Thứ Bảy, 13 tháng 11, 2021

VỀ CON NGƯỜI TRƯƠNG VĨNH KÝ!

LTS: Bến Tre có nhiều nhân vật xứng đáng là niềm tự hào chẳng những của một xứ dừa mà còn là của cả nước ta về lòng TẬN TRUNG VỚI NƯỚC, TẬN HIẾU VỚI DÂN như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Nguyễn Thị Định, Ca Văn Thỉnh…. Tuy nhiên trên Tạp chí Văn nghệ Hàm Luông, số Xuân Bính Thân 2016 với bài “Xứ dừa – nơi sinh ra những con người huyền thoại” của tác giả Đinh Hữu Quang đã đưa PHAN THANH GIẢN, Trương Vĩnh Ký sánh ngang tầm những tên tuổi ấy là một việc làm lộn xòng lịch sử. Chuyện này xưa rồi nhưng lâu lâu lại rộ lên theo dòng thời cuộc nên “người yêu sử” đành tra lại tích cũ trình với bà con Bến Tre và bạn đọc gần xa về hai nhân vật lịch sử đầy tai tiếng này.


Giữa lúc tổ quốc ta bị xóa tên trên bản đồ thế giới, dân ta làm nô lệ. Trước sức giặc bạo cường, để giành độc lập và chủ quyền dân tộc, thì cụ Sào Nam quyết liệt: “Đúc gan sắt để dời non lấp biển/ Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ”, cụ Tây Hồ chủ trương “Hưng dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, trong khi họ Trương suốt đời tận tâm tận tụy dùng cái tài cái trí của mình nhằm “Mục tiêu biến đổi và đồng hóa dân tộc An Nam!”, cũng như chính tay ông viết ra những lời gan ruột: “Tôi càng phải tỏ ra biết ơn nước Cộng hòa (Pháp) không những đã công nhận tôi là đứa con nuôi mà thôi, lại còn cho tôi nhiều vinh dự, và nhất là đã tin cẩn tôi lắm lắm!”, “Tôi là người Pháp từ trái tim và sẵn sàng để trở thành người Pháp thực sự”, “Nước Pháp mà tôi phụng sự và hoàn toàn thuộc về nó”… chớ đâu phải do ai đó ác ý gán cho ông! Ba con người tài cao nhưng chí hướng đối nghịch nhau như vậy mà ông Nguyên Ngọc lại rước ngồi chung trên một bệ thờ liệu có chạnh lòng cả người đang sống lẫn người đã chết?!

Trong trào lưu hội nhập, dựa vào sự bảo trợ của các thế lực nước ngoài, lợi dụng quyền tự do dân chủ, gần đây rộ lên những dư luận trái chiều lịch sử. Trước hết là đủ các thứ “nhà” hết lời tán tụng ông thầy dòng đã vứt bỏ chiếc áo choàng tu núp dưới nhãn hiệu văn hóa để thực hiện những mưu đồ của quân cướp nước. Trách ai cứ khơi ra, dẫn người ta lẫn lộn điều phải trái, chính tà, chẳng những đã lỗi với lịch sử mà còn là điều trái đạo trong việc gây dựng những lớp người sau có tình yêu thương và trách nhiệm với dân với nước. Người khuất bóng mong được nằm yên mà những ai gây ra điều ngang trái để vì lòng tự trọng dân tộc buộc phải nói ra khiến nỗi giận khôn nguôi mà lòng cảm thương khoan thứ lại vơi đi!

Nhà giáo lão thành Nguyễn Thái An, học trò trường Trương Vĩnh Ký thập niên 1950, từng một thời coi tiền nhân Trương Vĩnh Ký như là thần tượng, đã cùng bè bạn gom nhặt tư liệu và các huyền thoại về ông. Nhập thế lại theo nghiệp làm thầy, dạy môn Kiến thức xã hội tại trường Trung học kiểu mẫu Thủ Đức nổi tiếng từ 1965 đến 1975. Trải một đời tìm hiểu và chiêm nghiệm, ông đưa ra nhận xét như sau:

- Người học giỏi có nhất thiết đồng nghĩa là người yêu nước? Trong lịch sử Việt Nam đầy dẫy những tên tuổi trí thức lớn mà hợp tác đắc lực với quân cướp nước bức hại đồng bào. Trần Ích Tắc vừa là hoàng thân, vừa là đại trí thức rất có ảnh hưởng trong xã hội đương thời nhưng vì khiếp nhược trước sức mạnh bạo cường của giặc Nguyên-Mông đã phản bội quê hương nòi giống, lê tấm thân tàn, gửi xương nơi xứ người xa lạ, để lại tấm gương xỉ nhục muôn đời.

- Có thật là học giả họ Trương sống một cuộc đời bần hàn mà thanh sạch như học giả Hồ Hữu Tường ca tụng? Thực ra trong khi nhà nước thực dân mặc sức làm những điều “bại nhân nghĩa nát cả đất trời, vùi con đỏ dưới hầm tai vạ” thì Trương được giao trọng trách, trả lương hậu hỹ và hàng trăm đầu sách viết ra đều được bao thầu trọn gói! Trước khi chết dư của dựng nhà thờ, phần mộ uy nghi tráng lệ.

- Những người ủng hộ ông Trương Vĩnh Ký đã tâng bốc, bôi bóng ông ta đến mức lố bịch. Thực ra Trương chỉ là một bộ mặt sáng láng trong đám collabo thời đó? (collabo đồng nghĩa với aide à l’ennemi, có nghĩa là tay sai cho kẻ thù). Nếu vẫn khẳng định Trương Vĩnh Ký không phản quốc thì phải đánh giá lại Trương Công Định như một tên bất lương, phá rối trị an!

Ở đất Sài Gòn này không thiếu những trí thức con nhà giàu, tây học, vào làng Tây nhưng không hợp tác với Tây như bác vật Lưu Văn Lang, không ít người lại chống Tây quyết liệt tới mức sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình như Luật sư Thái Văn Lung, Kỹ sư Nguyễn Ngọc Nhựt, Nhà ngoại giao Nguyễn Văn Kỉnh… Còn như ông Trương Vĩnh Ký không vào làng Tây là mưu sâu kế độc của ông ta đã bộc lộ ra với quan thầy: “Lúc đã gia nhập quốc tịch Pháp, tôi sẽ mất hết uy tín, mất thế lực, chẳng còn được vua, triều đình và dân chúng An Nam tín nhiệm nữa”!


- Cái việc người Pháp đặt tên trường Petrus Ky không phải là để vinh danh công trình sáng tác đa dạng của ông ta mà là để đề cao một thuộc hạ tận tâm với nhà nước thực dân. Trái lại trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống ách đô hộ phương tây, nhiều thế hệ thầy trò trường Petrus Ky đã không ngại gian khổ hy sinh, đồng hành cùng dân tộc, trái hẳn với những việc làm của Trương học giả. Bởi họ vẫn tiếp bước truyền thống quật cường của dân tộc Việt Nam dù bị đặt trong hoàn cảnh éo le!

Nhân thân và tư liệu về Trương Vĩnh Ký (1837 – 1898) còn lưu nhiều trong thư khố là bằng chứng hiển nhiên để so với những lời tôn vinh lắt léo lộn xòng tô đen thành trắng tới mức độ nào. Xin giới thiệu một số tư liệu để bạn đọc tham khảo và cũng là để nhắn nhủ tới những ai vì những động cơ bất chính nào đó đã bất chấp sự thật lịch sử dể đánh lừa công chúng:

1/ Petrus Ky giỏi cỡ nào?

Trước lời ca tụng học giả họ Trương được liệt vào hàng “thế giới thập bát văn hào”, cố TS Vật lý Trần Chung Ngọc làm việc tại ĐH Wisconsin - Madison (Mỹ) và là nhà nghiên cứu lịch sử, tôn giáo được cảm mến, bình luận qua một đoạn văn giản lược như sau:

“Bảo rằng Petrus Ky là “nhà bác ngữ học kỳ tài đa năng, đa diện trên nhiều lãnh vực khoa học” nhưng không đưa ra bất cứ tác phẩm khoa học, văn chương tiêu biểu nào của Petrus Ky? Và tổ chức nào đã bầu chọn Petrus Ky vào hàng đầu danh nhân thế giới? Cố gắng tìm qua internet tôi chỉ thấy trên trang mạng của Huỳnh Ái Tông http://vietsciences.free.fr/vietnam/danhnhan/tacgia/truongvinhky.htm viết về Petrus Ky nhưng không cho biết tài liệu xuất xứ, như sau: “Trong khoảng năm 1873-1874, ông (Trương Vĩnh Ký) được liệt vào hàng “thế giới thập bát văn hào”, theo mẫu tự như sau: Bác sĩ Allemand, Banadona d’Ambrum, Bonhomme, Cazot, Đại tướng Chambron, Bá tước Chambord, Christophie, Conte, Desmaze, Duprat, Dupuy, Garnier-Pages, Guizot, Lafayette, Lefèvre-Pontalis, Marcon, Pétrus Ký, Thống chế Saldonha Oliveirae Daun”. Mười tám tên tuổi trên có phải là các văn hào thế giới? Dupuy, Guizot là chính trị gia. Còn bác sĩ, đại tướng, thống chế, bá tước… là những đại văn hào của nước Pháp thời kỳ nào? Tại sao không thấy điểm danh các đại văn hào của Pháp trong thế kỷ XIX quen thuộc nhất như: H.B Stendhal, A. Lamartine, H. Balzac, A. Dumas, V. Hugo, P. Mérimée, G. Sand, A. Musset, T. Gautier, C. Baudelaire, G. Flaubert, A. Daudet, E. Zola; G. Maupassant? Tác phẩm của các đại văn hào này đều có trong mọi thư viện của các đại học lớn, nổi tiếng nhất trên thế giới, được dùng trong học trình đại học. Sao không tìm được tác phẩm nào của Petrus Ky trong số đó”?

Và TS Trần Chung Ngọc đã kết luận: Tôi cho đó là một danh sách “dỏm”. Pétrus Ký chỉ được các quan thầy thực dân Pháp và Vatican biết đến mà thôi”!

2/ Mục đích Petrus Ky viết sách để làm gì?

Nhà nghiên cứu Phạm Long Điền viết: “Trong suốt 28 năm sáng tác, Trương Vĩnh Ký cho ra đời 121 tác phẩm Việt có, Pháp có. Hầu hết các tác phẩm của ông đều phục vụ cho quyền lợi của nhà nước thuộc địa và chính ông cũng đã công khai nhìn nhận chủ đích này”. Trong cuốn “Ngàn năm soi mặt” (Văn Hóa – 2002), góp phần nghiên cứu về Trương Vĩnh Ký, Tiến sỹ Sử học Nguyên Vũ (Vũ Ngự Chiêu) đặt ra nhiều vấn đề: Có thật là Trương Vĩnh Ký biết tới 26 thứ tiếng không? Giá trị nội dung các tác phẩm của ông? Không ít cái gọi là tác phẩm mà thực ra chỉ là 5-10 trang viết khảo luận sơ sài. Và kết luận: “Các công trình sáng tác và trước tác khá đồ sộ, lại có cả sách bằng Pháp ngữ, nhưng chưa ai thực sự kiểm kê và lượng giá toàn bộ công trình của ông. Riêng tác phẩm khá dày về “bài giảng sử” bằng Pháp ngữ, khó thể gọi là một công trình sử học. Đa số chi tiết đều là tin đồn, ngày tháng hỗn loạn. Khoảng thời gian từ nhà Tây Sơn đến Vua Tự Đức – vì sử dụng truyền khẩu sử của các nhà truyền giáo Pháp và trên quan điểm hợp thức hóa tân trào - đầy rẫy sai lầm kỹ thuật cũng như sai lầm có tư tâm, bất chấp sự thực lịch sử”!

Sau này học giả Nguyễn Văn Vĩnh là người hăng hái tiên phong trong việc Quốc ngữ hóa chữ Nôm ở Bắc kỳ, nói lên sự thật dù không hẳn nhằm vào một ai nhưng mà chua chát: “Các đại huynh đã qua nước Đại Pháp, chắc cũng đã biết là dân xứ ấy, những người như anh em ta có rất nhiều, đã hơn gì con kiến chưa? Nếu anh em mình ở đó, chỉ vào bậc đánh giầy, thế mà về đến đây đã là người biết tên, biết tuổi, có danh, có tiếng, đã cực chưa?”. Học giả Phạm Quỳnh cũng mặc phẩm phục đại triều và hợp tác đắc lực cho người Pháp không ngần ngại buông một lời chê: “Sách của Trương Vĩnh Ký viết chỉ để trẻ con xem”!

