Thứ Ba, 16 tháng 11, 2021

Tăng cường công tác đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch trên không gian mạng.

     Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ cùng với sự phát triển bùng nổ của mạng Internet, các mạng xã hội toàn cầu,... đã tạo điều kiện để các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng để tăng cường các thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước ta. Chúng lợi dụng các sự kiện chính trị như: Công tác chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng; công tác phòng, chống tham nhũng; các vụ việc nhạy cảm, phức tạp được dư luận xã hội quan tâm; công tác phòng, chống Covid-19; vấn đề Biển Đông, dân chủ, nhân quyền, tôn giáo… để phát tán các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước, công kích, hạ thấp uy tín các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng...

Trong hoạt động phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, việc tuyên truyền xuyên tạc, đăng tải các thông tin xấu độc trên không gian mạng là hoạt động phổ biến nhất hiện nay. Với đặc tính lan tỏa nhanh, mạng Internet đang là phương tiện nguy hiểm nhất, có khả năng mở rộng phạm vi, tác động nhanh nhất, gây tác hại trên diện rộng hơn bất cứ hình thức tuyên truyền nào khác. Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã triệt để lợi dụng đặc tính này và thiết lập hàng nghìn trang web, blog và mạng xã hội cho mục đích tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, phá hoại nội bộ ta; lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội, khai thác thông tin trên báo chí chính thống từ những vụ việc tiêu cực xảy ra trong đời sống để hư cấu, xuyên tạc, thổi phồng, bóp méo sự thật, lấy hiện tượng quy kết thành bản chất, đăng tải thông tin thật giả lẫn lộn. Chính vì vậy công tác định hướng trong việc đưa thông tin tích cực, đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch trên không gian mạng đang là đòi hỏi cấp thiết cần phải làm hiện nay.

Thời gian qua, thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, Ban Chỉ đạo 35 tỉnh Lạng Sơn đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao. Thường xuyên quán triệt học tập, nghiên cứu và triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng một cách nghiêm túc, đồng bộ; thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao tinh thần cảnh giác cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp Nhân dân; chủ động nắm bắt tư tưởng, dư luận xã hội; định hướng tuyên truyền có trọng tâm, trọng điểm, giải quyết kịp thời những vụ việc phức tạp, khiếu kiện đông người, các vấn đề nảy sinh từ cơ sở nhằm ổn định tình hình, không để phát sinh thành ''điểm nóng'' để các thế lực thù địch có cơ hội lợi dụng xuyên tạc, chống phá; chủ động nắm tình hình địa bàn, kịp thời tuyên truyền thông tin chính thống để định hướng dư luận xã hội, tạo sự đồng thuận, ủng hộ của cán bộ, đảng viên và Nhân dân trong triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; tăng cường huy động cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên thường xuyên chia sẻ, bình luận những thông tin tích cực, đồng thời phản bác các quan điểm sai trái, không đúng sự thật đăng trên các trang mạng xã hội, góp phần định hướng dư luận, làm ổn định tình hình trước những sự kiện, sự việc được nhiều người quan tâm trên mạng xã hội... góp phần tích cực giữ vững ổn định chính trị, an ninh trật tự, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác đấu tranh vẫn còn những hạn chế, chưa ngăn chặn được triệt để các thông tin xấu, độc trên không gian mạng. Để tăng cường công tác đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch trên không gian mạng, trong thời gian tới, Ban Chỉ đạo 35 của tỉnh cần tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là: Tập trung xây dựng, phát triển lực lượng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch từ tỉnh đến cơ sở. Tổ chức kiện toàn thành viên Ban Chỉ đạo 35, nhóm chuyên gia, lực lượng tham mưu giúp việc và đội ngũ cộng tác viên toàn tỉnh... bảo đảm mọi công việc được thực hiện xuyên suốt.

Hai là: Các đồng chí thành viên Nhóm Chuyên gia 35 cần chủ động thực hiện các nhiệm vụ được giao; thường xuyên theo dõi, nắm bắt kịp thời tình hình hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trên internet; tích cực viết tin, bài, kịp thời đấu tranh, phản bác, vô hiệu hóa hoặc làm giảm thiểu tác hại của các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, bịa đặt trên internet, mạng xã hội.

Ba là: Lực lượng 35 toàn tỉnh tăng cường phối hợp, tham mưu triển khai thực hiện tốt việc tổ chức kết nối lực lượng; thường xuyên đăng tải, chia sẻ các thông tin chính thống, tích cực trên các phương tiện thông tin truyền thông, internet, mạng xã hội, nhất là đăng tải, chia sẻ những thông tin tích cực, đồng thời huy động lực lượng tham gia fanpage và group “Lạng Sơn 35” của Ban Chỉ đạo 35 cấp tỉnh và các trang, nhóm của cấp mình; tham gia các hoạt động đấu tranh, phản bác có hiệu quả thông tin xấu, độc, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên toàn địa bàn, trước mắt tập trung đấu tranh bảo vệ thành công kết quả Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII và công tác chuẩn bị cho Đại hội XIII của Đảng…

                                                                                                    T3

Những điểm mới Quy định số 37-QĐ/TW VỀ NHỮNG ĐIỀU ĐẢNG VIÊN KHÔNG ĐƯỢC LÀM

 


Trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Quy định số 47-QĐ/TW ngày 1/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về những điều đảng viên không được làm, Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII đã thống nhất ban hành Quy định số 37-QĐ/TW.

Quy định số 37-QĐ/TW giữ nguyên 19 điều như trước (đưa nội dung của 2 điều vào những điều khác và thêm 2 điều mới), kế thừa cơ bản những nội dung còn phù hợp, bổ sung một số nội dung đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII, XIII. Cụ thể như sau:

Một là, đưa nội dung của 2 điều vào các điều khác:

Đưa nội dung của điều 7 trong Quy định số 47: “Đảng viên (kể cả cấp uỷ viên và đảng viên là cán bộ diện cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ quản lý) tự ứng cử, nhận đề cử và đề cử các chức danh của tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội (theo quy định phải do tổ chức đảng giới thiệu) khi chưa được tổ chức đảng có thẩm quyền cho phép” vào Điều 2 Quy định 37.

Đưa nội dung điều 10: “Can thiệp, tác động đến tổ chức, cá nhân để bản thân hoặc người khác được bổ nhiệm, đề cử, ứng cử, đi học, đi nước ngoài trái quy định. Lợi dụng chức vụ được giao để chiếm dụng, vay, mượn tiền, tài sản của đối tượng trực tiếp quản lý trái quy định. Ép buộc, mua chuộc cá nhân hoặc tổ chức để bao che, giảm tội cho người khác” vào nội dung Điều 12 và Điều 13 Quy định số 37.

Hai là, bổ sung hai điều cấm mới

Bổ sung Điều 3, quy định đảng viên không được “phản bác, phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; không thực hiện trách nhiệm nêu gương; chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi; “tư duy nhiệm kỳ”, đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa rời quần chúng”.

Bổ sung Điều 13 cấm đảng viên “can thiệp, tác động vào hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, xét đặc xá, giải quyết khiếu nại, tố cáo để bao che, tiếp tay cho các hành vi vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tác động, ép buộc, mua chuộc tổ chức, cá nhân để giảm trách nhiệm, hình phạt cho người khác”.

Ba là, sửa đổi, bổ sung một số điều

Quy định số 47, Điều 9 nghiêm cấm đảng viên báo cáo, lập hồ sơ, kê khai lý lịch, lịch sử bản thân không trung thực; kê khai tài sản, thu nhập không đúng quy định; mở tài khoản ở nước ngoài trái quy định; tham gia rửa tiền.

