Thứ Năm, 11 tháng 11, 2021

KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG LƯỜI HỌC, NGẠI HỌC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

  “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị...” là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị mà Đảng đã chỉ ra. Do đó, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định phải “Khắc phục tình trạng ngại học, lười học lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên”.


   QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH

   Theo Hồ Chí Minh, lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử. Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin là sự tổng kết kinh nghiệm của phong trào công nhân từ trước đến nay của tất cả các nước; là khoa học về các quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội; khoa học về cách mạng của quần chúng bị áp bức và bị bóc lột; khoa học về thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở tất cả các nước; khoa học về xây dựng chủ nghĩa cộng sản..

   Hồ Chí Minh nhấn mạnh việc tổ chức trường học lý luận cho cán bộ là “để nâng cao trình độ lý luận của Đảng ta đặng giải quyết sự đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng và tình hình thực tế của Đảng ta, để Đảng ta có thể làm tốt hơn công tác của mình, hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ cách mạng vĩ đại của mình”. Người cũng chỉ rõ, một trong những nhược điểm lớn của Đảng là “trình độ lý luận còn thấp kém… cho nên đứng trước nhiệm vụ cách mạng ngày càng mới và phức tạp, trong việc lãnh đạo, Đảng ta không khỏi lúng túng, không tránh khỏi sai lầm, khuyết điểm”; đối với cán bộ, không học lý luận sẽ khiến cho “chí khí kém kiên quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị”, thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng”, “...vì kém lý luận, cho nên gặp mọi việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo. Không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý mình nghĩ thế nào làm thế ấy. Kết quả thường thất bại”, do không nắm vững lý luận, nên nhiều cán bộ mắc bệnh ba hoa, kết quả là “… một sự ngu dốt này làm phát sinh một sự ngu dốt khác và một sai lầm này gây nên các sai lầm khác”.

   Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ, trong Đảng còn nhiều người “chỉ biết vùi đầu suốt ngày vào công tác sự vụ, không nhận thấy sự quan trọng của lý luận, cho nên còn có hiện tượng xem thường học tập hoặc là không kiên quyết tìm biện pháp để điều hòa công tác và học tập..”, “...chúng ta đã áp dụng một số kinh nghiệm một cách thiếu sáng tạo, không có kết quả, cho nên thiếu tin tưởng đối với sự cần thiết phải học tập lý luận”.

   Từ thực trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên còn lười học, ngại học lý luận chính trị, ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã yêu cầu: “Đảng phải chống cái thói xem nhẹ học tập lý luận”, “Đảng ta phải tự nâng cao mình lên nữa, mà muốn tự nâng cao mình thì phải tổ chức học tập lý luận trong toàn Đảng, trước hết là trong cán bộ cốt cán của Đảng”.

   NHẬN DIỆN THỰC TRẠNG

   Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ đã chỉ ra 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên, trong đó có biểu hiện thứ ba: “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”.

   Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định phải “Khắc phục tình trạng ngại học, lười học lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên”.

   Qua thực tế công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, có thể nhận diện những biểu hiện ngại học, lười học lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên hiện nay là: 1) chỉ chú ý đến học tập chuyên môn, nghiệp vụ mà ít hoặc không quan tâm đến học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị; chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của việc học tập lý luận chính trị. Không ít cán bộ, đảng viên cho rằng việc học tập lý luận ít mang lại hiệu quả, dẫn tới học tập đối phó, nghiên cứu qua loa, đại khái, chiếu lệ, hình thức...2) Chưa chấp hành tốt kỷ luật, kỷ cương trong học tập, rèn luyện như trong học tập còn làm việc riêng, vừa học vừa giải quyết công việc của cơ quan, đơn vị; chưa tích cực tham gia trao đổi, thảo luận; không nghiên cứu tài liệu; bài thi, bài thu hoạch thiếu đào sâu suy nghĩ, tìm tòi gắn lý luận với thực tiễn… 3) Học không đi đôi với hành; lý luận chưa gắn liền với thực tiễn. Nội dung, tri thức lý luận chính trị chưa được vận dụng thiết thực vào thực tiễn công tác với tư cách là “cẩm nang” định hướng giải quyết các vấn đề thực tiễn nảy sinh.

   Thực trạng nêu trên xuất phát từ những nguyên nhân cơ bản sau:

   Đối với người học, việc xác định mục tiêu, động cơ học tập lý luận chính trị chưa đúng, chưa rõ ràng (coi việc học tập lý luận chính trị cốt để lấy bằng cấp nhằm “hợp lý hóa” điều kiện đề bạt, bổ nhiệm, cất nhắc, thăng tiến); vì chưa có động cơ trong sáng nên thiếu ý thức tự giác trong học tập, rèn luyện.

   Đối với cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, việc mở rộng quy mô đào tạo, bồi dưỡng chưa gắn liền với quy trình đảm bảo chất lượng. Nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng còn chậm được đổi mới; việc bổ sung, cập nhật nội dung chương trình còn trùng lặp, chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn, rèn luyện tư tưởng chính trị, đạo đức, phong cách lãnh đạo, quản lý. Phương pháp giảng dạy, học tập chậm được đổi mới, nặng về truyền đạt kiến thức, chưa phát huy được tính tích cực, sáng tạo của người học. Thiếu sự liên thông giữa các cấp học, các hệ đào tạo dẫn đến việc cán bộ phải học nhiều lần một số chuyên đề, học phần. Quản lý đào tạo còn có mặt yếu kém, nhất là quản lý tự học của học viên. Chất lượng đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý đào tạo còn có mặt hạn chế. Điều kiện vật chất, kỹ thuật ở các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng còn lạc hậu, chưa được nâng cấp, chưa đáp ứng tốt yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng dạy và học lý luận chính trị.

   Đối với đơn vị cử cán bộ tham gia đào tạo, bồi dưỡng, còn có tình trạng chưa chọn, cử đúng, trúng đối tượng tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị. Việc quy hoạch, lựa chọn cán bộ cử đi học ở một số nơi còn biểu hiện thiếu dân chủ, không khách quan. Còn có sự chồng chéo trong sử dụng cán bộ thực hiện công việc tại cơ quan, đơn vị với tạo điều kiện để học viên toàn tâm, toàn ý trong học tập đối với những cán bộ được cử đi học tập, bồi dưỡng. Chưa có các biện pháp, cách thức kiểm tra, đánh giá việc sử dụng, vận dụng tri thức, kỹ năng, tư tưởng của người được chọn, cử đi học sau khi hoàn thành các khóa đào tạo, bồi dưỡng vào phục vụ công việc thực tiễn của cơ quan, đơn vị.

   MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

   Để khắc phục tình trạng ngại học, lười học lý luận chính trị trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hiện nay, Đảng ta đã xác định: “Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao nhận thức trong toàn Đảng về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trong và sự cần thiết của việc học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Có kế hoạch học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận bắt buộc hằng năm đối với cán bộ, đảng viên gắn với việc cung cấp thông tin, cập nhật kiến thức mới phù hợp từng đối tượng, từng cấp, từng ngành, từng địa phương”. Nhằm cụ thể hóa quan điểm, chủ trương của Đảng, xuất phát từ thực tiễn đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị thời gian qua, thời gian tới cần tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:

   Thứ nhất, tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò tầm quan trọng của lý luận chính trị đối với cán bộ, đảng viên. Đây là giải pháp căn cơ, lâu dài để khắc phục “bệnh” lười học, ngại học lý luận chính trị. Chú trọng hơn nữa đến công tác tuyên truyền để mỗi cán bộ, đảng viên nâng cao ý thức, hiểu và xác định việc học tập, bồi dưỡng lý luận vừa là quyền lợi vừa là trách nhiệm của mình; là nhu cầu tự thân; học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, bền bỉ, không bao giờ là đủ. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục để kiên quyết khắc phục nhận thức coi việc học lý luận chính trị chỉ nhằm mục đích đề bạt, bổ nhiệm.

   Thứ hai, đổi mới toàn diện công tác giáo dục lý luận chính trị trong toàn Đảng và hệ thống chính trị. Đây là giải pháp quan trọng, tác động trực tiếp đến các chủ thể của công tác giáo dục lý luận chính trị. Những năm gần đây, chương trình, nội dung cũng như các giáo trình, tài liệu giáo dục lý luận chính trị của Đảng đã có nhiều đổi mới, song, vẫn còn nặng về lý luận chung và những kiến thức tổng quát, mang tầm vĩ mô, trong khi đó, những kiến thức về các chủ trương mới, cách làm hay, sáng tạo ở các địa phương, các cơ quan, ngành nghề, nhất là các kỹ năng giải quyết công việc thực tế của cán bộ, kỹ năng xử lý tình huống chính trị... thường chiếm dung lượng nhỏ. Để giải quyết vấn đề đó, trong thời gian tới, các cơ quan chức năng, học viện, nhà trường, đội ngũ giáo viên, báo cáo viên cần chú trọng nghiên cứu đổi mới chương trình, nội dung theo hướng thiết thực, gắn với thực tiễn sinh động. Theo đó, lý luận chính trị phải góp phần giải quyết, lý giải những vấn đề mới và khó đặt ra từ thực tiễn, cả ở tầm vĩ mô và vi mô cũng như việc vận dụng trong giải quyết những công việc cụ thể.

   Thứ ba, coi trọng hơn nữa việc đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, giảng viên lý luận chính trị các cấp về phẩm chất chính trị và năng lực chuyên môn. Đây là vấn đề quan trọng, góp phần trực tiếp nhất để khắc phục tình trạng ngại học, lười học tập lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên hiện nay. Theo đó, đội ngũ cán bộ làm công tác này phải là những người có đủ phẩm chất đạo đức và tài năng, chuyên môn. Mỗi cán bộ, giảng viên phải là tấm gương “tự học và sáng tạo”, dày dạn kinh nghiệm thực tiễn, am tường lý luận sâu sắc, có năng lực sư phạm tốt, phương pháp truyền đạt hấp dẫn.

