Thứ Tư, 7 tháng 9, 2022

Công an Đà Nẵng bắt giam đối tượng tuyên truyền chống phá Nhà nước

NDO - Chiều tối 7/9, Cơ quan An ninh điều tra Công an thành phố Đà Nẵng đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam Bùi Tuấn Lâm (sinh năm 1984, trú phường Thanh Bình, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng) về “Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự.

0:00/0:00
0:00
Cơ quan Công an khởi tố bị can và bắt tạm giam Bùi Tuấn Lâm. (Ảnh: cơ quan công an cung cấp)
Cơ quan Công an khởi tố bị can và bắt tạm giam Bùi Tuấn Lâm. (Ảnh: cơ quan công an cung cấp)

Theo cơ quan điều tra, Bùi Tuấn Lâm là thành viên của một số tổ chức gọi là “Tổ chức xã hội dân sự”, mà thực chất là các hội, nhóm chống Đảng, Nhà nước và các tổ chức phản động lưu vong.

Bùi Tuấn Lâm từng tham gia khóa huấn luyện về “xã hội dân sự”, “đấu tranh bất bạo động”; thường xuyên tham gia các buổi thảo luận về học thuyết xã hội nhằm đào tạo lực lượng hình thành xã hội dân sự; tham gia với các đối tượng chống đối chính trị viết bài xuyên tạc chính quyền, câu kết hoạt động kích động biểu tình gây rối…

Từ 2013 đến nay, Bùi Tuấn Lâm thường xuyên sử dụng mạng xã hội để đăng tải nhiều bài viết, video, livestream có nội dung xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; cổ xúy các hoạt động chống Đảng, Nhà nước. Ngoài ra, đối tượng này còn đăng tải, chia sẻ các bài viết xúc phạm lãnh tụ, xúc phạm uy tín, danh dự của các tổ chức, cá nhân thực thi pháp luật với mong muốn, mục đích thay đổi chế độ Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, gây hoang mang, bức xúc trong quần chúng nhân dân.

Mặc dù Công an thành phố Đà Nẵng và chính quyền địa phương nhiều lần nhắc nhở, giáo dục, cảnh báo, tuy nhiên Bùi Tuấn Lâm bày tỏ thái độ bất hợp tác, thách thức, không từ bỏ hoạt động vi phạm mà ngày càng công khai, quyết liệt chống phá.

Việc Bùi Tuấn Lâm bị khởi tố, bắt tạm giam để điều tra là kết cục tất yếu của một chuỗi quá trình hoạt động vi phạm pháp luật và chống phá Nhà nước với ảo tưởng thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa tại Việt Na

Sự sụp đổ của Liên bang Nam Tư và bài học cảnh tỉnh cho Việt Nam

Cộng hòa Liên bang Nam Tư từng là một quốc gia hùng mạnh ở Đông Nam châu Âu. Tuy nhiên, đến thời Tổng thống Slobodan Milosevic, bằng một loạt các hoạt động chống phá rất tinh vi, xảo quyệt, các nước phương Tây đã thành công trong việc làm tan rã Liên bang Nam Tư. Vậy điều gì đã xảy ra ở Nam Tư? Việt Nam rút ra bài học gì từ sự s.ụp đổ của Nam Tư?

Nam Tư – Việt Nam, nhiều điểm tương đồng.

Nếu Nam Tư từng là quốc gia cộng sản phát triển, thì Việt Nam là nước xã hội chủ nghĩa đang vươn mình mạnh mẽ, có vị thế và uy tín to lớn trong khu vực và thế giới.

Vì những mục tiêu của mình, Nam Tư đã theo đuổi chính sách ngoại giao trung lập, không liên minh với các nước, kể cả các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa và tham gia sáng lập Phong trào Không liên kết. Đây cũng có nét tương đồng với chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản, Nhà nước Việt Nam hiện nay.

Việt Nam, do điều kiện lịch sử, luôn có quan hệ khăng khít, tốt đẹp với hai nước láng giềng là Lào và Campuchia, vì vậy, từ trước tới nay, các nước lớn luôn e ngại, nghi ngờ Việt Nam có tham vọng “bá chủ Đông Dương” – nơi có vị trí địa chính trị chiến lược rất quan trọng ở Châu Á – Thái Bình Dương.

Trong chính sách đối ngoại của mình, Liên bang Nam Tư luôn tích cực hỗ trợ cho Quân đội Dân chủ – lực lượng vũ trang của Đảng Cộng sản Hy Lạp thoát khỏi gọng kìm của Quân đội Quốc gia Hy Lạp thân phương Tây. Điều đó đã làm cho phương Tây lo sợ một ngày nào đó khu vực này sẽ nằm dưới sự chi phối của Nam Tư.

Nếu như trước đây, các nước phương Tây quyết tâm phải đánh gục Nam Tư bằng mọi giá vì lo sợ nhiều nước sẽ học theo mô hình của Nam Tư, từ đó sẽ mất kiểm soát đối với thế giới, thì hiện nay, Việt Nam cũng bị chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch xác định là một trọng điểm chống phá trong chiến lược “diễn biến hòa bình”. Lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là mục tiêu xuyên suốt, nhất quán của họ.

Sau sự kiện Trung Quốċ đưa trái phép giàn khoan Hải Dương 981 vào thềm lục địa của Việt Nam năm 2014, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã cảnh báo: Chưa lúc nào Việt Nam có đông bạn bè nhưng lại cô đơn như lúc này.

Bài học cảnh tỉnh đắt giá cho Việt Nam

Để có thể lật đổ Nhà nước Liên bang Nam Tư, các nước phương Tây đã giật giây, bật đèn xanh cho KLA giết hại 20.000 dân thường Serbia rồi đổ tội diệt chủng và chống lại loài người lên đầu Tổng thống Milosevic, tạo cớ đưa quân can thiệp lật đổ chế độ của ông, bắt giam và ép ông phải chết trong tù vì bệnh tim.

Sau đó, các nước này đã thông qua một số ý kiến bất bình, lợi dụng mạng internet để kích động tinh thần dân tộc, móc nối tổ chức biểu tình, cài cắm người vào đoàn biểu tình để kích động, tạo căng thẳng leo thang, đẩy lên thành bạo động, gây nội chiến, chia năm sẻ bảy Nam Tư thành nhiều quốc gia: Kosovo, Serbia và Montenegro…

Ở Việt Nam đã từng xảy ra tình trạng tương tự như Nam Tư trong sự kiện Bình Thuận tháng 6/2018. Các thế lực t.hù địch, phản động trong và ngoài nước đã chỉ đạo lực lượng kích động biểu tình, gây rối an ninh trật tự, bạo loạn trong nước, hòng lật đổ chính quyền ở nước ta.

Hơn lúc nào hết, đất nước đang cần sự đóng góp công sức, trí tuệ bằng tuyền thống con Lạc, cháu Hồng, cần tìm hiểu để nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch áp dụng đối với các quốc gia bị cho là “không thân phương Tây”, để cảm nhận được bài học cay đắng về công lý và sự ảo tưởng vào lòng tốt của phương Tây, để biết được toàn cảnh của đất nước cũng như những con người mà phương Tây cố tình tạo cớ gọi là “tội đồ” như Milosevic (Nam Tư), hay như Sadam Hussein (Iraq), Muammar Gaddafi (Libya), và mới đây nhất là Bashar al-Assad (Syria).

Nói tóm lại, Việt Nam đang trên bước đường đổi mới trong sự kìm kẹp, chống p.há muôn trùng của nhiều thế lực, có những lúc thăng – lúc trầm, lúc thành công – lúc vấp váp.

Có như vậy, Việt Nam mới không lâm vào bài học đau đớn của Nam Tư trước đây.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 08/9


“Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp”.
Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ III của Hội nhà báo Việt Nam”, ngày 08/9/1962, được đăng trên Báo Nhân dân, số 3089, ra ngày 09/9/1962.
Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam diễn ra trong bối cảnh cách mạng nước ta đang trên đà phát triển; miền Bắc đang tích cực xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965). Trong sự nghiệp cách mạng đó, báo chí giữ một vai trò quan trọng, góp phần không nhỏ vào những thắng lợi của nhân dân ta. Tới dự và phát biểu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có ý kiến chỉ đạo sâu sắc, định hướng cho sự phát triển của báo chí cách mạng trong thời kỳ này. Câu nói của Bác khẳng định vai trò của tiếng nói, là một tài sản quý báu của dân tộc, không chỉ những người làm công tác báo chí, mà mỗi người chúng ta đều phải có ý thức giữ gìn, phát huy những giá trị to lớn của tiếng Việt trong sự nghiệp cách mạng. Lời Bác dạy năm xưa đến nay vẫn có giá trị, ý nghĩa sâu sắc, có tác dụng định hướng trong việc sử dụng ngôn ngữ sao cho đúng, chuẩn xác và phải có ý thức bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt, làm cho nó lan tỏa, góp phần quan trọng đối với sự phát triển của nền văn hóa mới trong xu thế hội nhập và phát triển.
Hiện nay, quá trình hội nhập và sự giao lưu văn hóa diễn ra mạnh mẽ, tác động không nhỏ đến việc sử dụng ngôn ngữ, tiếng nói. Bên cạnh những tác động tích cực, tình trạng sử dụng tiếng Việt chưa chuẩn xác, thậm chí kết hợp với các từ ngữ nước ngoài diễn ra phổ biến. Bên cạnh đó, sự du nhập của nhiều yếu tố ngoại lai, việc sử dụng ngôn ngữ tự sáng tác trên mạng xã hội của một bộ phận giới trẻ hoặc như ý tưởng đề xuất thay thế tiếng Việt đang sử dụng thành bản tiếng Việt mới nhưng thiếu thực tế của một vài cá nhân đã xâm hại một cách nghiêm trọng đến sự trong sáng của tiếng Việt. Để giữ gìn tài sản quý báu của dân tộc không bị mai một, mỗi người chúng ta phải luôn nêu cao ý thức trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn và làm phong phú hơn vốn ngôn ngữ của mình, cả trong văn nói và văn viết. Không ngừng trau dồi, nâng cao trình độ sử dụng ngôn từ thuần Việt, trước hết là sử dụng chính xác, hạn chế việc dùng tiếng nước ngoài khi không cần thiết. Đặc biệt cần phải kiên quyết loại bỏ việc pha trộn bừa bãi giữa tiếng Việt với tiếng nước ngoài, sử dụng các từ ngữ méo mó, biến dạng, làm mất đi giá trị vốn có của ngôn ngữ dân tộc.
Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với việc bảo vệ và phát huy giá trị to lớn của tiếng Việt. Trước hết, phải sử dụng ngôn ngữ trong sáng trong giao tiếp hằng ngày, không dùng từ ngữ thô tục. Trong quá trình công tác, nhất là trong công tác tuyên truyền, vận động phải căn cứ vào đối tượng và mục đích tuyên truyền để sử dụng ngôn từ cho phù hợp, dễ nghe, dễ hiểu. Mỗi cán bộ, chiến sĩ phải luôn có ý thức tự học, nâng cao trình độ nói và viết sao cho chặt chẽ, logic, tránh dùng những từ đa nghĩa, khó hiểu. Có như vậy, mới hạn chế được những sai sót, góp phần bảo vệ và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
Có thể là hình ảnh về 1 người, đang đứng và văn bản cho biết 'ĐẨY MẠNH HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH'

HÃY TẬN DỤNG THẾ MẠNH CỦA MẠNG XÃ HỘI ĐẺ LAN TOẢ ĐIỀU TỐT ĐẸP


Hiện nay mạng xã hội đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới và bùng nổ ở Việt Nam. MXH tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, chi phối không nhỏ đến tâm tư, tình cảm và suy nghĩ của mỗi người. Bên cạnh mặt tích cực, MXH cũng tồn tại không ít những yếu tố tiêu cực, vì vậy bản thân mỗi người trở thành người hữu ích hay tội đồ là do ý thức  sử dụng MXH của chính ta..


MXH mang lại nhiều giá trị tích cực, cho phép người dùng tìm kiếm thông tin, thể hiện bản thân trải nghiệm cuộc sống, giao lưu gắn kết cộng đồng, chia sẻ tình cảm, tìm kiếm việc làm, kinh doanh vv …Chúng ta nếu biết khai thác một cách tỉnh táo, tuân thủ luật pháp thì MXH mang lại lợi ích và niềm vui vô bờ bến… 


Cả thế giới thu nhỏ trong chiếc điện thoại thượng vàng hạ cám đều có trên mạng, có tốt có xấu. MXH có sức Lan tỏa vô cùng khủng khiếp, vì vậy để an toàn cho bản thân và không làm ảnh hưởng đến người khác, chúng ta phải hết tỉnh táo và thận trọng. ..


Đừng nghĩ mạng là ảo muốn nói gì thì nói làm gì thì làm. MXH cũng như cuộc sống  bên ngoài, cuộc sống thì muôn màu, không hoàn toàn màu xám cũng không chỉ có màu Hồng mà là bức tranh xen kẽ hài hoà giữa tông màu tối sáng, nó trở nên tiêu cực hay tích cực là do ở chúng ta. Hãy để MXH trở nên hữu ích  trong cuộc sống của mỗi người …


Ai cũng mong muốn cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn, việc đấu tranh để chống cái xấu xa, tiêu cực, bảo vệ những giá trị tốt đẹp của xã hội này là trách nhiệm của mỗi công dân.. Khi  lên mạng chúng ta nên trung thực, đừng nặng đầu óc  bè phái, định kiến, kỳ thị; việc  có nói có, không  nói không, luôn tuân thủ luật pháp, những tấm gương vẫn còn đó..


Hãy tích cực chia sẻ những thông tin đáng tin cậy từ những tờ báo chính thống, những câu chuyện đẹp với phương châm “ Lấy cái đẹp đè bẹp cái xấu”, nhằm tạo ra xu hướng tích cực trên mạng xã hội. Cá nhân mỗi người khi được  tiếp nhận nhiều thông tin tốt, hình ảnh và câu chuyện đẹp  sẽ giúp con người ghi sâu vào tâm trí, qua đó định hướng được nhận thức và thay đổi hành vi của mình theo hướng tích cực như những gì đã được tiếp nhận.


Để MXH trở thành thế mạnh cho công cuộc phát triển mọi mặt của đởi sống xã hội nhà nước cần sâu sát hơn nữa. Là người dân khi tham gia MXH chúng ta  cần phải thận trọng hơn cả cuộc sống ngoài đời, phải là người có trách nhiệm với đất nước, với cộng đồng. Biết tôn trọng nhân phẩm, danh dự, quyền lợi của người khác. Biết tôn trọng danh dự bản thân thì mới có trách nhiệm với mỗi bài viết, mỗi hình ảnh, mỗi comment. 


Tôi luôn suy nghĩ tích cực và chỉ đi tìm kiếm những thông tin chính thống đáng tin cậy để đọc. Viết lách hay sưu tầm những bài viết mang tính nhân văn, nên bản thân yên tâm thoải mái vui vẻ khi tham gia MXH. Từ ngày có mạng cảm thấy cuộc sống thú vị hơn rất nhiều …


Hà Thanh

Nhận thức đúng đắn bản chất và những tác động của toàn cầu hóa đối với nước ta hiện nay

 


Toàn cầu hoá hiện nay là một xu thế khách quan của lịch sử, không tuỳ thuộc vào ý muốn chủ quan của bất cứ một quốc gia, một tập đoàn hay một liên minh nào. Sự tác động của toàn cầu hóa không loại trừ bất cứ một ai muốn tham gia hay không muốn tham gia. Tất cả đều bị cuốn hút vào quá trình đó trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng an ninh… Đây là vấn đề mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quan tâm.

Trong cơn lốc toàn cầu hóa ấy cũng tạo ra rất nhiều những thời cơ, vận hội thuận lợi cho các quốc gia trong quá trình phát triển của mình, Việt Nam cũng là một trong các nước chịu ảnh hưởng sâu sắc của toàn cầu hóa. Tuy nhiên, toàn cầu hoá cũng có những mặt trái của nó. Việt Nam tham gia quá trình toàn cầu hoá buộc phải mở cửa nền kinh tế, thực hiện tự do hoá thương mại, hội nhập và giao lưu văn hóa… đồng thời phải chấp nhận việc cạnh tranh quốc tế. Trước tác động của toàn cầu hóa hiện nay, để “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích của quốc gia dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”, Đảng ta cần kiên định và thường xuyên đổi mới tư duy đối ngoại trong quan hệ quốc tế. Trong cuộc cạnh tranh toàn cầu ấy đặt ra cho nước ta nhiều cơ hội để phát triển nhưng cũng không ít những khó khăn, thử thách trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh...

