SỰ CAN DỰ CỦA NHÀ NƯỚC TƯ SẢN- NHỮNG BIỂU HIỆN MỚI CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN ĐỘC QUYỀN NHÀ NƯỚC TRONG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NGÀY NAY
Dù có biến đổi để thích nghi, chủ nghĩa tư bản
đương đại vẫn là chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước. Vai trò của nhà nước và của
thị trường trong các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đương đại có những sự khác biệt
tương đối (chủ nghĩa tư bản tự do ở Mỹ và Anh; kinh tế thị trường xã hội ở lục
địa châu Âu: mô hình Nhật Bản và các nước NIC, châu Á... ) là một thực tế hiển
nhiên. Để cứu vãn sự sụp đổ của mình. Nhà nước tư sản không thể không thể hiện
vai trò của mình trong điều chỉnh thích nghi. Cụ thể:
Chỉ tiêu ngân sách nhà nước
là công việc thuộc quyền của giới hành pháp bị giới hạn, thậm chí bị quản lý chặt
chẽ băng luật pháp. Giới hạn bằng luật ngân sách nhà nước. Có nghĩa là khác xa với thời
mà IM.Kemes quan niệm: “Chính phủ có thể chôn cái két bạc của mình xuống rồi lại
thuê một kẻ khác đào lên”[2].
Chống lạm phát và chống thất nghiệp được ưu tiên ngang nhau; dự trữ quốc gia trở
thành nguồn vốn chỉ có thể được sử dụng trong những tình huống đặc biệt, cổ phần
của nhà nước trong các ngân hàng và công ty lớn trở thành phổ biến.
Vai trò của đầu tư nhà nước để
khắc phục những chi phí tốn kém trong nghiên cứu khoa học cơ bản, trong xây dựng
kết cấu hạ tầng và giải quyết các nhu cầu mang tính xã hội ngày càng tăng lên ở
các nước tư bản phát triển. Nhà nước đã dùng ngân sách của mình để tạo nên những
cơ sở vật chất, gánh chịu các rủi ro lớn, còn các công ty tư nhân tập trung vào
các lĩnh vực có lợi nhuận hấp dẫn.
Nhờ lợi
thế vượt trội của mình về tiềm lực khi tham gia đấu thầu các dự án đầu tư bằng
ngân sách nhà nước, cho nên các tập đoàn độc quyền lớn thường thu được lợi nhuận
khổng lồ trong thực hiện các đơn đặt hàng thuộc các dự án đầu tư của nhà nước.
Nhà nước tư sản hiện đại là
nhân tố quyết định trong ổn định kinh tế vĩ mô thông qua thu - chi ngân sách,
kiểm soát lãi suất, trợ cấp và trợ giá, kiểm soát tỷ giá hối đoái, mua sắm công...
Trong những điều kiện nhất định như khủng hoảng kinh tế, ngân sách nhà nước còn
được dùng để cứu những tập đoàn lớn khỏi nguy cơ phá sản. Ví dụ: Ngày
28-2-2009, Chính phủ Mỹ nâng cổ phần nắm giữ trong Citigroup lên mức 36%.
Citigroup đã được Chính phủ Mỹ bơm cho 45 tỷ USD và bảo lãnh cho 301 tỷ USD tài
sản độc hại. AIG đã được Chính phủ Mỹ giải cứu hai lần bằng tổng số tiền lên tới
150 tỷ USD trong năm 2008. Đổi lại, Chính phủ Mỹ đã kiểm soát mức cổ phần gần
80% của hãng bảo hiểm này. Chính phủ Anh đã tung ra một gói giải cứu ngân hàng
thứ hai trị giá khoảng 145 tỷ USD.
Ngân sách nhà nước còn được
dùng để viện trợ ưu đãi, thậm chí không hoàn lại cho nước ngoài để tạo điều kiện,
mở ra các cơ hội cho các tập đoàn độc quyền tới đó kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận.
Tại một số nước, định hướng ưu tiên cho các vấn đề xã hội trong chi tiêu ngân
sách nhà nước được luật pháp hóa. Trong số đó có phần chi cho các hoạt động bảo
vệ môi trường, an sinh xã hội...
Nhờ đó, ở những nước phát triển, môi trường xanh và sạch hơn, có nước như Na Uy có giáo dục và y tế miễn phí toàn dân; ở một số nước châu Âu, người dân thực tế được hưởng phúc lợi xã hội khá cao. Nhưng sẽ là sai lầm nếu như coi những điều tốt đẹp đó là sự thức tính của giai cấp tư sản hay là sự nhân đạo hóa của chủ tư bản. Đó thực ra là những thành quả của cuộc đấu tranh bền bỉ nhiều năm của nhân dân tiến bộ ở những nơi đó, là những sự “chuẩn bị vật chất của chủ nghĩa xã hội" mà chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước tạo ra trong quá trình phát triển của nó. Hoặc nổi như C Mác: đó là những thành tựu của “văn minh tư sản”.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét