Thứ Hai, 3 tháng 10, 2022

Đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hiện nay (1)

 

Trong bối cảnh các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tung ra rất nhiều quan điểm, luận điệu, bằng nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi nhằm xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, hòng gây nhiễu loạn về hệ tư tưởng, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mưu đồ “giải trừ ý thức hệ”, làm cho Đảng tan rã về ý thức hệ, từ đó tan rã về tổ chức, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi chế độ ta, thì việc kiên quyết, kiên trì đấu tranh trên cơ sở nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong điều kiện mới là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hiện nay.

 Chủ nghĩa Mác do C. Mác và Ph. Ăng-ghen sáng lập vào khoảng giữa những năm 40 của thế kỷ XIX ở Tây Âu, đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong điều kiện lịch sử mới đã được V.I. Lê-nin bổ sung, phát triển thành chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Chủ nghĩa Mác ra đời là một cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, mang bản chất khoa học và cách mạng, trở thành vũ khí tư tưởng - lý luận của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản nhằm mục tiêu giải phóng xã hội, giải phóng con người thoát khỏi mọi áp bức, bóc lột, bất công, tha hóa, phát triển toàn diện con người.

Từ khi ra đời đến nay, chủ nghĩa Mác đã tồn tại trên 170 năm và trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử. Mặc dù mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu đã sụp đổ; mặc dù chủ nghĩa đế quốc cùng những thế lực phản động, thù địch dùng nhiều thủ đoạn thâm độc chống phá, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác  - Lê-nin nhưng chủ nghĩa Mác - Lê-nin vẫn tồn tại, phát triển mà chưa có một học thuyết nào có thể thay thế được, nó có giá trị trường tồn, sức sống bền vững. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin vẫn là thế giới quan và phương pháp luận khoa học của hàng triệu triệu người trên trái đất. Đúng như lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã nhận định: “Bây giờ, chủ nghĩa nhiều, học thuyết nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin”(1).

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng ta, Hiến pháp năm 2013 của Nhà nước ta đều khẳng định chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam cho hành động. Sự khẳng định đó nói lên ý nghĩa to lớn, giá trị vững bền của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng nước ta. Chủ nghĩa Mác  - Lê-nin đã trở thành ngọn cờ tư tưởng, lý luận và phương pháp luận khoa học để nhận thức thời đại, nhận thức tình hình thế giới và trong nước, là cơ sở khoa học để Đảng ta đề ra đường lối, chính sách đổi mới, phát triển đất nước, nhất là trong bối cảnh tình hình thế giới biến đổi nhanh chóng, phức tạp, khó lường như hiện nay. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin cũng là cơ sở cho sự thống nhất về tư tưởng trong Đảng, cho sự thống nhất và củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân, tạo đoàn kết, đồng thuận trong xã hội.

Trong quá trình xây dựng, phát triển học thuyết khoa học của mình, C.  Mác, Ph.  Ăng-ghen và sau này là V.I. Lê-nin đã phải thường xuyên đấu tranh chống các quan điểm sai trái, như chủ nghĩa duy tâm, siêu hình, giáo điều, xét lại. C.  Mác và Ph.  Ăng-ghen từng phê phán quan điểm của phái Hê-ghen trẻ, của Pru-đông, của Đuy-rinh, của Lát-xan và nhiều quan điểm tư sản khác. Thông qua đấu tranh phê phán quan điểm phản diện, các ông đã trình bày quan điểm chính diện của mình, đã phát triển, hoàn thiện học thuyết của mình. C.  Mác và Ph.  Ăng-ghen đã từng khẳng định rằng, học thuyết của các ông có tính phê phán và cách mạng, nó không đội trời chung với quan điểm giáo điều, bảo thủ, với quan điểm duy tâm, siêu hình, cơ hội và xét lại. Có thể khẳng định rằng, đấu tranh tư tưởng, lý luận để chống quan điểm sai trái nhằm bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác mang tính quy luật trong sự tồn tại, phát triển của chủ nghĩa Mác.

Để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện lịch sử mới, V.I. Lê-nin đã kiên quyết đấu tranh, kịch liệt phê phán quan điểm duy tâm, siêu hình của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán của E. Ma-khơ, A-vê-na-ri-út,...; đấu tranh với những quan điểm cơ hội, xét lại của các nhà lãnh đạo Quốc tế II, như Béc-xtanh, Cau-xky,...; đấu tranh với những quan điểm sai lầm của Plê-kha-nốp, Tờ-rốt-xki,  Bu-kha-rin,  Di-nô-vi-ép,... Thông qua đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, V.I. Lê-nin đã bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác lên một giai đoạn mới - giai đoạn Lê-nin trên cả ba bộ phận cấu thành là triết học, kinh tế học chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học phù hợp với điều kiện lịch sử mới và phù hợp với những thành tựu mới nhất trong khoa học tự nhiên ở thời kỳ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. V.I. Lê-nin đã từng gọi chủ nghĩa duy vật mác-xít là “chủ nghĩa duy vật chiến đấu”, nghĩa là nó không ngừng đấu tranh chống lại các quan điểm duy tâm, siêu hình, cơ hội, xét lại, các quan điểm muốn bảo vệ trật tự tư sản. Vận dụng chủ nghĩa Mác một cách sáng tạo vào thực tiễn nước Nga, V.I. Lê-nin và Đảng Bôn-sê-vích đã lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân Nga tiến hành thắng lợi Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, mở ra một thời đại mới trong sự phát triển của xã hội loài người - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga là sự khẳng định tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đường lối của Lê-nin, là sự bác bỏ mạnh mẽ nhất, quyết định nhất, có tính thuyết phục nhất đối với các quan điểm sai trái, thù địch lúc bấy giờ.

Từ khi ra đời cho đến nay, trong hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng đi sâu nhận thức chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam và thời đại. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải nắm vững và vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp Mác - Lê-nin vào thực tiễn cách mạng, từ đó đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Cần tỉnh táo để nhìn nhận sự việc

 

( tiếp theo “dư luận trái chiều” thực tế nó gì và như thế nào?)

Khi nhìn nhận một sự vật, hiện tượng, chúng ta cần phải rõ thông tin và có sự phân tích đa chiều thì mới có thể nhận rõ bản chất của sự vật, hiện tượng. Đối với vụ án xảy ra ở thôn Hoành, xã Đồng Tâm cũng vậy. Nguyên nhân sâu xa bắt nguồn từ lợi ích về đất đai và sự bất chấp, coi thường pháp luật của một số người. Sự việc bị đẩy đi xa hơn bởi sự kích động có tính “hậu thuẫn” từ một số người có tư duy trục lợi, một số tổ chức phản động và một số tổ chức nước ngoài luôn muốn can thiệp vào các vấn đề nội bộ của Việt Nam. Cụ thể trong vụ việc này là họ muốn tìm cớ để “gửi cái chân con cáo vào nhà thỏ”, hòng từ đó có thể làm thay đổi, tiến tới điều chỉnh các vấn đề liên quan tới luật pháp, chính sách ở Việt Nam, phục vụ cho mục đích của họ. Thế nên khi gặp sự việc ở Đồng Tâm, họ đã bám riết, tìm mọi cách công kích, nhằm “châm lửa” và “thổi bùng ngọn lửa”, trong đó, một số người của “tổ đồng thuận” ở thôn Hoành rất có thể là đối tượng đã được họ lựa chọn để làm phương tiện. Một phần nữa là do một số người trong “tổ đồng thuận” thiếu hiểu biết về pháp luật, lại bị mối lợi làm cho mất lý trí, mất đi sự tỉnh táo cần thiết, nên đã tiếp nhận sự kích động, xúi bẩy và đã dẫn đến hành vi phạm pháp, phải chịu sự trừng phạt của pháp luật. Hiện tượng này cũng đã từng xảy ra ở một số địa phương, cả ở đồng bằng, cả ở vùng sâu, vùng xa, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở cơ sở. Còn thông tin cho rằng, các cơ quan, đơn vị “cưỡng chế thu hồi đất ở sân bay Miếu Môn để sử dụng vào mục đích riêng" là hoàn toàn bịa đặt, không có cơ sở.