Do đó, cần nhận thức đúng đắn bản chất, nguyên nhân và những tác động của toàn cầu hóa đối với nước ta hiện nay là có ý nghĩa rất quan trọng để Đảng, Nhà nước ta đề ra đường lối đối ngoại phù hợp nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thanh niên quân đội trong đấu tranh và xây dựng

 


Thanh niên quân đội là một bộ phận ưu tú của thanh niên Việt Nam, là lực lượng quần chúng chủ yếu của Đảng trong quân đội. Trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do của dân tộc trước đây, các thế hệ thanh niên quân đội đã anh dũng chiến đấu, cùng toàn dân lập nên nhiều chiến công oanh liệt, góp phần làm rạng rỡ truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”. Nhiều đồng chí đã trở thành những cán bộ ưu tú của Đảng, của quân đội, nêu gương sáng cho các thế hệ trẻ noi theo... Ngày nay, tiếp bước các thế hệ cha anh, thanh niên quân đội luôn là lực lượng xung kích trong mọi hoạt động của quân đội: sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, làm công tác dân vận, lao động sản xuất, giúp dân phòng chống thiên tai, nghiên cứu khoa học, hoạt động văn hóa nghệ thuật...

Trong thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những yếu tố khó lường. Nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại đang diễn ra trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Thanh niên quân đội đang đứng trước những cơ hội, thuận lợi lớn, nhưng cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam, tập trung thực hiện âm mưu thâm độc là lôi kéo, kích động thanh niên chạy theo lối sống thực dụng, làm băng hoại về đạo đức, suy thoái về chính trị, tư tưởng, xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng và mất phương hướng chiến đấu; trong khi đó nhiệm vụ của quân đội tiếp tục có những bổ xung, phát triển mới, với những yêu cầu ngày càng cao hơn.

Bản chất 2 mặt của toàn cầu hóa

 


Toàn cầu hóa có bản chất hai mặt. Một mặt, nó là một xu thế khách quan như kết quả của sự phát triển cao của lực lượng sản xuất và các yếu tố vật chất khác. Mặt khác, nó cũng là một quá trình kinh tế - xã hội, chính trị - xã hội bị một số thế lực tư bản quốc tế chi phối. Chính sự đan xen giữa hai mặt, giữa cái chủ quan và khách quan đã khiến cho toàn cầu hóa, về bản chất, trở thành một quá trình chứa đựng đầy mâu thuẫn, chứa đựng cả mặt tích cực lẫn tiêu cực. Trong văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta đã nhận định: Toàn cầu hóa là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh. Xu thế này là kết quả tất yếu của sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự phân công lao động quốc tế ngày càng sâu rộng.

Tăng cường xây dựng lực lượng thanh niên nòng cốt

 


Trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu nhiệm vụ các mạng trong thời kỳ mới đặt ra đối với thanh niên rất nặng nề. Bên cạnh đó, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch không ngừng chống phá cách mạng nước ta bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình” với nhiều âm mưu, thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt. Thanh niên cũng là một trong những đối tượng để chúng hướng tới. Công tác vận động, tập hợp và đoàn kết thanh niên đang đứng trước những thuận lợi và thời cơ lớn, và cũng đang phải đối mặt với những khó khăn và thách thức không nhỏ. Bởi vậy, trước những biến đổi nhanh chóng của tình hình thế giới, trong nước như hiện nay, đòi hỏi công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên càng phải được chú trọng hơn bao giờ hết để giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ - người chủ tương lai của của đất nước có lý tưởng xã hội chủ nghĩa; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có thái độ đấu tranh kiên quyết với những quan điểm và hành động sai trái; có trình độ kiến thức, năng lực đủ sức hoàn thành sứ mệnh lịch sử mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị. Chủ trương xã hội hóa công tác thanh niên của Đảng và Nhà nước đã được Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể vận dụng vào công tác của mình. Nghị quyết 25 cũng đã chỉ rõ: “Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong công tác thanh niên, mỗi đoàn thể phải có chương trình về công tác thanh niên, quy chế phối hợp hoạt động với Đoàn và các tổ chức thanh niên, chú trọng công tác nữ thanh niên; phân công cán bộ làm công tác thanh niên; vận động đoàn viên, hội viên thuộc đoàn thể mình tham gia tập hợp, giáo dục thanh thiếu nhi; tham gia kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách liên quan đến thanh niên và công tác thanh niên”.

Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị của thanh niên Việt Nam. Đối với tổ chức Đoàn, Đảng ta xác định: “Đảng lãnh đạo công tác thanh niên và trực tiếp lãnh đạo Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Xây dựng Đoàn vững mạnh là nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, là xây dựng Đảng trước một bước. Đảng đề ra đường lối, chủ trương định hướng cho thanh niên hành động, xác định các chuẩn mực cho thanh niên phấn đấu; xây dựng các tấm gương điển hình tiêu biểu cho thanh niên học tập và làm theo”. Đối với công tác tập hợp thanh niên, Nghị quyết 25 đã đưa ra nhiệm vụ cụ thể cho Đoàn và Hội: “Bảo đảm vai trò nòng cốt của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong xây dựng Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Hội Sinh viên Việt Nam vững mạnh; đổi mới phương thức vận động, đa dạng hóa các loại hình tập hợp để thu hút rộng rãi các đối tượng thanh niên. Tăng cường xây dựng lực lượng thanh niên nòng cốt để thành lập tổ chức cơ sở của Đoàn, Hội ở mọi lĩnh vực”.