Còn trong Quy định số 37, bổ sung một số hành vi nghiêm cấm. Đó là “không được sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận giả, không hợp pháp; nhập quốc tịch, chuyển tiền, tài sản ra nước ngoài, mở tài khoản và mua bán tài sản ở nước ngoài trái quy định”.

Điều 11 Quy định số 37 bổ sung nội dung đảng viên không được “lợi dụng chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung để thực hiện hoặc bao che hành vi vụ lợi, tham nhũng, tiêu cực, vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước”.

Các hành vi khác được bổ sung vào những điều đảng viên không được làm còn có: Không được “đe dọa, trù dập, trả thù người khiếu nại, tố cáo; không thực hiện các quy định của Đảng và pháp luật về bảo vệ người tố cáo, phê bình, góp ý”; không được “có hành vi chạy chức chạy quyền”, “tham ô” hay “thờ ơ, vô cảm với các hành vi sai trái trong xã hội”…

Bốn là, thay đổi thứ tự một số điều không được làm. Như điều cấm ở vị trí số 2 là không “cung cấp, để lộ, làm mất hoặc viết bài, đăng thông tin, tài liệu bí mật của Đảng và Nhà nước hoặc những việc chưa được phép công bố; tàng trữ, tuyên truyền, tán phát hoặc xúi giục người khác tuyên truyền, tán phát thông tin, tài liệu dưới mọi hình thức để truyền bá những quan điểm trái với đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước” được xếp vị trí thứ tư.

Năm là, chính xác hóa thể thức văn bản và diễn đạt một số điều cho chặt hơn

Quy định số 37 viết rõ thành 19 điều (Điều 1, Điều 2,…), và diễn đạt một số điều bảo đảm chặt chẽ hơn, chính xác  hơn, đầy đủ hơn. Chẳng hạn, Quy định 47 viết: “Nói, làm trái, hoặc không thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, kết luận của Đảng; làm những việc mà pháp luật không cho phép”, Quy định số 37 viết: “Nói, viết, làm trái, hoặc không thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, kết luận của Đảng; làm những việc mà pháp luật không cho phép”…/.

 

Tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng để giữ vững niềm tin của nhân dân đối với Đảng trong giai đoạn hiện nay .

 

Trong giai đoạn hiện nay, đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, góp phần nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cường hiệu quả quản lý của Nhà nước, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời giữ vững niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Hiện nay, không ít đảng viên có khuynh hướng xa rời chính trị, chạy theo những giá trị vật chất, lợi dụng chức quyền và cương vị công tác để tham nhũng, nhận hối lộ, làm giàu bất chính. Một bộ phận không nhỏ cán bộ sống buông thả, thực dụng, xa hoa, hưởng lạc, coi đồng tiền là trên hết; tình trạng tham nhũng trong cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao, trở thành vấn đề nhức nhối của Đảng, của toàn xã hội, làm giảm sút nghiêm trọng niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Vì vậy, các cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải coi trọng công tác phòng, chống tham nhũng; xem đây là một nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện; phải cam kết về sự liêm khiết và kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng một cách có hiệu quả.

Thứ nhất, bổ sung, hoàn thiện chặt chẽ hệ thống thể chế, cơ chế, chính sách, không tạo ra kẽ hở để cho những cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thoái hóa, biến chất lợi dụng thực hiện hành vi tham nhũng, lãng phí.

Thứ hai, thực hiện tốt công tác cán bộ. Một mặt, cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, là gốc của mọi công việc. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Mặt khác, tham nhũng lại chủ yếu do người có chức vụ đã lợi dụng quyền hạn để trục lợi, tham nhũng, diễn ra ở “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp”.

Thứ ba, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng. Đây là nhân tố quan trọng bảo đảm thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; giữ gìn sự trong sạch về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên, ngăn chặn và đẩy lùi những biểu hiện suy thoái, tiêu cực, góp phần quan trọng để thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng.

Thứ tư, Đảng phải nêu gương. Các tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải tiên phong, gương mẫu trong đạo đức và lối sống, kết hợp hài hòa giữa lợi ích riêng và lợi ích chung; khi lợi ích riêng mâu thuẫn với lợi ích chung thì phải đặt lợi ích chung lên trên hết, trước hết. Đây là nhân tố góp phần tạo nên uy tín của cán bộ, uy tín của Đảng với nhân dân và góp phần bảo đảm vị thế cầm quyền của Đảng trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Nếu Đảng không vững vàng về chính trị, không chặt chẽ về tổ chức, không trong sạch về đạo đức, lối sống thì không thể đủ năng lực, uy tín để lãnh đạo cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhắc nhở: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”, và “muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”.

 

Tăng cường đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa hiện nay.

 

Chiến lược “diễn biến hoà bình” là âm mưu cực kỳ thâm độc của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hoá – xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh, trong đó lĩnh vực chính trị, tư tưởng, lý luận, văn hoá được các thế xác định là khâu đột phá.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng chỉ rõ: “Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng  làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta”. Đấu tranh chống “DBHB” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa ở Việt Nam diễn ra ngày càng quyết liệt, là mặt trận nóng bỏng hàng đầu. Để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh này phải có các giải pháp đồng bộ nhằm tạo ra sức đề kháng trong mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân trước những âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch, cơ hội; trên cơ sở đó tạo ra sự thống nhất cao về chính trị - tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội đối với sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Trước hết, cần kiên định và đẩy mạnh việc nghiên cứu, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở khoa học cho cuộc đấu tranh chống “DBHB” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa.

Hai là, thường xuyên nắm chắc tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, giáo dục cho nhân dân nắm chắc âm mưu thủ đoạn tiến hành “DBHB” của các thế lực thù địch.

          Ba là, xây dựng và phát huy lực lượng nòng cốt trong đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, văn hóa. 

          Bốn là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, phát huy vai trò cơ quan chức năng, tăng cường phối kết hợp trong đấu tranh chống “DBHB” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa.

                                                                                                              T3

Những điểm mới kết luận 21-KL/TW, Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII

 

Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII đã thảo luận và ban hành Kết luận số 21-KL/TW về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm với nhiều điểm mới nổi bật.

VỀ ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

Thứ nhất, mới trong phạm vi của Kết luận

So với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, Kết luận số 21-KL/TW về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” (Kết luận) đã mở rộng phạm vi, không chỉ trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà còn bao gồm cả trong xây dựng hệ thống chính trị theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng. Kết luận nêu yêu cầu cao hơn là kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn hạn chế, khuyết điểm. Nguyên nhân chủ yếu của hạn chế, khuyết điểm là do một số cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu chưa nhận diện đầy đủ mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” tại địa phương, cơ quan, đơn vị mình; chưa quyết tâm và có biện pháp chỉ đạo đủ mạnh, còn thụ động, trông chờ vào sự chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên; không thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, chưa gương mẫu, mất đoàn kết nội bộ, chưa thẳng thắn đấu tranh với những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, thậm chí còn cục bộ, lợi ích nhóm, bị cám dỗ bởi lợi ích vật chất, thờ ơ, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân. 

Thứ hai, mới trong đề ra mục tiêu.

Kết luận khẳng định những thành tựu đạt được, chỉ rõ những hạn chế, khuyết điểm, nguyên nhân của hạn chế, khuyết điểm sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, đã đề ra mục tiêu công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng: Đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng; hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước; đổi mới nội dung, phương thức và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốcViệt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”; kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa “xây” và “chống”, xây là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, chống là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, thường xuyên. Tạo bước phát triển mới của Đảng về trí tuệ, bản lĩnh chính trị, thực sự là đạo đức, là văn minh, ngày càng gắn bó mật thiết với nhân dân, ngày càng được nhân dân tin tưởng; đủ uy tín và năng lực lãnh đạo thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Điểm mới nổi bật trong mục tiêu trên là: Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng; hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân.

Thứ ba, mới trong nhiệm vụ, giải pháp

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đề ra 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp. Kết luận Trung ương 4 khóa XIII đề ra 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu:

Một là, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác chính trị, tư tưởng, tự phê bình và phê bình.

So với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, Kết luận nhấn mạnh một số nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, là:

Tăng cường đổi mới nội dung, phương thức và nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên về tầm quan trọng của nghiên cứu, học tập lý luận chính trị, đề cao trách nhiệm tự học, tự nghiên cứu của cá nhân; xây dựng chế độ học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị định kỳ, thường xuyên đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Kịp thời phát hiện và kiên quyết đấu tranh ngăn chặn biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Tiến hành đồng thời việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Tiếp tục nghiên cứu phát triển, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp thực tiễn Việt Nam. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tham khảo kinh nghiệm quốc tế xây dựng cơ sở khoa học vững chắc cho việc hoạch định, thực thi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. 

Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phát huy vai trò, trách nhiệm của tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, các cơ quan báo chí và nhân dân trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. 

Chú trọng xây dựng Đảng về đạo đức, đề cao trách nhiệm nêu gương, ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các cấp; thực hiện nghiêm các quy định nêu gương của Đảng, quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, cán bộ giữ cương vị càng cao càng phải tiên phong, gương mẫu.

Hai là, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu gắn với đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đây là giải pháp mới, trong đó nhấn mạnh:

Bảo đảm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, quán triệt sâu sắc vai trò của công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”, có ý nghĩa quyết định mọi thành công của cách mạng nước ta cả trước mắt và lâu dài. Công tác cán bộ gắn với việc thực hiện chủ trương của Đảng về tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, giữ vững vị thế cầm quyền và bảo đảm vai trò lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước, đổi mới nội dung, phương thức và nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội. 

Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ gắn với tăng cường trách nhiệm của cấp uỷ và người đứng đầu trong công tác cán bộ. Tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ một cách thực chất và hiệu quả; bảo đảm đúng quy định, quy trình, công tâm, khách quan, chặt chẽ, thận trọng trong từng khâu của công tác cán bộ; không để lọt người không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; kịp thời thẩm tra, xác minh, kết luận tiêu chuẩn chính trị của cán bộ.

Ba là, tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách 

So với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII nhấn mạnh:

Tập trung rà soát, thể chế hoá kịp thời chủ trương của Đảng, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định, quy chế hiện có, bảo đảm đồng bộ, thống nhất giữa quy định của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền; xây dựng cơ chế phát hiện, lựa chọn, trọng dụng nhân tài, cán bộ có năng lực nổi trội, cán bộ trẻ để đào tạo, bổ sung cán bộ cho Đảng; thu hút và khuyến khích cán bộ làm việc trong các cơ quan, lĩnh vực, địa bàn đặc thù, phức tạp, trọng yếu.

Nghiên cứu, ban hành các cơ chế về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; xử lý tập thể, cá nhân suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”; cơ chế bảo vệ, khuyến khích nhân dân phản ánh, tố giác cán bộ, đảng viên tham nhũng, tiêu cực. 

Chú trọng hoàn thiện hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, ổn định, công khai, minh bạch. Đồng thời, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm, nhất là người đứng đầu trong công tác xây dựng pháp luật, không để bị chi phối, tác động bởi các hành vi không lành mạnh của bất cứ tổ chức, cá nhân nào, không để xảy ra tình trạng lồng ghép “lợi ích nhóm”, lợi ích cục bộ của cơ quan quản lý nhà nước trong văn bản pháp luật.

Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong các lĩnh vực, nhất là các lĩnh vực, hoạt động dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực, như: Công tác cán bộ, tài chính, ngân sách, tài sản công, đất đai, tài nguyên, thanh tra, kiểm toán, kiểm tra, hải quan, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án,…

Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm 

So với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII đã bổ sung nhiệm vụ, giải pháp “kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm”. Đây là một trong những điểm mới nổi bật. Trong đó, nhấn mạnh:

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và trách nhiệm của cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên đối với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra tham nhũng, tiêu cực và có nhiều khiếu kiện, khiếu kiện kéo dài; đồng thời, quan tâm giải quyết dứt điểm những vụ việc gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Tập trung vào phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực tại địa phương, cơ sở. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát người đứng đầu thực hiện trách nhiệm trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Uỷ ban kiểm tra các cấp tăng cường kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý, kỷ luật nghiêm minh đối với cán bộ, đảng viên suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” ngay tại cơ sở, chi bộ, không để kéo dài hoặc “đùn đẩy” lên cấp trên. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc tự phê bình và phê bình, thực hiện trách nhiệm nêu gương vàkhắc phục khuyết điểm của tập thể, cá nhân. Triển khai quyết liệt, thường xuyên, toàn diện, đồng bộ công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Chủ động phát hiện sớm, xử lý nghiêm minh các vụ việc, vụ án tham nhũng, tiêu cực; kiên quyết thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế. Đẩy nhanh tiến độ xác minh, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án, xử lý các vụ việc liên quan đến tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm, nhất là những vụ án, vụ việc do Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo. Tăng cường phối hợp đồng bộ, tạo sự chuyển biến rõ nét trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực từ Trung ương đến cơ sở. Tăng cường kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, trước hết là cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Xây dựng đội ngũ cán bộ các cơ quan bảo vệ pháp luật, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán có bản lĩnh vững vàng, liêm chính, trung thực, có dũng khí đấu tranh, có kiến thức, kỹ năng chuyên sâu, nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chú trọng hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực và tăng cường phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong các cơ quan phòng, chống, tham nhũng, tiêu cực.

Năm là, phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội; thực sự dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Tiếp tục hoàn thiện cơ chế nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân trực tiếp phản ánh, góp ý với cấp uỷ đảng về công tác cán bộ. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội; của báo chí.

Người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền các cấp phải tăng cường trách nhiệm giải trình, thực hiện nghiêm quy định của Đảng, Nhà nước về tiếp, đối thoại với công dân; tiếp nhận và kịp thời chỉ đạo giải quyết các vấn đề nhân dân phản ánh, khiếu kiện, nhất là những vấn đề liên quan đến đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.

Thứ Hai, 15 tháng 11, 2021

Phát huy vai trò chống dịch của cán bộ đảng viên

 

Kể từ khi được phát hiện lần đầu vào tháng 12/2019 tại Vũ Hán (Trung Quốc), đến nay Covid-19 đã nhanh chóng lây lan ra trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ với tốc độ kinh khủng, nhiều nơi không thể kiểm soát. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã chính thức tuyên bố Covid-19 là đại dịch toàn cầu chỉ sau một thời gian ngắn dịch xuất hiện và lan trên diện rộng. Những con số được cập nhật liên tục, hàng ngày về số người bị nhiễm, bị chết vì dịch bệnh đã dấy lên sự lo lắng, tâm trạng bất an không chỉ đối với người dân Việt Nam mà còn là đối với toàn nhân loại. 