Về số diện tích đất mà những người trong “tổ đồng thuận” đòi hỏi ở đồng Sênh cần phải nói rõ là: Trong Quyết định số 113/TTg ngày 14-4-1980, Thủ tướng Chính phủ giao cho Bộ Quốc phòng diện tích đất là 208ha để xây dựng sân bay Miếu Môn. Sau khi có quyết định, đơn vị quản lý đất (Quân chủng Phòng không-Không quân) đã phối hợp với các huyện Chương Mỹ, Mỹ Đức (tỉnh Hà Sơn Bình trước đây) đo đạc và cắm 16 mốc giới trên thực địa (sau tăng dày thêm 41 mốc, tổng cộng là 57 mốc), dưới sự chứng kiến, xác nhận của chính quyền các xã liên quan là: Mỹ Lương, Trần Phú, Đồng Lạc (Chương Mỹ) và Đồng Tâm (Mỹ Đức). Năm 2012 (khi chưa xảy ra hiện tượng tranh chấp), Bộ Quốc phòng cho đo đạc lại diện tích đất sân bay Miếu Môn dựa trên các mốc giới đã cắm. Kết quả, diện tích sân bay Miếu Môn là 236,7ha, nhiều hơn 28,7ha theo quyết định giao đất của Thủ tướng Chính phủ. Diện tích 28,7ha đất tăng thêm này nằm hoàn toàn trên địa bàn hai xã Mỹ Lương và Trần Phú (Chương Mỹ). Từ thực tế này, ngày 20-10-2014, UBND thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số 5383/QĐ-UBND, giao toàn bộ 236,7ha đất thuộc địa giới hành chính các xã: Mỹ Lương, Trần Phú, Đồng Lạc (Chương Mỹ) và xã Đồng Tâm (Mỹ Đức) cho Bộ Quốc phòng để xây dựng các công trình quốc phòng. Trong Kết luận thanh tra số 2346/KL-TTTP-P5 ngày 19-7-2017 của Thanh tra TP Hà Nội đã kết luận: “Toàn bộ diện tích 239,9ha đất sân bay Miếu Môn (gồm: Nông trường Lương Mỹ 130,74ha; Hợp tác xã Hữu Văn 1ha; Hợp tác xã Trần Phú 45,8ha; Hợp tác xã Đồng Tâm 47,36ha; K66, Bộ tư lệnh Pháo binh 5ha; Hợp tác xã Vôi đá Trần Phú 2ha; Xí nghiệp Vôi đá Miếu Môn 3ha và Xưởng A31, Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không-Không quân là 5ha), trong đó diện tích đất thuộc địa giới hành chính xã Đồng Tâm là 64,66ha (gồm: Nông trường Quốc doanh Lương Mỹ 14,3ha; Xí nghiệp Vôi đá Miếu Môn 3ha và Hợp tác xã Đồng Tâm 47,36ha)... Trong số diện tích 239,9ha, sau khi trừ đi 2,5ha đường giao thông và sai số đo đạc là 0,7ha thì toàn bộ đất sân bay Miếu Môn là 236,7ha là đất quốc phòng”. Theo thông tin chúng tôi được biết, trong hồ sơ quản lý đất nông nghiệp của UBND xã Đồng Tâm thì xã Đồng Tâm không có đất nông nghiệp với diện tích 49ha, hoặc 59ha ở xứ đồng Sênh như ông Lê Đình Kình và một số người dân nêu.

Phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án đặc biệt nghiêm trọng xảy ra tại thôn Hoành, xã Đồng Tâm đã kết thúc. Bản án Hội đồng xét xử vừa tuyên, bản thân các bị cáo cũng thấy đúng người, đúng tội. Bản án này đã gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh những đối tượng coi thường pháp luật, đồng thời cũng là lời cảnh cáo đối với mọi hành động xúi bẩy, kích động của một số kẻ cơ hội chính trị, chuyên lợi dụng sự nhẹ dạ, cả tin, thiếu hiểu biết của một số người để biến họ thành phương tiện, quân cờ cho tham vọng mờ ám của mình.

“DƯ LUẬN TRÁI CHIỀU” THỰC TẾ NÓ GÌ VÀ NHƯ THẾ NÀO?

 Chắp vá thông tin, dựng chuyện, bịa chuyện

Khi tìm hiểu về những người được cho là đang “đấu tranh cho dân chủ”, chúng tôi nhớ lại vụ một số đối tượng quá khích đập phá tài sản của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp ở Bình Dương năm 2014 và vụ Nhà máy Formosa gây ô nhiễm môi trường tại một số tỉnh ven biển Bắc Miền Trung năm 2016. Trong các vụ việc này, một số người cũng lấy danh nghĩa là “đấu tranh cho dân chủ” để tạo ra hàng trăm bài viết, video clip, đăng trên mạng xã hội và một số báo điện tử nước ngoài đề cập đến vụ việc. Trong số đó, có nhiều bài viết mang tính bịa đặt, quy chụp, hoặc chắp vá thông tin, hình ảnh, dựng chuyện, bịa chuyện, hòng làm lung lạc xã hội. Chẳng hạn như các video clip nói về ô nhiễm môi trường ở Vũng Áng (Hà Tĩnh), nhưng hình ảnh thì cóp nhặt trên mạng và cơ bản là hình ảnh ở nước ngoài. Trong số tác giả làm ra các sản phẩm giả dối này có cả những người một thời được coi là trí thức và họ luôn trưng ra cái học hàm, học vị nhằm thu hút dư luận. Những bài viết của họ thay vì tập trung bàn giải pháp, hiến kế với Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các địa phương để nhanh chóng khắc phục hậu quả, đồng thời tăng cường công tác quản lý, bảo đảm cho môi trường ngày một tốt hơn, luật pháp nghiêm minh hơn... thì họ lại chỉ tập trung chỉ trích công tác quản lý, chỉ trích chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước trong phát triển kinh tế gắn với bảo đảm môi trường... Có những người còn lợi dụng mạng xã hội, lập nhóm, lập hội, công khai hô hào, kích động người dân biểu tình, tuần hành, đập phá tài sản của nhà nước, doanh nghiệp. Hậu quả là hàng chục người bị xúi giục phạm pháp và đã bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Khi một số người dân vướng vào vòng lao lý, thì chính những người từng xúi giục họ vẫn “ăn ngon, ngủ yên” và họ tiếp tục vờ vĩnh viết thư, viết báo cáo... gửi đi chỗ này, chỗ kia, hòng kêu gọi "cộng đồng", kêu gọi "tổ chức quốc tế" vào cuộc để “giải cứu” những người phạm pháp. Họ thừa hiểu rằng, sẽ chẳng có “tổ chức quốc tế” nào có thể bênh vực cho những người vi phạm pháp luật.

Đối với vụ án đặc biệt nghiêm trọng xảy ra ở thôn Hoành, xã Đồng Tâm cũng thế. Khi vụ việc manh nha, vẫn chủ yếu là những con người đã tham gia kêu gọi, hô hào trong các vụ việc trước đây, lại xuất đầu lộ diện. Họ cũng khởi đầu sự việc một cách quen thuộc, đó là viết bài, làm video clip đăng tải trên mạng xã hội và gửi để đăng/phát tại một số trang báo điện tử nước ngoài chuyên châm chọc, xuyên tạc tình hình thực tiễn dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Nội dung các bài viết của họ cơ bản là thể hiện quan điểm chính trị, cuối cùng là quy kết, đổ lỗi cho chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Họ cho rằng cần phải cải cách thể chế, thay đổi hệ thống chính sách, pháp luật... cuối cùng là phủ nhận vai trò lãnh đạo xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận vai trò quản lý của Nhà nước đối với xã hội. Đọc những bài viết này sẽ thấy rõ mưu mô hướng lái dư luận của các tác giả. Còn sau khi xảy ra vụ việc ngày 9-1-2020 ở thôn Hoành, những người này đã làm một bản báo cáo dài cả mấy chục trang, có tính chất trần tình sự việc, quy chụp cách xử lý của cơ quan chức năng theo kiểu một chiều, võ đoán. Rõ ràng họ không chịu tìm hiểu cặn kẽ nguyên nhân của vụ việc và không chịu thừa nhận bản chất sâu xa, cốt lõi của vụ việc là: Tham vọng trục lợi trên đất quốc phòng của một số người biến chất. Trong các bài viết, họ chỉ lấy vụ việc ở thôn Hoành, lấy những con người trong “tổ đồng thuận” để làm cái cớ, làm tấm bình phong để phục vụ, che đậy cho mục đích, dã tâm cơ hội chính trị của mình. Thế nên có thể thấy, những con người này chẳng khác gì những con cú nấp trong bóng tối.