Đoàn kết chống lại sự chống phá của các thế lực thù địch

 


Công tác vận động, tập hợp và đoàn kết các tầng lớp nhân dân, trong đó có thanh niên là công tác chiến lược có vị trí quan trọng hàng đầu qua các thời kỳ cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhận thức rõ ý nghĩa đó, Đại hội IX của Đảng  khẳng định: “Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội”. Trên tinh thần ấy, tại Đại hội lần thứ X, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[1]. Đại hội XI tiếp tục nhấn mạnh: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Thanh niên là lực lượng đông đảo trong xã hội, là rường cột trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Chính vì vậy, việc đoàn kết, tập hợp thanh niên có vị trí rất quan trọng trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Những năm gần đây, công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên của nước ta thu được nhiều kết quả to lớn. Thanh niên đã có nhiều đóng góp to lớn trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh… Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, trước tác động của toàn cầu hóa và kinh tế tri thức, những ảnh hưởng tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường và nhất là trước sự chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, công tác này cũng còn có những hạn chế nhất định.

Trong sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng nhất là trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, việc nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa các giai cấp và thực hiện tốt liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là yêu cầu bảo đảm thắng lợi cho sự nghiệp xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới.



 

Tăng cường liên minh giai cấp, tầng lớp ở Việt Nam hiện nay


Nội dung liên minh trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ờ Việt Nam hiện nay mang tính toàn diện, có thể khái quát trên ba lĩnh vực cơ bản liên minh trên lĩnh vực chính trị; liên minh trên lĩnh vực kinh tế và liên minh trên lĩnh vực văn hóa - xã hội. Trong đó liên minh trên lĩnh vực kinh tế là thường xuyên sinh động và quan trọng, nhưng cũng khó khăn hơn cả. Trong quá trình liên minh, cần đảm bảo kết hợp hài hòa lợi ích, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng và quản lý trực tiếp của Nhà nước.

 Để tăng cường liên minh giai cấp, tầng lớp ở Việt Nam hiện nay cần phải phát huy vai trò của hệ thống chính trị trong việc xây dựng khối liên minh và khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp; tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở; thực hiện tốt Quy chế và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở cơ sở; nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức nghề nghiệp, xã hội của các giai cấp, tầng lớp; đổi mới nội dung, hình thức và xây dựng, hoàn thiện nhân rộng các mô hình liên minh giai cấp, tầng lớp; củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp đông đảo các giai cấp, tầng lớp; đồng thời cần thường xuyên đổi mới và thực hiện tốt các chính sách xã hội, chính sách đối với các giai cấp, tầng lớp xã hội.


Đội ngũ doanh nhân Việt Nam - lực lượng quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

 

 

Ngay sau thắng lợi của cách mạng Tháng Tám (1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vị trí, vai trò của đội ngũ doanh nhân (giới công thương) gắn với sự nghiệp chung của đất nước. Hiện nay, đội ngũ doanh nhân ở nước ta là những người quản lý doanh nghiệp trong kinh doanh (từ sản xuất, đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ) các thành phần kinh tế. Đội ngũ doanh nhân có vị trí quan trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp góp phần to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trong bối cảnh toàn cầu hóa. Xây dựng đội ngũ doanh nhân lớn mạnh, có năng lực, trình độ và phẩm chất, uy tín cao, sẽ góp phần tích cực nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, phát triển nhanh, bền vững và bảo đảm độc lập, tự chủ của nền kinh tế”.

Đội ngũ doanh nhân Việt Nam có trách nhiệm trước hết trong hoạt động quản lý kinh doanh để doanh nghiệp luôn phát triển mờ rộng đầu tư trong nước và ngoài nước. Điều này đòi hòi đội ngũ doanh nhân lớn mạnh, có trình độ quản lý, kinh doanh giỏi, có đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội cao.

Đội ngũ doanh nhân Việt Nam, có vai trò to lớn trong tạo việc làm, thu nhập cho người lao động, hàng hóa, dịch vụ cho đất nước và xuất khẩu. Hằng năm, ở Việt Nam có hàng triệu lao động mới đòi hỏi có việc làm. Thu nhập của người lao động ngày càng tăng, đời sống được cải thiện là thước đo phát triển của doanh nghiệp. Phát triển của doanh nghiệp tác động tích cực đến các lĩnh vực hoạt động khác của đời sống xã hội.

Đội ngũ doanh nhân Việt Nam quản lý phát triển doanh nghiệp, đóng góp cho ngân sách nhà nhà nước, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo dựng và gìn giữ thương hiệu hàng hóa Việt Nam, từ đó, góp phần làm giàu cho mình và cho đất nước.

Đội ngũ doanh nhân Việt Nam góp phần xây dựng các tổ chức chính trị-xã hội trong công nhân (Đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên...), xây dựng mối quan hệ hài hòa, ổn định và tiến bộ. Trách nhiệm này ở mọi loại hình doanh nghiệp nhưng đặc biệt phải nâng cao đối với doanh nhân ở các doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước.

Đội ngũ doanh nhân Việt Nam tham gia các chương trình xã hội, phong trào xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, chương trình vì cộng đồng; gắn bó với giai cp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đội ngũ trí thức Việt Nam có vị trí, vai trò quan trọng

 

Khẳng định vai trò quan trọng của trí thức trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, V.I.Lênin chỉ rõ: “Không có sự chỉ đạo của các chuyên gia am hiểu các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và có kinh nghiệm, thì không thể nào chuyên lên chủ nghĩa xã hội được...”. Ở nước ta, Hồ Chí Minh khẳng định rằng, trí thức Việt Nam là “một bộ phận trong lực lượng cách mạng” và “là vốn liếng quý báu của dân tộc”.

Quan niệm về trí thức ở Việt Nam đã được nêu ra trong Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung khóa X (2008): “Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhắt định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bálàm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội”.

Trên quan điểm mácxít và từ tầm quan trọng của nhận thức, nhất là của tri thức khoa học, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ hơn vị trí của đội ngũ trí thức Việt Nam trong phát triển xã hội. Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định, trong mọi thời đại, tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức; đồng thời, nhấn mạnh rằng: Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong chiến lược phát triển.