   Thứ tư, tiếp tục nghiên cứu, đổi mới mạnh mẽ đối với cơ sở đào tạo lý luận chính trị, song phải đảm bảo bản chất trường Đảng, cụ thể là:

   1) Nhận thức sâu sắc về sứ mệnh, mục tiêu của trường Đảng với sứ mệnh ưu tiên hàng đầu là đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý cho Đảng và toàn hệ thống chính trị thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, ngang tầm nhiệm vụ, tuyệt đối trung thành với lý tưởng của Đảng, với sự nghiệp cách mạng, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

   2) Đổi mới mạnh mẽ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, chú trọng các mặt:

   Về đối tượng đào tạo. Đối tượng đào tạo ở trường Đảng phải là những cán bộ, đảng viên tiêu biểu, tiên tiến; luôn trung thành, phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng của Đảng. Việc tiếp cận về đối tượng đào tạo có ý nghĩa quan trọng trong xác định tiêu chuẩn xét tuyển và xác định những tố chất cần được bổ sung khi được tham gia đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện ở trường Đảng.

   Về đổi mới nội dung chương trình đào tạo lý luận chính trị. Bên cạnh lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm gốc, việc dạy - học ở trường Đảng phải rút ra được lập trường, quan điểm, phương pháp để giải quyết vấn đề thực tiễn đang đặt ra; học tập quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; những kinh nghiệm, tổng kết cách mạng trong nước cũng như thế giới; tinh hoa văn hóa nhân loại, những lý thuyết mới, mô hình thành công trên thế giới để áp dụng sáng tạo, tránh “mò mẫm” trong thực hành, khắc phục “bệnh” giáo điều, xa rời thực tiễn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo.

   Về đổi mới phương pháp đào tạo, huấn luyện cán bộ. Chú trọng nguyên tắc lý luận phải gắn liền thực tiễn. Tăng cường thảo luận, đối thoại, định hướng tư tưởng. Tăng cường sử dụng nguyên tắc tự phê bình và phê bình, tránh dạy - học truyền thụ, nhồi nhét, giáo điều. Đổi mới phương pháp rèn luyện phong cách, bản lĩnh người cán bộ lãnh đạo, quản lý, đặc biệt là bản lĩnh chính trị; cách thức giải quyết những tình huống khó, phức tạp trong công tác lãnh đạo, quản lý; phương pháp tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt đời.

   Về xây dựng đội ngũ giảng viên. Giảng viên trường Đảng phải là đội ngũ những người tinh hoa nhất, đủ phẩm chất, năng lực ngang tầm với nhiệm vụ. Bằng những quyết sách của Đảng, có thể tuyển chọn những cán bộ giỏi theo các tiêu chí: mẫu mực về bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng; đảm bảo sự “tổng hòa” sư phạm - khoa học - tổng kết thực tiễn. Căn cứ vào yêu cầu về đối tượng, nội dung và phương pháp đào tạo, cần xây dựng bộ tiêu chí cho giảng viên trường Đảng...

   Thứ năm, người học phải xác định đúng động cơ, mục đích học tập lý luận chính trị; gắn tri thức lý luận với thực tiễn công tác; không ngừng phấn đấu, tu dưỡng đạo đức cách mạng, trình độ - kỹ năng - phương pháp luận.

   Thứ sáu, các cấp ủy địa phương, cơ quan, đơn vị quản lý, sử dụng cán bộ đi học cần: 1) Quán triệt sâu sắc và cụ thể hoá quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, tạo sự thống nhất trong hệ thống chính trị và các cơ sở đào tạo. 2) Tiếp tục đối mới tư duy, nâng cao nhận thức về mục tiêu, yêu cầu và tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. 3) Gắn việc xây dựng quy hoạch cán bộ với kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ theo tiêu chuẩn chức danh của từng giai đoạn. Chọn, cử cán bộ đi đào tạo đúng đối tượng, thiết thực, tránh tốn kém, lãng phí. Thực hiện nghiêm việc phân cấp đối tượng đào tạo gắn với thẩm định tiêu chuẩn cán bộ cử đi đào tạo, bồi dưỡng nhằm đảm bảo công khai, minh bạch, đúng tiêu chuẩn. 4) Phối hợp chặt chẽ với đơn vị đào tạo tiến hành kiểm tra, đánh giá nghiêm túc, thực chất quá trình và kết quả học tập của cán bộ, đảng viên được cử đi học; coi trọng và có kế hoạch bố trí, tạo điều kiện để cán bộ vận dụng kết quả học tập vào thực tiễn công tác. Lấy kết quả học tập, ý thức rèn luyện trong quá trình học tập là một tiêu chí để đánh giá cán bộ./.

Lợi dụng tôn giáo, mạo danh trẻ mồ côi ở Tịnh thất Bồng Lai chậm được xử lý

 

Lợi dụng tôn giáo, mạo danh trẻ mồ côi ở Tịnh thất Bồng Lai chậm được xử lý

Những sai phạm lợi dụng tôn giáo, mạo danh trẻ mồ côi để trục lợi xảy ra tại Tịnh thất Bồng Lai đã rõ, nhưng nơi đây vẫn tiếp tục tồn tại, gây bức xúc dư luận. UBND tỉnh Long An hiện đang chỉ đạo các sở ban ngành và UBND huyện Đức Hoà làm rõ, xử lý triệt để đối với tụ điểm mang danh là Thiền am bên bờ vũ trụ (tên cũ là Tịnh thất Bồng Lai) đóng tại ấp Lập Thành, xã Hoà Khánh Tây, huyện Đức Hoà.

Hơn một năm trước, Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Long An đã công bố những thông tin xác minh về hoạt động của Tịnh thất Bồng Lai với những sai phạm rõ ràng. Nhưng từ đó đến nay, sau khi đổi tên thành Thiền am bên bờ vũ trụ, nơi này vẫn tồn tại, có những cách đối phó, khiến dư luận bức xúc kéo dài.

Mới đây, trong những buổi livestream bà Nguyễn Phương Hằng có đề cập đến Tịnh thất Bồng Lai khiến dư luận càng 'dậy sóng'. Đáng nói, bà Hằng còn tìm đến tận nơi này để 'tìm sự thật'; biết tin, nhiều người quan tâm kéo đến chứng kiến, gây huyên náo cả khu vực.

Trên cơ sở dư luận quan tâm, mới đây cơ quan chức năng tỉnh Long An lại tiếp tục kiểm tra, làm rõ thêm những sai phạm về Tịnh thất Bồng Lai.

Theo đó, chính quyền tỉnh Long An đủ cơ sở kết luận, Tịnh thất Bồng Lai hay tên khác là Thiền am bên bờ vũ trụ là cơ sở “biến gia thành tự” tại gia đình của bà Cao Thị Cúc (SN 1960, ngụ huyện Cần Đước, tỉnh Long An). Đây không phải là cơ sở tu viện Phật giáo và những người ở đây không phải là tu sĩ Phật giáo.

Thế nhưng từ trước đến nay, nhà bà Cúc có gian chính thờ Phật như một chánh điện của tu viện Phật giáo. Những người sinh sống trong nhà xuống tóc, cắt tóc ngắn, vận trang phục tương tự nhà sư, tự nhận là sư thầy, sư cô, hoà thượng, đại đức, chú tiểu… Các clip do người sống trong gia đình bà Cúc quay, đăng tải trên mạng xã hội tự thừa nhận nơi này là chùa, tịnh thất và cách sinh hoạt của họ như là hình thức sinh hoạt tôn giáo.

Đến nay, chính quyền tỉnh Long An cũng làm rõ về sự thật những “chú tiểu” đã được giới thiệu là trẻ mồ côi tại Tịnh thất Bồng Lai. Những đứa trẻ này từng đạt giải quán quân của chương trình truyền hình “Thách thức danh hài” cách đây vài năm.

Nhưng sự thật, tại hộ gia đình bà Cúc có 7 trẻ đang sinh sống với 3 người mẹ ruột. Trong giấy tờ, tên cha của các bé đều không thể hiện. Các bé không được biết sự thật về thân phận; trong cách xưng hô hàng ngày của mẹ - con cũng bị gọi khác đi để che giấu.

Chính vì hình ảnh đáng thương, hồn nhiên của những đứa trẻ giới thiệu mồ côi, được khai thác trên mạng xã hội một cách tối đa, thậm chí xuất hiện trên một số chương trình truyền hình... nên nguồn từ thiện đổ về Tịnh thất Bồng Lai trong những năm qua là cực lớn.

Ngoài ra, kênh Youtube “5 chú tiểu – thiền am bên bờ vũ trụ” hiện có hơn 2 triệu lượt người đăng ký, thường xuyên đăng tải về cuộc sống những đứa trẻ được giới thiệu là mồ côi để tạo sự thương cảm. Tất cả các clip và cả phần giới thiệu đều kêu gọi từ thiện, thông tin số tài khoản của Hoàn Nguyên, Nhất Nguyên, thậm chí là thông tin liên hệ quảng cáo. Nhưng gần đây đã xoá bỏ số tài khoản quyên góp.

Đáng nói, những người tự nhận sư thầy, sư cô ở Thiền am bên bờ vũ trụ mới đây tự quay clip chia sẻ trên mạng xã hội, khoe nhận những món quà xa xỉ của mạnh thường quân khắp nơi gửi tặng. Thậm chí họ khoe về ô tô đắt tiền mới sắm và nói rằng chỉ xin 3 mạnh thường quân là đủ mua.

Nhiều đoạn clip về Thiền am bên bờ vũ trụ cho thấy nơi đây là cơ sở lợi dụng Phật giáo khi không thực hiện đúng giáo lý nhà Phật, tuyên truyền mê tín dị đoan. Mới đây nhất, có một clip thể hiện 2 người trong trang phục người tu hành hát chế nội dung với lời lẽ khá “sốc”, ảnh hưởng đến tinh thần phòng, chống dịch Covid-19 của toàn dân.

 

Riêng về nhân vật đứng đầu Thiền am bên bờ vũ trụ là ông Lê Tùng Vân (SN 1932) đã rõ thân phận. Ông Vân không phải là người tu hành nhưng tự nhận là “Thầy ông nội” hay Đại Đức, Hoà thượng Thích Tâm Đức.

Gần 15 năm trước, ông Lê Tùng Vân đã từng bị phanh phui khi lập cơ sở trái phép mang tên Trại dưỡng lão - cô nhi Thánh Đức ở xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh. Khi đó, ông Vân cũng hoạt động theo kiểu tự nhận là cơ sở nuôi trẻ mồ côi, người già cơ nhỡ để tranh thủ sự hỗ trợ từ các nguồn từ thiện.

Khi Trại Thánh Đức bị chính quyền huyện Bình Chánh dẹp bỏ, một thời gian sau (năm 2015) ông Vân về hộ gia đình bà Cao Thị Cúc chủ trì hoạt động của cơ sở mang tên Tịnh thất Bồng Lai với cách thức tinh vi hơn, quy mô hơn. Nơi sinh sống, ông Vân tự nhận là chùa, là tịnh thất; còn các sư thầy, sư cô… sau khi tự quay clip, chia sẻ trên mạng xã hội hay trên sóng truyền hình đã...'tranh thủ' nhận tiền từ thiện. Khi dư luận phanh phui thì lập tức… phủ nhận.

Khi cơ quan chức năng tỉnh Long An và huyện Đức Hoà vào làm việc thì những người ở Thiền am bên bờ vũ trụ lại khẳng định, đây là nhà riêng; là người tu tại gia và có quyền tự do, tín ngưỡng riêng. Đến nay, dư luận vẫn hết sức bức xúc, mong chờ cơ quan chức năng sớm xử lý triệt để tụ điểm “giả sư” này.

 

BỘ QUỐC PHÒNG TRIỂN KHAI NHIỆM VỤ PHÒNG, CHỐNG DỊCH COVID-19 TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 Ngày 11/11/2021 Bộ Quốc phòng triển khai nhiệm vụ phòng, chống dịch Covid-19 trong tình hình mới. Thượng tướng Vũ Hải Sản, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng Ban chỉ đạo phòng, chống dịch (PCD) Covid-19 Bộ Quốc phòng, chủ trì hội nghị, cùng dự có Trung tướng Phùng Sĩ Tấn, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam và đại diện các cơ quan thuộc Bộ Quốc phòng.


Tại hội nghị, Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Xuân Kiên, Cục trưởng Cục Quân y (Tổng cục Hậu cần) báo báo kết quả công tác phòng, chống dịch, nổi bật là: Thời gian qua, toàn quân đã quán triệt và thực hiện nghiêm các văn bản chỉ đạo của Ban Bí thư, Chính phủ, Ban chỉ đạo Quốc gia, Bộ Y tế về phòng, chống dịch. Ban hành nhiều công điện, thành lập các đoàn công tác kiểm tra công tác SSCĐ, phòng, chống dịch tại các đơn vị, địa phương khu vực biên giới, vùng biển…

Thực hiện nghiêm công tác xét nghiệm với 35 phòng an toàn sinh học cấp II, 8 cơ sở xét nghiệm khẳng định và 22 cơ sở xét nghiệm sàng lọc SARS-CoV-2, thành lập hơn 1.500 tổ lấy mẫu xét nghiệm với trên 300 tổ tiêm và hơn 90 tổ hồi sức cấp cứu, triển khai 12 đợt tiêm vắc xin trong toàn quân. Bên cạnh đó, thực hiện hiệu quả công tác điều trị bệnh nhân Covid-19, bảo đảm tốt cơ sở vật chất, vật tư phòng, chống dịch với các trang, thiết bị hiện đại; bảo đảm an toàn phòng, chống dịch cho các sự kiện, không để dịch lan vào đơn vị.

Đặc biệt, đã tiêm được 1.266.527 liều vắc xin cho hơn 715.450 người (đạt trên 99,5%), có trên 551.000 người được tiêm đủ 2 mũi (đạt trên 75,5%) trong đó có hơn 579.700 quân nhân và trên 135.600 lao động hợp đồng. Xét nghiệm sàng lọc cho gần 1.123.000 lượt người bằng test nhanh kháng nguyên, xét nghiệm hơn 380.000 lượt người bằng kỹ thuật RT-PCR. Riêng Cục Quân y đã cấp 6,5 triệu viên thuốc tăng cường miễn dịch, 250.000 test xét nghiệm nhanh kháng nguyên, 35.000 kg hóa chất sát khuẩn… Thực hiện nghiêm việc kiểm soát biên giới và cách ly công dân nhập cảnh; phối hợp ngành y tế và hỗ trợ các địa phương trong phòng, chống dịch, điều trị và tham gia chiến dịch tiêm chủng vắc xin phòng Covid-19.

Kết luận hội nghị, Thượng tướng Vũ Hải Sản, đánh giá cao những kết quả mà các cơ quan, đơn vị đạt được trong thực hiện nhiệm vụ phòng, chống dịch và nhấn mạnh: Các đơn vị tiếp tục quán triệt thực hiện nghiêm Nghị quyết số 128/NQ-CP của Chính phủ về việc quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19”, Công văn số 4071/BCĐ-BQP ngày 12-10-2021 của Ban chỉ đạo Bộ Quốc phòng về thực hiện phòng, chống dịch trong giai đoạn hiện nay. Tiếp tục phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương kiểm soát chặt chẽ biên giới trên bộ, trên biển, đường hàng không. Đẩy mạnh tiến độ tiêm vắc xin phòng Covid-19, bảo đảm tốt đời sống vật chất tinh thần, kịp thời biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân, lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ đạt thành tích cao.

PHÁT HUY SỨC MẠNH NỀN VĂN HOÁ VIỆT NAM

 Phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam vừa là yêu cầu, vừa là giải pháp để thực hiện khát vọng xây dựng đất nước trong giai đoạn hiện nay.


1. Văn hóa Việt Nam là tổng thể những những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc sinh sống trên dải đất hình chữ S này sáng tạo nên trong suốt chiều dài lịch sử. Những giá trị ấy kết tinh trong các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, tạo thành những truyền thống, những phong tục, tập quán, những ứng xử, ... làm nên bản sắc của dân tộc.

Xuất phát từ những điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử hết sức đặc biệt, văn hóa Việt Nam, con người Việt Nam có những giá trị, phẩm chất độc đáo. Đó là nồng nàn yêu nước nhưng hết sức nhân văn; đó là anh hùng trong chiến đấu nhưng tinh tế trong ứng xử; đó là sáng tạo trong lao động nhưng giản dị trong lối sống; đó là tinh thần cố kết cộng đồng, là lòng khoan dung, cởi mở, giàu năng lực tiếp biến ... Những giá trị văn hóa ấy, những “lực lượng bản chất người” ấy đã gắn kết các cá nhân thành cộng đồng, cùng chung tay dựng xây đất nước, cùng ra sức bảo vệ non sông, cùng chia sẻ những nỗi đau trong thiên tai, địch họa, cùng khát vọng về một cơ đồ tươi sáng “sánh vai với các cường quốc năm châu”.

Thực tiễn phát triển đất nước trong thời kì đổi mới đã khẳng định vị thế quan trọng của văn hóa, con người trong chiến lược phát triển quốc gia. Văn hóa không chỉ giới hạn tầm vóc của mình trong chiều sâu những phẩm giá tinh thần mà nó còn là nguồn lực trực tiếp cho sự phát triển đất nước. Bên cạnh hiệu ích xã hội lớn lao như vun đắp một đời sống tinh thần lành mạnh cho cá nhân và cộng đồng, khơi dậy lòng tự hào dân tộc và hướng con người, xã hội loài người theo các giá trị chân – thiện, mỹ thì văn hóa trong xã hội hiện đại này còn bộc lộ những thế mạnh khác mà trong xã hội truyền thống ít được đề cập đến. Sự phát triển của các ngành công nghiệp sáng tạo, sự mở rộng của thị trường các sản phẩm và dịch vụ văn hóa với những hiệu ích kinh tế không nhỏ đã mang lại những kì vọng vào một hướng phát triển nhanh, bền vững, phát huy tối đa nguồn lực nội sinh chính là văn hóa và con người Việt Nam.

Sự nghiệp đổi mới đất nước được Đảng ta gắn liền với vai trò to lớn của văn hóa. Tại Đại hội lần thứ VIII, Đảng ta khẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là điều kiện để thực hiện lý tưởng cao đẹp của dân tộc ta là xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, văn minh, con người được ấm no, hạnh phúc.

Tại Hội nghị Trung ương 10 khóa IX Đảng ta đã kết luận: “Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội, tạo nên sự phát triển đồng bộ của ba lĩnh vực trên là điều kiện quyết định cho sự phát triển toàn diện và bền vững đất nước” (1).

Nghị quyết 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 của Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam phát triển đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước tiếp tục nhấn mạnh: “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến Chân - Thiện - Mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” (2), văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội. Như vậy cùng với các nguồn lực kinh tế, tài nguyên thiên nhiên, quốc phòng - an ninh,... nguồn lực văn hóa cũng đang ngày càng đóng vai trò quan trọng, chi phối, ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến sự phát triển của đất nước.

Trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam được xem là nguồn lực nội sinh quan trọng góp phần làm nên sức mạnh tổng hợp quốc gia. “Tập trung khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào, ý chí tự cường, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội và khát vọng phát triển đất nước của toàn dân tộc. Xây dựng các cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống vì đất nước của mọi người dân Việt Nam. Phát huy tối đa nhân tố con người; con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển. Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa các giá trị truyền thống và giá trị hiện đại. Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, môi trường văn hóa, đời sống văn hóa phong phú, đa dạng, văn minh, lành mạnh; vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực đột phá cho phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế” (3).

Phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam được xác định vừa là nhiệm vụ trọng tâm, vừa là khâu đột phá có ý nghĩa chiến lược để đẩy mạnh quá trình phát triển nhanh và bền vững đất nước trong thời gian tới. Và lần đầu tiên trong Văn kiện của Đảng, thuật ngữ sức mạnh mềm văn hóa xuất hiện. Văn kiện Đại hội XIII khẳng định cần phải “Khẩn trương triển khai phát triển có trọng tâm, trọng điểm ngành công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa trên cơ sở xác định và phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam, vận dụng có hiệu quả các giá trị, tinh hoa và thành tựu mới của văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của thế giới, gắn phát triển văn hóa với phát triển du lịch, đưa du lịch thành một ngành kinh tế mũi nhọn, đồng thời bảo vệ, gìn giữ tài nguyên văn hóa cho các thế hệ mai sau”(4).