          Thấu triệt quan điểm “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, hơn lúc nào hết, vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp trong công tác phòng chống dịch Covid-19 cần phải được phát huy cao độ, là tấm gương sáng cho quần chúng nhân dân soi vào thực hiện. Để làm được điều này cần tập trung thực hiện tốt một số biện pháp cụ thể sau:

          Một là, cấp ủy, tổ chức Đảng, lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần tăng cường công tác quán triệt tư tưởng chỉ đạo, quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước về công tác phòng chống dịch. Tích cực tham gia công tác tuyên truyền đến người dân, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp trong công tác phòng chống dịch, đồng thời đấu tranh phản bác kịp thời các ý kiến chưa chính xác, sai trái.

          Hai là, bản thân đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nhận thức một cách đầy đủ, đúng đắn về tình hình dịch bệnh; tự giác, tích cực thực hiện nghiêm các quy định 5K (khẩu trang, khử khuẩn, khoảng cách, không tụ tập đông người, khai báo y tế) để bảo đảm an toàn cho bản thân, gia đình, xây dựng lối sống lành mạnh, an toàn, thường xuyên thực hiện việc dọn dẹp, giữ gìn vệ sinh nơi công cộng góp phần nâng cao khả năng đề kháng của sức khỏe, qua đó lan tỏa các hoạt động tích cực đến cộng đồng dân cư.

          Ba là, bình tĩnh, không hoang mang, dao động trước các diễn biến của tình hình dịch bệnh, kịp thời động viên người thân, người xung quanh thực hiện nghiêm các quy định về công tác phòng chống dịch, tin tưởng và tuân thủ tuyệt đối các quy định của Chính phủ và của chính quyền địa phương quy định, không hoang mang, hay có những hành vi tiêu cực.

          Bốn là, kiên quyết đấu tranh phản bác lại những thông tin, quan điểm sai trái về tình hình dịch bệnh lan truyền trong xã hội cũng như trên không gian mạng. Trong quá trình tham gia, sử dụng mạng xã hội cần phải thận trọng khi đưa các thông tin về dịch bệnh, tuyệt đối không chia sẻ, dẫn lại những thông tin chưa được kiểm chứng, đồng thời tích cực đấu tranh với những thông tin sai trái, lan truyền các thông tin tốt, các tác động lan tỏa nhận thức và hành động đúng đắn trong nhân dân với phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy cái tích cực đẩy lùi cái tiêu cực” trên không gian mạng.

          Chung tay đẩy lùi dịch Covid-19 là trách nhiệm chung của toàn xã hội trong tình hình hiện nay, trong đó vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên cần phải được phát huy cao độ, mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự là tấm gương sáng cho quần chúng nhân dân noi theo.

 

Đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch

 

Vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 68/NQ-CP về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do dịch Covid-19. Đây là một quyết sách hợp lòng dân, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với các đối tượng yếu thế, “không để ai bị bỏ lại phía sau” trong đại dịch, phản bác các luận điệu sai trái rằng chính quyền “bỏ rơi”, “không đoái hoài” đến các nhóm dễ bị tổn thương trong đại dịch Covid-19.

Mục tiêu quan trọng của Nghị quyết là hỗ trợ người lao động gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19, bảo đảm đời sống và an toàn cho người lao động, với một số chính sách như: Hỗ trợ người lao động tạm hoãn hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương; hỗ trợ người lao động ngừng việc, người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động bị ngừng việc; hỗ trợ người lao động chấm dứt hợp đồng lao động; hỗ trợ lao động không có giao kết hợp đồng lao động (lao động tự do) và một số đối tượng đặc thù khác.

Trang mạng brookings.edu của Viện Nghiên cứu Brookings tại Mỹ vừa đăng bài viết nhận định, Chính phủ Việt Nam có cách tiếp cận y tế công rất ấn tượng và Việt Nam ở vị thế đặc biệt trong việc đối mặt với thách thức Covid-19.

Bài viết nêu rõ, Chính phủ Việt Nam đang chứng tỏ khả năng có thể triển khai các chính sách và nguồn lực nhà nước cần thiết cho các chiến lược, dù đó là chiến lược bảo vệ sức khỏe cộng đồng trong đại dịch toàn cầu hay tăng cường minh bạch trong quản trị để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Điều đó cho thấy Việt Nam có các thể chế mạnh và bền vững để có thể bảo vệ sức khỏe cộng đồng khi xảy ra các đại dịch trong tương lai mà không chỉ dựa vào vaccine.

Sự ghi nhận, đánh giá cao của cộng đồng quốc tế là minh chứng góp phần bác bỏ những luận điệu xuyên tạc về công tác phòng, chống dịch Covid-19 ở Việt Nam. Vạch trần âm mưu xuyên tạc, thông tin thất thiệt, với âm mưu gây chia rẽ mối quan hệ đoàn kết dân tộc. Người dùng mạng xã hội cần cảnh giác trước các thông tin xấu độc, sai trái, chặn đứng mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

CÒN ĐAU.

 Vẫn còn mấy trò đắng cay.

Con lên hát, mẹ vỗ tay chúc mừng.

Thương con làm ơn xin dừng.

Bỏ ngay cái kiểu chúc mừng ấy đi.

Mẹ cha phải nghĩ rằng thì.

Con ra xã hội làm gì được đây?

Con ơi tự cuốc, tự cày.

Tự mình gieo hạt, chăm cây, ươm mầm.

Dòng đời bão táp mưa dầm.

Tự con thôi, hãy âm thầm bước đi.

Cầm bút viết điều nghĩ suy.

Xin đừng cóp, past nói chi được người?

Khổ tâm nhưng cũng phải cười.

Còn bài rách áo điểm mười còn đau.

huhu

ÂM MƯU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ KHOA HỌC LÝ LUẬN CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN CỦA KẺ THÙ

     Sự xuyên tạc, bác bỏ bản chất cách mạng và khoa học của lý luận hình thái kinh tế - xã hội mác xít nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin. Các lực lượng phản động, thù địch, bất mãn, cơ hội chống đối chính trị sử dụng một số trang mạng trên Internet làm phương tiện để phát tán, đăng tải các luận thuyết tư sản về sự vận động, phát triển của lịch sử. Đáng lưu ý là chúng khuếch trương, cổ xúy những cách tiếp cận theo hướng tuyệt đối hóa yếu tố kinh tế - kỹ thuật, sự phát triển của các nền "văn minh", phủ nhận vai trò quyết định và mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và hình thái kinh tế - xã hội, nhằm thay thế cách tiếp cận duy vật lịch sử mácxít. Theo họ, cách tiếp cận này phản ánh đúng sự phát triển của xã hội loài người; loài người trải qua nền "văn minh nông nghiệp" tới "văn minh công nghiệp" và cuối cùng là "văn minh hậu công nghiệp". Quan điểm này về thực chất là phủ nhận vai trò đấu tranh giai cấp trong xã hội có giai cấp, cho tới nay xã hội loài người đã trải qua bốn hình thái kinh tế - xã hội và đang quá độ tiến vào hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa theo đúng quy luật vốn có của nó. Đây là cách biện luận phản khoa học, trái với quy luật khách quan của lịch sử; chúng còn cho rằng, ở những nước phong kiến, tiền tư bản như ở Việt Nam thì không thể bỏ qua chủ nghĩa tư bản để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Giá như Việt Nam không theo con đường xã hội chủ nghĩa, mà đi theo con đường tư bản chủ nghĩa thì đất nước không phải lâm vào mấy chục năm chiến tranh, kinh tế sẽ phát triển hơn, nên họ "khuyên nhủ" Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa cũng chưa muộn!

Thủ đoạn trên tuy không mới, nhưng ít nhiều nó cũng dễ gây sự hoài nghi giao động trong tư tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân nếu không có bản lĩnh chính trị và sự hiểu biết về lý luận. Vì vậy, việc bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin trong tình hình hiện nay là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, và vô cùng cấp thiết đối với toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta.

NHẬN DIỆN CÁC LUẬN ĐIỂM SAI TRÁI PHỦ NHẬN NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG HIỆN NAY

     Sự xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam (chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh) là mục tiêu cơ bản, xuyên suốt của các thế lực thù địch bằng nhiều phương thức, thủ đoạn, phương tiện rất tinh vi. Đặc biệt, hiện nay chúng triệt để sử dụng Internet, mạng xã hội tán phát nhiều tin, bài với các nội dung quan điểm sai trái, thù địch. Mục đích của chúng là: nếu chưa xóa bỏ được chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh (nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam) thì cũng tạo nên sự mơ hồ, hoài nghi, tạo điều kiện cho các trào lưu tư tưởng phi vô sản, xấu độc thâm nhập, ăn sâu vào đời sống xã hội và cán bộ, chiến sĩ quân đội; tác động tiêu cực đến sự nghiệp đổi mới ở nước ta.

Những luận điểm sai trái phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay thường được thể hiện trong các bài nói, bài viết, tài liệu, sách báo đăng trên nhiều phương tiện thông tin, đi từ nhiều kênh khác nhau để vào Việt Nam. Nội dung các quan điểm đó được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, trực tiếp hoặc gián tiếp, xét lại, phủ nhận, bác bỏ hoàn toàn hệ thống hay một vài nội dung luận điểm nào đó của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Do đó, nhận diện các luận điểm sai trái phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội.

LUẬN ĐIỆU SUY DIỄN QUI ĐỊNH MỚI VỀ NHỮNG ĐIỀU ĐẢNG VIÊN KHÔNG ĐƯỢC LÀM!

 


   Nցàу 25/10/2021, Ƭổnց Bí tɦư Nցuуễn Pɦú Ƭrọnց đã ƙý bɑn ɦànɦ Quу địnɦ ѕố 37-QĐ/ƬƯ củɑ Bɑn Cɦấρ ɦànɦ Ƭrunց ươnց Đảnց quу địnɦ “Về nɦữnց điều đảnց ᴠiên ƙɦônց được làm” tɦɑу tɦế Quу địnɦ ѕố 47-QĐ/ƬW, nցàу 1/11/2011 trước đâу. Lợi dụnց ᴠấn đề nàу, các tɦế lực tɦù địcɦ, ρɦần tử cơ ɦội cɦínɦ trị, ρɦản độnց хuуên t/ạc nɦữnց nội dunց tronց Quу địnɦ ѕố 37, từ đó ѕuу diễn, tự cɦo mìnɦ ᴠɑi trò “nցười ρɦát хét” để quу ƙết, cɦỉ trícɦ cɦế độ, cɦỉ trícɦ ᴠị trí, ᴠɑi trò củɑ Đảnց.

Ƭrên nɦiều trɑnց mạnց củɑ cá nɦân, tổ cɦức tɦù địcɦ, ρɦản độnց, ɦội đoàn cɦốnց cộnց ɦải nցoại хuуên t/ạc rằnց, ᴠiệc Đảnց bɑn ɦànɦ quу địnɦ mới cɦứnց tỏ ѕự mục nát, là “ᴠá nɦữnց lỗ tɦủnց quá nɦiều củɑ cɦế độ”. Các đối tượnց ᴠu cáo ցốc rễ củɑ tɦɑm nɦũnց là “do lỗi củɑ tɦể cɦế cɦínɦ trị”, lỗi ɦệ tɦốnց tạo rɑ cɦứ ƙɦônց ρɦải do biện ρɦáρ tɦực ɦiện, từ đó quу ƙết ᴠiệc Đảnց đưɑ rɑ ɦết biện ρɦáρ nàу đến biện ρɦáρ ƙɦác để cɦốnց tɦɑm nɦũnց mà ƙɦônց tɦɑу đổi cɦế độ tɦì ƙɦônց bɑo ցiờ cɦốnց tɦɑm nɦũnց được. Đưɑ rɑ luận điệu “Đảnց đứnց trên ρɦáρ luật”, các đối tượnց ѕuу diễn “Đảnց loɑу ɦoɑу, mò mẫm ѕoạn rɑ các ᴠăn bản ցiấу tờ quу địnɦ cấm cɦo tɦêm rắc rối, cɦồnց lấn ρɦáρ luật, ᴠì nɦữnց điều ấу ρɦáρ luật cũnց cấm rồi, đảnց ᴠiên cũnց là cônց dân, tɦêm điều cấm là Đảnց đứnց trên, đứnց nցoài ρɦáρ luật”! Ƭrên đài ƦFA, VOA, BBC… đănց tải nɦiều bài хuуên t/ạc Quу địnɦ 37. Họ tự cɦo mìnɦ ᴠɑi trò “ρɦán хét”, ᴠiện dẫn ý ƙiến củɑ đối tượnց ᴠốn có tư tưởnց cɦốnց đối Đảnց ᴠà Nɦà nước Việt Nɑm.

Ƭrước ɦết cần ƙɦẳnց địnɦ, quу địnɦ ᴠề ƙỷ luật Đảnց là cônց tác ɦệ trọnց để хâу dựnց Đảnց tronց ѕạcɦ, ᴠữnց mạnɦ. Đâу là cônց ᴠiệc tɦườnց хuуên, liên tục ᴠà mɑnց tínɦ ƙế tɦừɑ. Việc bổ ѕunց một ѕố quу địnɦ mới để đảm bảo đáρ ứnց уêu cầu tɦực tiễn, đảm bảo tínɦ ƙɦácɦ quɑn, ƙɦoɑ ɦọc. Ƭừ đó, tổ cɦức Đảnց, đảnց ᴠiên có cơ ѕở, căn cứ để rèn luуện, tu dưỡnց, nցăn cɦặn ѕự ѕuу tɦoái ᴠề tư tưởnց cɦínɦ trị, đạo đức lối ѕốnց, “tự diễn biến, tự cɦuуển ɦóɑ” tronց nội bộ. Do đó, ƙɦônց tɦể lợi dụnց ᴠào một ѕố quу địnɦ mới để хuуên tạc, ѕuу diễn.

Quу địnɦ đảnց ᴠiên ƙɦônց được “Pɦản bác, ρɦủ nɦận, хuуên tạc cɦủ nցɦĩɑ Mác – Lênin, tư tưởnց Hồ Cɦí Minɦ; ƙɦônց tɦực ɦiện trácɦ nɦiệm nêu ցươnց; cɦủ nցɦĩɑ cá nɦân, cơ ɦội, ᴠụ lợi; “tư duу nɦiệm ƙỳ”, đoàn ƙết хuôi cɦiều, dân cɦủ ɦìnɦ tɦức, tɦấу đúnց ƙɦônց bảo ᴠệ, tɦấу ѕɑi ƙɦônց đấu trɑnɦ; độc đoán, cɦuуên quуền, quɑn liêu, хɑ rời quần cɦúnց” (Điều 3). Đảnց Cộnց ѕản Việt Nɑm lấу cɦủ nցɦĩɑ Mác – Lênin ᴠà tư tưởnց Hồ Cɦí Minɦ làm nền tảnց tư tưởnց, ƙim cɦỉ nɑm cɦo ɦànɦ độnց. Mỗi nցười ƙɦi ᴠào Đảnց đều ρɦải rèn luуện, ρɦấn đầu ᴠì mục đícɦ lý tưởnց cácɦ mạnց củɑ Đảnց, ƙiên địnɦ, trunց tɦànɦ nền tảnց tư tưởnց, cɦấρ ɦànɦ Cươnց lĩnɦ cɦínɦ trị, Điều lệ Đảnց, nցɦị quуết, cɦỉ tɦị củɑ Đảnց, ρɦáρ luật củɑ Nɦà nước, rèn luуện ρɦẩm cɦất cɦínɦ trị, đạo đức cácɦ mạnց… Việc bổ ѕunց, ρɦát triển quу địnɦ nɦư trên là уêu cầu, đòi ɦỏi ƙɦácɦ quɑn tronց cônց tác хâу dựnց Đảnց ᴠề cɦínɦ trị.

Ƭronց nɦữnց năm quɑ, đứnց trước đòi ɦỏi củɑ tɦực tiễn, Đảnց tɑ đã tậρ trunց lãnɦ đạo tɦực ɦiện хâу dựnց, cɦỉnɦ đốn Đảnց, quуết tâm ѕiết cɦặt ƙỷ luật, ƙỷ cươnց tronց Đảnց, tɦực ɦiện nցɦiêm các nցuуên tắc tổ cɦức; хử lý nցɦiêm cán bộ, đảnց ᴠiên ᴠi ρɦạm ƙỷ luật, ѕuу tɦoái, biến cɦất, “tự diễn biến”, “tự cɦuуển ɦóɑ”, tɦɑm nɦũnց, tiêu cực. Cônց tác хâу dựnց, cɦỉnɦ đốn Đảnց được tɦực ɦiện quуết liệt, ƙiên trì, bài bản, nցɦiêm minɦ ᴠà cũnց rất nɦân ᴠăn. Nɦiều ᴠụ ᴠiệc tɦɑm nɦũnց, tiêu cực được đưɑ rɑ ánɦ ѕánց. Quɑ đó, ƙỷ luật Đảnց được tɦực ɦiện nցɦiêm minɦ; đồnց tɦời cảnɦ tỉnɦ, ցiúρ đội nցũ cán bộ, đảnց ᴠiên ƙɦônց nցừnց tiến bộ, trưởnց tɦànɦ, nɦư ƙɦẳnց địnɦ củɑ Ƭổnց Bí tɦư Nցuуễn Pɦú Ƭrọnց: “Giữ nցɦiêm ƙỷ cươnց ρɦéρ nước để cảnɦ tỉnɦ, cảnɦ báo, ցiáo dục, răn đe nցười ƙɦác tránɦ хɑ ᴠết хe đổ củɑ đồnց cɦí mìnɦ”. Việc bổ ѕunց, bɑn ɦànɦ Quу địnɦ mới ᴠề nɦữnց điều đảnց ᴠiên ƙɦônց được làm tɦể ɦiện quуết tâm cɑo, đẩу mạnɦ cônց tác хâу dựnց, cɦỉnɦ đốn Đảnց.

Việc Đảnց tɑ ѕửɑ đổi, bổ ѕunց Quу địnɦ ᴠề nɦữnց điều đảnց ᴠiên ƙɦônց được làm ƙɦônց cɦỉ tɦể ɦiện ѕự quуết tâm củɑ Đảnց mà còn tạo niềm tin cɦo cán bộ, đảnց ᴠiên ᴠà nɦân dân tronց cônց tác хâу dựnց, cɦỉnɦ đốn Đảnց, ρɦònց, cɦốnց tɦɑm nɦũnց, tiêu cực./.

 

Thực tiễn cách mạng Việt Nam góp phần bác bỏ sự xuyên tạc, phủ nhận giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga

Một trong những giá trị to lớn, có ý nghĩa thời đại mà Cách mạng Tháng Mười Nga để lại là mở ra thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Giá trị đó tồn tại mãi với thời gian, nhưng cũng đứng trước nhiều mưu toan xuyên tạc, phủ nhận của các thế lực thù địch. Mặc dù vậy, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam là thực tiễn sinh động, góp phần bác bỏ mọi xuyên tạc, phủ nhận giá trị của Cách mạng Tháng Mười.

Đánh giá ý nghĩa và giá trị to lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cách mạng Tháng Mười mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới”. Ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười đã cổ vũ hàng triệu triệu người bị áp bức, bóc lột trên thế giới vùng lên đấu tranh giành độc lập, tự do và mưu cầu hạnh phúc, dẫn tới thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc ở nhiều nước trên các lục địa Á, Phi, Mỹ La-tinh và sự ra đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới trong thế kỷ XX.

Tuy nhiên, sự kiện Liên Xô tan rã vào cuối thế kỷ trước đã được các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tận dụng để ra sức xuyên tạc, phủ nhận ý nghĩa và giá trị của Cuộc Cách mạng này; qua đó, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của các dân tộc. Họ cho rằng: “Sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội tại cái nôi của Cách mạng Tháng Mười là tất yếu, chứng tỏ sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là sai lầm, ảo tưởng”; và do đó, “các dân tộc cần nói “không” với con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội” (!). Đối với Việt Nam, họ khuyến cáo chúng ta “không nên định hướng xã hội chủ nghĩa, bởi đó là con đường không có tương lai” (!). Thế nhưng, thực tiễn lịch sử và hiện tại, trong đó có thực tiễn của cách mạng Việt Nam đã bác bỏ sự xuyên tạc, phủ nhận đó.

Nói về sự tan rã của Liên Xô, chúng ta coi đó là một tổn thất to lớn của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, nhưng không phải là tất yếu. Nguyên nhân chính, trực tiếp, có tính quyết định dẫn đến sự tan rã đó là do những sai lầm trong đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức của Đảng Cộng sản cầm quyền, cùng sự phản bội của một số người lãnh đạo cao nhất ở đó đối với những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Đúng như V.I. Lênin đã khẳng định: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta”. Do đó, đây chỉ là sự sụp đổ một mô hình chủ nghĩa xã hội cụ thể, không đồng nghĩa với “sự cáo chung của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội” như xuyên tạc, phủ nhận của các thế lực thù địch.

Đối với cách mạng Việt Nam, thực tiễn hơn 90 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chứng minh: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Đúng vậy, nhìn lại bối cảnh lịch sử Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX có thể thấy, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, con đường giải phóng dân tộc “đen tối như không có đường ra”. Chỉ đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, với chủ trương “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”, nghĩa là đặt cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta trong trào lưu của cách mạng vô sản, thì cách mạng Việt Nam mới chấm dứt được thời kỳ khủng hoảng đường lối cứu nước. Từ đó, “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” luôn là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Với đường lối đó, Đảng ta đã quy tụ được sức mạnh của toàn dân tộc, dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đưa đất nước Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, “Nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội”.