Để “phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trờ thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa", vị trí của trí thức lại càng cần được coi trọng phát huy. Vị trí quan trọng của đội ngũ trí thức Việt Nam được thể hiện qua những vai trò cụ thể trong lao động khoa học sáng tạo.

Đội ngũ trí thức Việt Nam là một chủ thể của cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại và đóng góp phần quan trọng trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, có vai trò chủ chốt trong nghiên cứu khoa học và tham gia chuyển giao công nghệ. Nghiên cứu khoa học ờ các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học công nghệ; trong các dạng nghiên cứu cơ bản (R), nghiên cứu và phát triển (R&D) và hình thành các dự án (P) đưa vào sản xuất.

Đội ngũ trí thức Việt nam có vai trò và thế mạnh trong tư vấn, phản biện, giám định xã hội về mặt khoa học đối với các kế hoạch, công trình, dự án,... các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước... các hội nghề nghiệp của trí thức là nơi tập trung “chất xám” chuyên ngành và sâu, nên có thuận lợi cho việc thực hiện vai trò này.

Đội ngũ trí thức Việt Nam có vai trò trực tiếp và quan trọng trong xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam. Hiện nay, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam là phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ; “phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, tự hào dân tộc, tính cộng đồng và khơi dậy khát vọng vươn lên”. Vì vậy, việc xây dựng này phải có sự cố gắng chung của cả xã hội, nhưng trong đó, đội ngũ trí thức có chuyên môn về giáo dục - đào tạo, y - dược, văn hóa - nghệ thuật, báo chí - tuyên truyền... đóng vai trò trực tiếp, quan trọng.

Đội ngũ trí thức Việt Nam góp phần quan trọng tham gia giải quyết những vấn đề toàn cầu của thời đại hiện nay và sự phát triển bền vững cho dân tộc và nhân loại. Đây là những vấn đề rộng lớn, khó khăn, việc giải quyết không chỉ của một quốc gia, mà cần có sự hợp tác của nhiều nước và của toàn thế giới, trong đó, không thể thiếu sự tham gia của nguồn nhân lực chất lượng cao, những chuyên gia, nhà nghiên cứu giỏi... của đội ngũ trí thức lao động sáng tạo.

Nông dân - chủ thể của trong quá trình phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới

 


 

Khẳng định vị trí, vai trò của giai cấp nông dân trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Ph.Ăngghen chỉ rõ: “...nông dân đều là một nhân tố rất cơ bản của dân cư, của nền sản xuât và của lực lượng chinh trị”.

Ở Việt Nam, giai cấp nông dân là một lực lượng đông đảo, bao gồm những người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp (gồm cả lâm, ngư nghiệp, diêm nghiệp), trực tiếp sử dụng một tư liệu sản xuất cơ bản và đặc thù, gắn với thiên nhiên là đất, rừng và biển để sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp, hoặc tham gia sản xuất kinh doanh, dịch vụ của gia đình (đơn vị kinh tế tự chủ hoặc tập thể). Họ đang chuyển biến mạnh mẽ cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, quá trình chuyển đổi từ hợp tác xã kiểu cũ sang kiểu mới và xây dựng nông thôn mới.

Ở Việt Nam, nông nghiệp, nông dân, nông thôn có quan hệ mật thiết. Do vậy, ngày nay xác định vị trí của giai cấp nông dần không tách rời vị trí của nông nghiệp và nông thôn. Vì thế, trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong quá trình phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới”. Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, thì giai câp nông dân là "chủ thể” xây dựng nông thôn mới là "căn bản"; phát triển nông nghiệp là then chốt”. Vị trí chiến lược này, trong thực tế, được thể hiện tập trung ở các vai trò sau:

Một là, trong lĩnh vực kinh tế, giai cấp nông dân Việt Nam là chủ thể của ngành sản xuất nông nghiệp, hướng tới phấn đấu xây dựng một nền nông nghiệp sạch, trình độ cao và phát triển bền vững. Giai cấp nông dân đóng góp một phần quan trọng vào tăng trưởng GDP, nhất là đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và vào việc hình thành mô hình sản xuất mới trong nông nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại; đồng thời, góp phần không nhỏ vào hoạt động xuất khẩu nông sản, tăng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

 Hai là, trong lĩnh vực chính trị, giai cấp nông dân Việt Nam cùng với giai cấp công nhân, đội ngũ trí thức là cơ sở chính trị - xã hội tin cập của hệ thống chính trị, là chủ thể trực tiếp hiện thực hóa đường lối chính trị, chính sách của Đảng, Nhà nước ở nông thôn, đồng thời, là lực lượng đi đầu trong thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở.

Ba là, trong lĩnh vực văn hóa – xã hội, giai cấp nông dân Việt Nam góp phần giữ gìn, phát huy giá trị và bản sắc văn hóa dân tộc; là chủ thể xây dựng nông thôn mới; tích cực tham gia các phong trào xã hội ở nông thôn và góp phần vào thực hiện các phong trào này của cả nước.

Vị trí vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam

 


Hiện nay, giai cấp công nhân Việt Nam đang trên đà phát triển cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Trong thực tế, vị trí hay sứ mệnh lịch sử to lớn của giai cấp công nhân Việt Nam được hiện thực hóa bằng các vai trò cụ thể ở các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội.

Trong lĩnh vực chính trị, trước hết, giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; là cơ sở chính trị - xã hội vững chắc của hệ thống chính trị và là lực lượng nòng cốt của khối liên minh ngày càng được mở rộng trên mọi lĩnh vực phát triển xã hội...

