 60 năm kể từ ngày trải nghiệm tàu điện, ông Thành bước lên đoàn tàu điện thứ 2 trong đời. Đoàn tàu dự kiến áp dụng mức giá toàn tuyến là 15.000 đồng/chuyến. "Vẫn rẻ hơn phở và đắt hơn xôi như ngày xưa", ông lão cười.

    Ông Thành có sở thích đọc báo, nghe đài, lúc buồn chân thì nhảy xe buýt đi dạo khắp Hà Nội. Trong ngăn kéo tủ của ông có chiếc vé xe buýt miễn phí dành cho người già. Từ nhà ông đi xe buýt đến Bến xe Yên Nghĩa (Hà Đông) mất 40 phút, hôm nào tắc đường thì lâu hơn.

    Khi đoàn tàu đến ga cuối Yên Nghĩa, ông Thành ngó đồng hồ, lúc này chỉ 9h40. Vậy là cùng một chặng đường, tàu điện đi hết 25 phút, nhanh hơn xe buýt 15 phút, lại không bao giờ phải lo tắc đường.

 


Kỳ vọng mạng lưới metro

    7h30 ngày 6/11, Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Ngọc Đông và Phó chủ tịch UBND Hà Nội Dương Đức Tuấn ký biên bản bàn giao dự án đường sắt Cát Linh - Hà Đông. Sự kiện đánh dấu hồi kết cho 10 năm mòn mỏi chờ đợi của người dân Hà Nội.

    Ngay sau lễ bàn giao, Hanoi Metro ghi nhận lượng lớn người dân đến trải nghiệm tuyến tàu điện đầu tiên. Nhiều người bày tỏ hài lòng với loại hình phương tiện văn minh, hiện đại và tiết kiệm thời gian.

    Thứ trưởng Đông nhấn mạnh đây là dự án đường sắt thí điểm đầu tiên của thủ đô được đưa vào khai thác, là tuyến vận tải khối lượng lớn, vận chuyển đúng giờ, sẽ giải quyết ùn tắc phía tây của Hà Nội.

    TP Hà Nội tiếp nhận một công trình hiện đại và đồng thời tiếp nhận luôn trách nhiệm nặng nề khi phải trả khoản nợ 99 triệu USD vốn vay ODA để thực hiện dự án. Lãnh đạo Hanoi Metro cho biết từ thời điểm bàn giao, mọi chi phí vận hành dự án thuộc trách nhiệm chi trả của thành phố.

    Trong cuộc họp báo trước ngày bàn giao, vận hành dự án, Thứ trưởng Nguyễn Ngọc Đông đã bật cười khi một phóng viên đặt câu hỏi "dự án vận hành với mức trợ giá vé như vậy thì đến khi nào hoàn đủ vốn". Ông Đông trả lời thẳng thắn: "Không bao giờ".

    Theo nhận thức chung của nhiều chuyên gia, hệ thống đường sắt đô thị luôn có mức đầu tư quá lớn để có thể thu hồi vốn bằng tiền bán vé tàu. Giám đốc Hanoi Metro Vũ Hồng Trường khẳng định trên thế giới chỉ có Nhật Bản và Hong Kong là hai nơi mà tiền bán vé metro có thể bù được chi phí vận hành.

    Với một loại hình vận tải mà Nhà nước đã xác định rõ trách nhiệm bù lỗ khi vận hành, mong mỏi lớn nhất của chính quyền TP là người dân sử dụng tàu điện với tần suất cao, góp phần giảm lượng phương tiện cá nhân như xe máy, ôtô con thường gây ùn tắc.

    Tuy nhiên, dự án đường sắt đô thị đầu tiên được khai trương cũng phải đối mặt khó khăn do tính đơn tuyến, thiếu khả năng kết nối do các tuyến metro khác chưa hoàn thành.

    Trả lời câu hỏi của về việc Hà Nội sẽ khuyến khích người dân đi tàu điện thế nào khi cả thành phố chỉ có một tuyến, lãnh đạo UBND TP Hà Nội cho biết trước mắt tuyến Cát Linh - Hà Đông sẽ phải dựa vào hệ thống xe buýt để kết nối đến cửa nhà người dân. Đến cuối năm 2022, đoạn trên cao của metro Nhổn - Ga Hà Nội sẽ được khai thác, kỳ vọng tăng tính kết nối cho mạng đường sắt đô thị.

    Ban quản lý đã chọn khai trương tuyến tàu vào ngày cuối tuần, với ưu đãi miễn phí vé cho tất cả người dân trong 15 ngày liên tiếp. Vì lẽ đó, hầu hết hành khách cho biết họ "đi trải nghiệm", "đi cho biết" chứ chưa thực sự nghĩ đến việc từ bỏ chiếc xe máy hay ôtô cá nhân để chuyển sang đi tàu điện.

    Nhiều ý kiến cho rằng cách người dân Hà Nội đón nhận dự án sẽ được thể hiện rõ ràng hơn sau khi kết thúc 15 ngày đi tàu miễn phí.