Vào những năm cuối của thế kỷ XX, đứng trước sự khủng hoảng của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở kiên định mục tiêu “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đưa cách mạng Việt Nam vượt qua khủng hoảng, lập nên những thành tựu “to lớn, có ý nghĩa lịch sử”. Trên lĩnh vực kinh tế, trong suốt 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, kinh tế nước ta phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao, đạt mức tăng trưởng trung bình khoảng 07% mỗi năm. Từ một nền kinh tế nông nghiệp, lạc hậu, quy mô nhỏ bé, với GDP chỉ 14 tỉ USD và GDP bình quân đầu người khoảng 250 USD trong những năm đầu đổi mới, ngày nay Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng đói nghèo, trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình. Quy mô và tiềm lực kinh tế của đất nước không ngừng mở rộng, đạt 342,7 tỉ USD vào năm 2020, đứng trong top 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và đứng thứ tư trong ASEAN; thu nhập bình quân đầu người đạt 3.521 USD vào năm 2020, đứng thứ sáu trong ASEAN. Từ một nước phải nhập khẩu lương thực, đến nay Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo và nhiều hàng nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Công nghiệp phát triển khá nhanh, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 85% GDP. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, năm 2020 đạt 543,9 tỉ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 280 tỉ USD; xuất siêu liên tục từ 2016 - 2020, nhờ đó cán cân thanh toán quốc tế thặng dư, dự trữ ngoại hối tăng từ 12,4 tỉ USD năm 2010 lên 100 tỉ USD vào năm 2020. Đến nay, Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), được 79 nước công nhận là nền kinh tế thị trường, có quan hệ kinh tế - thương mại và đầu tư với 230 nước và vùng lãnh thổ; đã ký 16 hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Do tác động của đại dịch Covid-19, năm 2020 là năm ghi nhận những suy giảm mạnh về tăng trưởng của tất cả các nước trên thế giới, song Việt Nam vẫn là một trong số ít nền kinh tế có tăng trưởng dương; được các chuyên gia trên thế giới đánh giá tích cực về triển vọng phát triển. Tuy nhiên, do tác động của dịch Covid-19, năm 2021, kinh tế Việt Nam đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Song, Đảng, Nhà nước Việt Nam đang triển khai đồng bộ các biện pháp vừa phòng chống dịch hiệu quả, vừa thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, được quốc tế đánh giá cao.

Trên lĩnh vực chính trị, nước ta có quan hệ ngoại giao với hầu hết các quốc gia thành viên Liên hợp quốc; đã thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược với 16 nước; Đối tác toàn diện với 11 nước, bao gồm cả 05 nước Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Việt Nam đã 02 lần đảm nhận vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng này (nhiệm kỳ 2008 - 2009, 2020 - 2021) và còn đảm nhận nhiều trọng trách quan trọng trong các tổ chức quốc tế khác, như: Chủ tịch ASEAN, Chủ tịch AIPA, Ủy viên Hội đồng Nhân quyền thế giới, Ủy viên Ủy ban Luật pháp quốc tế và Ủy viên Ủy ban Luật Thương mại quốc tế của Liên hợp quốc, v.v. Với vị thế và uy tín của mình, Việt Nam trở thành địa điểm tin cậy của nhiều sự kiện quốc tế. Sự kiện ngày 07/12/2020, Liên hợp quốc nhanh chóng thông qua Nghị quyết về tổ chức “Ngày thế giới sẵn sàng phòng, chống dịch bệnh” do Việt Nam đề xuất, đã khẳng định vị thế chính trị ngày càng tăng của Việt Nam trên trường quốc tế.

Các lĩnh vực: y tế, giáo dục - đào tạo, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ của đất nước tiếp tục phát triển và có nhiều thành tựu quan trọng. Năm 2020, nước ta đã có 09 bác sĩ và 28 giường bệnh trên một vạn dân; 91% dân số đã tham gia bảo hiểm y tế. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em và tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh giảm gần 03 lần trong 35 năm qua. Tuổi thọ trung bình của người dân tăng từ 62 tuổi (năm 1990) lên 73,7 tuổi (năm 2020). Theo Báo cáo cập nhật tháng 4/2021 của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam: chỉ số bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân của Việt Nam là 73 - cao hơn mức trung bình của khu vực và thế giới. Sự nghiệp giáo dục, đào tạo đạt được những kết quả tích cực. Nước ta đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học (năm 2000) và trung học cơ sở (năm 2010); 95% người lớn biết đọc, biết viết; số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gần 17 lần trong 35 năm qua. Nhiều đoàn học sinh Việt Nam đã đoạt huy chương vàng, bạc trong các kỳ thi quốc tế. Đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân được cải thiện đáng kể; sinh hoạt văn hóa phát triển phong phú, đa dạng. Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, tiện nghi sinh hoạt của hộ dân cư đã được cải thiện với 91,9% hộ có sử dụng ti vi; 91,7% hộ có sử dụng điện thoại (cố định, di động) hoặc máy tính bảng; 30,7% hộ có sử dụng máy vi tính (gồm máy để bàn, laptop). Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước có tốc độ phát triển công nghệ tin học cao nhất thế giới, có khoảng 70% dân số sử dụng internet; thể thao nước nhà cũng đã vượt khỏi phạm vi châu lục để vươn ra sân đấu tầm thế giới, như World Cup, Olympic. Nhờ kinh tế có bước phát triển, chúng ta có điều kiện để làm tốt hơn công tác an sinh xã hội. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 03% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước); người nghèo và trẻ em dưới 06 tuổi được cấp bảo hiểm y tế miễn phí. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam năm 2019 đạt mức 0,704, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển. Việt Nam được Liên hợp quốc công nhận là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu thiên niên kỷ. Các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ, tranh thủ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được tạo điều kiện phát triển. Nhiều dự án công nghệ cao được triển khai thực hiện thành công trên nhiều lĩnh vực, nhất là trong y tế, giáo dục, đào tạo, thương mại điện tử, công nghệ thông tin, chuyển đổi số, v.v. Nhờ đó, năm 2020, chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam được xếp thứ 42/131 nước, đứng đầu nhóm 29 quốc gia có cùng mức thu nhập.

Quốc phòng và an ninh của đất nước không ngừng được tăng cường; chủ quyền quốc gia, môi trường hòa bình, ổn định được giữ vững, tạo thuận lợi cho phát triển đất nước. Đến nay nước ta có quan hệ quốc phòng với hơn 80 nước theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi,… từ năm 2014, nước ta bắt đầu cử lực lượng tham gia vào sứ mệnh gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Điều đó thể hiện trách nhiệm của Việt Nam trong việc xây dựng lòng tin, duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Với những thành tựu của 35 năm đổi mới, có thể tự hào rằng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đây là kết quả phấn đấu bền bỉ, liên tục của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta dưới ngọn cờ “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Thực tiễn đó tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta là đúng đắn; đồng thời, là minh chứng bác bỏ mọi sự xuyên tạc, phủ nhận giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga.

ST.


LỜI KÊU GỌI NGỤY BINH QUAY VỀ VỚI TỔ QUỐC NGÀY 15/11/1951 CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH!

      "Hỡi các người đi lính cho Pháp và bù nhìn!

Giặc Pháp muốn cướp nước ta lần nữa. Chúng bày ra một thứ độc lập giả hiệu để lừa bịp dân ta và bắt các người đi lính cho chúng.

Bọn bù nhìn Bảo Đại bán nước cho Pháp cũng như tổ tiên nó đã hàng Pháp suốt 80 nǎm. Chúng bắt buộc đồng bào ta đi lính để chết thay cho Pháp.

Đi lính cho giặc Pháp, cho bù nhìn tức là giúp giặc g.iết h.ại đồng bào, chống lại Tổ quốc.

Chính phủ và nhân dân ta kháng chiến để tranh lại độc lập thực sự cho Tổ quốc, tự do thực sự cho đồng bào. Vì vậy, sức kháng chiến ngày càng tăng và kháng chiến nhất định thắng lợi.