Trong lĩnh vực kinh tế, giai cấp công nhân Việt Nam là bộ phận hàng đầu của lực lượng sản xuất, đóng góp lớn vào thành tựu của nền kinh tế quốc dân, nhất là trong tăng trưởng GDP và tổng thu ngân sách nhà nước... Do đó, giai cấp công nhân còn góp phần quan trọng đến định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường ở nước ta...

Trong lĩnh vực văn hóa - xã hội. giai cấp công nhân Việt Nam hăng hái trong phong trào thi đua lao động, sáng tạo, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tiếp thu và làm chủ hiệu quả khoa học - công nghệ tiên tiến. Họ còn nêu gương lối sống công nghiệp, có tổ chức, kỷ luật cao…

ĐỪNG BỊ LẠC TRÔI THEO NHỮNG LỜI TUNG HÔ, KÍCH ĐỘNG


Ngày 25/8, TAND cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm, xét đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Đoan Trang (sinh năm 1978, trú tại phường Cát Linh, quận Đống Đa, Hà Nội) trong vụ án “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”.

Cũng tương tự như tại phiên sơ thẩm, các trang mạng truyền thông chống phá Việt Nam ở nước ngoài lại tiếp tục điệp khúc “kêu oan” cho bị cáo Phạm Thị Đoan Trang. Họ đưa ra các bài viết tô vẽ hình tượng, tạo dựng một bị cáo “giữ vững chí khí”, lập luận rằng Phạm Thị Đoan Trang không phạm tội, cần “trả tự do ngay lập tức”!

Cũng với cách tiếp cận này, một số trang mạng còn dùng chiêu “cập nhật diễn biến phiên toà”, đưa thông tin, hình ảnh trong và ngoài phiên toà, thông tin về sức khoẻ, thái độ bị cáo, về thân nhân, việc tranh tụng tại toà… nhằm tạo điểm nhấn gây chú ý như là một sự kiện “bất thường”! Không ít bài viết lấy cớ “minh oan” cho bị cáo, đưa ra lời lẽ phê phán, đả kích phiên toà, đả kích nền tư pháp Việt Nam, từ đó coi đây là “dẫn chứng” để rêu rao trước công luận về “phiên toà bịt miệng”, một thể chế người dân bị bỏ tù vì “dám lên tiếng đấu tranh cho tự do, dân chủ”!

Điều đáng nói, sự tung hô, đánh tráo bản chất vụ án của các trang mạng truyền thông này được sự hậu thuẫn từ những tuyên bố sai lệch của một số cơ quan ngoại giao. Sau khi kết thúc phiên toà, tuyên bố của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nêu “Hoa Kỳ hết sức lo ngại trước bản án được giữ nguyên và bản án 9 năm tù đối với tác giả và nhà báo Việt Nam nổi tiếng Phạm Thị Đoan Trang”.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Ned Price nói rằng, việc bị cáo Phạm Thị Đoan Trang tiếp tục bị giam giữ là trường hợp mới nhất trong “một mô hình đáng báo động về việc bắt giữ và kết án các cá nhân ở Việt Nam vì đã bày tỏ ý kiến một cách ôn hòa”. Từ đó, bản tuyên bố “kêu gọi chính phủ Việt Nam trả tự do cho bà Trang”!

Trước đó, cũng chính Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã trao cái gọi là “Giải thưởng Phụ nữ Dũng cảm quốc tế (IWOC) năm 2022” cho Phạm Thị Đoan Trang với những lý do rất dễ tạo cớ cho các thế lực chống phá Việt Nam “bấu víu”. Cùng với đó, tuyên bố của người phát ngôn EU cũng đưa ra những thông tin lệch lạc khi cho rằng, tòa phúc thẩm Hà Nội giữ nguyên bản án đối với Phạm Đoan Trang với “tội danh mơ hồ”, “bắt giữ tuỳ tiện”, từ đó đưa ra những bình luận sai trái: “Nhiều vụ bắt giữ và kết án tùy tiện đối với các nhà hoạt động ôn hòa và các nhà báo là trái ngược trực tiếp với luật nhân quyền quốc tế”.

Cũng “té nước theo mưa”, tổ chức Phóng viên Không biên giới (RSF) ra thông cáo bày tỏ “sự bất bình trước bản án phúc thẩm của bà Trang”! Cũng chính RSF từng tung ra trò giải thưởng báo chí rồi “vinh danh” người đoạt giải RSF 2019 về quyền tự do báo chí cho Phạm Thị Đoan Trang. Lần này, RSF lấy cớ phiên phúc thẩm y án 9 năm tù với bị cáo rồi “kêu gọi các đối tác thương mại của Việt Nam, chẳng hạn như EU và Hoa Kỳ, yêu cầu trả tự do cho bà Phạm Đoan Trang như một phần trong thỏa thuận của họ với Hà Nội”.

Ông Daniel Bastard, Giám đốc văn phòng châu Á - Thái Bình Dương của RSF đưa ra những lời lẽ cố tình phớt lờ sự thật để nhằm lấy cớ chỉ trích Việt Nam: “Cuộc chiến của bà Trang cho một nền báo chí tự do cho tất cả mọi người vượt ra ngoài biên giới của đất nước, đó là cuộc chiến cho một quyền phổ biến”.

“Thổi lửa” sự kiện này, Ủy ban Bảo vệ ký giả (CPJ) dẫn lời ông Shawn Crispin, đại diện khu vực Đông Nam Á của tổ chức này: “CPJ mạnh mẽ lên án phán quyết của tòa án ngày hôm nay bác bỏ kháng cáo của nhà báo Phạm Thị Đoan Trang về bản án 9 năm tù của bà. Việt Nam phải trả tự do cho bà Trang và tất cả các nhà báo khác mà nước này giam giữ một cách sai trái sau song sắt”! Cũng chính CPJ mới đây đã ra tuyên bố sẽ trao “Giải thưởng Tự do báo chí Quốc tế (IPFA) năm 2022” cho Phạm Thị Đoan Trang, dự kiến vào cuối năm 2022.

