Thứ Năm, 6 tháng 10, 2022

Xây dựng cấu trúc xã hội phù hợp, góp phần đưa Việt Nam trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa

(LLCT) - Để hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI cần nhận diện đầy đủ và hành động chính xác, kịp thời đối với những vấn đề mang tính chiến lược của đất nước. Trong đó, có vấn đề xây dựng và bảo đảm cấu trúc xã hội phù hợp với bối cảnh và mục tiêu phát triển của Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ các thành tố và từ các góc độ tiếp cận cấu trúc xã hội, bài viết đưa ra một số định hướng nhằm góp phần xây dựng cấu trúc xã hội Việt Nam phù hợp, hướng đến bảo đảm các mục tiêu phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Xây dựng cấu trúc xã hội phù hợp, góp phần đưa Việt Nam trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Khơi gợi lòng yêu nước, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước của thanh niên - Ảnh: IT

1. Cấu trúc xã hội và hướng tiếp cận

Cấu trúc xã hội hay còn gọi là cơ cấu xã hội là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội. Tuy nhiên, mỗi ngành có mối quan tâm và hướng tiếp cận riêng. Chẳng hạn, triết học Mác - Lênin quan tâm đến cấu trúc xã hội trong giải quyết mối quan hệ giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng, nhấn mạnh đến hạt nhân cốt lõi cấu trúc xã hội - giai cấp. Cấu trúc xã hội - giai cấp do phương thức sản xuất và trao đổi quyết định; khoa học lịch sử quan tâm đến vấn đề cấu trúc xã hội ở lát cắt lịch đại và đồng đại; khoa học kinh tế quan tâm đến vấn đề cấu trúc thành phần của nền kinh tế và tỷ trọng các ngành kinh tế;... Trong khi đó, xã hội học tiếp cận cấu trúc xã hội theo hướng tổng thể, đa chiều từ nhiều thành tố và các lát cắt cấu trúc xã hội khác nhau; nhằm trả lời câu hỏi tại sao lại có sự khác nhau về trình độ phát triển, năng lực phát triển, kết quả phát triển, hệ quả phát triển.

Từ góc độ tiếp cận xã hội học, cấu trúc xã hội là một hệ thống các thành phần và mối quan hệ xã hội tác động qua lại nhau; được tiếp cận và xem xét đồng thời ở nhiều khía cạnh, cấp độ khác nhau. Cấu trúc xã hội phản ánh những đặc tính, đặc điểm, điều kiện, nguồn lực, khả năng phát triển và khuynh hướng phát triển của một tổ chức, cộng đồng, quốc gia.

Các thành tố cơ bản để tạo nên cấu trúc xã hội bao gồm: (1) Hệ thống vị thế xã hội; (2) Hệ thống vai trò xã hội; (3) Hệ thống quan hệ và mạng lưới xã hội; (4) Hệ thống nhóm xã hội; (5) Hệ thống thiết chế xã hội; (6) Hệ thống thống giá trị, chuẩn mực xã hội và các thành tố khác.

Như vậy, các thành tố tạo nên một tổ chức, cộng đồng, quốc gia không phải từ những cá nhân đơn lẻ cộng lại; mà chính là các cá nhân này phải luôn được định vị trong mối quan hệ mang tính cấu trúc - hành động, bởi các thành tố cơ bản như đã nêu trên. Tiếp cận cấu trúc xã hội đặt ra yêu cầu phải đánh giá đúng hiện trạng phát triển của một tổ chức, cộng đồng và xã hội.

Căn cứ vào loại thành phần hay thành tố tạo nên hệ thống xã hội có thể phân biệt cấu trúc xã hội vi mô với thành phần chính là các cá nhân, nhóm xã hội, tổ chức, cộng đồng... nhỏ; và cấu trúc xã hội vĩ mô với thành phần chính là các nhóm xã hội, tổ chức, cộng đồng lớn; các giai tầng xã hội tạo nên hệ thống xã hội vĩ mô.

Căn cứ vào các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội có các phân hệ cấu trúc xã hội, như: cấu trúc xã hội - dân số, cấu trúc xã hội - nghề nghiệp, cấu trúc xã hội - giai tầng, cấu trúc xã hội - học vấn, cấu trúc xã hội - dân tộc, cấu trúc xã hội - tôn giáo và nhiều phân hệ cấu trúc xã hội khác.