3/ Xét từ việc làm cụ thể của Trương Vĩnh Ký trong bối cảnh lịch sử nước Nam ta thời đó

Trương Vĩnh Ký, được giáo hội Kito đào tạo căn cơ từ tuổi ấu thơ. 19 tuổi (1856) được thụ phong linh mục tại giáo chủng Pinang (Malaxia). Năm 1859, Về Sài Gòn, Trương lập tức gửi thư tới viên đô đốc Page khẩn cầu động binh đánh lại “kẻ thù của chúng ta” (?) và bộc lộ ra gan ruột: “Không một người Việt Nam nào theo Kito giáo lại ngần ngại xin gia nhập làm lính dưới cờ Pháp. Ông vua Việt Nam không theo đạo (Kito) không phải là vua của họ”(Văn khố Hải quân Pháp, Paris: SUM Vincennes). Giáo hội Kito tại Việt Nam tỏ ra rất sáng suốt chuyển Trương sang ngạch thông ngôn cho quân đội Pháp. Trương đã kịp bày tỏ lòng trung thành với mẫu quốc Pháp và mau chóng được nhà nước thực dân nâng lên bậc “thông ngôn hạng nhất”. Tất nhiên phải có mặt trong hầu hết các hội nghị quan trọng giữa Bộ Tham mưu quân đội Pháp với triều đình An Nam lúc đó. Một sự tình cờ lịch sử, Phan Thanh Giản và Trương Vĩnh Ký mau cặp kè nhau trong mối quan hệ buổi đầu giữa Nam triều với Pháp. Trương tuy thuộc lớp hậu sinh nhưng cùng quê Vĩnh Long. Một trí thức trẻ tân học tháo vát giỏi giang đã hiến mình cho Chúa và một lòng trung thành với mẫu quốc kè bên viên quan già gian xảo và bạc nhược. Một đội quân viễn chinh dày dạn đi xâm lược làm sao không nhận ra điều đó. Hẳn không là sự sắp xếp vô tình khi Trương từng được chọn làm thông ngôn cho phái bộ Phan-Lâm để đi đến sự ra đời của hàng ước Nhâm Tuất (1862) nhục nhã tại Sài Gòn, và sau đó lại tháp tùng phái đoàn An Nam cũng do Phan làm Chánh sứ sang Paris và Rhoma để xin lại đất! Phan, Trương thành đôi bạn vong niên mà như cặp bài trùng. Cả hai đều lập công lớn với nước mẹ Đại Pháp vào buổi đầu chinh phục Việt Nam.

Chuyến công du qua trời Tây một công đôi việc. Ở Ý, Trương đã làm một việc rất khôn ngoan là tới thăm viếng nơi lưu giữ hài cốt các cố đạo tử nạn khi đi giao giảng kinh phúc âm tại xứ Viễn Đông và danh tiếng của ông lại được đề cao bởi được Giáo hoàng tiếp đón. Trương có dịp làm quen với chính giới văn hóa Pháp, đặc biệt là Paul Bert, vừa là nhà khoa học, vừa là chính khách thực dân cực tả. Tất nhiên chàng trí thức trẻ khôn ranh tỏ lòng hết mình cho nước mẹ Đại Pháp, đã tạo được mối thiện cảm với một nhân vật tiếng tăm. Năm 1864, trở về Nam kỳ đã là thuộc địa của Pháp, Trương được giao nhiều trọng trách đúng theo tinh thần “đồng hóa chỉ có thể thực hiện được bằng giáo dục và học vấn”. Điều khiển trường Thông ngôn, trường Sư phạm. Rồi được trao toàn quyền tờ “Gia Định báo” – tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam. Việc phổ biến chữ Quốc ngữ là nằm trong sách lược của nhà nước thực dân. Lanessan nói toạc ra: “Ngày nào còn sỹ phu, ngày đó ta còn lo sợ vì họ là những người yêu nước, làm sao chấp nhận được sự đô hộ của ta?”. Giám mục Puginier, là mẫu điển hình cho sự hợp tác chặt chẽ giữa nhà nước thực dân với giáo hội Kitô, không cần giấu giếm: “Thay thế chữ Nho bằng chữ Quốc ngữ, Hội Thừa sai nhằm cô lập các giáo hữu. Những người này cũng không thể thư từ gì được với bất cứ sỹ phu Tàu hay Ta nào, các thầy giảng người bản xứ sẽ chỉ có thể đọc một số hiếm những sách do các thừa sai viết bằng Quốc ngữ cho họ dùng và trong đó chỉ bàn đến những vấn đề thuần túy tôn giáo”. Với cả bộ máy thực dân thống trị trên mọi lĩnh vực và bằng nhiều hình thức, giới sỹ phu Việt Nam không thể bảo vệ được văn tự truyền thống của mình. Chữ Hán-Nôm bị bức tử thay vì chữ Quốc ngữ, văn hóa Việt bị mất nhiều hơn được! Thơ văn Hán-Nôm truyền thống dần trở nên “lép vế” và mai một. Năm 1873, Trương lại được giao đào tạo lớp cai trị người Pháp và tay sai bản xứ tại Trường Cai trị (Collège des Stagiaires) mở ra tại Sài Gòn. Từ đó bước chân vào “Hội đồng học chính cao cấp” để giúp người Pháp lo liệu lâu dài sau cuộc chinh phục xứ này bằng võ lực.

4/ Chuyến công du Bắc kỳ

Năm 1872, bất chấp chủ quyền của Việt Nam, lái buôn J. Dupuis ngược ngạo đưa tàu theo sông Hồng, mở đường lên Vân Nam. Quân Pháp được một số giáo dân giúp sức, mở rộng đánh chiếm Bắc kỳ, buộc triều đình Huế phải ký hòa ước Giáp Tuất năm 1874. Cục diện chống Pháp trở nên quyết liệt, tiêu biểu là phong trào Văn thân với hịch “Bình tây sát tả”. Nam triều chủ trương nhờ Thanh triều, quân Cờ đen Lưu Vĩnh Phúc vào giúp sức. Quân Pháp đã bị thiệt hại nặng, nên chính quốc không muốn “sinh sự ở Bắc kỳ”. Năm 1876, theo lệnh Đô đốc Duperré, Trương Vĩnh Ký được ứng trước ba tháng lương, để dưới danh nghĩa du lịch Bắc kỳ, Trương Vĩnh Ký tiến hành một chuyến đi mà căn cứ vào việc đã làm thì không khỏi nghi ngờ đó là chuyến đi do thám, tìm hiểu các vấn đề lịch sử, địa lý, thổ nhưỡng và dân tình trước khi quân Pháp có quyết định tiếp theo?
Xin trích vài báo cáo của Trương từ Tonquin (Bắc kỳ) gửi các quan cai trị Nam kỳ (Cochichine): “Tôi thiết tưởng có bổn phận, cũng nhân dịp này, cống hiến cho ngài: Tư tưởng của những người phiến loạn An Nam mà tôi có thể tìm hiểu ở những nơi có tàu đi qua. Những kẻ phiến loạn, như tôi đã từng nhiều dịp trình với ngài, họ có lý do cho chủ nghĩa ái quốc của họ: Sự hận thù đối với các con chiên (công giáo) mà họ cáo buộc là hàng ngũ bên cạnh người Pháp, được dùng như những kẻ đưa đường chỉ lối”“Các quan lại Nam triều thường nói với tôi rằng nước Pháp cố ý xâm chiếm xứ này. Tôi đã trả lời là không!... Tất cả quý vị đều phải thấy rằng nếu nhà cầm quyền Pháp có ý muốn xâm chiếm xứ này, họ có thể làm việc đó từ lâu một cách dễ dàng, không cần bàn cãi gì cả. Quý vị phải hiểu rằng quý vị là những kẻ yếu, thật sự quá yếu, cần sự giúp đỡ của ai đó để gượng dậy. Và tốt hơn, quý vị chỉ nên tin vào người bạn đồng minh tiếng tăm, phải dựa vào họ một cách thành thật để đứng lên, nhưng phải thẳng thắn, không hậu ý, không mưu tính kín đáo, dang cả hai tay ra với họ chứ không phải một cái chìa ra còn bàn kia thì giữ lại. Bằng ngược lại, mệt trí vì những do dự, những điều nói nửa lời đầy âm mưu của quý vị, nước Pháp buộc lòng phải ngưng che chở, bỏ mặc quý vị với số phận”“Tổng quát, tất cả đều tin chắc rằng không thể chống lại người Pháp và nếu nước Pháp muốn lấy xứ này, có thể làm mà không phải mất nhiều khó khăn, tốn kém”.
Khẩu khí ấy là của loại người nào, có xứng là của “người thầy, nhà văn hóa lớn của dân tộc”? Để thưởng công lao ấy, năm 1877 Trương là người Việt Nam đầu tiên duy nhất được vào ngồi trên một trong mười cái ghế danh giá của Hội đồng cai trị thành phố Sài Gòn, lương bổng của Trương đứng hàng thứ ba sau hai người Pháp chóp bu cai trị Nam Kỳ lúc đó?!

5/ Hợp tác với Paul Bert:

Sau chiến tranh Pháp - Phổ (1870), nước Pháp tuy thắng trận song cũng lao đao. Cuộc bình định Viễn Đông xa xôi gặp nhiều trắc trở và tốn kém. Chính giới Pháp nản lòng. Hạ nghị viện đòi rút quân về. Trong số 33 ủy viên đặc trách bàn thảo vụ Bắc kỳ, chỉ có 6-7 người khăng khăng đòi duy trì sự chiếm cứ, trong đó có P. Bert. P. Bert hô hào vì danh dự, quyền lợi thương mại và chính trị… buộc nước Pháp phải ở lại đây! Đầu năm 1886, P. Bert đến Sài Gòn, móc nối ngay với Trương Vĩnh Ký. Trương đã nhanh nhảu đáp ứng yêu cầu rất hữu hiệu. Trên đường ra Bắc kỳ, Paul đưa Trương ra Huế, “khéo léo rấm vào Cơ mật viện và Hội đồng nội các của nhà vua”. Chính sách cai trị “lạt mềm buộc chặt” chứng tỏ tài điều hành của một kẻ thực dân có học thức. Vua Đồng Khánh rộng lòng trao cho Trương Vĩnh Ký chức Hàn lâm viện thị giảng học sỹ. Và sau đây là vài đoạn thư Trương gửi cho P. Bert cho thấy thực chất quan hệ giữa hai “nhà bác học Pháp - Nam” là gì: “Trong cái nhìn đặc biệt về lợi ích của nước Pháp, việc Đồng Khánh lên ngôi quả là may mắn. Vị vua trẻ hoàn toàn bị chinh phục bởi nước Pháp mà tôi đã dạy cho nhà vua biết và yêu thích tiếng Pháp. Cần phải lợi dụng các bản chất tuyệt hảo và trung thành của nhà vua. Về phần tôi, xâm nhập vào Cơ mật viện của nhà vua, vai trò của tôi là làm cho nhà vua và triều thần hiểu được ý tốt của chính phủ Pháp cũng như điều động chính sách của chính phủ An Nam đi gần với chính sách của nước Pháp”, “Tôi sẽ trấn áp những hãnh thần (là người có tư tưởng chống Pháp), sẽ bao vây lấy nhà vua. Tôi cũng sẽ gom những người thật sự có khả năng cho Viện cơ mật”, “Tôi xin nhắc lại ngài cái dự án bình định với những phương tiện hành động đã được mật ước, để tiến tới thành quả mà chúng ta có thể phô trương. Về phần tôi, ngài có thể luôn luôn cậy vào sự giúp sức nhỏ yếu của tôi, vì dù sao những cảm tình của giờ phút đầu tiên đã trở thành một mối nhiệt tâm chân thành đối với ngài”.