 

DƯỚI GÓC NHÌN VỀ CHÍNH TRỊ ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC
 TRONG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NGÀY NAY

Ngày nay, chủ nghĩa Tư bản có những điều chỉnh thích nghi, nhưng bản chất vẫn không hề thay đổi. Cụ thể: Về chính trị, các chính phủ, nghị viện tư sản hiện đại cũng được tổ chức như một công ty cổ phần tư bản chủ nghĩa. Sự tham dự của các đảng đối lập, kẻ cả Đảng Cộng sản trong chính phủ hoặc trong nghị viện cũng chỉ được chấp nhận ở mức độ chưa đe dọa quyền lực không chế của tầng lớp tư sản độc quyền. Với ý nghĩa đó, “đa nguyên tư sản” được tầng lớp tư sản độc quyền sử dụng vừa để làm dịu đi làn sóng đấu tranh của các tầng lớp nhân dân tiến bộ chống sự bóc lột, khống chế của tư bản lũng đoạn, vừa làm suy yếu sức mạnh của các lực lượng đối lập. Còn một khi thấy xuất hiện nguy cơ bị mất quyền chi phối thì ngay lập tức sẽ có giải tán chính phủ, quốc hội hoặc thiết quân luật, tình trạng khẩn cấp, thậm chí đảo chính quân sự. Những gì xảy ra ở Chilê năm 1973, nước Nga năm 1993 và rất nhiều nơi khác cho thấy rõ điều đó...

Là khách hàng chính trên thị trường tín dụng vay nợ trong nước và nước ngoài, quá trình sử dụng vốn vay không đem lại hiệu quả tương xứng để trả nợ cho nên những năm gần đây, ở hầu hết các nước tư bản phát triển, nợ công đã trở thành phổ biến. Một số nước đã lâm vào khủng hoảng nợ công, thậm chí đối mặt với nguy cơ vỡ nợ…. Đó là những dấu hiệu bất lực của Nhà nước của giai cấp tư sản hiện nay./.


LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 04/10

“Cán bộ chăm chỉ làm việc chưa đủ, cần phải biết làm việc cho có phương pháp. Phải cần mà phải cẩn nữa”. Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Thiếu óc tổ chức - một khuyết điểm lớn trong các ủy ban nhân dân”, bút danh Chiến Thắng, đăng trên Báo Cứu quốc, số 58, ngày 04 tháng 10 năm 1945. Ngày này, trên báo Cứu Quốc đăng hai bài viết của Bác. Trong bài “Chống nạn thất học”, nhân danh Chủ tịch Chính phủ lâm thời, tác giả viết: “Nay chúng ta đã giành được quyền độc lập. Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này, là nâng cao dân trí... Quốc dân Việt Nam! Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh nước giàu, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ...”. Còn trong bài “Thiếu óc tổ chức - một khuyết điểm lớn trong các Ủy ban nhân dân”, Bác đã phân tích thực tiễn đang tồn tại trong các Ủy ban nhân dân để đưa ra những nhận định và giải pháp khắc phục tình trạng lộn xộn, kém khoa học: “Có kế hoạch làm việc nhưng sắp đặt công việc không khéo, phân công không sáng suốt thì việc cũng đến hỏng. Người nói giỏi lại cho vào việc chỉ cần khéo chân tay, người viết giỏi lại cho làm việc về lao động thì nhất định không thể nào thành công được. Việc dùng nhân tài, ta không nên căn cứ vào những điều kiện quá khắt khe... Tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy. Biết dùng người như vậy, ta sẽ không lo gì thiếu cán bộ... Cán bộ chăm chỉ làm việc chưa đủ, cần phải biết làm việc cho có phương pháp. Phải cần mà phải cẩn nữa”. Đây là thời điểm đất nước mới giành được độc lập, chính quyền cách mạng mới được thiết lập, phải đối diện với một khối lượng lớn công việc cần được giải quyết, đòi hỏi đội ngũ cán bộ các cấp phải dốc hết tâm huyết, nhiệt tình, trách nhiệm, song cần phải có sự tổ chức khoa học, hiệu quả. Do vậy, Bác đã viết bài để căn dặn đội ngũ cán bộ các cấp chỉ làm việc chăm chỉ là chưa đủ, mà phải làm việc khoa học, mới mang lại hiệu quả cao trong tổ chức, sắp xếp công việc của chính quyền mới. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém” và “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Thấu suốt quan điểm của Người, trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng ta luôn coi cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của dân tộc, chế độ; là khâu then chốt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nên đã dày công tổ chức, đào tạo, rèn luyện, xây dựng được đội ngũ cán bộ tận tụy, kiên cường, chất lượng ngày càng cao, là nhân tố quan trọng đóng góp vào những thành quả vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Đội ngũ cán bộ quân đội được giao trọng trách lãnh đạo, chỉ huy, quản lý từ cấp cơ sở đến toàn quân; là lực lượng nòng cốt trong thực hiện đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, nhân tố có vai trò quyết định trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của Quân đội ta. Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã có nhiều chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Quân đội làm nòng cốt để toàn quân hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Chất lượng toàn diện cả về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, tác phong, phong cách lãnh đạo, chỉ huy của đội ngũ cán bộ ngày càng được nâng lên, có phương pháp, tác phong công tác khoa học, luôn nêu cao tính đảng, tính chiến đấu, nói và làm theo chỉ thị, nghị quyết. Luôn chủ động, sáng tạo, quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có ý thức kỷ luật cao, tận tâm, tận lực với công việc, gương mẫu cả trong lời nói và việc làm, có khả năng xử lý những vấn đề phức tạp do thực tiễn đặt ra, có uy tín cao trước bộ đội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Hồng Hải 30A

 

VAI TRÒ CỦA TƯ BẢN TÀI CHÍNH
TRONG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NGÀY NAY
 

Ngày nay, chủ nghĩa Tư bản có những điều chỉnh thích nghi, nhưng bản chất vẫn không hề thay đổi. Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Từ giữa thập kỷ 70 và nhất là từ sau khi Liên Xô tan rã, để thích ứng với điều kiện mới, chủ nghĩa tư bản thế giới đã ra sức tự điều chỉnh, thúc đẩy các chính sách "tự do mới" trên quy mô toàn cầu; và nhờ đó hiện vẫn còn tiềm năng phát triển. …Các nhà nước, các chính phủ tư sản ở Phương Tây đã bơm những lượng tiền khổng lồ để cứu các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia, các tổ hợp công nghiệp, tài chính, ngân hàng, thị trường chứng khoán, nhưng không mấy thành công.

... Những tình huống "phát triển xấu", những nghịch lý "phản phát triển", từ địa hạt kinh tế - tài chính đã tràn sang lĩnh vực xã hội, làm bùng nổ các xung đột xã hội, và ở không ít nơi từ tình huống kinh tế đã trở thành tình huống chính trị với các làn sóng biểu tình, bãi công, làm rung chuyển cả thể chế. ”[1]

Vai trò mới của tư bản tài chính và bọn đầu sỏ tài chính ngày càng rõ rệt trong thế giới đương đại. Sức mạnh của tư bản tài chính cá biệt hiện nay cũng đã có không ít trường hợp vượt trội hơn cả tiềm lực kinh tế một số quốc gia đang phát triển. Khủng hoảng tài chính - tiền tệ quốc tế cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI có nguyên nhân bắt nguồn từ sự lũng đoạn của bọn đầu sỏ tài chính. Đây cũng là một thách thức rất lớn đối với nhiều nước trong quá trình hội nhập quốc tế. Sự chuyển giao công nghệ gắn với xuất khẩu tư bản ngày càng chặt chẽ, đặc biệt là trong thời đại công nghệ cao. Độc quyền về sở hữu trí tuệ là nguồn thu nhập ngày càng quan trọng của các tập đoàn lớn và của các nước tư bản phát triển; đồng thời cũng làn nguyên nhân dẫn đến sự lệ thuộc và thua thiệt của các nước kém phát triển. “Chủ nghĩa thực dân công nghệ” là một khái niệm : càng phổ biến hiện nay trong quan hệ kinh tế quốc tế. Hiện tượng các nước NICs châu Á là sản phẩm đặc thù của kỷ nguyên Chiến tranh lạnh. Nó sẽ không thể lặp lại một lần nữa vì lịch sử không thể lặp lại một lần nữa kỷ nguyên đó. Các nên kinh về mới nổi (nhóm BRICS) là một thực thế mới xuất hiện gần đây trong thế giới đương đại cũng còn xa mới đạt đến vai trò đáng kể vị lợi ích quốc gia khác biệt nhiều hơn tương đông để có thể hợp tác với nhau chặt chẽ….