Phân tích cơ cấu xã hội vĩ mô giúp hiểu được tính chất, trình độ phát triển của một cộng đồng, quốc gia dân tộc nhất định. Cấu trúc xã hội vừa được tạo ra nhờ hành động của con người vừa là phương tiện của hành động xã hội. Cấu trúc xã hội và hành động xã hội của chủ thể có tính chất hai mặt: cái này không thể tồn tại nếu thiếu cái kia. Điểm khác biệt cơ bản giữa cấu trúc xã hội với cấu trúc vật lý là tính hai mặt của cấu trúc xã hội, hay tính chất vừa bị quy định bởi cấu trúc, vừa chủ động sáng tạo cấu trúc của chủ thể. Xét ở phạm vi cá nhân, mỗi cá nhân luôn bị cấu trúc xã hội quy định, đồng thời đóng vai trò tạo dựng cấu trúc xã hội. Cấu trúc xã hội có tác động tích cực theo hướng tạo điều kiện, cơ hội và cả nguồn lực đối với hành động của các cá nhân. Đồng thời, thông qua hành động của các cá nhân, cấu trúc xã hội được hình thành tái tạo, vận động, biến đổi, phát triển.

Tiếp cận cấu trúc xã hội, trước hết cho thấy hai thành tố quan trọng và có mối quan hệ biện chứng với nhau để tạo lập cấu trúc xã hội, với thành phần cốt lõi là vị thế xã hội và vai trò xã hội.

(1) Vị thế xã hội chính là vị trí xã hội gắn với những trách nhiệm, lợi ích và giá trị xã hội kèm theo. Nó thể hiện thứ bậc dành cho mỗi cá nhân đó trong cơ cấu tổ chức, nhóm xã hội, cộng đồng và trong toàn bộ hệ thống xã hội. Mỗi vị thế xã hội luôn có các nhiệm vụ, quyền hạn và mong đợi khác nhau;

(2) Vai trò xã hội được hiểu là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, quyền lợi và nghĩa vụ được gắn liền với một vị thế xã hội nhất định. Nó nhấn mạnh những kỳ vọng xã hội gắn với những vị thế xã hội nhất định trong xã hội; là hành vi người ta mong đợi (được làm, được thực hiện) ở mỗi địa vị xã hội cho trước;

(3)  Vị thế xã hội và vai trò xã hội luôn gắn bó mật thiết với nhau. Nhiều vị thế sẽ dẫn đến nhiều vai trò xã hội; vị thế càng cao thì vai trò xã hội càng phải tích cực. Nếu thực hiện tốt vai trò xã hội thì sẽ củng cố và thăng tiến vị thế xã hội và ngược lại. Do đó, một tổ chức và xã hội phát triển bền vững là luôn phải tạo cơ hội cho mọi thành viên không ngừng vươn lên các vị thế xã hội cao hơn gắn liền với các vai trò xã hội ngày một tích cực hơn.

Tiếp cận cấu trúc xã hội có thể phân chia vị thế - vai trò xã hội thành 2 loại:  vị thế - vai trò xã hội gán cho và vị thế - vai trò xã hội đạt được, với đặc điểm hình thành và mục tiêu hướng đến rất khác nhau: (1) Vị thế và vai trò xã hội gán cho là loại vị thế và vai trò mà cá nhân không thể không tự quyết định lựa chọn mà nó được quy định bởi các yếu tố như: dòng dõi, thành phần gia đình, giới tính, màu da hay tuổi tác, quy định của tổ chức, bầu cử...;

(2) Vị thế và vai trò xã hội đạt được là loại vị thế và vai trò xã hội mà các cá nhân đạt được bằng trí tuệ, năng lực, phẩm chất và những cố gắng đóng góp, cống hiến của bản thân trong quá trình xã hội hóa và các hoạt động xã hội của mình. Cá nhân lựa chọn, hướng tới các vai trò đó có ý nghĩa quyết định đối với việc cá nhân đó đạt được vai trò xã hội cao hay thấp. Và do đó, một tổ chức, cộng đồng và xã hội phát triển luôn phải hướng đến việc thúc đẩy mỗi cá nhân, thành viên bắt đầu từ vị thế và vai trò xã hội gán cho và không ngừng hướng tới mục tiêu vị thế và vai trò xã hội đạt được. 

Từ góc độ tiếp cận xã hội học, cấu trúc xã hội là một hệ thống các thành phần và mối quan hệ xã hội tác động qua lại nhau; được tiếp cận và xem xét đồng thời ở nhiều khía cạnh, cấp độ khác nhau. Cấu trúc xã hội phản ánh những đặc tính, đặc điểm, điều kiện, nguồn lực, khả năng phát triển và khuynh hướng phát triển của một tổ chức, cộng đồng, quốc gia. 