Tôi biết rằng: các người đều là con dân nước Việt, song vì bị Pháp bắt buộc, hoặc bị chúng lừa gạt, cho nên đi lính cho chúng. Chứ thật không ai muốn “cõng rắn bắt gà nhà”, “rước voi giày mả tổ”, chống lại Tổ quốc, để mang tiếng Việt gian.

Trong các trận vừa qua, nhiều nguỵ binh đã chạy về với Chính phủ.

Những người mang súng đạn về đã được Chính phủ thưởng.

Những người muốn được về quê quán đã được Chính phủ giúp cho về.

Những người muốn đánh giặc lập công đã được Chính phủ cho vào bộ đội.

Tôi thiết tha kêu gọi các người mau mau quay về với Tổ quốc, các người sẽ được đối đãi tử tế.

Nhiễu điều phủ lấy giá gương,

Con Hồng cháu Lạc phải thương nhau cùng"!

HỒ CHÍ MINH


Yêu nước ST.

Lấy dân làm gốc là nguyên tắc chỉ đạo trong mọi hoạt động của cơ quan nhà nước

Lấy dân làm gốc trong xây dựng và bảo vệ đất nước là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam. Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, tư tưởng lấy dân làm gốc ngày càng được củng cố và chứng minh được giá trị to lớn trong công cuộc gìn giữ núi sông bờ cõi và phát triển đất nước. Tiếp thu tinh hoa của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh tư tưởng lấy dân làm gốc trong xây dựng chính quyền. Mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước phải lấy dân làm gốc vì: “Gốc có vững cây mới bền, Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.

Lấy dân làm gốc nghĩa là các cơ quan nhà nước phải hướng mọi hoạt động của mình để phục vụ nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân. Tất cả cán bộ, nhân viên trong bộ máy nhà nước đều là công bộc của nhân dân. Mọi hoạt động của cơ quan nhà nước phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Các cơ quan nhà nước phải chăm lo, quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

Dựa vào dân chính là thể hiện tư tưởng lấy dân làm gốc. Kế thừa và phát triển tư tưởng trọng dân, dựa vào sức dân trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò của nhân dân trong xây dựng chính quyền. Nếu biết huy động và tổ chức sức mạnh của nhân dân thì sức mạnh đó trở thành vô địch. Trong bối cảnh đất nước còn hạn chế về nguồn lực, cần phải biết huy động tài lực, trí lực, vật lực, nhân lực từ nhân dân để xây dựng chính quyền. Tuy nhiên, phải biết “khoan thư sức dân”, huy động đúng lúc, đúng chỗ, phù hợp, không phung phí.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện tư tưởng lấy dân làm gốc trong quá trình chỉ đạo soạn thảo Hiến pháp đầu tiên của đất nước Việt Nam độc lập. Hiến pháp năm 1946 chỉ rõ: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn dân” (Điều 1), “tất cả công dân Việt Nam… đều được tham gia chính quyền” (Điều 7). Các cơ quan nhà nước phải thấm nhuần nguyên tắc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định rằng, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Phải lôi cuốn nhân dân tham gia trực tiếp vào công việc chính quyền, vào công tác quản lý nhà nước. Khi nhân dân tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước tại địa phương, các cơ quan nhà nước hiểu hơn nguyện vọng của nhân dân, từ đó phục vụ nhân dân tốt hơn.

Lấy dân làm gốc nghĩa là phải tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân. Phải tuyệt đối tôn trọng nhân dân, không được quan cách, ra lệnh với nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ rằng phải yêu dân, kính dân, phải có ý thức tôn trọng nhân dân, phải thấy được vai trò và vị trí của nhân dân trong xây dựng chính quyền. Muốn tôn trọng dân thì đầu tiên phải gần dân, lắng nghe dân, từ đó hiểu dân, yêu dân và kính dân. Mọi cán bộ phải rèn luyện và không có hành vi hoặc lời nói khiến người dân hiểu lầm rằng cán bộ thiếu tôn trọng dân. Tư tưởng trọng dân được thể hiện rõ trong lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với các chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, đó là phải trung thành với đất nước, hiếu nghĩa với nhân dân. Giúp đỡ nhân dân cũng là biết tôn trọng dân… 

Mai Năm Mới

TẤM GƯƠNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH KHÔNG CHỈ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN VÀ NHÂN DÂN TA HỌC TẬP LÀM THEO MÀ CÒN CÓ CẢ BẠN BÈ QUỐC TẾ NGƯỠNG MỘ!

 Hồ Sơ Tư liệu:

     Người nước ngoài còn thế này trong khi ở VN vẫn còn 1 bộ phận ngu dốt đi xúc phạm Bác.

Năm 1991, nước Nga đảo lộn. Nhân lúc hỗn loạn, có một số kẻ quá khích định phá bỏ Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh trên Quảng trường mang tên Bác ở Mátxcơva. 

Nghe tin, Chủ tịch Hội Hữu nghị Xô - Việt, Thượng tướng Gherman Titov cùng một nhóm những người bạn của Việt Nam đã tức tốc đến ngay hiện trường. 

Ông đứng vào giữa những kẻ có dã tâm kia và bức tượng, phanh ngực áo quát: “Kẻ nào dám xâm phạm tượng của Người trước hết phải bước qua xác tao”. Sau đó ông và những người bạn của Việt Nam đã thay nhau túc trực bên tượng đài để ngăn chặn những kẻ quá khích.

Tôi đã hỏi đi hỏi lại người kể về xuất xứ câu chuyện thì được biết là ông nghe từ chính các vị lãnh đạo Hội Hữu nghị Nga-Việt và vợ của Titov trong một lần gặp ở Mátxcơva. Gặp bà Tamara ở Hạ Long, tôi kể lại câu chuyện và hỏi có đúng vậy không, bà xác nhận là từng có những kẻ cực đoan định làm vậy với tượng Bác Hồ, nhưng nhân dân đã đứng ra bảo vệ tượng Bác. 

“Dưới sự lãnh đạo của Gherman Titov?” - Tôi hỏi. Bà Tamara đáp: “Thì là như vậy”. Trước đó, Titov cũng đóng vai trò quan trọng trong việc Mátxcơva có Quảng trường Hồ Chí Minh và Tượng đài Hồ Chí Minh.

Trên đây là câu chuyện truyền khẩu. Còn đây là tư liệu thành văn. Báo Văn hóa của Nga, số 10 năm 1991 đăng bài về chuyện có những thế lực âm mưu “di dời” tượng Bác, trong đó có đoạn: “Một mưu đồ đê tiện - phi công vũ trụ, Anh hùng Lao động Việt Nam Titov đã nhận định như vậy về kế hoạch của Hội đồng thành phố Mátxcơva chuyển tượng Hồ Chí Minh đi. 

G.Titov đã nhắc lại rằng, Hồ Chí Minh, ngoài chuyện là một lãnh tụ chân chính của nhân dân, một nhà tư tưởng, nhà thơ và con người với đạo đức cao thượng nhất còn là một người bạn lớn của Liên Xô, người có nhiều năm sống ở Mátxcơva. Việc di dời, theo ý kiến của Titov, sẽ gây tổn thất không thể đắp bù cho uy tín của Liên Xô ở Việt Nam và trên khắp thế giới”.

Cho đến nay, nhiều thứ ở nước Nga đã thay đổi tận gốc, nhưng tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh và quảng trường mang tên Người vẫn uy nghi ở Mátxcơva./.


Yêu nước ST.