[1] Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng:"Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam." Nhân dịp kỷ niệm 131 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 -19/5/2021) và bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 (ngày 23/5/2021),

 

 

SỰ CAN DỰ CỦA NHÀ NƯỚC TƯ SẢN- NHỮNG BIỂU HIỆN MỚI CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN ĐỘC QUYỀN NHÀ NƯỚC TRONG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NGÀY NAY

 Ngày nay, chủ nghĩa Tư bản có những điều chỉnh thích nghi, nhưng bản chất vẫn không hề thay đổi. Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Từ giữa thập kỷ 70 và nhất là từ sau khi Liên Xô tan rã, để thích ứng với điều kiện mới, chủ nghĩa tư bản thế giới đã ra sức tự điều chỉnh, thúc đẩy các chính sách "tự do mới" trên quy mô toàn cầu; và nhờ đó hiện vẫn còn tiềm năng phát triển. Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó. Các cuộc khủng hoảng vẫn tiếp tục diễn ra. Đặc biệt là, năm 2008-2009 chúng ta đã chứng kiến cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế bắt đầu từ nước Mỹ, nhanh chóng lan rộng ra các trung tâm tư bản chủ nghĩa khác và tác động đến hầu hết các nước trên thế giới. Các nhà nước, các chính phủ tư sản ở Phương Tây đã bơm những lượng tiền khổng lồ để cứu các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia, các tổ hợp công nghiệp, tài chính, ngân hàng, thị trường chứng khoán, nhưng không mấy thành công... ”[1]

Dù có biến đổi để thích nghi, chủ nghĩa tư bản đương đại vẫn là chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước. Vai trò của nhà nước và của thị trường trong các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đương đại có những sự khác biệt tương đối (chủ nghĩa tư bản tự do ở Mỹ và Anh; kinh tế thị trường xã hội ở lục địa châu Âu: mô hình Nhật Bản và các nước NIC, châu Á... ) là một thực tế hiển nhiên. Để cứu vãn sự sụp đổ của mình. Nhà nước tư sản không thể không thể hiện vai trò của mình trong điều chỉnh thích nghi. Cụ thể:

Chỉ tiêu ngân sách nhà nước là công việc thuộc quyền của giới hành pháp bị giới hạn, thậm chí bị quản lý chặt chẽ băng luật pháp. Giới hạn bằng luật ngân sách nhà nước. Có nghĩa là khác xa với thời mà IM.Kemes quan niệm: “Chính phủ có thể chôn cái két bạc của mình xuống rồi lại thuê một kẻ khác đào lên”[2]. Chống lạm phát và chống thất nghiệp được ưu tiên ngang nhau; dự trữ quốc gia trở thành nguồn vốn chỉ có thể được sử dụng trong những tình huống đặc biệt, cổ phần của nhà nước trong các ngân hàng và công ty lớn trở thành phổ biến.

Vai trò của đầu tư nhà nước để khắc phục những chi phí tốn kém trong nghiên cứu khoa học cơ bản, trong xây dựng kết cấu hạ tầng và giải quyết các nhu cầu mang tính xã hội ngày càng tăng lên ở các nước tư bản phát triển. Nhà nước đã dùng ngân sách của mình để tạo nên những cơ sở vật chất, gánh chịu các rủi ro lớn, còn các công ty tư nhân tập trung vào các lĩnh vực có lợi nhuận hấp dẫn.

Nhờ lợi thế vượt trội của mình về tiềm lực khi tham gia đấu thầu các dự án đầu tư bằng ngân sách nhà nước, cho nên các tập đoàn độc quyền lớn thường thu được lợi nhuận khổng lồ trong thực hiện các đơn đặt hàng thuộc các dự án đầu tư của nhà nước.

Nhà nước tư sản hiện đại là nhân tố quyết định trong ổn định kinh tế vĩ mô thông qua thu - chi ngân sách, kiểm soát lãi suất, trợ cấp và trợ giá, kiểm soát tỷ giá hối đoái, mua sắm công... Trong những điều kiện nhất định như khủng hoảng kinh tế, ngân sách nhà nước còn được dùng để cứu những tập đoàn lớn khỏi nguy cơ phá sản. Ví dụ: Ngày 28-2-2009, Chính phủ Mỹ nâng cổ phần nắm giữ trong Citigroup lên mức 36%. Citigroup đã được Chính phủ Mỹ bơm cho 45 tỷ USD và bảo lãnh cho 301 tỷ USD tài sản độc hại. AIG đã được Chính phủ Mỹ giải cứu hai lần bằng tổng số tiền lên tới 150 tỷ USD trong năm 2008. Đổi lại, Chính phủ Mỹ đã kiểm soát mức cổ phần gần 80% của hãng bảo hiểm này. Chính phủ Anh đã tung ra một gói giải cứu ngân hàng thứ hai trị giá khoảng 145 tỷ USD.

Ngân sách nhà nước còn được dùng để viện trợ ưu đãi, thậm chí không hoàn lại cho nước ngoài để tạo điều kiện, mở ra các cơ hội cho các tập đoàn độc quyền tới đó kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận. Tại một số nước, định hướng ưu tiên cho các vấn đề xã hội trong chi tiêu ngân sách nhà nước được luật pháp hóa. Trong số đó có phần chi cho các hoạt động bảo vệ môi trường, an sinh xã hội...

Nhờ đó, ở những nước phát triển, môi trường xanh và sạch hơn, có nước như Na Uy có giáo dục và y tế miễn phí toàn dân; ở một số nước châu Âu, người dân thực tế được hưởng phúc lợi xã hội khá cao. Nhưng sẽ là sai lầm nếu như coi những điều tốt đẹp đó là sự thức tính của giai cấp tư sản hay là sự nhân đạo hóa của chủ tư bản. Đó thực ra là những thành quả của cuộc đấu tranh bền bỉ nhiều năm của nhân dân tiến bộ ở những nơi đó, là những sự “chuẩn bị vật chất của chủ nghĩa xã hội" mà chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước tạo ra trong quá trình phát triển của nó. Hoặc nổi như C Mác: đó là những thành tựu của “văn minh tư sản”.

[1] Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng:"Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam." Nhân dịp kỷ niệm 131 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 -19/5/2021) và bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 (ngày 23/5/2021).
[2] Xem Lịch sử các học thuyết kinh tế, Nxb. Tư tưởng, M.1983, tr.246-247 (tiếng Nga).
 

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

 Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước đang ráo riết đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta. Dễ thấy rằng, bất kỳ một sự kiện chính trị nào diễn ra hay vấn đề nào đó xã hội quan tâm thì các thế lực thù địch sẽ dùng nhiều biện pháp để xuyên tạc nhằm làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, để có thể gây mất ổn định chính trị theo những mưu đồ của chúng.