3. Đứng trước yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn cách mạng mới, giai đoạn chứa đựng nhiều dấu mốc lịch sử trọng đại, giai đoạn cả nước tập trung thực hiện Nghị quyết Ðại hội XIII của Ðảng với nhiều quan điểm, chủ trương lớn, mang tính đột phá để đưa đất nước ngày càng phát triển, trong bối cảnh quốc tế vừa có những thời cơ, vừa có những thách thức, để phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam, cần chú ý các vấn đề sau:

Thứ nhất, cần xác định rõ những tài nguyên nào có khả năng chuyển hóa thành sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam.

Các di sản thiên nhiên, di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, nghệ nhân, sản phẩm văn hóa …. chính là các nguồn lực văn hóa có khả năng tạo nên sức mạnh mềm văn hóa quốc gia. Theo thống kê của Cục Di sản văn hoá, tính đến cuối năm 2020, Việt Nam có 28 di sản văn hóa được UNESCO ghi danh, trong đó có 8 di sản văn hóa và thiên nhiên, 13 di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp, 07 di sản tư liệu; 3.560 di tích được xếp hạng cấp quốc gia (119 di tích cấp quốc gia đặc biệt); 215 bảo vật quốc gia; 364 di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (5).

Để phát huy hiệu quả các nguồn lực này, cần đặc biệt chú trọng đến công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa. Hệ thống di sản văn hóa mà chúng ta đang sở hữu hôm nay chính là kết tinh trí tuệ, mồ hôi và cả xương máu của lớp lớp cha ông trong quá trình dựng nước và giữ nước. Hệ thống di sản văn hóa phản ánh chiều sâu tâm hồn của dân tộc, tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam - tấm thẻ căn cước để nhận diện dân tộc này trong hành trình hội nhập quốc tế. Thông qua việc quảng bá giá trị di sản văn hóa dân tộc, bạn bè quốc tế hiểu hơn về vẻ đẹp đất nước và con người Việt Nam. Đó là một đất nước với nhiều danh lam thắng cảnh, con người hồn hậu, cởi mở, hiếu khách, trọng nghĩa tình đạo lý; đó là một dân tộc có những truyền thống lịch sử văn hóa hết sức quý báu như yêu nước, đoàn kết, nhân văn, giàu năng lực khoan dung và tiếp biến văn hóa… Bảo tồn và phát huy tốt hệ thống di sản văn hóa sẽ hướng tới mục tiêu kép: vừa làm gia tăng sức sống cho các giá trị văn hóa dân tộc vừa góp phần quảng bá hình ảnh quốc gia, làm nên sức hấp dẫn Việt Nam.

Hai là, chú trọng phát triển du lịch văn hóa. Du lịch chính là cách thức, là con đường để phát huy sức mạnh mềm văn hóa mà nhiều quốc gia đang lựa chọn để đầu tư, phát triển. Du lịch văn hóa mang lại những trải nghiệm hết sức sinh động cho du khách về những nét văn hóa đặc sắc của một cộng đồng, một địa phương, một quốc gia. Du lịch văn hóa không chỉ mang lại nguồn thu cho các địa phương, cho các cá nhân và tổ chức kinh doanh loại hình dịch vụ này, giải quyết công ăn việc làm, chuyển đổi sinh kế, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, tái đầu tư cho bảo tồn các di sản văn hóa mà nó còn góp phần rất quan trọng trong xây dựng tình cảm, niềm tin đối với du khách, đặc biệt là du khách quốc tế. Chính vì vậy, cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch để có thể chuyển tải được tối đa hàm lượng văn hóa vào trong các sản phẩm du lịch. Cần đầu tư để đa dạng hóa các loại hình du lịch và nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch. Bên cạnh đó, cũng cần làm tốt hơn nữa công tác quảng bá du lịch, các chiến lược truyền thông du lịch phải hướng tới việc xây dựng hình ảnh Việt Nam - điểm đến thân thiện, hấp dẫn và an toàn.

Ba là, tiếp tục đầu tư phát triển ngành công nghiệp văn hóa. Công nghiệp văn hóa là biểu hiện tập trung của mối quan hệ ngày càng sâu sắc giữa kinh tế và văn hóa. Việc phát triển ngành công nghiệp văn hóa từ khi có Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam (năm 2016) đến nay đã có những chuyển dịch theo chiều hướng tích cực. Các ngành công nghiệp văn hóa như điện ảnh, quảng cáo, giải trí kỹ thuật số, phần mềm trò chơi điện tử, … đều đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Doanh thu từ các lĩnh vực này vẫn khả quan trong khi các lĩnh vực kinh tế khác phải chịu nhiều rủi ro do ảnh hưởng của tình hình kinh tế, chính trị thế giới, do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid 19.  Các sản phẩm công nghiệp văn hóa khi ra khỏi biên giới quốc gia sẽ không chỉ đơn thuần là những hàng hóa văn hóa đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng mà nó còn là đại sứ thương hiệu quốc gia. Hơn thế nữa, các sản phẩm công nghiệp văn hóa còn có khả năng tạo nên chuỗi giá trị giá tăng, thúc đẩy các ngành công nghiệp khác phát triển. Chính vì vậy, cần có các kế hoạch hết sức cụ thể và thiết thực để nâng cao chất lượng sản phẩm công nghiệp văn hóa, từ mẫu mã đến nội dung, và đặc biệt lưu ý khả năng chuyển tải tinh thần văn hóa, giá trị văn hóa Việt Nam của các sản phẩm đó.

Văn hóa là một lĩnh vực trọng yếu của đời sống xã hội, có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong sự hoàn thiện nhân cách của mỗi cá nhân, sự vững chắc của mỗi cộng đồng và rộng hơn là sự phát triển của mỗi quốc gia. Sẽ không thể có một sự phát triển nhanh và bền vững nếu không phát huy được nội lực của chính quốc gia đó. Mà nội lực quan trọng nhất của mỗi một quốc gia chính là con người, là những sáng tạo của con người quốc gia đó. Phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam vừa là yêu cầu, vừa là giải pháp để thực hiện khát vọng xây dựng đất nước trong giai đoạn hiện nay./.

Nhất quán quan điểm trong xây dựng “Nhà nước pháp quyền Việt Nam” XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

 


           Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1-1994), lần đầu tiên, Đảng ta đã chính thức sử dụng thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền Việt Nam”: Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (sửa đổi, bổ sung 2011), Đảng ta khẳng định một trong những đặc trưng của chế độ là “xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, chỉ rõ: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Quan điểm này được Hiến pháp 2013 tiếp tục ghi nhận, đồng thời chỉ rõ: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Nhà nước pháp quyền XHCN về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: Pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ XHCN là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Đồng thời, chúng ta xác định: Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng Việt Nam, không ngừng thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo. Trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng ta luôn coi trọng đổi mới hệ thống chính trị mà trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN. Thực tiễn qua 35 năm đổi mới, tư duy lý luận của Đảng về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ngày càng đầy đủ và phát triển hơn, tạo cơ sở vững chắc cho việc xây dựng một nhà nước trong sạch, vững mạnh, đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước trên con đường đi lên CNXH.

          Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN thật sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, góp phần tạo sự đồng thuận, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, đưa đất nước vào giai đoạn phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng./.

XUAN THUY-10.21

 

 

Một số giải pháp tăng cường hiệu quả hoạt động tư tưởng, lý luận trên không gian mạng

 


Không gian mạng có đặc điểm là dung lượng thông tin lớn, tốc độ truyền tải nhanh, vừa có độ bao phủ rộng khắp, vừa tương tác thông tin mạnh, tức thời. Trong thời đại internet thì mỗi một người chính là một IP; trong thời đại internet vạn vật thì mỗi một vật phẩm là một IP; trong thời đại trí tuệ nhân tạo thì mỗi một người máy cũng là một IP. Sự phát triển của công nghệ mới đang phá bỏ liên tục những ranh giới, những biên giới của không gian mạng. Cùng với việc mở rộng không gian mạng và tính liên kết ngày càng cao thì các vấn đề của xã hội, của con người lại càng nhiều và càng phức tạp. Không gian mạng đang chiếm lĩnh không gian và thời gian thực của con người ngày càng nhiều, ảnh hưởng ngày càng lớn với tốc độ ngày càng nhanh, chính vì vậy nó ảnh hưởng sâu rộng và phức tạp đến lĩnh vực tư tưởng, lý luận ở Việt Nam hiện nay.

          Một là, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, gắn lý luận với thực tiễn trên không gian mạng.

Không ngừng nghiên cứu lý luận, vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn cụ thể, đồng thời thường xuyên tổng kết thực tiễn, đúc rút và khái quát lý luận là yêu cầu đầu tiên, là nhiệm vụ căn bản. Trận địa tư tưởng cần vũ khí quan trọng nhất là vũ khí lý luận, song lý luận phải thật sự khoa học chứ không phải lý thuyết suông, lý luận phải xuất phát từ thực tiễn và mang hơi thở của cuộc sống, phải bao quát được những vấn đề nền tảng, có tính quy luật và đưa ra hướng giải quyết những vấn đề then chốt. Bất kể sự phát triển của không gian mạng và các phương tiện truyền thông như thế nào, thì suy nghĩ và quan điểm vẫn là thành tố quan trọng nhất của nội dung tư tưởng. Nếu không có nội dung, không có chiều sâu thì lý luận dù hay đến đâu cũng chỉ là hô khẩu hiệu, trống rỗng, không có bất kỳ ảnh hưởng tích cực nào. Chúng ta phải sử dụng lý luận làm nền tảng vững chắc cho định hướng chính trị và dẫn dắt dư luận. Trong trận địa tư tưởng trên không gian mạng, việc chúng ta có đứng vững và chiến thắng hay không liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ. Trước tình hình trong nước và quốc tế có những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những biến động khó lường như hiện nay, không gian mạng trở thành công cụ nền tảng mới để giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ và nhân dân; đồng thời, đó cũng là một không gian mới để đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu lý luận, là một phương thức mới để định hướng dư luận xã hội về mặt tư tưởng. Đây thực sự là một mặt trận quan trọng và không thể buông lỏng. Do đó, cần giữ vững và không ngừng tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác nghiên cứu lý luận, giáo dục chính trị, tư tưởng trên mặt trận trực tuyến.