Một mặt, Trương hối thúc Đồng Khánh đào kinh biệt sở Mang Cá để giữ an toàn nơi đồn trú của binh lính Pháp; thúc đẩy nhà vua hãy bắt thật nhiều “xâu” mở nhanh con đường ra Quảng Bình, vào Quảng Nam giúp lính Pháp hành binh tiễu trừ nghĩa sỹ Cần vương ở những vùng xa xôi hẻo lánh; xúi hoàng thượng “làm ra năm mười khoản ước đưa ông P. Bert nghị lại mà tính với nhau” định rõ quyền hạn của Nam triều và Bảo hộ (Bắc kỳ) nhằm hoàn thành nghị trình thâu tóm Việt Nam theo hòa ước 1884. Trương Vĩnh Ký cũng khéo giấu mặt trong việc giúp Đồng Khánh ra “Dụ chiêu hồi” các thủ lĩnh nghĩa quân với lời dụ dỗ ngon ngọt và răn đe nghiêm khắc. Kết quả là Phò mã Hoàng Kế Viêm, một thời nổi danh chống Pháp ở phía Bắc, trở thành “hồi chánh viên”, được khai phục hàm Đông các đại học sỹ, giúp việc rất đắc lực cho việc bình định ở Trung kỳ. Một mặt Trương bày mưu cho Toàn quyền P. Bert: “Hãy nhanh chóng thành lập các đoàn lạp binh và võ trang cho họ. Ngài không có điều gì phải quan ngại vì những quân khí do ngài cung cấp, cho mượn hoặc bán, đều thuộc trách nhiệm trực tiếp của nhà vua, và chính phủ Nam triều sau vụ bạo hành tháng 7.1885 (tức ngày 24.5 năm Ất dậu - ngày thất thủ kinh thành Huế), nay chỉ còn cách thần phục nước Pháp. Xứ Trung kỳ mà ngài vừa ban cho nền tự trị sẽ phải bắt buộc ở dưới sự giám hộ của người bảo hộ nó”. Để P. Bert yên tâm Trương mách: “Bọn phiến loạn (nghĩa quân Cần vương) không đáng sợ; họ chỉ có những khí giới cổ lổ của chính quyền An Nam và vài võ khí mới mua lại được của bọn buôn lậu Trung Hoa”. Và kế hiến ấy đã tỏ ra hữu hiệu trong việc đàn áp, truy sát những nghĩa sỹ Cần vương! Thật không quá đáng khi người Huế bấy giờ coi Trương Vĩnh Ký là con người phản phúc! Nhà sử học Chailley đã nhận định: “P. Bert dùng Trương Vĩnh Ký không phải ở tài năng của ông này, cũng không phải vì ông là người Thiên chúa giáo, mà chỉ vì những công tác đã thể hiện rất được việc và nhất là sự trung thành kiên định của Trương đối với nước Pháp”.

Trong khi Trương Vĩnh Ký hăng hái bộc lộ ruột gan ra với quân cướp nước thì với đồng bào mình, ông ta viện dẫn câu cách ngôn La tinh “Ở với họ mà không theo họ” (Sic vos non vobis)! Xin hãy đọc mấy dòng mà các quan thuộc địa đánh giá: “Rút cục, đó là người An Nam Pháp hóa và gương mẫu duy nhất mà chúng ta có. Sự trợ giúp của ông thật rất ích lợi cho ảnh hưởng của chúng ta và cho nền học chính nói chung” (Luro - thanh tra, giám đốc trường sư phạm thuộc địa Pháp ở Việt Nam).

6/ Trời bất dung gian:

Thế rồi P. Bert đột ngột chết bởi ác bệnh vùng nhiệt đới. Chính sách của y không hợp với giới cầm quyền mới sang thay. Ngay cả triều đình An Nam dù lệ thuộc song cũng chẳng ưa gì viên đại quan cậy quyền ỷ thế ngạo mạn hãnh tiến với cái vốn tây học mà tỏ ý khinh thị nền học vấn cổ lỗ phương Đông. Trương trở nên lạc lõng giữa những ông chủ mới và quan lại Nam triều. Quả báo nhãn tiền, trước hết là “những cú đá của con la” từ các ông chủ thực dân dành cho viên đại quan Cơ mật viện mà chính họ từng cài vào, trong khi đó các quan lại Nam triều coi ông là người nguy hiểm. Trương cũng nhận ra: “Trong con mắt của đồng bào tôi, tôi đã bị lên án nặng nề”! Một con người đa tài đang gặp “hội phong vân” mà bị cú vấp đau như vậy thì sinh ra buồn bã, chán nản hẳn là tất nhiên. Trương nại lý do xin về Sài Gòn để dưỡng bệnh, nhưng vẫn không quên hứa: “Khi trở lại đời sống tư, lòng tôi luôn luôn thuộc về nước Pháp, và những công việc phục vụ nhỏ mọn của tôi cũng thuộc về nước Pháp… Người bề tôi tận tâm và vâng lời”.

Nhiều nhà nghiên cứu đều chung nhận định với ông Mẫn Quốc: “Cái học vấn của Trương càng uyên bác bao nhiêu thì cái tác hại của Trương càng lớn bấy nhiêu, Trương đã tác động tinh thần đám quan lại và đám sĩ phu Việt Nam hãy đừng cưỡng lại người Pháp, nhằm mục đích gì? Đã bao phen Trương tận tụy trung thành, đem hết tâm tư, bầy mưu lập kế, hiến sách lược nọ, dâng đề nghị kia, chỉ vì giặc Pháp… Chúng tôi đặt ra câu hỏi: vì cớ gì mà Trương lại phản quốc, lại làm đặc vụ, tay sai, tình báo cho địch như vậy? Đọc những gì được trích dẫn, không khó nhận ra Trương Vĩnh Ký rất nóng lòng muốn Pháp đồng hóa dân tộc Việt Nam nhanh hơn, toàn diện hơn. Ngoài lương bổng hậu hĩnh, bên cạnh đó ông cũng sẽ kiếm được lợi nhuận do việc chính phủ thực dân Pháp bỏ tiền tài trợ và mua sách, ông sẽ phấn khởi, hăng hái hơn trong việc viết thêm các tác phẩm khác trong tương lai cho mục đích “đồng hóa” nói trên”.

Một người tài hoa như thế, mưu mô như thế, hãnh tiến như thế mà sao trước lúc lâm chung lại trong tâm trạng bất an, soạn sẵn câu trích trong kinh cựu ước nói về Job bị Thượng đế và loài người lìa bỏ, ghi trên mộ chí: “Miseremini Mei Saltem vos Amici Mei” (Xin hãy thương tôi, ít ra là những bạn hữu của tôi).

Cổ nhân có câu: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Người hiền để cho cái tâm làm sáng cái tài, chẳng như phường giá áo túi cơm để cho cái tài làm tối cái tâm. Giới học giả, văn nhân thế giới không xa lạ tên tuổi Paul de Man - nhà văn, triết gia, nhà tư tưởng nổi tiếng người Đức giữa thế kỷ XX, nhưng khi bị phát hiện từng cộng tác với chính quyền Quốc xã bài Do Thái, ông và toàn bộ sự nghiệp bị đắm đò! Một nhà hoạt động xã hội nổi tiếng những năm 1950 - 1960 là K. Vanheim, từng là Tổng thư ký LHQ, mãn nhiệm kỳ hai khóa, về nước, ông ra ứng cử chức Tổng thống Áo, bị lật tẩy từng theo đuôi quân phát-xít, liền thân bại danh liệt ngay từ đấy.
Trong bài viết, tác giả Đinh Hữu Quang trích dẫn lời danh nhân Hoàng Bình Trọng: “Lấy Văn làm Đạo, lấy Đạo làm Văn/ Văn tải Đạo cảm hóa Trời Đất”. Thiết nghĩ với vị đại học giả họ Trương, Văn với Đạo không thuận với nhau và nhận xét của vị học giả đồng hương Ca Văn Thỉnh: “Nhân tài thất đức thờ bạo chúa” là rất đúng?!

Người viết chia sẻ với suy nghĩ của nhà giáo lão thành Trần Thanh Đạm: “Phản bội, phản quốc là tội danh chẳng kẻ náo dám nhận. Càng là người có học vấn, có tri thức mà sa vào con đường ấy thì càng có nhiều luận điệu bào chữa xảo trá, tinh vi. Đối với những nhân vật này lúc đương thời thì ranh giới phải trái thường khá rõ ràng. Song về sau do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhất là với những người cùng não trạng, sự đánh giá có khi lại trở nên phức tạp, rối rắm, gây nhiều tranh cãi. Như con người này, vào thời buổi ấy, với tài năng ấy, thân phận ấy, tâm tư ấy, để lại cho đời sau nhiều bài học. Như một tấm gương để tôn vinh cảm phục thì không, song để cảm thông xót thương thì có”./.

Yêu nước ST.

ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ VỀ GIÁO DỤC HIỆN NAY!

      Mấy ngày qua, tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khoá XV đang thực hiện phiên chất vấn các Bộ trưởng, có thể nói đây là nội dung được cử trị chú ý theo dõi và mong cả hai phía: phía chất vấn của Đại biểu QH cần bám sát thực tiễn của cuộc sống, nắm bắt đầy đủ và kịp thời những vấn đề bức xúc, bất cập trong thực thi pháp luật và các chính sách xã hội để đặt ra những câu hỏi ngắn, gọn, rõ sát đúng với thực tiễn và nhu cầu đòi hỏi cho sự phát triển của đất nước và cuộc sống của nhân dân, nhất là những vấn đề có tầm chiến lược của xã hội; còn phía các Bộ trưởng điều đầu tiên cần bám sát câu hỏi chất vấn, nắm bắt đúng nội dung chất vấn để có câu trả lời ngắn, gọn, có lý giải rõ ràng và giải đáp thỏa đáng những vấn đề đặt ra.

    Qua ba Bộ trưởng trả lời tôi không có nhận xét ưu khuyết vì việc này sau mỗi phiên chất vấn của mỗi Bộ trưởng Chủ tịch Quốc hội đã có nhận xét khái quát rồi , ở đây tôi chỉ nêu một vấn đề mà qua rất nhiều kỳ họp mới nghe tưởng là nhỏ song thực chất nó không nhỏ thế nhưng cho đến nay vẫn chưa làm chuyển biến được tình hình; đó là: Vì sao thế hệ tương lại của đất nước không yêu thích môn học lịch sử? (Có lúc cả một Hội đồng thi tốt nghiệp phổ thông của một thành phố chỉ có một thí sinh thi môn sử, điểm trung bình môn nằm trong các môn thi thấp nhất?...)

    Song qua theo dõi của nhiều kỳ họp, hầu như qua mấy đời Bộ trưởng từ ông Nguyễn Thiện Nhân, ông Phạm Vũ Luận, đến ông Phùng Xuân Nhạ, nay là Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn đương chức vẫn có chung một câu trả lời là do nội dung môn sử thường sa vào các mốc thời gian, địa điểm và số liệu khô khan buộc học sinh phải nhớ nên khó học; do phương pháp giảng dạy của các thầy cô chưa đổi mới... và do tâm lý học sinh chưa chú trọng môn sử. Vậy nếu các nguyên nhân trên là đúng thì tại sao đã trải qua hơn ba nhiệm kỳ Quốc hội mà ngành giáo dục vẫn chưa có giải pháp, biện pháp khắc phục, chưa thể tạo ra sự chuyển biến về việc học tập lịch sử của học sinh? Phải chăng do khả năng và trình độ của ngành giáo dục nước nhà không tìm ra cách khắc phục có hiệu quả, hay là do nguyên nhân nêu ra chưa đúng , chưa chỉ rõ được nguyên nhân chủ yếu? Dẫn đến những yếu kém này kéo dài từ nhiệm kỳ này sang nhiệm kỳ khác.

       Theo tôi nó thuộc về vế thứ hai chính là những người lãnh đạo ngành giáo dục chưa chỉ ra được nguyên nhân chính chủ yếu của những hạn chế nêu trên, vậy nguyên nhân chính chủ yếu là gì?

       Trước hết tôi không bác bỏ các nguyên nhân mà Bộ trưởng đã nêu ra (do nội dung bài học nặng về số liệu, mốc thời gian, địa điểm...; do phương pháp giảng dạy của thầy cô giáo...; do tâm lý học sinh...) song theo tôi đó chưa phải là nguyên nhân chủ yếu mà chỉ là những nguyên nhân thứ yếu ; quan trọng chủ yếu chính là hai nguyên nhân sau đây:

      Một là ngành giáo dục chưa đánh giá đúng vị trí của môn sử học, chưa nhận thức rõ vai trò có ý nghĩa quyết định của môn lịch sử trong xây dựng lòng yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, một yếu tố quyết định đến sức mạnh của tiềm lực chính trị tinh thần của một dân tộc, một nội lực tiềm tàng mà một khi được khai thác, phát huy nó sẽ làm nên những thành công có lúc ngoài cả sức tưởng tượng bình thường, điều này đã được khẳng định trong lịch sử và thực tiễn của đất nước trong thời kỳ qua. Từ đó chưa xem môn lịch sử là một môn học bắt buộc, và là một môn thi chính trong từng cấp học và cả toàn bộ giai đoạn giáo dục phổ thông. Thậm chí có lúc ngành giáo dục còn xem nhẹ đến mức đề xuất tích hợp môn lịch sử vào cùng môn giáo dục công dân, môn đạo đức học... tôi có thể khẳng định rất ít quốc gia nào xem nhẹ môn lịch sử như ở nước ta và với cách nhìn nhận như vậy thì hệ quả tất yếu là môn sử mãi sẽ là một trong những môn có chất lượng học tập kém nhất của học sinh.