Thành tố nhóm xã hội luôn đóng vai trò cơ bản để định hình đặc điểm và sự phát triển một tổ chức, cộng đồng, quốc gia, dân tộc. Nhóm xã hội là một tập hợp người liên hệ với nhau về vị thế, vai trò, nhu cầu, lợi ích và những định hướng giá trị, chuẩn mực nhất định. Nhóm xã hội là đơn vị để phân tích, để hiểu đầy đủ cấu trúc xã hội của một tổ chức, cộng đồng và xã hội. Nhóm xã hội luôn gắn với quy mô, tính chất, mục tiêu khác nhau. Nhóm xã hội thể hiện bản chất của quá trình hấp dẫn, trao đổi, sự ảnh hưởng; cũng như mâu thuẫn, chống đối lẫn nhau giữa các cá nhân, nhóm xã hội, cộng đồng xã hội. Tiếp cận phân tích nhóm xã hội có vai trò, ý nghĩa quyết định đối với kết quả hoạch định và tổ chức thực hiện hệ thống chính sách, pháp luật. Hệ thống chính sách, pháp luật có thực sự đi vào cuộc sống hay không là phụ thuộc vào sự thẩm thấu, chia sẻ và hành động tích cực của các nhóm xã hội, chủ thể xã hội có liên quan.

Một tổ chức, cộng đồng và xã hội vận hành ra sao luôn được phản ánh thông qua các mạng lưới quan hệ xã hội. Mạng lưới xã hội là phức hợp các mối quan hệ của các cá nhân, nhóm xã hội. Mạng lưới xã hội thể hiện thông qua các quan hệ xã hội trên cơ sở: huyết thống, cộng đồng, tổ chức, nghề nghiệp, giai tầng xã hội, dân tộc...Các quan hệ xã hội chính là tương tác xã hội có mục đích, ổn định, lặp lại giữa các cá nhân.

Các mạng lưới xã hội có chức năng: (1) Duy trì, củng cố quan hệ xã hội; (2) Tạo dựng mối quan hệ xã hội mới; (3) Tạo dựng nguồn lực, nhất là vốn xã hội; (4) Tạo dựng vị thế xã hội và vai trò xã hội. Hệ thống các mạng lưới xã hội chính là môi trường tạo nên sự liên kết, thống nhất, đồng thuận của một tổ chức, cộng đồng và xã hội. Một tổ chức, nhóm, cộng đồng và quốc gia, dân tộc... muốn đạt đồng thuận tạo nên sức mạnh vượt trội để phát triển, cần nhấn mạnh sự tương tác, thấu hiểu, chia sẻ giá trị xã hội và sự đồng hành của tất cả các thành viên; giữa lực lượng lãnh đạo, quản lý và các giai tầng xã hội.

Hệ thống các hành vi và quan hệ xã hội luôn chịu sự chi phối bởi hệ thống thiết chế xã hội. Thiết chế xã hội được hiểu là một hệ thống tập hợp bền vững các giá trị, chuẩn mực, vị thế, vai trò, nhóm vận động xung quanh nhu cầu cơ bản của xã hội. Hệ thống thiết chế xã hội có các đặc điểm: (1) Tập hợp các nguyên tắc; (2) Cấu trúc chặt chẽ; (3) Khuyến khích, điều chỉnh, kiểm soát; (4) Chế tài các hành vi của con người; (5) Bền vững tương đối, chậm biến đổi; (6) Tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các thiết chế xã hội. Sự tồn tại và phát triển của thiết chế xã hội là do điều kiện khách quan, biểu hiện ở tính thống nhất với cơ sở kinh tế - xã hội. Bản thân thiết chế xã hội luôn có sự độc lập tương đối và có tác động trở lại đối với cơ sở kinh tế - xã hội. Bất kỳ một sự thay đổi trong một thiết chế xã hội nào đó đều có thể đưa đến sự thay đổi đáng kể của các thiết chế xã hội khác. Chẳng hạn, một sự thay đổi tích cực của thiết chế giáo dục sẽ dẫn đến những tác động tích cực của các thiết chế xã hội: kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hóa, gia đình... và ngược lại.