ĐẨY LÙI NHỮNG TÁC PHẨM “NÚP BÓNG NGHỆ THUẬT” LÀM THA HÓA TƯ TƯỞNG CON NGƯỜI Thời đại hội nhập quốc tế và xã hội phát triển góp phần làm cho đời sống văn học-nghệ thuật (VHNT) ngày càng phong phú. Song VHNT cũng là một lĩnh vực hết sức nhạy cảm, phức tạp. Lợi dụng các nền tảng mạng xã hội như Facebook, Zalo, YouTube và lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí, một số “văn tài tha hóa” đã cho ra đời những sản phẩm "núp bóng tác phẩm nghệ thuật", làm tha hóa tư tưởng con người và tác động tiêu cực đến đời sống tinh thần xã hội. Văn nghệ sĩ tha hóa sẽ cho ra những đứa con tinh thần lạc lối, nguy hại Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”(1). Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, những văn nghệ sĩ yêu nước đã sử dụng một loại vũ khí có sức mạnh “thanh cao mà đắc lực”-thứ vũ khí không được chế tác bằng kim loại, không gây sát thương, nhưng mang lại hiệu quả chiến đấu to lớn, góp phần làm nên những chiến thắng lẫy lừng của dân tộc Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ở thế kỷ 21. Nhà thơ Sóng Hồng(2) đã viết: “Dùng bút làm đòn xoay chế độ/ Mỗi vần thơ: Bom đạn phá cường quyền” ("Là thi sĩ"). Những vần thơ như thay cho lời khẳng định về giá trị, vị trí, vai trò của VHNT trong kháng chiến giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta xác định, VHNT là lĩnh vực rất quan trọng để bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, hoàn thiện nhân cách, đạo đức, trí tuệ, bản lĩnh của con người. Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) khẳng định: “VHNT là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn hóa; là nhu cầu thiết yếu, thể hiện khát vọng chân, thiện, mỹ của con người; là một trong những động lực to lớn, trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam... VHNT Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế phải phát triển toàn diện và mạnh mẽ, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ”(3). Ngày nay, trong điều kiện đất nước phát triển, đặc biệt là sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tư duy sáng tạo văn học cũng như tâm lý học sáng tạo nghệ thuật của văn nghệ sĩ đã được đổi mới, mở rộng và phát triển mạnh mẽ, hội nhập cùng với xu hướng hiện đại của các nước tiên tiến trên thế giới. Cũng từ đó, VHNT ngày càng có cách nhìn phóng khoáng hơn, biên độ sáng tạo được mở rộng hơn, hệ thống tiếp nhận cũng được định hình theo sự phân tầng của tư duy nghệ sĩ; góp phần đổi mới, đa dạng hơn về đề tài, nội dung tư tưởng. Tuy nhiên, thời gian qua xuất hiện một số văn nghệ sĩ đã bị các thế lực thù địch lợi dụng, lôi kéo, mua chuộc; hay thậm chí chính họ bị tha hóa về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Những đối tượng này thành lập các hội, nhóm, “sáng tạo” ra một thứ nghệ thuật đồi trụy "núp bóng" văn hóa, văn chương; tạo ra những cái gọi là “tác phẩm nghệ thuật” thiếu chuẩn mực, thiếu đạo đức, chà đạp truyền thống lịch sử, làm ô uế thuần phong mỹ tục của dân tộc với những tư duy lệch lạc, những câu chuyện rẻ rúng, những thứ ngôn từ thô tục... để phủ nhận thành quả cách mạng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã đổ biết bao xương máu mới giành được. Thậm chí, “tác phẩm nghệ thuật” ấy được lồng ghép và tạo dựng những hình ảnh dung tục với một lối tư duy phi truyền thống, phi văn chương, phi nghệ thuật, phi chính trị... nhằm mục đích tuyên truyền, kích động, bôi nhọ lịch sử, bôi nhọ lãnh tụ, bôi nhọ anh hùng dân tộc, bôi nhọ nền tảng truyền thống văn hóa ngàn đời của dân tộc...Ví như những cuốn sách: “Bên kia bờ ảo vọng”, “Một cơn gió bụi”, “Tây Hùng Vương”, “Mối chúa”, “Đất mồ côi”... làm cho người tiếp nhận, nhất là thế hệ trẻ bị hoang mang, dẫn đến nhận thức lệch lạc, đánh mất niềm tin vào cuộc sống, trật tự xã hội bị đảo lộn, tư duy con người bị xô lệch, mất phương hướng. Xây dựng phòng tuyến văn hóa đủ sức ngăn ngừa những tác phẩm lệch lạc, xấu độc Đảng, Nhà nước ta và các cơ quan quản lý không hạn chế, kìm hãm tư duy sáng tạo nghệ thuật của văn nghệ sĩ, nhưng định hướng, mong muốn, khuyến nghị các văn nghệ sĩ cần đặt những sản phẩm sáng tạo-những thành quả lao động nghệ thuật-vào đúng vị trí của nó và phù hợp với các giá trị chuẩn mực của cộng đồng, xã hội. Trong bối cảnh thông tin bùng nổ hiện nay, cần thực hiện nhiều giải pháp để xây dựng phòng tuyến văn hóa đủ sức ngăn ngừa hiệu quả những hệ lụy tiêu cực từ các tác phẩm VHNT có nội dung thấp kém, xấu độc. Giải pháp có ý nghĩa quan trọng hàng đầu là tiếp tục quán triệt sâu sắc, thực hiện hiệu quả những định hướng của Đảng về VHNT gắn với phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới. Đặc biệt chú trọng quán triệt và thực hiện tốt nội dung Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) "Về tiếp tục xây dựng và phát triển VHNT trong thời kỳ mới" và những chương trình, kế hoạch về phát triển văn hóa, VHNT mà các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương và chính quyền các địa phương đã xác định. Coi trọng và phát huy vai trò, trách nhiệm của những người làm nhiệm vụ “gác cổng nghệ thuật”, những cơ quan trực tiếp làm công tác biên tập, xuất bản, phát hành, tránh để những sản phẩm phi nghệ thuật được xuất bản, phát tán, lưu hành trong đời sống xã hội. Các cơ quan quản lý, cơ quan biên tập, xuất bản phải thường xuyên bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ làm công tác biên tập; phối hợp chặt chẽ với cơ quan liên quan để phân tích, sàng lọc và nắm được tư tưởng văn nghệ sĩ thông qua sản phẩm sáng tạo. Bên cạnh đó, những người làm công tác quản lý VHNT phải thực sự nhạy bén trong nhận định, đánh giá tác phẩm nghệ thuật, biết phân biệt rõ những tác phẩm nghệ thuật chân chính với những sản phẩm “núp bóng nghệ thuật” được tạo ra bởi tư duy thấp hèn, phục vụ những lợi ích cá nhân không lành mạnh và mang động cơ đen tối. Đối với đội ngũ văn nghệ sĩ và cán bộ, đảng viên, cần nhận thức đầy đủ về vai trò, tầm quan trọng của VHNT trong đời sống tinh thần của nhân dân. Lĩnh vực VHNT là một mặt trận mà những “chiến sĩ văn hóa” cần đem hết tài năng, trí tuệ và nhiệt huyết của mình để cống hiến, sáng tạo những tác phẩm VHNT có giá trị. Cùng với đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần đấu tranh với những tác phẩm “núp bóng văn hóa”, những tác phẩm phi nghệ thuật và những cuốn sách có tư tưởng lệch lạc, ý đồ chống phá Đảng, Nhà nước, bôi nhọ lịch sử dân tộc, ảnh hưởng tiêu cực đến tư tưởng, nhận thức, tình cảm của nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Chúng ta tôn trọng sự tự do sáng tạo nhưng phải quan tâm bồi dưỡng tư tưởng chính trị, quan điểm, lập trường cho văn nghệ sĩ. "Lá, cành" của "cây xanh" văn nghệ sĩ phải luôn "quang hợp" ánh sáng lý tưởng cách mạng, nếu không, "cây" sẽ bị héo và "quả" sẽ sài đẹn. Lịch sử nghệ thuật cho thấy, các nghệ sĩ lớn luôn tự do sáng tạo theo một xu hướng nhất định. Sáng tạo VHNT theo những nguyên lý cơ bản của mỹ học Mác-xít là sáng tạo theo tinh thần nhân văn, tiến bộ, phù hợp với quy luật tư tưởng và tình cảm tâm lý tiếp nhận của con người. Sứ mệnh cao cả nhất của văn nghệ sĩ là tự do sáng tạo vì nước, vì dân, vì chủ nghĩa xã hội, vì những phẩm giá tốt đẹp của con người và giá trị chân, thiện, mỹ của xã hội. Trong xã hội hiện đại, để góp phần cho VHNT đi đúng hướng và có sức sống dồi dào, sức lan tỏa sâu rộng, các cơ quan chức năng và các hội chuyên ngành VHNT cần tiếp tục tổ chức các chuyến đi thực tế để văn nghệ sĩ có điều kiện tìm hiểu kỹ hơn về đời sống xã hội, từ đó có những cảm nhận vui buồn, cảm thông và chia sẻ với các tầng lớp nhân dân, nhất là người lao động. Vốn sống của văn nghệ sĩ không chỉ loanh quanh trong một cơ quan, địa phương, ngành nghề mà phải vươn ra khắp mọi miền Tổ quốc. Sinh thời, nhà văn Nam Cao từng nhấn mạnh: “Sống đã rồi hãy viết”. Vì lẽ đó, việc duy trì tổ chức những chuyến đi thực tế để các văn nghệ sĩ được sống, được hít thở, được đập cùng nhịp đập trái tim của nhân dân ở mọi lúc, mọi nơi trên đất nước Việt Nam sẽ góp phần giúp họ am hiểu cuộc đời, biết chắt lấy tinh hoa đời sống để xây dựng mô hình, chất liệu, sức sống cho tác phẩm VHNT.