   Hai là nội dung giáo dục lịch sử không phải là khô khan chỉ số liệu, mốc thời gian, địa điểm... nếu không có mốc thời gian, địa điểm, không có số liệu thì còn gì là môn sử; bởi vì khi nói đến lịch sử là nói đến thời gian, địa điểm, con người, sự kiện, kết quả và thông qua đó rút ra cho người học ý nghĩa để bồi dưỡng lòng yêu nước, thương nòi, niềm tự hào, tự tôn dân tộc. Nhưng ở đây chính nội dung lịch sử trong sách giáo khoa gần hai chục năm qua đã bị xuyên tạc và bóp méo, làm cho người dạy cũng cảm thấy không chính sử , không đúng sự thật, thậm chí là đảo ngược sự thật và hậu quả là giữa sách giáo khoa mà thầy cô dạy cho học sinh trái với truyền thống và nhận thức lịch sử của đa số nhân dân. Điều này làm cho tâm lý người dạy và người học đều bị phân tâm, mà một khi lên lớp cả chủ thể và khách thể đều bị phân tâm thì làm sao tập trung dạy và học tốt được. Ví dụ: Trong khi chúng ta nói Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, ai làm tay sai cho giặc đều có tội với nhân dân. Thế nhưng một kẻ cả cuộc đời cúc cung phục vụ cho thực dân Pháp như Trương Vĩnh Ký lại là người yêu nước , là nhà bác học nổi tiếng, là danh nhân văn hoá của dân tộc, hay như khi nói về lòng yêu nước thì có nhiều cách yêu nước khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau về lợi ích và mục tiêu từ đó Phan Thanh Giãn, Nguyễn Ánh cũng yêu nước... vậy thì yêu nước như thế nào là đúng, tại sao kẻ làm tay sai cho giặc là yêu nước, trong khi sử đề cao câu nói của vua Lê Thánh Tông “Nếu các ngươi cắt một tấc đất cho giặc thì phạm tội tru di“ thì Phan Thanh Giản cắt 1/4 giang sơn cho giặc lại là người yêu nước... hay là khi nói về Lê Văn Tám, ngọn đuốc thiêng, biểu tượng của lòng yêu nước Việt Nam thì người đứng đầu ngành sử học Việt Nam lại cho rằng đây là câu chuyện tự đặt ra để tuyên truyền...

      Như vậy cần phải nhận thức đúng đắn việc tập trung khắc phục mặt yếu kém của việc học lịch sử, chính là khắc phục mặt yếu kém trong giáo dục truyền thống, văn hoá dân tộc, trong xây dựng lòng yêu nước , củng cố tiềm lực chính trị tinh thần của dân tộc, có nhận thức đúng như vậy thì ngành giáo dục mà trực tiếp là Bộ giáo dục đào tạo mới xác định đúng vai trò, vị trí của môn lịch sử, phải đưa môn lịch sử là một trong những môn học chính và thi ở các cấp học, chỉ có như vậy học sinh mới quan tâm đến môn lịch sử, ngành sư phạm mới quan tâm đào tạo nên một đội ngũ những thầy cô giáo giảng dạy lịch sử tâm huyết và có trách nhiệm không chỉ với học sinh mà còn là trách nhiệm với Dân tộc. Đồng thời phải chấn chỉnh việc biên soạn sách giáo khoa, đừng để một số người đã và đang lợi dụng cải cách, biên soạn sách lịch sử lồng ghép nội dung bóp méo, xuyên tạc, phủ nhận và đánh tráo lịch sử, không thể để những chuyện hoang đường như ngọn đuốc sống Lê Văn Tám là không có thật ; kẻ cõng rắn cắn gà nhà , rước voi dày mã tổ Nguyễn Ánh thành người có công; hay như kẻ đã cắt gần 1/4 giang sơn cho giặc Phan Thanh Giản lại thành người yêu nước , thương dân ; kẻ cả đời làm tay sai cho giặc Trương Vĩnh Ký trở thành danh nhân đất nước v...v... chỉ khi nào sách sử và bia miệng truyền đời thống nhất với nhau thì lúc đó cùng với việc nâng cao chất lượng đội ngũ thầy , cô giáo dạy sử chắc chắn chúng ta sẽ khắc phục được việc khô sử , nhạt sử và dốt sử như hiện nay.

       Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã khẳng định “ Dân ta phải biết sử ta . Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam “ thiết nghĩ không phải ngẫu nhiên mà Bác dặn dò như vậy . Một Dân tộc mà mỗi con dân lại không hiểu biết đầy đủ lịch sử nước nhà thì làm sao có lòng yêu nước , làm sao có niềm tự hào , tự tôn dân tộc , và một khi thiếu cái gốc cơ bản đó thì sẽ nẩy sinh tư tưởng tự ty , tự nhục , nhược tiểu đớn hèn, vọng ngoại ... , và ngày nay chúng ta đã và đang trả giá cho việc xem thường môn học lịch sử . Một cảnh báo mà Quốc hội cần phải có quyết sách kịp thời để khắc phục khi còn chưa muộn./.


Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn -  Nguyên Cục trưởng Cục Tuyên huấn, TCCT / QĐND Việt Nam.

Yêu nước ST.

10 CHIẾN DỊCH THẦN KỲ TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM!

1. Trận chiến trên sông Bạch Đằng (938)

Trước khi tử trận trên sông Bạch Đằng năm 938, Lưu Hoằng Tháo không thể tưởng tượng việc quân dân người Việt do Ngô Quyền lãnh đạo sẽ tận dụng quy luật thủy triều để biến những bãi cọc ngầm cắm dưới lòng sông thành thứ vũ khí hủy diệt có sức mạnh kinh hồn. Thảm bại trong trận Bạch Đằng, quân Nam Hán đã phải bỏ mộng xâm chiếm nước Việt.


2. Chiến thắng quân xâm lược nhà Tống (1075)

Năm 1075, trước âm mưu xâm lược của nhà Tống, vua quan nhà Lý đã đưa ra chủ trương "Tiên phát chế nhân", đem quân sang đất địch đánh trước để chặn thế mạnh của chúng. Lý Thường Kiệt đã chỉ huy 40.000 quân đánh các châu Khâm, Liêm trên đất Tống, hạ hàng loạt thành lũy, hủy hoại nặng nề sinh lực của quân Tống, khiến kế hoạch xâm lược của chúng bị trì hoãn, tạo điều kiện cho quân ta củng cố lực lượng và giành thắng lợi trong cuộc quyết chiến sau này.


3. Đại thắng quân Nguyên Mông (1288)

Trên sông Bạch Đằng năm 1288, chiến thuật chôn cọc gỗ kinh điển mà Ngô Quyền sử dụng 350 năm trước lại được Trần Hưng Đạo Trần Quốc Tuấn tái hiện. Trong trận thủy chiến được đánh giá là lớn nhất lịch sử dân tộc này, quân Đại Việt đã đánh bại hoàn toàn quân xâm lược Nguyên Mông - đội quân thiện chiến nhất thế giới thời đó.


4. Trận chiến tiêu diệt chiến hạm của Công ty Đông Ấn Hà Lan (1643)

Mùa hè 1643, Công ty Đông Ấn Hà Lan - thế lực hải quân hùng mạnh bậc nhất thế giới lúc đó - phái 3 pháo hạm mạnh hội quân với họ Trịnh tại sông Gianh (Quảng Bình). Trong hải trình, hạm đội này đã bị gió thổi dạt vào gần cảng Eo ở Đàng Trong (Thừa Thiên - Huế). Dù có ý kiến can ngăn vì sợ người Hà Lan, chúa Nguyễn vẫn đưa 50 thuyền chặn đánh quyết liệt, tiêu diệt chiến hạm lớn nhất của kẻ thù, khiến hai chiến hạm còn lại bỏ chạy. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử người Việt chiến thắng một hạm đội châu Âu, đồng thời cũng là một sự tổn thương nặng nề đối với thanh thế của Công ty Đông Ấn Hà Lan.


5. Cuộc Bắc tiến đại phá quân Thanh (1788)

Cuộc Bắc tiến đại phá quân Thanh do Hoàng đế Quang Trung tiến hành cuối năm 1788, đầu năm 1789 được coi là một cuộc hành quân thần tốc khó tin trong lịch sử dân tộc. Từ Phú Xuân (Huế), Hoàng đế Quang Trung chỉ mất 40 ngày (trong đó có 10 ngày dừng lại tại Nghệ An tuyển quân) đưa đại quân tiến về Thăng Long đánh đuổi quân Thanh. Do không thể tin quân Tây Sơn có thể tiến nhanh như vậy, quân xâm lược đã hoàn toàn mất cảnh giác và phải chịu sự thảm bại nặng nề.


6. Trận đại thủy chiến ở đầm Thị Nại (1801)

Trong trận đại thủy chiến ở đầm Thị Nại diễn ra giữa quân Tây Sơn và chúa Nguyễn vào năm 1801, quân Nguyễn đã sử dụng lối đánh tập kích thọc sâu bất ngờ và đòn hỏa công tương tự trận Xích Bích diễn ra ở Trung Hoa 16 thế kỷ trước để hủy diệt hạm đội khổng lồ, tưởng như không thể nào bị đánh bại của quân Tây Sơn. Với thất bại này, thủy quân Tây Sơn hầu như đã sụp đổ hoàn toàn, nhường cho nhà Nguyễn nắm giữ quyền kiểm soát vùng biển.


7. Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954)

Người Pháp từng tin rằng căn cứ Điện Biên Phủ là một pháo đài không thể công phá. Tuy vậy, bằng tài năng quân sự tuyệt vời của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã biến niềm tin của họ trở thành sự tuyệt vọng với chiến thắng của Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.


8. Cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân (1968)

Trước khi cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 nổ ra, ngay cả những người Mỹ có trí tượng tượng phong phú nhất cũng không thể hình dung nổi cảnh các chiến sĩ Giải phóng đánh trực diện vào các địa điểm trọng yếu tại Sài Gòn như Toà Đại sứ quán Mỹ, dinh Tổng thống, đài phát thanh, bộ Tổng tham mưu, sân bay Tân Sơn Nhất... Chiến dịch quân sự này đã gây tiếng vang lớn, tạo bước đột phá buộc Mỹ xuống thang chiến tranh đi vào đàm phán.


9. Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không (1972)

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không tháng 12/1972, lực lượng phòng không - không quân của miền Bắc Việt Nam đã làm được điều mà người Mỹ không thể tin nổi: Bắn hạ 34 “siêu pháo đài bay” B-52, đập tan hoàn toàn mưu đồ kéo dài chiến tranh của Mỹ và buộc họ phải quay trở lại bàn đàm phán tại Paris.


10. Chiến dịch Hồ Chí Minh (1975)

Cuối tháng 9/1974, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương họp tại Hà Nội đã đưa ra bản dự thảo kế hoạch chiến lược Chiến dịch mùa xuân 1975, dự định hoàn thành việc thống nhất 2 miền Bắc - Nam trong 2 năm 1975-1976. Tuy vậy, với tinh thần “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa”, chiến dịch Mùa Xuân 1975 đã được tiến hành khẩn trương và quyết đoán, đem lại chiến thắng cuối cùng cho dân tộc vào ngày 30/4/1975./.










Yêu nước ST.

CHÚNG TÔI ĐÃ SỐNG NHỮNG NGÀY NHƯ THẾ!!!

     Năm 1965 khi mỹ đổ quân ồ ạt vào sâm lược Miền Nam. Thì đầu năm 1966 Bác Hồ ra lời kêu gọi quân dân cả nước lên đường đánh Mỹ. Ngày ấy nông dân thì giời bỏ cuốc cày, công nhân tạm xa nhà máy, còn cánh học sinh chúng tôi thì chia tay bạn bè - thầy cô - mái trường thân yêu của mình để xung phong lên đường nhập ngũ.