Hai là, lấy dân làm gốc kết hợp với xây dựng đội ngũ làm công tác lý luận trên địa hạt không gian mạng.

Dù trong tình huống nào đi nữa, nhất là trên không gian mạng, chúng ta càng cần phải tuân thủ nguyên tắc “lấy dân làm gốc”, nghĩa là chúng ta cần cần có sự ủng hộ của những người quản trị , người điều hành , người điều tiết, người gây ảnh hưởng ,… cũng như của toàn thể cư dân mạng. Chúng ta cần phải luôn tôn trọng địa vị cao nhất của nhân dân, tin tưởng và dựa vào quần chúng nhân dân trên không gian mạng. Vấn đề cốt lõi của công tác tư tưởng trực tuyến là cách đối xử với quần chúng trên không gian mạng. Chúng ta nói lên tiếng nói của người dân, bênh vực nhân dân, đứng về phía quyền lợi của nhân dân thì nhân dân sẽ tin yêu chúng ta, bảo vệ chúng ta.

Định hướng tư tưởng bằng công tác lý luận không thể tách rời việc xây dựng đội ngũ những người làm công tác lý luận. Định hướng tư tưởng, lãnh đạo dư luận bằng chuyên gia và học giả là xu thế tất yếu. Mối quan hệ biện chứng giữa “xây” và “chống” chính là thể hiện ở đây. Những người làm công tác tư tưởng, lý luận trên không gian mạng đòi hỏi phải có tầm cao của tư tưởng, độ sắc nét của các nhận định, đánh giá và độ vững chắc của lý luận. Giống như Bác Hồ trước đây nói ai cũng hiểu, ai cũng thấm thía, những người làm công tác tư tưởng, lý luận cũng phải học theo phương pháp diễn ngôn đó. Nói một cách hình ảnh, lý luận không chỉ như một món ăn cầu kỳ dành cho khách sành ăn trong nhà hàng sang trọng, mà cần thiết hơn, nó còn phải là món ăn đường phố cho người lao động, món ăn hàng ngày trong mỗi gia đình. Những vấn đề lý luận mà quần chúng quan tâm cần được giải thích rõ ràng, cặn kẽ bằng ngôn ngữ của quần chúng; người làm lý luận phải nắm vững cách nói của quần chúng, sử dụng ngôn ngữ sinh động, gần gũi với nhiều hình thức đa dạng để dễ được quần chúng chấp nhận, để lý luận thực sự bén rễ và đi vào suy nghĩ,cũng như trở thành hành động cụ thể, thiết thực của người dân.

Ba là,truyền thông tư tưởng trên không gian mạng cần hay hơn, hấp dẫn hơn.

Thời đại thông tin ngày nay tạo ra những thay đổi lớn trong cấu trúc dư luận, thay đổi cách thức và phương tiện truyền thông, thậm chí còn tái tạo lại “hệ sinh thái” mới của nội dung. Trên không gian mạng, mọi người không muốn xem, nghe các bài viết một chiều.Trên không gian mạng, quyền lực của các tổ chức không tác động được đến cơ chế tiếp cận thông tin. Đồng thời, quan niệm truyền thông truyền thống lấy tin tức làm trung tâm đã dần thay đổi, chức năng giáo dục, chức năng tư tưởng của truyền thông ngày càng giảm đi, đồng thời các chức năng giao tiếp, chức năng giải trí ngày càng tăng lên. Nội dung thể hiện luận điểm của những người tham gia không gian mạng có xu hướng ngày càng ngắn lại, từ những cuộc tranh luận hàng trăm trang trên các diễn đàn trước kia, giờ đây được rút gọn, cá nhân hoá thành các bài dài trên trang cá nhân (blog), rồi rút ngắn hơn nữa ở các tút trên Facebook, rồi các thông điệp cực ngắn trên Twitter. Bản thân các video dài trên Youtube đã ngắn đi nhiều ở các nền tảng video khác, đặc biệt là ở TikTok với độ dài chỉ khoảng 15 giây. Với không gian mạng như vậy thì các bài nghiên cứu lý luận, các bài viết mang tính tư tưởng như hiện nay dường như dài và khô khan với cư dân mạng. Chính vì vậy, truyền thông tư tưởng trên không gian mạng muốn đạt hiệu quả thì thông tin cần phải thực sự hấp dẫn, thu hút và lấy được sự yêu thích của không chỉ đảng viên, mà cả của người dân, đặc biệt là giới trẻ./.

 

XUAN THUY-10.21

 

 

Giải pháp Phòng, chống âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch phản động

 

             Là một trong những nước XHCN còn lại đang tiến hành thắng lợi công cuộc đổi mới, cho nên, Việt Nam là một trong những trọng điểm chống phá của các thế lực thù địch. Chúng đang ra sức đẩy mạnh chiến lược DBHB và không loại trừ khả năng tiến hành CMM để chống phá cách mạng nước ta. Một trong những thách thức đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc đã được Đảng ta chỉ ra là: “Hoạt động “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch sẽ gia tăng. Các thế lực phản động tiếp tục sử dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền để can thiệp vào nội bộ ta”. Đây là nguy cơ lớn đối với sự ổn định và phát triển của đất nước.

Để phòng, chống DBHB và CMM của các thế lực thù địch, các cấp, các ngành, LLVT và toàn dân phải tỉnh táo trước những âm mưu thủ đoạn DBHB và CMM của các thế lực thù địch, phản động. Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn các hoạt động chống Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch, phản động; đảm bảo an ninh chính trị nội bộ; phòng ngừa, ngăn chặn không để xảy ra CMM trong mọi tình huống. Nâng cao ý thức cảnh giác của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trước âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, từ đó tham gia vào công tác phòng, ngừa, ngăn chặn làm thất bại ý đồ thực hiện CMM. 

Từng bước hạn chế, tiến tới loại bỏ các nguyên nhân, điều kiện có thể dẫn đến CMM ở nước ta. Trong đó tập trung giải quyết dứt điểm các “điểm nóng” về an sinh xã hội như khiếu kiện, đình công, chủ động triển khai các biện pháp bảo đảm an ninh trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội, kinh tế, tài chính, thông tin truyền thông, an ninh mạng, đẩy lùi tình trạng tham nhũng, lợi ích nhóm, không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để tập hợp lực lượng, hình thành, công khai hóa tổ chức chính trị đối lập ở trong nước, tiến hành các hoạt động biểu tình, bạo loạn trên quy mô lớn nhằm thực hiện CMM ở Việt Nam.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, củng cố bảo vệ vững chắc an ninh chính trị nội bộ; đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bất mãn, vi phạm pháp luật, nhất là trong hàng ngũ cán bộ các cấp. Kiên quyết loại trừ các điều kiện hình thành tổ chức chính trị đối lập, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. 

Củng cố lòng tin của các tầng lớp nhân dân đối với Đảng và chế độ XHCN. Tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, mở rộng hợp tác quốc tế tạo nền tảng, sức mạnh chính trị, phục vụ phát triển kinh tế, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, đảm bảo giải quyết triệt để mầm mống, nguy cơ CMM ở Việt Nam.

Phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc được định hướng và quy tụ bởi chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, do Đảng Cộng sản lãnh đạo và Nhà nước XHCN quản lý, điều hành; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để phòng, chống DBHB và CMM. Đây là một nguyên tắc chiến lược, quán triệt quan điểm tổng hợp trong lãnh đạo và tổ chức đấu tranh phòng, chống DBHB và CMM. Sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc được định hướng và quy tụ bởi chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là một đặc trưng bản chất và là một ưu thế vượt trội để giành chiến thắng trong suốt quá trình dựng nước, giữ nước của dân tộc ta. Nhờ đó, chúng ta có thể tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ to lớn của các lực lượng yêu chuộng hoà bình và tiến bộ trên thế giới, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để vượt qua mọi khó khăn, thách thức và giành chiến thắng./.

                                                                                XUAN THUY-10.2021

CẢNH GIÁC VỚI THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 


Với thủ đoạn lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội, khai thác thông tin trên báo chí chính thống về những vụ việc tiêu cực xảy ra trong đời sống xã hội để hư cấu, xuyên tạc, thổi phồng, lấy hiện tượng quy kết thành bản chất, đăng tải thông tin thật - giả lẫn lộn, đưa ra cái gọi là “tài liệu chứng minh” để tuyên truyền, xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước.

Chúng thường tung ra những thông tin bịa đặt về bí mật nội bộ Đảng nhằm tác động, làm gia tăng các biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, qua đó tác động, thẩm thấu vào một bộ phận cán bộ lão thành cách mạng, trí thức, văn nghệ sĩ để chính họ bộc lộ, đưa ra những quan điểm không đồng thuận, phản biện vô nguyên tắc, phản đối gay gắt với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kêu gọi từ bỏ Đảng, xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin. Thúc đẩy lối sống thực dụng, tư tưởng bất mãn, văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, nhất là thế hệ trẻ nhằm làm phai nhạt lý tưởng cách mạng, băng hoại đạo đức xã hội.

Trong thời gian qua, các tổ chức phản động ở bên ngoài tiếp tục duy trì, lập mới hàng nghìn website, blog, fanpage Facebook nhằm đẩy mạnh chiến dịch “chiến tranh tâm lý”, tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước; xuyên tạc chia rẽ nội bộ, gieo rắc tâm lý hoang mang, hoài nghi, bất bình trong nhân dân đối với chế độ.