PHÊ PHÁN NHỮNG LUẬN ĐIỆU PHỦ NHẬN CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM Một trong những âm mưu của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam là đưa ra những quan điểm sai trái nhằm phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam. Sau khi Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch, phản động cấu kết với các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị đưa ra đủ thứ quan điểm, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Luận điệu chúng thường rêu rao là “Việt Nam lựa chọn con đường đi lên CNXH là một sai lầm lịch sử”, là ‘ảo tưởng”, là “thiên đường bánh vẽ”. Chúng cho rằng, nếu lấy mốc thời gian tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ra đời thì đến nay, đã gần 200 năm mà CNXH không trở thành hiện thực, bị sụp đổ ngay ở nước Nga-quê hương của V.I.Lênin và Cách mạng Tháng Mười. Một khi CNXH ở Liên Xô và Đông Âu không còn tồn tại thì ở Việt Nam cũng sẽ bị sụp đổ. Một câu hỏi chúng tự đặt ra: “Việt Nam quá độ đi đâu?”, rồi lại tự lèo lái dư luận rằng, Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN), lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; đi lên CNXH phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, chặng đường, có sự đấu tranh giữa “cái cũ và cái mới”, thế nên Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam không bao giờ vượt qua được các chặng đường quá độ gian khổ đó và không thể đi đến cái đích của CNXH . Sau khi Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu phấn đấu đến năm 2045 đưa nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng XHCN, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cho rằng, đó chỉ là một thứ “mị dân”. Theo lập luận của chúng, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ có vai trò lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, không đủ khả năng lãnh đạo trong công cuộc phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH), vì “những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới là do các nước tư bản đầu tư vào, chứ không phải do năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Dưới chiêu trò “bình mới rượu cũ”, các luận điệu nêu trên chủ yếu dựa vào một số lý thuyết chống cộng, chủ nghĩa duy vật máy móc, lý thuyết “hội tụ”, lý thuyết “xã hội hậu công nghiệp”, lý thuyết các nền văn minh... nhằm biện minh cho sự tồn tại của chế độ TBCN, phủ nhận tính khách quan của thời kỳ quá độ đi lên CNXH trong thời đại ngày nay. Không dừng lại ở đó, một số luận điệu còn tinh vi đánh tráo khái niệm, lấy hiện tượng để đánh đồng với bản chất, triệt để lợi dụng sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) để lớn tiếng tuyên truyền “CNXH chỉ là ảo tưởng”; trong khi lại cố tình khuếch trương, thổi phồng những thành quả của chủ nghĩa tư bản (CNTB) hiện đại, mà không thấy rõ bản chất bóc lột tinh vi của giai cấp tư sản và những bất công chưa thể giải quyết tận gốc trong lòng xã hội tư bản hiện nay. Mục đích chính trị phản động của các quan điểm sai trái phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam nhằm gây hoang mang, mất niềm tin, ru ngủ tinh thần cảnh giác cách mạng của nhân dân; sâu xa hơn, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận khả năng thắng lợi của con đường quá độ bỏ qua chế độ TBCN đi lên CNXH ở Việt Nam, từng bước chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo của CNTB. Việt Nam đi theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử Lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua đã khẳng định một chân lý: Đi theo con đường cách mạng XHCN và đi lên CNXH là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, phù hợp với khát vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã luận giải khoa học về sự thay thế của những hình thái KT-XH từ thấp đến cao là quá trình lịch sử-tự nhiên, là do vận động của những quy luật KT-XH khách quan. Với quan điểm duy vật biện chứng khoa học, các nhà kinh điển Mác-xít đã chỉ ra hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa tất yếu ra đời và thay thế hình thái KT-XH TBCN. Nó phải trải qua “một thời kỳ và hai giai đoạn”, đó là thời kỳ quá độ, giai đoạn đầu là CNXH, giai đoạn cao là cộng sản chủ nghĩa. Hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa sẽ phát triển cao hơn và khác về chất so với hình thái KT-XH TBCN nên phải trải qua quá trình cải biến cách mạng lâu dài; không bao giờ tự phát hình thành mà thông qua vận động của các quy luật về KT-XH, con đường đấu tranh cách mạng để xóa bỏ áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản và xây dựng xã hội mới. Hệ thống lý luận cơ bản đó của Chủ nghĩa Mác-Lênin là cách mạng, khoa học, được vận dụng thành công ở nước Nga từ năm 1917. CNXH từ lý luận trở thành hiện thực, từ một nước phát triển thành hệ thống chính trị thế giới đối lập với hệ thống TBCN trong hơn 7 thập niên. Về thực tiễn, CNXH hiện thực ra đời đã thể hiện tính ưu việt hơn CNTB. Công cuộc xây dựng CNXH ở nước Nga, sau đó là Liên Xô có thời gian chưa dài, nhưng đã giành được nhiều thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực. Sản lượng công nghiệp chiếm 20% tổng sản lượng công nghiệp thế giới; sản lượng điện đạt 440 tỷ kWh (gấp hơn 300 lần so với năm 1913; bằng 4 nước lớn là Anh, Pháp, Đức, Italy cộng lại); dầu mỏ đạt 353 triệu tấn, than 624 triệu tấn, thép 121 triệu tấn (vượt sản lượng của Mỹ). Có thể thấy, trong một thời gian ngắn, CNXH ra đời ở Liên Xô và nhiều nước XHCN tuy chưa hoàn thiện nhưng đã phát triển lớn mạnh về nhiều mặt, khác hẳn về chất so với CNTB. Điều đó cho thấy, CNXH là một hiện thực, hoàn toàn không phải là “giấc mơ”, cũng chẳng phải là “ảo tưởng về một thiên đường” như các thế lực thù địch rêu rao! Sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu (trước đây) chỉ là sự đổ vỡ của một mô hình cụ thể do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, chứ không phải do Chủ nghĩa Mác-Lênin hay lý tưởng về CNXH đã lỗi thời, lạc hậu. Mặc dù CNTB đạt được những thành tựu to lớn nhưng chủ yếu đem lại lợi ích cho giai cấp tư sản mà không vì lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân lao động. Những mâu thuẫn nội tại và đối kháng trong xã hội TBCN chỉ giải quyết bằng con đường tất yếu là cách mạng XHCN. Trong bối cảnh hiện nay, CNTB đã có những thích nghi, phát triển nhất định nhờ tận dụng được những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, toàn cầu hóa và kinh tế tri thức. Các nước XHCN đang ở giai đoạn khó khăn tạm thời, song theo quy luật phát triển khách quan của lịch sử, CNTB sẽ bị xóa bỏ, chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là CNXH ưu việt hơn sẽ ra đời, tồn tại và phát triển. Đối với cách mạng Việt Nam, những năm nửa đầu thế kỷ 20, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã có 30 năm bôn ba ở nước ngoài, đến các nước tư bản phát triển, đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm ra con đường cách mạng đúng đắn để giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, bóc lột, xâm lược và đô hộ của chủ nghĩa thực dân và phong kiến. Người khẳng định, muốn giành lại được độc lập cho dân tộc thì phải tiến hành con đường cách mạng vô sản và xây dựng chế độ XHCN. Từ năm 1930, “Chánh cương vắn tắt” của Ðảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được Hội nghị thành lập Ðảng thảo luận, thông qua đã xác định rõ đường lối của cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Năm 1991, Đảng đã ban hành “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH”, trong đó chỉ ra 6 đặc trưng cơ bản của chế độ XHCN ở Việt Nam. Đến Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã phát triển sáng tạo thành 8 đặc trưng của CNXH ở Việt Nam, trong đó đặc trưng bao trùm là “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Hơn 90 năm được rèn giũa, tôi luyện, thử thách trong thực tiễn cách mạng sôi động, phong phú, Đảng Cộng sản Việt Nam có bản lĩnh chính trị, có trí tuệ, có khả năng lãnh đạo thành công công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam. Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc lớn trong thế kỷ 20, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Khi chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) bị khủng hoảng, sụp đổ thì Đảng ta vẫn kiên định con đường đi lên CNXH, kiên trì đường lối đổi mới, giữ vững nguyên tắc “đổi mới nhưng không đổi màu”. Trải qua gần 40 năm tiến hành đổi mới, Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta đã đạt được thành tựu rất to lớn, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và có ý nghĩa lịch sử. Đại hội XIII của Đảng đánh giá khái quát: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay... Tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại”(1). Trong những chặng đường tới, Đảng ta đã có dự báo khoa học về 4 nguy cơ, những thách thức không nhỏ từ bên ngoài và ở trong nước đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Với phương châm vượt qua thách thức, tận dụng những cơ hội, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để thúc đẩy công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam phát triển nhanh và bền vững hơn, Đảng ta đặt ra mốc: “Phấn đấu đến giữa thế kỷ 21, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng XHCN”(2) là hoàn toàn có cơ sở khoa học đúng đắn và có tính khả thi. Với trí tuệ, khả năng và kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo cách mạng, được sự ủng hộ của nhân dân thì việc kiên định lựa chọn con đường đi lên CNXH cũng không ngoài mục đích nhân văn cao đẹp là tiếp nối truyền thống, xứng đáng với các thế hệ cha anh đã chiến đấu anh dũng, hy sinh vì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; đồng thời đáp ứng lòng mong đợi và phù hợp với khát vọng, mong muốn của gần 100 triệu người dân Việt Nam.