Ngày lên đường Mẹ nấu một nồi cơm ko độn sắn để nắm cho con một nắm cơm to cho con mang đi ăn hoà trong nước mắt nhạt nhoà. Chị gái giúi vào tay em cái bàn chải và hộp thuốc đánh răng mới tinh rồi vội quay đi vì ko thể cầm được dòng nước mắt!!!!

Ngày ấy cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ đang vào thời kỳ ác liệt nhất nên đoàn tầu QS chỉ có thể đưa chúng tôi đến ga Tía của Hà Nam Phủ Lý là chặng đường cuối cùng chúng tôi được hành quân bằng cơ giới. Thế là cuộc hành quân đi bộ suốt chiều dài đất nước bắt đầu. Với hơn 30kg trên lưng. Những ngày trên đất Bắc cứ ngày nghỉ đêm đi. Đi mãi cũng hết đất Quảng Bình. Chia tay với chúng tôi khi dời đất Bắc là một hàng dài những bia mộ của các chị em TNXP hy sinh khi đi mở đường 20 Quyết Thắng. Các chị ấy còn chẻ lắm toàn 17-18 có chị mới 16 tuổi mấy ngày!!!! Hình ảnh ấy cứ in sâu mãi vào tâm chí chúng tôi cho đến tận bây giờ!!!

Đường Trường Sơn ngày đó đúng nghĩa là một con đường mòn thật sự. Đi lên lỏi trong cây cối dâm dạp. Muỗi, vắt, rắn, rết, bọ cạp bu đầy. Đường thì chơn dốc thì cao trời thì mưa sối xả. Nắm cơm mấu bằng thứ gạo ẩm mục hôi mù chộn đầy sạn cát. Ăn vội giữa rừng với nước mưa và cả nước mắt của mình...

Ấy thế mà vào mùa khô thì trời lại nắng nóng như rang. Đi cả mười mấy tiếng đồng hồ mới tìm được nơi có nước. Một bi đông nước khi khát chỉ giám uống từng ngụm nhỏ chia ra để đủ uống cả ngày. Bộ quần áo Tô Châu mướt xanh mầu lá giờ chở thành cái mo nang loang lổ mầu trắng của mồ hôi muối. Dìm xuống nước nó vẫn cứ nổi lên. Có lẽ nó ko thể ngấm thêm được gì ngoài mồ hôi của lính. 

Nước lũ chết - cây đổ chết -côn trùng cắn chết - sôt rét chết - kiệt sức chết!!!! Những người còn lại vẫn đi. Đi mãi đến khi đến cái quai dép cao su cũng mòn vẹt chứ ko nói gì đến cái đế!!! Chúng tôi cũng đến được chiến trường. 

Đón chúng tôi ở đất Tây Ninh là B52 là pháo bầy là đạn nhọn là chất độc hoá học phủ kín rừng. Những tưởng vào đến đây được nghỉ ít ngày cho lại sức. Nhưng chiến tranh làm gì có ngày nghỉ dưỡng.

Hàng đêm thấy các anh chị f5-f9 hành quân như chảy hội. Thấy các anh chị ấy bảo đây là chận đánh cuối cùng. Tiến vào Sài Gòn chúng mình sẽ có tất cả!!! Nghe vui quá bọn lính mới phấn khởi cũng bỏ lại tất cả. Bỏ cả mệt mỏi lo sợ để tiến về Sài gòn!!! Nhưng chiến tranh đâu có đơn giản như điều ta suy nghĩ. Chiến tranh như một cái lò thiêu không đáy. Nó thiêu rụi biết bao nhiêu con người ném vào đó. Nó còn làm héo khô cả ý chí nghị lực của những người chưa đến lượt được ném vào lò. Đã thế mùa mưa lại ập đến. Hầm hào thì ngập nước. Côn trùng thì đua nhau sinh sôi nẩy nở. Bệnh sốt rét thì kéo đến hoành hành. Người sốt ác tính thì chỉ chụ được vài ngày thậm chí vài giờ . Người sốt theo cơn thì hai tay hai gậy còn ko đứng vững. Chiến trường ác liệt thiếu thốn đủ bề.

Có mấy lọ thuốc tiêm thì phải dành tiêm cho người bị ác tính. Mà tiêm thì cũng có xung sướng gì đâu. Vô trùng ko tốt thì áp xe thối thịt . Còn cái kim tiêm thì cùn chơ. Mấy ông y tá phải phóng như phóng lao vào mông mới đâm qua gia được. Chẳng may nó đâm vào dây thần kinh thì bại liệt mang dị tật suốt đời. Đã thế giờ ăn uống thiếu chất lại còn bệnh quáng gà phát triển. Cứ tối đến là chả nhìn thấy gì ko khác thằng mù giở!!! Bệnh sốt rét  nó quái gở ở chỗ đã thiêu đốt hồng cầu của con người nó lại làm cho con người ta ko thể nào ăn được. Cứ ngửi thấy mùi cơm là nôn thốc nôn tháo. Để có gạo và để nấu được một nồi cơm trong chiến đấu là vô vàn khó khăn. Ấy thế mà nấu cơm xong chả có ai thèm ăn cả. Người ta thường nói ko ăn thì mẻ cũng chết chứ nói j đến người . Thế là đv phải ra nghị quyết: “Phải ăn”. Cán bộ đảng viên ăn trước anh em đv ăn cùng . Vâng phải ăn! Nín thở lại đưa miếng cơm vào mồm! Ối trời nó chưa vào đến họng thì mọi thứ dịch lỏng trong dạ dày đã đua nhau phun trào ra hết. Đặt bát xuống nhắm mắt lai lấy lại quyết tâm để ăn để nuốt!!!

Ăn cố vào để có sức, để đêm nay người còn chống được gậy khênh người ko còn chống được gậy nữa! Người còn chưa đến lượt mù giắt díu người đã mù... Phá vòng vây địch!!!!

Cùng thời điểm ấy B2 lại yêu cầu những người còn sống viết thư về động viên quê hương Miền Bắc. Viết gì bây giờ? Chả nhẽ lại viết sự thật chiến trường à? Thế thì chỉ làm khổ người thân chứ làm vui được gì cho họ! Thế là một lần nữa những người đang cận kề cái chết lại phải dùng những lời lẽ có cánh nhất để an ủi động viên những người ở rất xa cái chết hãy tin tưởng vững tin vào ngày mai chiến thắng!!!

Những lời “Nói dối ngọt ngào“ ấy ko biết có đến tay người nhận được hay ko! Nhưng nó đã có tác dụng thức tỉnh ý chí chiến đấu kiên cường của những người lính. Để họ mạnh mẽ đứng thẳng lên bằng chính đôi chân của mình. Để tiếp tục chiến đấu đến ngày toàn thắng!

Ngày ấy đa phần chúng tôi còn rất trẻ. Rất nhiều người chưa một lần nắm tay người khác giới ngoài mẹ với chị em gái của mình. Nên chúng tôi thường nói với nhau rằng: chúng mình hy sinh vì tương lai con em ông bà hàng xóm. Lý tưởng chiến đấu của chúng tôi chỉ đơn giản như vậy đấy. Hy sinh để dành cuộc sống độc lập tự do hạnh phúc cho tất cả những người mang dòng máu Lạc Hồng chứ ko dành cho giêng mình tất cả !!! 

Vẫn biết là viết lách ở tuổi chúng tôi là quá sức là múa rìu qua mắt thợ. Nhưng nếu chúng tôi ko viết ko kể thì làm sao con những ông bà “hàng xóm” CÓ TÂM có thể biết có thể nhớ có thể biết ơn những người đã hy sinh hết cả máu sương của họ cho đất nước có ngày hôm nay. Nếu những người còn sống như chúng tôi ko viết ko kể thì lại để đồng đội chúng tôi lại chết một lần nữa trong cô đơn hưu quạnh nữa xao?

Thôi thì đây cũng là một nén tâm nhang tuy ko ngát thơm như trầm hương thực sự thì cũng sâu đậm nghĩa tình để những anh linh của đồng đội tôi ấm lòng nơi chín suối!!!

Chúng tôi đã có những ngày sống như thế đấy . Các bạn nào có tấm lòng ghé thăm, thấy câu cú hay lỗi chính tả thì hãy dùng những tri thức của mình được đào tạo bài bản từ nhà tường xã hội, gia đình tự sửa giúp tôi nhé. Âu đó cũng là nén tâm nhang mà bạn đã thắp cho vong hồn đồng đội chúng tôi ở nơi xa săm mà ko bao giờ lạnh lẽo ko bao giờ bị lãng quyên bạn nhé./.


Môi Trường ST.

NHỮNG NGƯỜI BẠN, NGƯỜI ĐỒNG CHÍ, ANH EM- NGA ĐÃ GIÚP VIỆT NAM CHÚNG TA CHÍ NGHĨA CHÍ TÌNH TRONG LÚC CHÚNG TA BỊ KẺ THÙ BAO VÂY CẤM VẬN!

     Hơn 40 năm trước người Nga giúp Việt Nam chinh phục dòng Sông Đà hung dữ, xây dựng nhà máy thủy điện ngăn lũ cho đồng bằng Bắc Bộ. Hơn 40 năm trôi qua, bây giờ Liên Xô cũng không còn, những kỹ sư Liên Xô trên đại công trường Thủy điện Hòa Bình ngày đó nếu còn cũng đã tới tuổi "Thập cổ lai hi". Không biết ai còn nhớ tới họ, nhớ tới những công trình cao cả của những người anh em Cộng sản không nhỉ?

Và bây giờ lớp trẻ sau này họ ca thán "giá như đừng đuối đi một nền văn minh của Pháp, hay như đừng đánh Mỹ thì Việt Nam giàu ngang Hàn, Nhật". Quê mình năm 1996 có điện, đúng sau 2 năm khi tổ máy cuối cùng của Thủy điện Hòa Bình đi vào hoạt động, chấm dứt một thời kỳ đèn dầu mà mỗi lúc ngồi vào bàn học cay xè nước mắt.

Mùa thu năm 1971, miền Bắc trải qua trận đại hồng thủy "250 năm mới gặp một lần". 400 km đê vỡ, 500 nghìn ha lúa mất trắng. Nước sông Hồng dâng xấp xỉ mặt cầu Long Biên. Ngành giao thông phải điều một đoàn tàu chở đá hộc lên trấn giữ mặt cầu để không bị lũ cuốn phăng.

Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng khi đó đưa đoàn đại biểu cấp cao Liên Xô đi thị sát lụt ở Hà Bắc. Đứng trên triền đê nhìn ra mênh mông nước, ông mong muốn Liên Xô giúp Việt Nam xây dựng một công trình để cắt lũ cho đồng bằng sông Hồng.

Cũng chính từ đây công trình Thủy điện Hòa Bình manh nha hình thành và dần đi vào hiện thực. Có thể nói rằng lịch sử thường rất công tâm nếu không có người Nga chúng ta có lẽ chưa biết bao giờ có dòng điện quốc gia đầu tiên của cả nước. Mà trước đó người Pháp từng tuyên bố "Sông Đà bất trị". Và ngược lại nếu không có người Mỹ thì chúng ta sẽ không bị chia cắt 20 năm, không có hàng triệu tấn bom đạn trút trên làng mạc ruộng đồng người Việt, không có những e bé da cam mà dù 40 năm trôi qua hậu quả còn dai dắng nặng nề. Nhìn lại lịch sử để xem ai là bạn là thù để có cái nhìn công tâm đối với lịch sử.

Nếu nhiều người hỏi Liên Xô được gì ở đất nước này? Không gì cả, nuôi cho Việt Nam biết bao nhiêu du học sinh, tạo cho hàng ngàn lao động ở Đông Âu mà nhiều người nhờ đó giàu sụ lên trong khi đất nước còn khốn khó, ngay như tỷ phú của Việt Nam bây giờ Phạm Nhật Vượng cũng được nuôi dưỡng bằng bánh mỳ của nước Nga. Nhưng giờ thì sao? Đám đi Liên Xô tầm 8x chúng chửi Liên Xô không ra gì... đó là sự vong ơn bội nghĩa.

Còn người Mỹ để lại gì cho đất nước này qua 20 năm cai trị Miền Nam?

Không gì cả, lòng người ly tán phân tranh, ngoài bom đạn và những nghĩa trang đầy ắp ngôi mộ. Và ngay bây giờ chúng vẫn đang thò cây gậy "nhân quyền" vào đất nước chúng ta, điều mà hơn 40 năm trước chúng chưa bao giờ làm được, chỉ thay đổi phương thức từ súng đạn sang đồng đô la mà thôi./.