Trong 5 năm qua, đặc biệt trong thời gian Đảng ta chuẩn bị tổ chức Đại hội XIII, chúng tập trung vào một số hoạt động sau:

Tạo lập hàng ngàn trang mạng xã hội, mới nhất là các kênh YouTube Nguyễn Văn Đài, Lê Dũng Vova,… trong đó nhiều trang giả mạo cá nhân, tổ chức có uy tín, núp dưới danh nghĩa tôn giáo, bảo vệ môi trường, dân sinh để thu hút người đọc, qua đó lan truyền các nội dung chống Đảng, Nhà nước.

Sử dụng các đài, báo bên ngoài kết hợp các kênh mạng xã hội để viết bài, cắt ghép, nhào nặn video xuyên tạc, phê phán Đảng, Nhà nước, chính quyền các cấp.

Lan toả các thông tin lượm lặt từ báo chí trong nước và từ tài khoản Facebook của một số cá nhân có quan điểm cực đoan trong nước nhằm phê phán chính quyền, Đại hội Đảng các cấp.

Tổ chức soạn thảo, phát tán “thư ngỏ”, “tâm thư”, “kiến nghị”, “đơn kêu cứu”,… để thu hút sự chú ý của dư luận, cổ súy hoạt động của một số đối tượng có quan điểm cực đoan. Tổ chức các chương trình, tọa đàm, phỏng vấn một số đối tượng chống đối, một số luật sư có tư tưởng phức tạp, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các Bộ, Ban, ngành để tuyên truyền gây mất đoàn kết nội bộ, hình thành dư luận “lề trái”…

Điểm mới trong phương thức, thủ đoạn tuyên truyền phá hoại tư tưởng so với 5 năm trước là: Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những thành tựu tiên tiến của khoa học công nghệ, ứng dụng các loại hình dịch vụ mới trên không gian mạng để đăng tải, phát tán thông tin sai trái, thù địch trên diện rộng với nhiều bình luận phức tạp. Sử dụng ứng dụng thoại trên internet, thư điện tử, phần mềm chuyên dụng, mạng xã hội để hoạt động chống phá. Chúng lập các nhóm kín trên mạng xã hội phân chia theo khu vực địa lý để tập hợp lực lượng trong nước tham gia tổ chức, chỉ đạo chống phá. Các đối tượng chống đối, bất mãn, khiếu kiện, lợi dụng tôn giáo thường xuyên liên hệ, trao đổi qua mạng với các đối tượng phản động lưu vong để nhận sự giúp đỡ hoặc trả lời phỏng vấn, phát trực tiếp trên mạng xã hội./.

X.THUY.10.21

 

ASEAN cần kiên định lập trường về Biển Đông


          Ngày 10-11, hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM) được tổ chức theo hình thức trực tuyến, dưới sự chủ trì của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thứ hai của Brunei Pehin Halbi bin Haji Yussof.

Bộ trưởng Phan Văn Giang tham dự lễ khai mạc Hội nghị ADMM Hẹp.

          Tham dự có Tổng Thư ký ASEAN Lim Jock Hoi và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng các nước ASEAN. Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam dự hội nghị tại điểm cầu Hà Nội.

          Phát biểu tại hội nghị, Đại tướng Phan Văn Giang khẳng định vai trò của ADMM 15 năm qua trong việc tạo khuôn khổ đối thoại và tham vấn cấp bộ trưởng quốc phòng trong ASEAN về các vấn đề chiến lược, quốc phòng, an ninh; qua đó góp phần tăng cường lòng tin, xây dựng nhận thức chung về các vấn đề an ninh khu vực, trong đó có vấn đề Biển Đông.

          Cụ thể, kể từ hội nghị ADMM 2011 tại Indonesia, vấn đề Biển Đông được coi là một vấn đề chung của khu vực, là nội dung thường xuyên được thảo luận và đưa vào Tuyên bố chung của ADMM.

          “Chúng ta không thể phủ nhận những đóng góp của ADMM vào việc xây dựng cộng đồng ASEAN những năm qua. Đặc biệt là việc duy trì an ninh, ổn định trong ASEAN, tăng cường lòng tin và chia sẻ quan điểm về các vấn đề an ninh khu vực cả truyền thống và phi truyền thống”, Đại tướng Phan Văn Giang nhấn mạnh.

          Đại tướng Phan Văn Giang cho rằng, trong bối cảnh các nước lớn hình thành ngày càng nhiều cơ chế đa phương, chiến lược mới, ADMM đã và sẽ tiếp tục phải nỗ lực thể hiện vai trò, vị thế của mình, đảm bảo cân bằng lợi ích trong và ngoài khối, đáp ứng sự quan tâm của các đối tác trong và ngoài ADMM+, bảo đảm các nước ngoài ASEAN có trách nhiệm đối với các vấn đề chung của khu vực. Khẳng định việc bảo vệ an ninh, an toàn hàng hải, hàng không là lợi ích của tất cả quốc gia trên thế giới, Đại tướng Phan Văn Giang nhấn mạnh, ASEAN cần kiên định lập trường nguyên tắc về Biển Đông, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982); thúc đẩy mạnh mẽ cam kết của các nước tuân thủ luật pháp quốc tế, hành xử trách nhiệm, kiềm chế, không có hành động gây căng thẳng, làm phức tạp tình hình; thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), thúc đẩy sớm hoàn thành bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế và UNCLOS 1982.

 


SỰ SAY MÊ CHẾ TẠO VŨ KHÍ CỦA GIÁO SƯ, VIỆN SĨ TRẦN ĐẠI NGHĨA

 

Vào năm 1946, có một người thanh niên đã từ bỏ cuộc sống giàu sang, danh vọng nơi đất Pháp với mức lương hiện hưởng mỗi tháng là 5.500 Phrăng, tương đương 22 lượng vàng lúc bấy giờ để theo Bác Hồ trở về nước, theo cách mạng. Kể từ đó, ông cùng các cộng sự đã nghiên cứu, chế tạo thành công nhiều loại vũ khí hiện đại để cung cấp cho chiến trường Việt Nam, góp phần làm nên thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Người thanh niên ấy có tên khai sinh là Phạm Quang Lễ, sinh ngày 13/9/1913, tại làng Chánh Hiệp, quận Tam Bình (nay là xã Hoà Hiệp, huyện Tam Bình), tỉnh Vĩnh Long. Sau này, ngày 05/12/1946, được Bác Hồ đặt tên là Trần Đại Nghĩa.

Phạm Quang Lễ - Trần Đại Nghĩa đã nhận ra tầm quan trọng của vũ khí đối với cách mạng Việt Nam ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, nên khi được giao nhiệm vụ lo vũ khí cho bộ đội đánh giặc thì ông đã bắt tay vào nghiên cứu, chế tạo một cách say mê bằng tất cả sự quyết tâm và nghị lực phi thường.


Trở về nước, ông làm việc trong một căn phòng nhỏ chật hẹp chỉ độ 10m2, bên trong lại còn chứa đầy đạn và thuốc nổ. Loại vũ khí mà ông nghiên cứu, chế tạo đầu tiên đó là súng Bazooka dựa theo mẫu có sẵn của Mỹ do Đồng Minh cung cấp. Công việc tưởng chừng đơn giản, thế nhưng khi bắt tay vào thực hiện thì không hề đơn giản tí nào. Nguyên nhân là do chúng ta thiếu máy móc, thiếu nguyên vật liệu, thiếu thợ lành nghề… Do đó, ông phải nghiên cứu để thích nghi thiết kế và kết cấu của súng cho phù hợp với nguyên vật liệu và điều kiện gia công thiếu thốn của ta. Và kết quả của sự say mê nghiên cứu, làm đi làm lại, thử đi thử lại nhiều lần thì sản phẩm vũ khí súng Bazooka đã hoàn thành với chiến công đầu tiên là tiêu diệt được hai xe tăng của địch ở gần Chùa Trầm - Hà Đông, làm cho kẻ thù khiếp sợ và trở thành móc son của ngành Quân giới Việt Nam.


Dù công việc khó khăn, điều kiện làm việc thiếu thốn, nguy hiểm, đời sống vật chất kham khổ mọi bề nhưng ông không bao giờ xao nhãng nhiệm vụ của mình. Ông đã làm việc đến quên ăn, quên ngủ. Có những lúc, mọi người gọi ông ăn cơm, mà ông cứ ngồi im như phỗng chỉ vì mải mê nghiên cứu tài liệu vũ khí. Trong giấc ngủ ngắn ngủi và cũng rất hiếm hoi có được sau những giờ làm việc căng thẳng, mệt mỏi, ông lại thường xuyên ngồi dậy để làm việc với cây bút và ngọn đèn dầu trong đêm. Còn trong các túi áo, túi quần thì lỉnh kỉnh đủ các linh kiện, dụng cụ cần thiết cho việc nghiên cứu.


Do tình hình chiến sự ác liệt, nhu cầu đòi hỏi vũ khí hiện đại để cung cấp cho chiến trường, nên ông chỉ có một niềm đam mê duy nhất là chế tạo được thật nhiều vũ khí hiện đại, phù hợp với yêu cầu và cách đánh của chiến trường để giúp bộ đội đánh giặc đạt hiệu quả cao. Do đó, một khi đã bắt tay vào nghiên cứu, chế tạo vũ khí là ông say mê đến quên hết cả sự đời. Kết quả của sự say mê đó đã giải quyết được nhiều vấn đề khó khăn, quan trọng trong việc chế tạo vũ khí. Chẳng hạn như đã giải quyết được vấn đề làm thuốc súng cháy chậm - vấn đề hóc búa nhất trong đề án chế tạo Bom bay.


Chuyện kể rằng: Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, khi ta nghiên cứu chế tạo Bom bay thì gặp phải vấn đề khó khăn là làm thuốc súng cháy chậm. Bởi lúc bấy giờ, thuốc súng của ta luôn phát cháy dữ dội sau khi châm ngòi, không thể dùng làm thuốc phóng cho đạn được. Có một hôm, Giáo sư ra suối tắm. Thấy lâu quá mà không về nên mọi người bổ đi tìm vì lo có chuyện gì không may xảy ra. Đến nơi, thì thấy ông đang ngồi trên một tảng đá giữa dòng suối, người vẫn còn khô. Sau đó, ông rời con suối và tiến hành thành công thí nghiệm làm thuốc súng cháy chậm. Và cho đến lúc ấy, mọi người mới biết rằng: hoá ra chỉ vì mải mê suy nghĩ phương án làm thuốc súng cháy chậm mà ông đã quên cả tắm.