KHAI MẠC HỘI NGHỊ LẦN THỨ SÁU BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIII.


Hội nghị Trung ương lần thứ 6 nhằm hoàn thành về cơ bản việc triển khai nhiệm vụ quán triệt, thực hiện các nội dung, vấn đề lớn, cốt yếu của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
Sáng 3/10, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì, phát biểu khai mạc Hội nghị.
Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc điều hành Phiên khai mạc.
Tại Hội nghị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tập trung thảo luận, cho ý kiến và quyết định về các báo cáo, đề án liên quan đến một số vấn đề lớn, rất cơ bản và quan trọng: Về tình hình kinh tế-xã hội, ngân sách nhà nước năm 2022, dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, dự toán ngân sách nhà nước năm 2023 và kế hoạch tài chính-ngân sách nhà nước 3 năm 2023-2025; định hướng Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới; tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa X về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị và một số vấn đề quan trọng khác.
Hội nghị Trung ương lần này nhằm hoàn thành về cơ bản việc triển khai nhiệm vụ quán triệt, thực hiện các nội dung, vấn đề lớn, cốt yếu của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
Hầu hết các vấn đề cần bàn và quyết định đều rất quan trọng, nhưng cũng rất khó, phức tạp và nhạy cảm. Nhiều vấn đề đã có chủ trương, chính sách và đã được tiến hành từ lâu nhưng đến nay, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, cần tiếp tục được thực hiện ở tầm mức mới với những quyết tâm mới, quyết sách mới, nhằm đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới. Theo chương trình, hội nghị làm việc đến ngày 9/10./.


CẦN RÕ “ĐƯỜNG ĐI” CỦA NGHỊ QUYẾT


Làm thế nào để đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống là câu hỏi khó đối với nhiều cấp ủy, tổ chức đảng cơ sở. Thậm chí, ở nhiều nơi, cán bộ cơ sở, nhất là bí thư đảng ủy, phó bí thư đảng ủy xã, phường, thị trấn... còn không ít băn khoăn, trăn trở khi trong cùng một thời điểm lại có quá nhiều nghị quyết (các cấp, các ngành) được ra đời và triển khai trên địa bàn nên khó tránh khỏi sự dồn tắc, chậm trễ, hoặc chồng lấn, hoặc phân tán sự tập trung sức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng.
Cơ sở trăn trở như vậy là đúng. Bởi lẽ, khảo sát cho thấy, nghị quyết (các cấp) được triển khai về xã, phường, thị trấn (trong một tháng, quý, năm) có số lượng khá nhiều và tạo nên sự lúng túng cho những người có trách nhiệm. Không khó để thấy, cơ sở đang hiện hữu tình trạng nghị quyết này vừa được ban hành, đang tổ chức học tập, thì nghị quyết khác đã ra đời và tiếp tục triển khai... Thành thử, nghị quyết cứ gối lên nghị quyết, khi ở cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã... đều ban hành nghị quyết thường kỳ; cùng với đó là hàng loạt nghị quyết chuyên đề; cộng thêm một số lượng không nhỏ kết luận, quy định, quy chế, đề án, chuyên đề, chương trình... về các lĩnh vực lãnh đạo, nhiệm vụ đặc thù.
Cơ sở càng thêm lúng túng khi có nhiều nghị quyết cứ thế ra đời, nhưng cấp trung gian thường chỉ triển khai theo lối “sao y bản chính” rồi "giao" về cơ sở quán triệt, tổ chức thực hiện. Thành thử, khi có quá nhiều nghị quyết, văn bản hành chính... đổ dồn về cơ sở thì người quán triệt, tổ chức thực hiện sẽ gặp lúng túng là chuyện hết sức bình thường, nhất là ở khâu xác định đâu là nghị quyết trọng yếu, cấp thiết đối với địa phương để tổ chức thực hiện. Thậm chí, vì có quá nhiều văn bản, nghị quyết nên ở một số nơi, cán bộ còn nảy sinh biểu hiện "phương phưởng luận" trong quán triệt, triển khai; không nắm rõ các nội dung, tinh thần nghị quyết, số nghị quyết; có nơi, việc học tập nghị quyết buộc phải vận hành theo lối đối phó, nặng về hình thức...
Để giải bài toán cùng lúc cơ sở phải quán triệt, triển khai nhiều nghị quyết, văn bản khác nhau, một số đảng bộ cấp huyện, thị xã, thành phố có cách làm khá mới là tiến hành “lược hóa nghị quyết”. Theo đó, những người có trách nhiệm sẽ lựa chọn nội dung cần thiết gắn với địa phương rồi “lược hóa” nghị quyết thành các nội dung dễ nhớ, dễ thuộc, dễ thực hiện; hoặc kết hợp tinh thần của một số nghị quyết vào một “nghị quyết dùng chung” (hay văn bản cụ thể) để cơ sở đảng cấp xã, phường, thị trấn... dễ quán triệt, triển khai, vận dụng. Tất nhiên, phần việc này đòi hỏi công sức, trí tuệ và sự dấn thân của cán bộ cấp huyện, thị xã, thành phố... nếu không muốn tinh thần nghị quyết bị méo mó, nội dung bị rơi rớt, thiếu toàn diện.
Cùng với cách làm khá hiệu quả nêu trên, hiện nay, đội ngũ cán bộ cơ sở mạnh dạn kiến nghị các cấp chỉ nên ban hành nghị quyết khi thật sự cấp thiết, cấp bách; cần quyết liệt đấu tranh, khắc phục triệt để hiện tượng nghị quyết chồng lên nghị quyết, chủ trương "giẫm" lên chủ trương; đẩy lùi các hiện tượng học tập nghị quyết thiếu thực chất, đối phó, học vẹt.
Nhiều cán bộ cơ sở còn bày tỏ mong muốn, tại Hội nghị Trung ương 6, khóa XIII của Đảng lần này, việc bàn thảo, quyết nghị các vấn đề về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng cần đi sâu vào những nội dung cốt lõi, thực chất. Trong đó, việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng bằng nghị quyết phải tập trung tháo gỡ cho bằng được “điểm nghẽn” khi có quá nhiều nghị quyết cùng lúc triển khai về cơ sở, gây ách tắc, chồng lấn chủ trương và phân tán sự tập trung sức lãnh đạo của tổ chức đảng. Cụ thể hơn là mong muốn Trung ương và cấp có thẩm quyền sớm nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế, có những văn bản hướng dẫn một cách cụ thể, “phác họa” cho bằng được hình dáng con đường đi của nghị quyết một cách nhịp nhàng, ăn khớp, hiệu quả từ Trung ương về cơ sở.

XÓT XA CHO GIÁO VIÊN KHI ĐỨNG TRƯỚC MUÔN TRÙNG ÁP LỰC!