Môi Trường ST.

Khi một chú xe ôm hỏi tôi kết hôn chưa và tôi trả lời là “chưa”, gương mặt chú lộ rõ vẻ thất vọng. Chú cho rằng tôi đang làm một sai lầm lớn nhất trong cuộc đời. Nhưng tôi không thấy bị phiền mà ngược lại, cảm thấy lời chú xe ôm nói thật thú vị. Tôi thực sự quan tâm đến lối suy nghĩ của mọi người và họ thường khuyên tôi sống theo cách mà họ đang sống. Tôi đã bị rất rất nhiều người hỏi về lý do vì sao vẫn chưa có vợ nên đã có kinh nghiệm. Nếu chúng ta nhìn trái đất từ bên ngoài, những vì sao và con người chỉ là những con kiến, mục tiêu kết hôn trở thành một điều rất nhỏ trong nền văn minh vĩ đại. Mỗi người có một lối sống khác nhau. Có người chọn con đường tu hành, sống trong chùa và thiền định. Một số nghệ sĩ chọn cống hiến hết mình cho sự chân thật, sáng tạo nghệ thuật dù không biết bao giờ nỗ lực của họ mới thành công, nhưng họ chấp nhận rủi ro vì đam mê. Nhiều nghệ sĩ tôi biết sáng tạo tốt hơn khi họ độc thân. Bản thân tôi đang viết và buộc phải cải thiện khả năng viết châm biếm của mình. Công việc này không giúp tôi kiếm nhiều tiền để trở nên giàu có, đặc biệt ở Việt Nam. Tôi sống độc thân nhưng tạo niềm vui bằng sở thích, giao lưu bạn bè, đặt mục tiêu phấn đấu trong cuộc sống. Bạn đừng hiểu lầm là tôi phản đối kết hôn. Lý thuyết về tâm trí cho rằng tất cả chúng ta đều rất khác nhau và không nhất thiết phải sống theo một mô hình, một phong cách mà xã hội mong muốn. Nhưng ai cũng độc thân thì rất không tốt cho quốc gia và cộng đồng. Xu hướng này làm cho giá trị gia đình lỏng lẻo và thiếu nguồn lao động trong tương lai. Trong cuốn "Bộ lạc", tác giả Sebastian Junger giải thích tại sao gia đình là trái tim của xã hội. Và ở phương Tây, những cộng đồng càng lỏng lẻo sẽ khiến gia tăng tội phạm. Chúng ta không nên khuyến khích mọi người sống độc thân, tôi cũng không có ý định tôn vinh điều đó. Tuần này có một ngày gọi là ngày độc thân, tôi thấy mọi người nhắc đến từ "ế" với nhiều mục đích và sắc thái. Ngôn ngữ phương Tây không có từ có thể dịch cho từ "ế" vì nó là khái niệm không đẹp, có hàm ý chê bai và bắt nạt với người bị gán cho từ này. Tôi cho rằng nó phản lãng mạn và hạ thấp ý nghĩa của tình yêu. Nếu người độc thân muốn kết hôn chỉ vì họ cảm thấy bị áp lực bởi "ế" trong mắt xã hội chứ không phải vì cần sống với một người phù hợp. Điều này thật đáng tiếc. Đáng tiếc nữa là tôi thấy vào ngày 11/11, người ta không tôn vinh vẻ đẹp của tình yêu chân chính mà nó bị biến thành ngày chủ yếu để bán hàng. Có nhiều quảng cáo tôi đọc, cảm thấy cứ như là người độc thân thiếu thốn quá, hãy mua thêm hàng hiệu, quần áo, tiêu xài thêm nữa đi và bạn sẽ thấy đời bớt cô đơn trống trải. Tôi tự hỏi, sẽ có những người lấp đầy trái tim họ bằng thức ăn hoặc rượu, hoặc các sản phẩm quảng cáo chăng? Ngày độc thân cũng tốt nếu nhìn từ khía cạnh có thêm một dịp để kích thích kinh tế. Nhưng theo tôi, ngày này sẽ trở thành ngớ ngẩn nếu chỉ dùng để quảng cáo bán sản phẩm, khiến mọi người vòng vòng ngoài đường, và rồi mua hết tiền, cảm thấy thiếu thốn hơn. Ngày độc thân nên là cơ hội để chúng ta nói về mặt tích cực của tình yêu và kết hôn. Nếu chính phủ muốn công dân trẻ tích cực kết hôn và sinh con thì điều này rất tốt cho quốc gia trong tương lai. Nhiều nơi có thể tận dụng ngày độc thân để tổ chức những sự kiện cộng đồng nhằm giúp người độc thân tìm được chân ái của cuộc đời để đi đến hôn nhân. Tôi rất nhớ những ngày thành phố nhỏ của tôi ở Canada tổ chức các hoạt động khiêu vũ và giao lưu để người trẻ có thể gặp gỡ tìm hiểu nhau ngoài Internet. Các công ty vẫn có thể tận dụng ngày này làm tiếp thị, nhưng đừng biến nó thành một sự phản kháng chống lại khái niệm "ế". Chúng ta nên xóa khái niệm này khỏi từ điển, không sử dụng sự xấu hổ để ép mọi người vào mối quan hệ với người không dành cho họ. Dù thế giới có thay đổi, nhiều người giàu có hơn, phương tiện truyền thông xã hội chi phối mạnh hơn, của cải, tính toán không thể thay thế chủ nghĩa lãng mạn. Tôi tin rằng tình yêu là cảm giác mạnh mẽ nhất của loài người. Nó cho ta sức mạnh khiến ta muốn làm việc, đấu tranh vì lẽ phải, cống hiến cho xã hội nhiều hơn. Dưới góc độ khoa học, hormone oxytocin sinh ra bởi tình yêu gắn kết người mẹ với đứa con và những người yêu nhau. Vì người mình yêu quý, ta có thể chịu vất vả, dậy sớm hơn, tập thể dục nhiều hơn, làm việc chăm chỉ hơn để nuôi gia đình và mang lại lợi ích cho xã hội. Để thoát "ế" cũng dễ. Tập thể dục để khoẻ hơn, thay đổi bản thân bằng suy nghĩ tích cực, làm tốt sở trường, ra khỏi nhà và đến nơi có những người cùng sở thích như mình. Và quan trọng nhất, khi gặp một ai đó, việc đầu tiên mình nên mỉm cười, không khí sẽ vui vẻ và thân thiện hơn là nhăn mặt. Tiếng Anh có một từ "sheepish", dịch sát nghĩa đen là "như con cừu", nghĩa bóng của từ này là cảm thấy ngại và không tự tin. Giống như lúc độc thân và muốn rủ cô gái đi chơi mà mình "sheepish" thì lại im lặng. Có lẽ vì thế mà tôi tiếp tục bị "ế" dài dài.

Tiêm đủ liều vacxin đã an toàn?


Thích ứng với cuộc sống bình thường mới, nhiều người nghĩ rằng chỉ cần tiêm đủ liều vaccine phòng Covid-19 sẽ an toàn. Đây là suy nghĩ sai lầm, thiếu hiểu biết và đe dọa trực tiếp đến sự an toàn của cả cộng đồng.

“Nhân quyền” không phải là thứ đem ra để mua bán




Dùng "nhân quyền" để ra điều kiện trong quan hệ ngoại giao, "nhân quyền" để đổi chác, ràng buộc các điều kiện kinh tế... đó là những điều đang đi ngược lại với xu thế "hòa bình, ổn định, hợp tác" giữa các quốc gia dân tộc. Một số cá nhân, tổ chức, nhà nước tự cho mình quyền được phán xét, quyền đưa ra quyết định nên đã sẵn sàng bất chấp mọi điều ước quốc tế, hệ thống pháp luật quốc gia để vu khống Việt Nam vi phạm, bóp nghẹt quyền con người.

Cán bộ công an chĩa súng vào nhân viên y tế

LÂM ĐỒNG Bị nhắc nhở do không đeo khẩu trang khi đưa con đi cấp cứu, nam công an rút súng khiến nhiều nhân viên y tế hoảng sợ. Sự việc xảy ra tại Trung tâm Y tế huyện Đức Trọng tối 11/11. Lúc này, Nguyễn Duy Ngọ, 31 tuổi, công tác tại Công an huyện Lâm Hà, lái ôtô chở người phụ nữ bế em nhỏ đến trung tâm y tế này cấp cứu. Khi tới sảnh, bị nam nhân viên y tế nhắc nhở do không đeo khẩu trang, Ngọ lớn tiếng, chửi tục, rút súng ngắn chĩa vào hai nhân viên y tế dù người đi cùng can ngăn. Hành động của nam công an được camera an ninh trung tâm y tế ghi lại. Ngày 13/11, sau khi video đăng tải lên mạng xã hội, Công an tỉnh Lâm Đồng bước đầu xác định hành vi rút súng của Ngọ là "quá khích, thiếu chuẩn mực và vi phạm các quy định của ngành". "Cán bộ này đang trực thì con bị sặc sữa phải đưa đi cấp cứu, do vội nên không đeo khẩu trang và nóng ruột dẫn đến mất bình tĩnh", đại diện Công an tỉnh Lâm Đồng nói và cho biết đang làm rõ để có hình thức xử lý theo quy định.

Thứ Sáu, 12 tháng 11, 2021

VẠCH TRẦN BẢN CHẤT ĐEN TỐI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 Hiện nay, các thế lực thù địch và một số cá nhân cơ hội chính trị với nhiều thủ đoạn để chống phá Ðảng, Nhà nước Việt Nam, xuyên tạc thành quả công cuộc đổi mới đất nước, phá hoại cuộc sống yên bình của nhân dân. Với mục đích nhằm xóa bỏ vai trò tổ chức, lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam đối với sự phát triển đất nước. Với công tác đấu tranh của ta, mặt thật của họ đã nhanh chóng bị phơi bày, đã giúp đông đảo người dân nhận diện và lên án những hành động chống phá của địch. Một số người trước đây do thiếu thông tin, nhẹ dạ, cả tin, nay cũng đã tỉnh ngộ, không bị lừa gạt, không tin vào lời đường mật, lường gạt của kẻ xấu.

Thời gian qua, các thế lực thù địch, cùng một số cá nhân cơ hội chính trị tập trung bịa đặt, xuyên tạc với những luận điệu nhằm phủ nhận phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng nấp dưới cái vỏ bọc "yêu nước", họ đã công bố một số ý kiến "đổi mới" mà thực chất là "đổi màu" nhằm hướng lái Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Do đó, chúng ta cần nhận diện rõ việc tăng cường phát tán thông tin xấu, độc chống phá làm hoang mang và làm suy giảm lòng tin đối với Ðảng Cộng sản Việt Nam trong xã hội, đó là mưu đồ của các thế lực thù địch, cùng một số cá nhân cơ hội chính trị đã và đang tiến hành để chống phá cách mạng nước ta.

Hiện nay, chúng tiếp tục đẩy mạnh hoạt động chống phá, tìm mọi cách móc nối, liên kết, hợp lực giữa bên ngoài và bên trong, đẩy mạnh các hoạt động hoặc công khai, hoặc bí mật dưới nhiều hình thức, biện pháp mới để chống phá Ðảng, Nhà nước. Thông qua việc xuyên tạc, phủ nhận các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách… của Ðảng, Nhà nước về chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, tăng cường phát tán thông tin xấu độc nhằm tác động tới tâm lý và tư tưởng, tạo tiền đề cho các hoạt động chống phá Ðảng, Nhà nước.

Trong cuộc đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch, chúng ta cần nhận thức sâu sắc rằng đó là cuộc việc cam go, phức tạp, phải đối diện với những thế lực rất xảo quyệt, nhiều mưu mẹo, có nhiều thủ đoạn. Do đó, trong bất kỳ hoàn cảnh nào chúng ta vẫn cần phải đấu tranh thắng lợi, làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch. Do đó, trong tình hình hiện nay, mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân Việt Nam cần luôn cảnh giác, hết sức tỉnh táo, vững vàng bản lĩnh, sáng tạo, đoàn kết, thống nhất, chung sức đồng lòng đấu tranh để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong điều kiện mới.

ĐẤU TRANH VỚI CÁC NỘI DUNG XẤU, ĐỘC, QUAN ĐIỂM SAI TRÁI TRÊN MẠNG XÃ HỘI HIỆN NAY

 Trong tình hình hiện nay, các thế lực thù địch lợi dụng sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của mạng xã hội để gia tăng các phương thức tinh vi, nhiều thủ đoạn nguy hiểm nhằm chống phá cách mạng Việt Nam.