Còn theo lời kể của Bà Nguyễn Thị Khánh – phu nhân Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa: Vì mãi tập trung suy nghĩ để chế tạo vũ khí nên nhiều đêm đang ngủ, chợt nghĩ ra một công thức nào đó, ông bật dậy ghi ghi, chép chép hoặc có những đêm ông nằm ngủ mà miệng vẫn lẩm nhẩm chuyện vũ khí. Và vì dồn hết tâm trí, sức lực vào việc ấy nên nhiều khi ông trở nên lơ đãng với mọi việc xung quanh. Có lần trong ngày nghỉ, bà giao cho ông nhiệm vụ ở nhà trông con để đi chợ. Thế nhưng khi đi chợ về, thì bà thấy con cái mặt mài lem luốc, quần áo lấm lem, đang chơi nghịch một mình, còn ông thì đang mải mê đọc sách về vũ khí.


Đằng sau câu chuyện về sự say mê chế tạo vũ khí chính là lòng yêu nước nồng nàn của Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa. Bởi lẻ, đối với ông, nó không chỉ đơn thuần là niềm đam mê cá nhân, say mê để phục vụ cho mục đích riêng tư mà là say mê để phục vụ cho quê hương, đất nước. Đây là một trong những hành động và là đức tính quý báu trong vô vàn hành động và đức tính quý báu của Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa - một bậc vĩ nhân, một nhà khoa học lớn, một nhân cách lớn.


Có lẽ học tập và làm việc sẽ chiếm phần lớn trong cuộc đời của mỗi con người. Học để trang bị kiến thức phục vụ cho công việc, cho cuộc sống, và để biến ước mơ, hoài bão thành hiện thực. Tuy nhiên, để thực hiện được điều đó, thì đòi hỏi con người phải có sự yêu thích và say mê tìm tòi, nghiên cứu. Hy vọng câu chuyện về sự say mê chế tạo vũ khí của Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa sẽ là bài học có sức mạnh lan toả tích cực trong quá trình học tập, lao động và cống hiến cho tất cả mọi người trong mọi thời đại. Đồng thời, cũng là dịp để mọi người có thể tự soi lại mình trong gương về tinh thần, thái độ và trách nhiệm của bản thân đối với công việc hiện tại./.


Nguồn tin: Phan Thị Mỹ Xuân, Khu lưu niệm GS.VS Trần Đại Nghĩa


NGƯỜI MẸ VIỆT NAM 🇻🇳♥

 

Người mẹ Việt Nam anh hùng

Của một đất nước “Máu và hoa”

Mẹ hóa thân vào những bài ca

Mẹ gánh trọn nỗi đau cả chiều dài đất nước


Người mẹ Việt Nam anh hùng

Đất nước Hồ Chí Minh

Trong mất mát hy sinh

Mẹ vẫn lặng thầm… nước mắt

Lòng nhân từ

Nhưng quyết không đội trời chung với giặc

Tận trung một lòng với nước với dân


Người mẹ Việt Nam anh hùng

Hiện thân của tự do độc lập

Luôn giữ trong mình

Những tinh hoa dân tộc

Trước nỗi đau mẹ không hề khóc

Nước mắt cạn

Môi vẫn nở nụ cười


Con kính yêu người!

Người mẹ Việt Nam ơi!

Trong cuộc sống đời thường

Mẹ nhân từ, đạo lý

Khi đất nước bị xâm lăng

Mẹ thành người dũng sĩ

Hy sinh riêng mình

Để đất nước

Hồi sinh.


Tác giả: Hoàng Bích Hà

TẤM LÒNG BÁC HỒ VỚI NÔNG DÂN


   Bác Hồ luôn quan tâm đến mọi tầng lớp xã hội; trong đó, Người đặc biệt quan tâm giai cấp nông dân. Trong con đường đi đến hạnh phúc ấm no, người nông dân Việt Nam luôn có Bác đồng hành.

   BÁC HỒ THĂM ĐỒNG RUỘNG KIỀU MAI

   Trời vẫn nóng oi ả, cái nóng khô khan làm mọi người khó chịu. Thời vụ làm mùa sắp hết, mấy tháng rồi trời vẫn chưa mưa, nắng hạn kéo dài, đồng ruộng Kiều Mai đất khô cứng, rạn nứt, bạc màu đang khát khao chờ nước .

   Tan họp ra về, trời đã khuya vừa đi bà con vừa bàn tán sôi nổi: không thể cứ ngồi chờ mưa mới cày cấy được, bắt sông đổ nước vào đồng làm mùa cho kịp thời vụ. Đám thanh niên hăng hái bàn nhau chuẩn bị cờ, khẩu hiệu, ai cũng hồ hởi phấn khởi quyết tâm hưởng ứng "chiến dịch chống hạn" do Ban ủy nhiệm thôn Kiều Mai phát động tổ chức vào ngày hôm sau.

   Buổi sáng ngày 7-8-1955 (tức ngày 20-6 âm lịch), bà con nông dân Kiều Mai đang sôi nổi thi đua đào vét mương lấy nước sông Nhuệ dẫn vào đồng. Những lá cờ đỏ sao vàng được cắm trên gò cao cạnh Cầu Diễn bên đường 11A. Mọi người đang tấp nập làm việc, người xắn đất, người bốc đất chuyền tay nhau, mồ hôi lấm tấm trên trán, thấm qua áo nhưng ai cũng vui vẻ, khẩn trương làm việc. Trên đường quốc lộ, một chiếc xe ô tô chạy từ Sơn Tây về Hà Nội. Xe dừng bánh gần chỗ mọi người đang đào vét mương, cửa xe vừa mở Bác từ trên xe bước xuống.

   - Bác... Bác Hồ!...

   Mọi người đều nhận ngay ra Bác, Bác đến bất ngờ quá, ai cũng muốn reo lên. Tất cả đều dừng tay và nhìn về phía Bác, đồng thanh chào Bác, Bác chào mọi người. Dáng người hơi cao, vầng trán rộng, đôi mắt sáng, chòm râu dài, Bác mặc bộ quần áo kaki bạc mầu, chân đi dép cao su bước nhanh nhẹn tới chỗ mọi người. Ai cũng hồi hộp xúc động cứ đứng im chăm chú nhìn Bác không nói nên lời. Bác tiến lại gần chỗ anh Trần Văn Đăng rồi hỏi mọi người:

   - Thiếu nước phải đi đào vét mương vất vả các cô, các chú có thắc mắc gì không?

   Mọi người cùng trả lời:

   - Thưa Bác chúng cháu rất phấn khởi, không thắc mắc gì ạ!

   Bác khen thế là tốt. Bác hỏi anh Đăng:

   - Trong số bà con đi đào mương ở đây có ai bị bắt buộc phải đi làm không?

   - Thưa Bác không có ai bị bắt buộc ạ! Vì nắng hạn kéo dài mọi người đều tự thấy phải chung sức đào mương đưa nước  lên đồng cày cấy cho kịp thời vụ.

   Bác khen nông dân Kiều Mai tích cực đào mương, Bác căn dặn mọi người phải chủ động lấy nước cày cấy, không chờ đợi trời mưa, có thế sản xuất mới thắng lợi được. Bác kể chuyện những nơi chống hạn tốt cho mọi người, rồi Bác nói tiếp, đại ý:

   Đồng ruộng của ta mầu mỡ nhưng còn nhiều nơi chưa cấy được hai vụ vì ta làm thủy lợi chưa giỏi. Các cô, các chú cố gắng đào đắp nhiều mương máng hơn nữa để biến số ruộng một vụ thành hai vụ, thu hoạch được nhiều thóc, đời sống sẽ ấm no hơn. Xưa không có ruộng dân ta chịu khổ, bây giờ làm chủ ruộng đồng lẽ nào đời sống của ta lại không khấm khá hơn trước.

   Lắng nghe lời nói chân tình, giản dị của Bác ai cũng xúc động thấm thía sự quan tâm sâu sắc của Đảng, của Bác, ai cũng muốn đồng thanh thưa với Bác: chúng cháu sẽ quyết tâm làm được những lời chỉ bảo của Bác.

   Thấy chân Bác dính nhiều bùn, cụ Vũ Thị Năng mang một chậu nước lên để Bác rửa chân, Bác ngăn lại và thân mật nói với cụ Năng:

   - Tôi còn khỏe hơn cụ, để tôi tự đi rửa lấy.

   Nói xong Bác đi xuống sông Nhuệ rửa sạch chân tay, mọi người theo Bác ra bờ sông, Bác bảo tất cả mọi người:

   - Nếu các cô, các chú sản xuất tốt hơn nữa thì Bác lại về thăm.

   ... Sau đó, xe của Bác đã đi xa, mọi người vẫn đứng bên đường nhìn theo, lưu luyến, cảm động, ai cũng muốn được gần Bác hơn nữa để được nghe những lời chỉ bảo của Người, từng lời nói, cử chỉ của Bác rất gần gũi, thân thiết còn khắc sâu trong tâm trí mọi người.

   Tin Bác Hồ về thăm lan nhanh khắp xóm làng, mọi người kể cho nhau nghe những lời chỉ bảo của Bác và cùng nhau bàn bạc kế hoạch đào đắp mương máng, cải tạo đồng ruộng, hăng hái lao động sản xuất. Những năm sau đó Kiều Mai đi vào sản xuất tập thể, cùng nhau chung sức, chung lòng phát triển sản xuất. Mọi người mong chờ có ngày Bác lại về thăm.