 


Trong xã hội phong kiến ngày xưa người thầy được đặt ở vị trí thứ hai trong mối quan hệ “Quân - Sư - Phụ”. “Quân - Sư - Phụ” là quan niệm được Khổng Tử nêu ra từ 2.500 năm trước. Theo Khổng Tử, địa vị của người thầy được nâng lên trên cả địa vị của người cha trong gia đình - sau ông vua là đến ông thầy rồi sau hết mới đến người cha. Người cha cũng có bổn phận dạy dỗ con cái của mình, nhưng trong xã hội xưa, người dạy dỗ con mình nhiều nhất, sát nhất, cả mặt kiến thức và đạo đức chính là người thầy.
Trong thời đại ngày nay, khi đất nước không còn chế độ phong kiến, nghĩa là không còn Vua thì khái niệm đó cần được hiểu là: “Quân có thể hiểu là “Đất nước”, là “Tổ quốc”, là “Pháp luật”; ngày xưa “Quân” đồng nhất với “Quốc” nhưng bây giờ thì Tổ quốc mới là trên hết; pháp luật vẫn ở nấc thang trên cùng vì pháp luật mang tính biểu trưng một cách chính thức cho quốc gia, dân tộc. Cũng như một quan niệm khác của Khổng Tử giờ vẫn được ghi trang trọng ở các trường học: “Tiên học lễ, hậu học văn”. “Lễ” ở đây không phải là “Tam cương, ngũ thường” như trước mà là đạo đức, nếp sống mới, nền nếp văn hóa, pháp luật hiện thời, phương pháp ứng xử trong các mối quan hệ… Nghĩa là, dù xem xét ở góc độ nào, theo quan niệm nào, vai trò của người thầy vẫn xứng đáng và phải được đặt một vị trí trang trọng trong xã hội nói chung và trong giáo dục nói riêng. Không vì chủ nghĩa dân túy để rồi thầy giáo, cô giáo phải chịu cảnh “lưỡng đầu thọ địch”, nghĩa là trên thì Ban Giám hiệu đe nếu dạy dỗ “không ra sao”, để cho học sinh yếu kém cả kiến thức và đạo đức; dưới thì hàng hàng lớp lớp những phụ huynh sẵn sàng ăn thua đủ với thầy cô giáo; nhà chức trách sẵn sàng tuyên bố kiểu “quan điểm của chúng tôi là đuổi việc” nếu chẳng may lỡ tay răn đe học sinh, khi chúng hỗn láo, làm sai.
Tôi có xem qua câu chuyện của người xưa: có một nhà giáo ở Nam kỳ kiện cha một học sinh. Nguyên nhân học sinh này lười biếng, không chịu học lại nghịch ngợm, bị thầy rầy và bắt quỳ gối nên mắc cỡ với bạn, uất ức về méc lại với cha. Ông này là người có địa vị trong tỉnh nên đã nổi giận, dắt con lại nhà thầy giáo để mắng thầy và làm thầy mất mặt. Thầy giáo đâm đơn kiện và vị thẩm phán cấp tỉnh đã xử cho ông giáo thắng, lại “tặng” cho người cha hồ đồ, bênh con vô lối kia một bài luân lý về phép xử sự với thầy của con.
Trông xưa lại ngẫm đến nay, nghĩ mà buồn cho “thân phận của người thầy” trong thời buổi ngày nay! Trong những năm qua, nhiều vụ việc mà thầy cô giáo dạy học trò hư hỏng bằng cách yêu cầu quỳ, véo tai, hay nói nặng lời...thời buổi, khi mà giáo dục chịu ảnh hưởng rất lớn từ lối “ÂU HÓA”, đặc biệt là khi mạng xã hội Facebook xuất hiện thì thầy cô giáo cũng đứng trước áp lực rất ghê gớm từ nhiều phía. Chưa nơi đâu dưới gầm trời này lại có nhiều “quan tòa” như ở Việt Nam; chỉ cần nhìn qua sự việc chưa cần xem xét kỹ bản chất vấn đề nhưng những “quan tòa” đã vội vàng “phán xét, kết án, luận tội” giáo viên. Đã thế, Phòng Giáo dục và Đào tạo, Ban Giám hiệu nhà trường cũng tỏ ra khiếp sợ những “quan tòa facebook” và cánh lều báo nên chưa cần kiểm tra, làm rõ vấn đề đã vội đăng đàn tuyên bố kiểu “Quan điểm của chúng tôi là buộc thôi việc”, “vụ này phải xử lý thật nặng”, “thật không thể chấp nhận được”…
Không ai cổ súy cho bạo lực học đường hay xâm phạm thân thể học sinh nhưng nếu chỉ dừng lại ở mức chấp nhận được như bắt quỳ, đứng úp mặt vào tường, thậm chí là dùng thước đánh vào mông đối với những học sinh cá biệt, không chịu học tập thiết nghĩ chẳng có gì quá to tát. Thế rồi, nhà chức trách thay vì xem xét kỹ bản chất vụ việc để có biện pháp xử lý cho minh tường thì lại chạy theo vuốt đuôi quần chúng! Quả là rất “anh minh và sáng suốt”; bảo sao mà học trò lại vô luân, bại lý, đánh cả thầy cô giáo; bảo sao mà một số phụ huynh chẳng nhảy chồm lên ngồi xổm trên đầu, trên cổ giáo viên! Chưa bao giờ nghề làm thầy lại bạc như thế! buồn cho những kẻ “chạy theo đuôi quần chúng”! Buồn cho các đại quan nhân “thấy đúng không biết bảo vệ, thấy sai chẳng biết đấu tranh”!
Cổ nhân có câu “ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri lý”, ngọc thô phải được mài dũa thì mới sáng, vàng càng luyện lại càng trong. Còn nhỏ mà không lo uốn nắn, sai phạm lại được người lớn bao che, dung túng, cổ súy; vậy khi lớn lên nó sẽ thành loại người gì? Giờ cái gì cũng phạt người giáo viên được! Đánh, mắng để răn đe thì bảo bạo hành nó, phạt nó quỳ thì bảo làm nhục nó, không đếm xỉa tới thì bảo không quan tâm đến thế hệ tương lai! Thử hỏi dạy nó bằng cách nào, bằng lời ngon tiếng ngọt, bằng sự tâng bốc để ra đời thành gánh nặng cho xã hội hay sao? Làm một giáo viên đã khó, làm một giáo viên tận tâm còn khó hơn ngàn lần! người xưa các thầy dạy học trò hư hỏng bằng đòn roi, thậm chí đánh toét cả đít, vậy mà khi lớn lên họ vụt lớn thành người có ích cho xã hội, thậm chí trở thành những con người thuộc lớp “xưa nay hiếm” cả về trí tuệ và đạo đức. Những vụ việc trên thì sao? Chẳng trách đạo đức đối với một bộ phận không nhỏ của lớp thanh, thiếu niên ngày nay xuống cấp đến thế! Nhỏ không dạy đến khi lớn lên hư hỏng, sa vào tệ nạn, thậm chí là đâm cha, giết chú thì lúc đó ngửa mặt lên trời mà khóc than liệu có ích chi đây!
Người xưa dạy người rất chú trọng đến cái tâm, cái nết của con trẻ, lấy tâm làm nền tảng để giáo dục, uốn nắn con người. Đặc biệt là lúc còn có thể uốn nắn cũng như cây non thì có thể uốn, tạo hình tùy ý nhưng khi đã gì thì không thể. Hình thức bên ngoài cũng rất quan trọng nhưng nội tâm mới là yếu tố quyết định. Giáo dục một con người trở nên hoàn thiện phải từ nơi chính tâm, biết điều hay, lẽ phải có thế khi lớn lên mới mong tu thân, tề gia, trị quốc và bình thiên hạ. Cây có ngay thì bóng mới thẳng, phải đào tạo thế hệ kế thừa có tâm hồn trong sáng và cao thượng mới có thể mong hình thành nên nhân cách lớn, làm nguyên khí của quốc gia, nhân tài cho đất nước. Muốn dạy trẻ thẳng ngay thì đôi khi phải có biện pháp răn đe chúng, phạt trẻ quỳ, úp mặt vào tường thậm chí là đánh đít chẳng có gì là sai trái cả. Có chăng, cái sai lớn nhất là cổ súy cho cái sai mà thôi. Trẻ con phải được giáo dục, phải được sự chung tay từ gia đình, nhà trường và xã hội; khuyến khích những việc làm tốt, trách phạt những việc làm sai; để rồi khi lớn lên nó biết đâu là đục, là trong; đâu là vinh là nhục; chứ không phải là bảo vệ tất cả những gì chúng làm; làm như thế là giết chết cả một thế hệ! đáng buồn thay!
ST
Có thể là ảnh chế về 6 người, mọi người đang đứng và văn bản cho biết 'Nước mắt giáo viên dọa của học sinh: CÔ CÓ NGON THÌ ĐÁNH EM ĐI, EM KIỆN CÃ LIỀN TRÊN MẠNG GIÁO VIÊN ĐÁNH HỌC SINH BỊ BẮT NGHỈ DẠY NHIỀU LẮM NOƯỜI ĐÀM PHÁN'