          Trong bối cảnh internet mang lại nhiều tác động tích cực, song cũng tiềm ẩn những nguy cơ ảnh hưởng xấu đến văn hóa truyền thống, an toàn xã hội và an ninh quốc gia, chúng ta cần tăng cường quản lý, định hướng đối với sự phát triển của mạng xã hội.

 Do đó, tăng cường đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay là vấn đề cấp thiết, nhằm nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ.

          Đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, những thông tin và tài liệu có nội dung xấu, độc trên mạng xã hội là nhiệm vụ quan trọng của hệ thống chính trị. Thực tiễn của đời sống xã hội hiện nay, khoa học, công nghệ phát triển mạnh mẽ đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động đấu tranh, chống lại âm mưu, thủ đoạn diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch, phê phán các quan điểm sai trái, lệch lạc trên mạng xã hội. Quản lý mạng xã hội như một công cụ thể hiện quyền tự do của con người song tuyệt đối không để các thế lực phản động lợi dụng xuyên tạc, tiến hành các hoạt động chống phá chế độ.

Các trang thông tin chính thống của Chính phủ đã kịp thời cung cấp cho người dân những thông tin thời sự mới nhất về tình hình chính trị, kinh tế - xã hội, các hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Đã đáp ứng nhu cầu thông tin của người dân, vừa định hướng dư luận, đồng thời giúp Nhà nước tăng cường quản lý xã hội bằng chính công cụ hữu hiệu này.

Để tiếp tục nâng cao nhận thức chính trị, tăng cường đoàn kết, thống nhất trong các tổ chức Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân; chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa và các quan điểm sai trái, lệch lạc, phản động trên mạng xã hội, phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục tư tưởng, tuyên truyền đường lối, chính sách, quan điểm của Đảng về những vấn đề mới trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Định hướng tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trước những vấn đề quan trọng trong nước, góp phần tạo ra sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội.

Cần có chế tài xử phạt nghiêm với những hành vi cố tình đưa thông tin bịa đặt, sai sự thật lên mạng xã hội, hành vi xuyên tạc đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, phá hoại quan hệ quốc tế của đất nước. Để nâng cao hiệu quả đấu tranh ngăn chặn các nội dung xấu độc, quan điểm sai trái trên mạng xã hội chúng ta cần tăng cường quản lý chặt chẽ các hoạt động trên không gian mạng, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các  thế lực thù địch, phản động, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO SỨC CHIẾN ĐẤU TRONG ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

 Việc đấu tranh với các quan điểm sai trái là một trong những nhiệm vụ hàng đầu trong bảo vệ chế độ chủ nghĩa xã hội. Để công tác đấu tranh có hiệu quả, chúng ta cần thực hiện tốt một số giải pháp sau.

Một là,  tăng cường, xây dựng chỉnh đốn Đảng

Thường xuyên xây dựng và củng cố các tổ chức đảng từ trên xuống cơ sở, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức.

Xây dựng chương trình hoạt động cụ thể và có giải pháp đấu tranh với các quan điểm sai trái thù địch, bảo vệ nền tư tưởng của Đảng. Ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, lối sống trong nội bộ, ngăn chặn những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa.

Phát huy vai trò của người đứng đầu và vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, kịp thời xử lý những vấn đề tư tưởng nảy sinh. Luôn nâng cao tinh thần cảnh giác trước những hoạt động tuyên truyền của các thế lực thù địch, các hành vi lôi kéo, kích động, xúi giục…

Hai là, Xây dựng qui chế hoạt động của các cơ quan tổ chức xã hội

Nhận thức rõ nhiệm vụ quan trọng và cấp bách trong công tác đấu tranh phòng chống các quan điểm sai trái, thù địch. Các cấp ủy đảng phải đưa nội dung đấu tranh, ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch vào chương trình, kế hoạch lãnh đạo của cấp mình. Phát huy tốt vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, nêu gương cán bộ, đảng viên và phấn đấu học tập, rèn luyện.

Chúng ta phải nắm vững được các quan điểm, đường lối của Đảng, tích cực tuyên truyền, giáo dục chính trị để kịp thời vạch trần và làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù dịch.

Ba là, Làm tốt công tác hợp tác quốc tế

Chúng ta cần chủ động nắm bắt tình hình trong nước cũng như quốc tế, sớm phát hiện các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.

Phối hợp với các cơ quan, tổ chức quốc tế trong việc kiểm soát các tin tức xấu, độc hại trên không gian mạng, chủ động phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội để có biện pháp kỹ thuật ngăn chặn kịp thời các hoạt động tuyên truyền của các thế lực thù địch.

Thường thu hút tầng lớp nhân dân kiều bào ở nước ngoài tham gia vào công tác đấu tranh các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch vì lợi ích của dân tộc và kiên định với tư tưởng của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.

TĂNG CƯỜNG XỬ LÝ TIN GIẢ, TIN SAI SỰ THẬT VỀ PHÒNG CHỐNG DỊCH COVID-19

 Trong thời gian vừa qua, chúng ta đã làm tốt công tác truyền thông, cung cấp thông tin kịp thời để nhân dân hiểu, bình tĩnh, chia sẻ, ủng hộ và tích cực thực hiện các giải pháp phòng, chống dịch, huy động toàn dân đoàn kết, tham gia phòng, chống dịch, góp phần củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Việc xuất hiện nhiều thông tin xấu độc cùng số lượng lớn các thông tin được phát tán tràn lan trên không gian mạng đã làm giảm niềm tin của người dân vào công tác phòng chống, dịch bệnh, gây hoang mang, bức xúc trong dư luận xã hội, nếu không xử lý tốt sẽ dễ phát sinh điểm nóng, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, gây khó khăn cho công tác phòng, chống dịch bệnh của cả nước.

Để thực hiện hiệu quả nhiệm chống tin giả, tin sai sự thật chúng ta cần thực hiện các nội dung sau:

- Thực hiện nghiêm túc quy định về phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí; cử người phát ngôn, chủ động cung cấp thông tin, trong mọi tình huống bảo đảm thông tin được cung cấp nhanh nhất, không bị động, bất ngờ; tuân thủ kỷ luật phát ngôn; thường xuyên theo dõi, nắm bắt thông tin trên không gian mạng về công tác phòng chống dịch để xử lý kịp thời.

- Tăng cường phát hiện kịp thời tin giả, tin sai sự thật về tình hình dịch bệnh và công tác phòng, chống dịch; khi phát hiện tin giả, tin sai sự thật, cần chỉ đạo lực lượng có liên quan kịp thời xác minh đối tượng phát tán tin giả, phối hợp với đơn vị chức năng để thẩm định nguồn tin, công bố, cảnh báo tin giả, tin sai sự thật; chủ động xử lý nghiêm các đối tượng phát tán thông tin vi phạm pháp luật trên địa bàn.

- Lượng báo chí, truyền thông luôn bám sát chỉ đạo, định hướng tuyên truyền, kịp thời phản bác luận điệu xuyên tạc, chủ động cung cấp thông tin cho người dân;

- Cơ quan chức năng của Truyền thông căn cứ thẩm quyền được giao xử lý nghiêm các cơ quan báo chí, trang thông tin điện tử tổng hợp, mạng xã hội đăng tải, phát tán tin giả, tin sai sự thật, gây hoang mang, hiểu lầm về tình hình dịch bệnh và công tác phòng, chống dịch.

- Lực lượng chuyên trách tham gia phòng chống dịch thực hiện nghiêm và đúng các quy định của cấp có thẩm quyền, có thái độ đúng mực với người dân, tránh gây bức xúc, bất bình, làm nóng vấn đề, phát tán các thông tin bất lợi lên mạng xã hội, ảnh hưởng đến quá trình thực thi các biện pháp phòng chống dịch.

NHẬN DIỆN CÁC LỰC LƯỢNG THÙ ĐỊCH, CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG NƯỚC TA TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 Các thế lực thù địch đưa ra những lời nói, bài viết phản ánh không đúng thực tế đời sống chính trị, kinh tế, xã hội để “thổi phồng” tiêu cực, “bơm căng” mâu thuẫn, “bóp méo” chính sách thực tế với mục đích làm thay đổi, sụp đổ chế độ chính trị, tan rã hệ thống chính quyền, gây mất đoàn kết trong nhân dân,… hướng đến mục tiêu thiết lập nên một chế độ chính trị, một chính quyền mới theo mong muốn của chúng. Những quan điểm sai trái, thù địch ở nước ta thường xuất hiện ở những đối tượng sau:

Thứ nhất, những người nghiên cứu lý luận, thực tiễn ở các nước trong cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản. Nhóm này bao gồm những nhà chống cộng khét tiếng và cả lãnh đạo của một số quốc gia phương Tây.

Thứ hai, những phần tử cực đoan người Việt ở nước ngoài luôn lôi kéo, kết hợp với một số văn nghệ sĩ, trí thức chống đối, bất mãn ở trong nước lập ra các tổ chức phản động.

Thứ ba, một số cán bộ, đảng viên (có những đảng viên đã từng giữ chức vụ cao trong hệ thống chính trị của nước ta) suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và một số người do nhận thức lệch lạc, bị lôi kéo, bị kích động, mua chuộc.

Các thế lực thù địch, phản động đã triệt để lợi dụng mạng xã hội để phát tán các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận những thành quả cách mạng để chống phá ta. Chúng phủ nhận quan điểm chính thức của Đảng và Nhà nước ta, khơi mào cho sự trỗi dậy của tư tưởng phản động, lạc hậu, kích động sự thù hận mù quáng,… Việc nhận diện các lực lượng và nắm rõ bản chất những luận điệu sai trái, thù địch là cơ sở quan trọng để chúng ta kịp thời có những biện pháp phản bác, đấu tranh, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta./.

Văn hóa xấu độc phương tây đang ngấm ngầm xâm lược dân tộc ta

 "Muốn xóa sổ vĩnh viễn một quốc gia, dân tộc thì hãy đồng hóa nền văn hóa của quốc gia, dân tộc đó".

Lợi dụng vào tâm lý hiếu kỳ, sinh ngoại; tâm lý tuổi mới lớn, thích khẳng định mình, thích các hoạt động sôi nổi... các thế lực xấu đã thông qua các phương tiện truyền thông ra sức tuyên truyền, cổ súy cho việc du nhập các lễ hội, luồng văn hóa ngoại lai từ phương Tây vào nước ta, nhưng chủ yếu là du nhập những mặt trái, biến tướng độc hại, dị hợm. Đồng thời chúng ra sức kêu gọi, vận động xóa bỏ những nét văn hóa cổ truyền của dân tộc nhằm thực hiện âm mưu thâm độc, tấn công vào nền văn hóa, thực hiện diễn biến hòa bình, làm suy yếu, rối loạn đất nước ta.

Hệ quả là gì? Các ông bố, bà mẹ, các bậc phụ huynh hãy dành vài phút để nghĩ lại xem, con cháu của chúng ta đang ra sao? Chúng háo hức tô ma, vẽ quỷ, máu mê bê bết, kinh dị diễu hành khắp phố, trêu đùa, dọa nạt mọi người để chào đón Halloween; mới tý tuổi đầu mà đã Valentine rồi dằn vặt đau khổ vì học cấp 2 rồi mà chưa có người yêu; chúng háo hức, mong ngóng ông già Noel của Lễ Giáng sinh( mặc dù không phải tín đồ đạo công giáo)...là những lễ hội truyền thống của Phương Tây.

Trong khi đó: Chúng đang tỏ ra chán ghét Tết cổ truyền, không thích các hoạt động sum họp gia đình đông người, suốt ngày chỉ chăm chăm cắm mặt vào cái điện thoại, máy tính. Từ đó các giá trị gia đình, gốc rễ của xã hội bị đảo lộn, ông bà bố mẹ con cái luôn có khoảng cách, thiếu sự gắn kết, thậm chí làm sâu sắc hơn sự xung đột giữa các thế hệ, phá vỡ các gia đình...

Thiết nghĩ các cơ quan chức năng cần nâng cao trách nhiệm của mình hơn nữa, kiên quyết thực hiện 6 dám: dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám nói, dám đột phá sáng tạo và dám đương đầu khó khăn; nghiên cứu tham mưu các chủ trương, chính sách thích hợp nhằm làm tốt hơn nữa việc "bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc". Đồng thời tăng cường quản lý lĩnh vực văn hóa; có biện pháp thích hợp để ngăn chặn, đẩy lùi những ảnh hưởng tiêu cực của các luồng văn hóa ngoại lai độc hại; mạnh tay xử lý các trường hợp vi phạm.