Như vậy, từ những phát ngôn của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, EU với những thông tin sai lệch về vụ án cũng như đưa ra những tuyên bố, kêu gọi phi thực tế, các tổ chức chống phá Việt Nam như RSF, CPJ… được dịp “lên đồng” với các tuyên bố, thông cáo cố tình xuyên tạc sự thật, chỉ trích, miệt thị nền tư pháp, chỉ trích Đảng, Nhà nước Việt Nam dưới chiêu bài nhân quyền, tự do báo chí, tự do ngôn luận. Hành động này cũng thể hiện tương tự như tại phiên toà sơ thẩm hồi năm ngoái, dù nội dung, bản chất vụ án đã được thể hiện rất rõ và thông tin cụ thể trên các phương tiện truyền thông.

Đây là vụ án xét xử công khai, hoàn toàn không có gì “mập mờ” hay “tuỳ tiện” như những phán xét nói trên. Việc xét xử phúc thẩm là dựa trên kháng cáo của bị cáo và TAND cấp cao tại Hà Nội đã mở thủ tục phiên toà theo đúng trình tự pháp luật tố tụng hình sự. Cáo trạng tại phiên phúc thẩm một lần nữa nêu rõ, trong khoảng thời gian từ ngày 16/11/2017 đến 5/12/2018, bị cáo Phạm Thị Đoan Trang có hành vi làm, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, bài viết có nội dung nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Ngoài ra, bị cáo Đoan Trang còn trả lời phỏng vấn trên truyền thông nước ngoài với nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước, phỉ báng chính quyền nhân dân, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân. Cụ thể, Phạm Thị Đoan Trang có hành vi tàng trữ các tài liệu: “Báo cáo tóm tắt về thảm họa môi trường biển Việt Nam”; “Đánh giá chung về tình hình nhân quyền tại Việt Nam”; "Báo cáo đánh giá về luật tôn giáo và tín ngưỡng năm 2016 liên quan đến việc thực hiện quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam”. Cơ quan tố tụng xác định, các tài liệu trên có nội dung tuyên truyền, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân, tuyên truyền thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Vào giữa tháng 12/2021, TAND thành phố Hà Nội đã xét xử sơ thẩm vụ án và tuyên án phạt 9 năm tù đối với bị cáo Phạm Thị Đoan Trang về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”. Cần thấy rằng, việc toà phúc thẩm có giảm nhẹ hình phạt hay không phải căn cứ hồ sơ, tài liệu, có tình tiết mới nào là căn cứ giảm nhẹ hình phạt hay thái độ của bị cáo có ăn năn, hối lỗi so phiên sơ thẩm? Tuy nhiên, diễn biến tại phiên toà cho thấy, dù cáo trạng đã nêu rõ tính chất, mức độ phạm tội, các căn cứ kết án, bị cáo Phạm Thị Đoan Trang vẫn giữ thái độ như trước đó, tiếp tục cho rằng mình không phạm tội và kêu oan. Khi được HĐXX giải thích, bị cáo Phạm Thị Đoan Trang không thành khẩn khai báo, có thái độ chống đối tại phiên tòa. Trong khi đó, trên cơ sở xét hỏi công khai tại phiên phúc thẩm, căn cứ lời khai, tài liệu, kết quả giám định, tòa phúc thẩm nhận định, đủ cơ sở để kết luận hành vi phạm tội của bị cáo. Toà phúc thẩm đánh giá, việc tòa sơ thẩm tuyên án phạt 9 năm tù đối với bị cáo Phạm Thị Đoan Trang về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” là đúng người, đúng tội, không oan, hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội. HĐXX xác định hành vi của bị cáo Phạm Thị Đoan Trang là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý xâm phạm chế độ và Nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa, xã hội, xâm phạm đến sự vững mạnh của chính quyền nhân dân. Bản thân bị cáo là người có trình độ nhận thức nhất định. Bị cáo hiểu và biết rõ hậu quả hành vi vi phạm của mình nhưng vẫn tích cực thực hiện trong một thời gian dài, do vậy cần phải xử phạt nghiêm minh. Vì vậy, toà phúc thẩm tuyên y án 9 năm tù đối với bị cáo.

Rõ ràng, khi không có tình tiết nào làm thay đổi tính chất vụ án, bị cáo là người có nhận thức, hiểu hành động mình làm nhưng vẫn quanh co chối tội và có thái độ chống đối thì không có căn cứ nào để giảm nhẹ hình phạt. Căn cứ quan trọng nhất là thái độ thì đến phiên phúc thẩm, bị cáo vẫn không có dấu hiệu nào cho thấy sự hối lỗi, ăn năn về hành vi phạm tội của mình thì HĐXX lấy cơ sở nào để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo so bản án sơ thẩm.

Rõ ràng, chính bị cáo đã tự tước lấy cơ hội giảm nhẹ hình phạt với thái độ ngoan cố của mình. Bị cáo hay nếu ai đó còn suy nghĩ chờ đợi những tung hô, kêu gọi của các tổ chức, cá nhân bên ngoài để được giảm án, xoá án hay để thành “thần tượng”, thành tâm điểm của sự chú ý nào đó thì đây là lúc họ cần nghĩ lại, nhìn nhận lại.

“Đánh người chạy đi, không ai đánh người chạy lại”, luật pháp nghiêm khắc nhưng cũng nhân văn, khoan hồng với những ai biết lỗi lầm mà ăn năn sám hối, điều đó tùy thuộc ý thức và hành động của chính mình chứ không phải ở sự tung hô nào khác.

                                                                                                PQ