   Ngày ấy đã đến với xã viên hợp tác xã Kiều Mai. Sáng ngày 14-6-1961 trên khu đồng Song của hợp tác xã Kiều Mai, xã viên đang hăng hái phấn khởi thu hoạch vụ lúa chiêm xuân và chuẩn bị làm mùa. Hàng trăm cán bộ công nhân viên Nhà nước cũng về gặt giúp nông dân làm tăng thêm cảnh lao động nhộn nhịp, khẩn trương. Từ ngoài đồng về sân kho của hợp tác xã từng tốp người đi về tấp nập. Trên đường 11A một chiếc xe màu đen chạy từ Hà Nội về phía Sơn Tây, xe dừng bánh bên gốc cây gạo và giếng nước đầu làng Kiều Mai. Anh Nguyễn Đình Hưng đang gánh lúa về sân kho của hợp tác xã. Vừa về tới đó anh trông thấy Bác từ trên xe bước xuống. Thoáng nhìn, anh Hưng nhận ngay ra Bác: "Bác Hồ!". Chỉ có mình anh ở đây, cuống lên vì phấn khởi, hồi hộp, gánh lúa vẫn ở trên vai, anh đứng im chào Bác:

   - Cháu chào Bác ạ!

   Bác tươi cười hỏi anh:

   - Chú là cán bộ hay xã viên?

   - Thưa Bác, cháu là đội trưởng sản xuất.

   Bác nói:

   - Tốt lắm, chú cần phải động viên xã viên tích cực sản xuất chăm sóc đồng ruộng cho tốt để vụ lúa sau năng suất cao hơn vụ lúa này.

   Bác cầm một lượm lúa trên gánh lúa của anh và hỏi:

   - Chú cho Bác biết ước thu vụ này mỗi sào được bao nhiêu ki lô?

   - Thưa Bác, mỗi sào ước thu từ một tạ hai đến một tạ rưỡi ạ! - Anh định đặt gánh lúa xuống để dẫn Bác đi thăm xã viên đang gặt dưới đồng nhưng Bác ngăn anh lại và bảo:

   -  Chú cứ gánh lúa về sân kho, đừng đặt xuống đường để khỏi rơi rụng thóc lãng phí.

   Bác cùng đồng chí bảo vệ đi về khu ruộng Song nơi xã viên đang gặt lúa. Qua khu đồng Con Cá tổ cày của hợp tác xã đang cày ruộng. Bác tới nơi mọi người đều ngỡ ngàng, gặp hai ông Nguyên Hữu Uy và Nguyễn Đức Lân đang cày dưới ruộng, ông Uy đang cày một con trâu vừa gầy vừa đói. Bác hỏi ông Uy:

   - Chú ăn cơm sáng chưa?

   Ông Uy trả lời Bác:

   - Thưa Bác cháu ăn cơm sáng rồi ạ!

   - Chú ăn no mới cày được tới trưa! Sao lại để con trâu gầy đói thế?

   Ông Uy đang lúng túng, ngượng ngùng chưa biết trả lời Bác ra sao, Bác nói tiếp:

   - Con trâu là đầu cơ nghiệp, phải chăm sóc tốt thì nó mới đủ sức khỏe để cày sâu bừa kỹ, mới sản xuất được ra nhiều lúa gạo cho dân ta ấm no, nước ta giầu mạnh.

   Bác bảo ông Uy:

   - Chú hạ cái cày xuống thêm một nấc để đường cày được sâu thêm.

   Lời nói chân tình, giản dị nhưng vô cùng sâu sắc của Bác làm cho mọi người càng thấm thía, ai cũng không ngờ rằng ở Bác một lãnh tụ của Đảng, của dân tộc lại am hiểu tường tận công việc nhà nông đến như vậy. Lúc đó đồng chí Trác, chủ nhiệm hợp tác xã, cũng vừa tới nơi. Bác hỏi đồng chí Trác:

   - Chú làm gì?

   - Thưa Bác cháu là chủ nhiệm hợp tác xã ạ.

   Phấn khởi hồi hộp vì vinh dự được gặp Bác một cách bất ngờ quá. Nói xong đồng chí vội vàng chạy đi báo tin cho xã viên đang gặt dưới đồng được biết Bác Hồ về thăm xã viên đang gặt lúa.

   Tin Bác đến thăm lan nhanh khắp cánh đồng, mọi người đều chạy cả về phía Bác, ai cũng muốn được gần Bác.

   "Bác... Bác Hồ!" Mọi người reo lên, xúc động, phấn khởi khi thấy Bác khỏe mạnh, hồng hào, nét mặt hiền từ, vui vẻ, dáng nhanh nhẹn. Bác mặc bộ quần áo gụ, quần xắn đến đầu gối. Bác lội dưới ruộng, tay nâng từng gồi lúa xem từng bông. Bác nhặt những bông lúa rời đặt vào gồi lúa, tới gần một số xã viên, Bác hỏi bà Nguyễn Thị Bê:

   - Lúa năm nay có tốt không? Phần phân phối ăn chia của xã viên với phần của cán bộ có đều nhau không?

   Bà Bê còn đang lúng túng chưa kịp trả lời, Bác lại hỏi tiếp:

   - Giai cấp công nhân và nông dân có cần đoàn kết chặt chẽ với nhau không?

   Chị Nguyễn Thị Tre đứng gần đó nhanh nhảu thưa với Bác:

   - Thưa Bác lúa năm nay tốt lắm ạ! Phần phân phối ăn chia cho xã viên cũng như phần của cán bộ, giai cấp nông dân cần phải đoàn kết chặt chẽ với giai cấp công nhân chứ ạ!

   Bác tươi cười bảo chị Tre:

   - Tôi hỏi cô này, chứ tôi có hỏi cô đâu mà cô trả lời. Cô có phải là cán bộ không?

   Tất cả mọi người cùng cười vui vẻ. Bác nói với mọi người đại ý: Bây giờ bà con ta làm chủ ruộng đồng, chung sức cùng nhau làm ăn tập thể, dẫu còn nhiều khó khăn gian khổ, nhưng chắc chắn đời sống sẽ ngày một khá hơn. Nước ta nghèo nhưng ta phải tự lực cánh sinh xây dựng chủ nghĩa xã hội, không nên ỷ vào sự giúp đỡ của các nước bạn. Miền Nam nước ta còn giặc Mỹ chiếm đóng, đồng bào miền Nam đang bị giặc Mỹ giết hại, ta không thể không nghĩ tới bà con ta ở trong đó. Sản xuất giỏi, xây dựng hợp tác xã vững mạnh là thiết thực góp phần ủng hộ đồng bào miền Nam ruột thịt. Bác kể chuyện những nơi cần kiệm xây dựng hợp tác xã, sôi nổi áp dụng khoa học kỹ thuật. Hợp tác xã Kiều Mai nên học tập và làm theo những nơi đó. Bác căn dặn Ban quản trị hợp tác xã phải làm hết sức mình, không được quan liêu, hách dịch, không được tham ô, lãng phí, nhớ làm tốt công tác bảo vệ sức khỏe của phụ nữ và trẻ em.

   Bác nói tiếp:

   - Bác về thăm các cô, các chú đang lao động sản xuất làm ảnh hưởng tới một số thời gian, các cô, các chú có làm bù được thời gian Bác đến thăm và nói chuyện không?

   Nhiều người cùng đồng thanh trả lời Bác:

   - Thưa Bác, chúng cháu đều làm bù lại vượt mức thời gian mà Bác đến thăm và nói chuyện ạ!

   Bác đứng giữa ruộng, nước  quá mắt cá chân, một con đỉa bám vào chân Bác. Em Lê Thị Hồng đến gỡ đỉa cho Bác, Bác vui vẻ bảo em:

   - Bác không sợ đỉa, cháu cứ để Bác tự gỡ. Bác hỏi chị Lanh:

   - Cô ở đội nào?

   - Thưa Bác, cháu ở đội 1 ạ.

   - Đội của cô có bao nhiêu gia đình?

   - Thưa Bác, đội của cháu có ba mươi gia đình ạ.

   Bác hỏi tiếp:

   - Vào hợp tác xã có hơn đứng ở ngoài không?

   - Thưa Bác, hơn nhiều ạ.

   Một đoàn các bà, các chị gánh phân chuồng ra bón ruộng, họ đặt quang gánh chạy lại chào Bác, Bác nhắc một bên phân rồi hỏi:

   - Các cô gánh mỗi gánh được bao nhiêu cân?

   - Thưa Bác, chúng cháu gánh được khoảng ba mươi lăm, bốn mươi cân ạ!

   Bác nói:

   - Chỉ thế thôi ư, dùng xe chở phân có lợi hơn không?

   Trong thôn, cụ già, trẻ em, xã viên hợp tác xã đang làm việc ở sân kho nghe tin Bác về thăm đều vui mừng phấn khởi chạy ra đón Bác. Tới bờ giếng Trại, đoàn người gặp Bác từ khu ruộng Song đi lên. Bác thăm hỏi sức khỏe các cụ phụ lão, các cháu thiếu nhi, Bác căn dặn mọi người tích cực thi đua đẩy mạnh mọi mặt công tác, sản xuất, các cháu thiếu nhi phải chăm học, chăm làm.

   Thay mặt các cụ phụ lão và nhân dân Kiều Mai, cụ Nguyễn Đức Tộ mời Bác vào thăm xóm làng. Bác từ chối vì thời gian có hạn, Bác tạm biệt các cụ phụ lão cùng nhân dân Kiều Mai.

   Xe từ từ chuyển bánh, mọi người vẫy tay lưu luyến tiễn đưa Bác. Những lời chỉ bảo của Bác còn in sâu trong tâm trí mọi người như truyền thêm sức mạnh cho Kiều Mai đi lên trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.

   Từ đó đồng ruộng Kiều Mai cũng chuyển mình và từng bước đổi mới, từ cấy một vụ chuyển thành cấy hai vụ. Ghi nhớ công ơn của Bác "Khu đồng 10 tấn", "những thửa ruộng Bác Hồ" được hình thành trên cánh đồng được Bác đến thăm là nguồn sức mạnh động viên mọi người thi đua lao động sản xuất cải tạo đồng ruộng, đường sá, bờ vùng, bờ thửa được đắp to chạy ngang dọc, xe cải tiến ngày càng nhiều, giải phóng đôi vai người lao động. Đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện. Trường học, nhà hộ sinh, nhà trẻ, v.v. lần lượt mọc lên. Kiều Mai cùng với các thôn của xã Phú Minh từng bước đi lên theo tiếng gọi của Đảng, của Bác Hồ.


     Nguyễn Thị Tịch kể (2- 9-1983)