Các gia đình - tế bào của xã hội, hãy nâng cao ý trách nhiệm, dành thời gian quan tâm giáo dục truyền thống dân tộc, truyền thống gia phong, nền nếp cho các thế hệ trẻ. Có thái độ kiên quyết, nghiêm khắc trước những biểu hiện lệch lạc, lai căng thái quá của con trẻ.

Có như vậy thì gia đình mới yên ấm, xã hội mới ổn định và dân tộc Việt mới trường tồn!

 

Cần làm rõ có hay không việc tiếp tay cho những kẻ xảo trá, âm mưu chống phá đảng, nhà nước..?

Mới đây một số đọc giả đã phát hiện trong sách Truyện ngắn viết về gia đình, do Nhà xuất bản Hồng Đức thực hiện. Khi viết về Chiếc áo len mẹ đan, có đoạn tác giả đã trắng trợn viết: "Tôi muốn đan một chiếc áo tự do dân chủ cho quê hương tôi để thay thế sự độc tài, đàn áp của Cộng sản..."

Rõ ràng đây là một âm mưu nhằm truyền bá tư tưởng chống phá Đảng, Nhà nước ta. Vậy phải chăng có "ai đó" đang cố tình bao che hoặc cố tình làm ngơ trước sự chống phá công khai và vô cùng nguy hiểm này..?

Thiết nghĩ các cơ quan chắc năng có thẩm quyền về hoạt động in ấn, xuất bản, lưu hành.... cần phải vào cuộc xác minh, làm rõ vấn đề này để trả lời cho công luận biết: Có hay không việc cố tình làm ngơ hoặc tiếp tay của một cá nhân hay một "nhóm người" nào đó trước các âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền, phá hoại của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa hiện nay..?

Phải nhận diện chính xác và kiên quyết đấu tranh đập tan những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch ngay từ trong trứng nước. Không để chúng lũng đoạn, làm bừa, làm ẩu, làm mất đi giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và đất nước. Nếu để mất văn hóa chúng ta sẽ mất đi "sức mạnh nội sinh" của dân tộc và cuối cùng sẽ mất đi tất cả.

LUẬN ĐIỆU TRÁO TRỞ VÀ GIẺ RÁCH CỦA BÈ LŨ NGỤY SỬ VÀ NHỮNG KẺ CƠ HỘI, TỰ DIỄN BIẾN TỰ CHUYỂN HÓA, TRÌ TRỆ, BẢO THỦ!

      Bè lũ ngụy sử cho rằng: "Viết (chép) sử phải trung tính và phải khách quan. Xưa nay chúng ta viết (chép) sử chỉ viết (chép) từ một phía, đứng về phía người thắng để viết (chép) sử. Chính quyền VNCH là một thực thể chính trị đã từng tồn tại ở nước ta, vì vậy cần phải thừa nhận nó."

Vậy ta xin hỏi bè lũ ngụy sử các ngươi: 

1. Gọi cái bè lũ tay sai bán nước cho quân xâm lược Pháp, Mỹ (trong đó còn có cả Nhật) trước 30/4/1975 là "ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn" thì có phải là đã thừa nhận có cái thực thể ấy đã tồn tại không? Nếu nó không tồn tại thì lấy gì để gọi là "ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn"?

2. Bè lũ ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn có bao giờ chúng coi Pháp, Mỹ là kẻ xâm lược không hay chúng chỉ coi Pháp, Mỹ là đồng minh? Còn dân tộc Việt Nam coi Pháp, Mỹ là gì? Là quân xâm lược hay là đồng minh của Quốc gia Việt Nam và VNCH? Vậy giờ đây các ngươi tuyên bố rằng phải thừa nhận VNCH là một thực thể chính trị với đầy đủ tư cách pháp lý thì có phải các ngươi cũng đã và đang viết (chép) sử một chiều và đứng về phía cái thây ma VNCH hay không? Do vậy, có phải các ngươi cũng coi Pháp và Mỹ là đồng minh của cái thây ma Quốc gia VN, VNCH chứ không phải là kẻ xâm lược hay không?


Tôi cũng xin hỏi những ông cơ hội, tự diễn biến tự chuyển hóa, bảo thủ, trì trệ đã và đang khoác áo đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó có cả những người còn là tướng lĩnh QĐND Việt Nam, đã từng là lãnh đạo cấp cao:

1. Các ông cho rằng những thằng lính ngụy ở Hoàng Sa đã đánh nhau với quân Trung Quốc xâm lược năm 1974, chúng cũng yêu nước vì đã cầm súng chống lại quân xâm lược ngoại bang. Vậy thì có phải các ông cũng đã coi Pháp và Mỹ chỉ là đồng minh của cái thây ma Quốc gia VN và VNCH chứ không phải là những kẻ xâm lược, bởi nếu là kẻ xâm lược thì tại sao Quốc gia VN và VNCH không đánh Pháp và Mỹ? Có phải các ông cũng đã coi cái thây ma Quốc gia VN, VNCH là một quốc gia thứ hai đã từng tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam không?

2. Các ông cho rằng người cộng sản cho rằng chỉ có mình mới yêu nước là sự sai lầm bởi ở thời kỳ phong kiến đâu có ai biết cộng sản là cái gì mà họ vẫn yêu nước? 

Vậy tôi hỏi các ông: Các ông cho rằng ngụy quyền, ngụy quân Sài Gòn (Quốc gia VN, VNCH) làm tay sai cho quân xâm lược Nhật, Pháp, Mỹ và giết hại, cướp bóc, đốt phá, đàn áp, quây nhốt đồng bào mình trong các cuộc đi càn, trong các ấp chiến lược thì là yêu nước sao? Những người cộng sản thì họ có làm những điều như thế không? Hay các ông cũng cho rằng ngụy quyền ngụy quân Sài Gòn cũng giống như Phan Thanh Giản và Trương Vĩnh Ký, chúng yêu nước theo cách của chúng mà các ông và lũ ngụy sử đã từng rao giảng? Các ông hãy trả lời đi? Các ông còn cãi cố, cãi cùn, bảo thủ, trì đệ được không? Các ông cho rằng các ông yêu nước thương dân, các ông bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ vậy thì tại sao các ông lại câm như hến trước những luận điệu xuyên tạc lịch sử, phá hoại lịch sử, đánh tráo lịch sử, đổi trắng thay đen lịch sử chính nghĩa của dân tộc của bè lũ sử tặc? Các ông chỉ được cái võ mồm thôi chứ các ông làm được gì? Tôi khinh thường các ông! Tiền bối ăn ở sao mà để cho hậu bối khinh thường ấy thế mà các ông vẫn cứ cao ngạo, tự đại, mắc bệnh công thần, cứ cho mình là người trí được thì tôi chịu các ông!



Yêu nước ST.

KHÙNG!

Những bài ca cách mạng.

Theo năm tháng hào hùng.

Ngày nay mấy kẻ khùng.

Làm rối tung văn hóa.


CHÍNH SÁCH KHOAN HỒNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA SAU NGÀY GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN MIỀN NAM, THỐNG NHẤT TỔ QUỐC - KHÔNG MỘT QUỐC GIA NÀO CÓ THỂ SÁNH ĐƯỢC!

      Theo Alain Wasmes, tác giả cuốn sách La peau du Pachyderme (Việt Nam tấm da voi), sau ngày 30/4/1975, Chính quyền Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã nắm trong tay toàn bộ tài liệu ở trung tâm đăng kiểm của Bộ chỉ huy Viện trợ quân sự Mỹ ở Việt Nam (MACV), do QLVNCH tan rã quá nhanh nên không kịp tiêu hủy tài liệu, mà theo như ông mô tả là "Một trong năm máy tính của trung tâm đăng kiểm Mỹ, toàn bộ quân đội Sài Gòn, từ tổng chỉ huy cho đến anh binh nhì, đều được chương trình hóa với toàn bộ những chi tiết về lai lịch và chính trị cần thiết của họ. Thậm chí cả với lớp sắp tuyển, cũng có đầy đủ tất cả như thế".

Trên thực tế, trong các báo cáo của sĩ quan QLVNCH, rất nhiều hành động có thể được coi là t.ội á.c chiến tranh đã được ghi lại và báo cáo như là một "chiến tích" trong sự nghiệp chống cộng. Nếu chính quyền mới muốn lập tòa án để x.ử t.ử tù binh chế độ cũ thì đó sẽ là bằng chứng rõ ràng để kết tội, nhưng chính quyền mới đã không làm vậy.

Việc trừng phạt những đối tượng cộng tác với quân xâm lược nước ngoài diễn ra rất phổ biến ở các nước. Sau khi thoát khỏi sự đô hộ của Đế quốc Nhật Bản, tại Hàn Quốc thì luật pháp có hẳn 1 quy định về đối tượng này, Trung tâm Sự thật và Công lý Lịch sử (CHTJ) đã lập ra cả 1 danh sách 4.389 người từng cộng tác với Nhật để xét lý lịch với con cháu của họ, năm 2019 Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in nói rằng "xóa sạch những dấu tích của việc cộng tác với Nhật Bản là điều nên được thực hiện từ lâu".

Sau khi được quân Đồng Minh giải phóng năm 1945, hàng loạt các nước châu Âu đã trừng phạt những người cộng tác với Đức QX: nước Pháp đã x.ử t.ử hơn 10.500 người, phạt tù 127.0000 người; Hà Lan đã bắt giam 60.000 người; Đan Mạch, Bỉ và Na Uy mỗi nước cũng đã bắt giam hàng chục nghìn người cộng tác với Đức QX (riêng Na Uy, Đan Mạch và Hà Lan đã khôi phục án t.ử h.ình trong dịp này sau hàng chục năm không áp dụng). Khi so sánh thì chính sách học tập cải tạo ở Việt Nam đã khá nhân đạo khi không tiến hành t.ử h.ình bất kỳ một ai.


Một công bố của nhà chức trách Việt Nam nói rõ:

"Việc tổ chức cho ngụy quân, ngụy quyền và các đối tượng phản động ra trình diện học tập cải tạo thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước, có tác dụng phân hóa hàng ngũ bọn phản động, cô lập bọn đầu sỏ ngoan cố, đập tan luận điệu tuyên truyền chiến tranh tâm lý của địch, tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân."


Ngay cả cựu đại tá trở cờ Bùi Tín cũng cho rằng:

“Khi thiết lập một chính quyền mới, để đảm bảo an ninh cho xã hội thì tất yếu phải ngăn chặn những lực lượng quân sự tàn dư của chế độ cũ nổi loạn, chính sách học tập cải tạo là nhằm mục tiêu đó. Chính quyền mới hoàn toàn có thể bắt giam toàn bộ binh lính chế độ cũ để ngăn chặn nổi loạn, nhưng thực tế họ chỉ yêu cầu 1/10 số đó đi cải tạo dài hạn từ vài tháng trở lên, 9/10 còn lại thì được thả ngay.

Những người tỏ ý hợp tác thì không phải đi và còn được bổ nhiệm chức vụ, đó đã là một sự nhân đạo lớn:

Tôi đã gặp một số vị trong chế độ Sài-gòn cũ, có vị là trung tướng nói với tôi rằng: 

"Nếu chúng tôi chiến thắng, tức Việt Nam Cộng hòa thắng, không chắc chính sách của chúng tôi đối với các ông đã hơn gì so với chính sách của các ông đối với chúng tôi. Có khi chúng tôi lại có những trại giam tàn bạo hơn."

Chẳng phải trong số trên dưới 1 triệu lính gọi là ngụy quân, ngụy quyền thì số bị đi cải tạo dài hạn chỉ bao gồm trên 10 vạn người, nghĩa là chừng 1 phần mười, còn 9 phần mười đã được hưởng quyền công dân ngay từ đầu rồi là gì? Chẳng phải đã có ông chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh tham gia Mặt trận tổ quốc thành phố Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Xuân Oánh, quyền thủ tướng cũ, được bầu làm đại biểu quốc hội rồi là gì?

*Đại uý Nguyễn Văn Sứ, Khoá 27 sĩ quan trừ bị Thủ Đức, nguyên Đại Đội Trưởng đại đội Trinh Sát Sư Đoàn 23 Bộ Binh.

Hình chụp năm 1982 đi đạp xích lô sau khi đi học tập cải tạo 7 năm về.


Yêu nước ST.