Một tổ chức, cộng đồng và xã hội được vận hành luôn được điều tiết bởi hệ thống chuẩn mực và giá trị xã hội hiện hành. Chuẩn mực xã hội chính là hệ thống các quy tắc điều chỉnh, là thước đo hành vi của cá nhân và nhóm được xã hội chia sẻ và mong đợi. Những biểu hiện tiêu cực, vi phạm pháp luật trong xã hội chính là biểu hiện về sự xung đột giữa các hệ thống chuẩn mực xã hội với nhau (nhất là chuẩn mực pháp luật và chuẩn mực đạo đức) với chuẩn mực kinh tế thị trường; giữa chuẩn mực của xã hội với chuẩn mực cá nhân. Giá trị xã hội là quan niệm về điều mong muốn đặc trưng hiện hay ẩn cho một cá nhân (nhóm xã hội), ảnh hưởng tới việc chọn các phương thức, phương tiện hay mục tiêu của hành động. Xã hội muốn ổn định và phát triển thì đòi hỏi phải phát triển và tôn trọng giá trị cá nhân, tuy nhiên giá trị cá nhân không được xâm phạm hay xung đột với hệ giá trị xã hội, giá trị cộng đồng và giá trị tập thể. Ngược lại, giá trị cá nhân luôn phải nương tựa, đồng hành và góp phần vun đắp cho hệ thống giá trị xã hội.

2. Đổi mới, phát triển đất nước Việt Nam trong bối cảnh mới - một số định hướng từ góc độ xây dựng cấu trúc xã hội phù hợp

Từ góc độ tiếp cận cấu trúc xã hội, có thể nhận thấy, trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta đã thể hiện rõ tư duy, tầm nhìn và hành động nhằm hướng tới xây dựng cấu trúc xã hội phù hợp trong bối cảnh mới, khi xác định mục tiêu tổng quát: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(1). Đặc biệt là yêu cầu phải: dự báo đúng biến đổi cơ cấu xã hội ở nước ta trong những năm tới, xây dựng các chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội phù hợp. Giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, kiểm soát phân tầng xã hội và xử lý kịp thời, hiệu quả các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân(2).

Quá trình xây dựng cấu trúc xã hội để hướng đến mục tiêu đổi mới và phát triển xã hội bền vững của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay chính là quá trình xây dựng, phát triển các thành phần của cấu trúc xã hội; quá trình xác lập các mối quan hệ giữa các thành phần tạo nên cấu trúc xã hội một cách phù hợp với yêu cầu và bối cảnh mới của đất nước. Quá trình xây dựng cấu trúc xã hội là thường xuyên nhằm phát hiện và khắc phục những hạn chế, thiếu sót, bất cập trong quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện phát triển hệ thống kinh tế - xã hội. Một trong những yếu tố cốt lõi để thúc đẩy tổ chức, cộng đồng và đất nước Việt Nam phát triển bền vững cần nhấn mạnh, giải quyết có hiệu quả vấn đề: xây dựng, tái cấu trúc xã hội phù hợp với điều kiện, nguồn lực, mục tiêu, yêu cầu... trong bối cảnh mới. Đồng thời, cần dự báo, xây dựng một cấu trúc xã hội phát triển phù hợp, trong đó cần ưu tiên xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; gắn xây dựng giai cấp nông dân với phát triển nông nghiệp và quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nông thôn... Xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong tình hình mới... Phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh về số lượng và chất lượng, có tinh thần cống hiến cho dân tộc(3).

Trong tư duy, tầm nhìn và hành động cần xác lập cấu trúc xã hội là một công cụ tiếp cận và phân tích quan trọng; giúp chúng ta nhận thức được một tổ chức, cộng đồng, đất nước Việt Nam trong tiến trình phát triển đã, đang và sẽ có những thành công và hạn chế như thế nào; những thuận lợi, khó khăn trở ngại chủ yếu ra sao; các giải pháp và mục tiêu đề ra có tính khả thi hay không...? Từ phương diện tiếp cận cấu trúc xã hội, có thể khẳng định quá trình đổi mới và phát triển đất nước Việt Nam hướng mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chính là quá trình biến đổi, điều chỉnh và phát triển quan hệ giữa các thành phần và trật tự thứ bậc, các mối quan hệ trong nội bộ cấu trúc xã hội theo nghĩa rộng; là quá trình hướng đến sự hài hòa, đồng bộ giữa cấu trúc xã hội, cấu trúc chính trị và cấu trúc kinh tế.

Để từng bước có một cấu trúc xã hội phù hợp nhằm thúc đẩy xã hội phát triển bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cần tạo dựng mối quan hệ vị thế xã hội và vai trò xã hội trong cấu trúc xã hội phù hợp; quyền lợi, nghĩa vụ tương ứng với vị thế và vai trò mong đợi của xã hội. Đồng thời, để hướng đến một xã hội năng động, phát triển và bảo đảm mục tiêu định hướng xã hội chủ nghĩa cần tạo động lực tích cực cho sự chuyển hóa liên tục về vị thế và vai trò của cá nhân, nhóm xã hội. Bên cạnh đó, cần thúc đẩy việc hình thành và phát huy vai trò của hệ thống giá trị, chuẩn mực xã hội phù hợp với bối cảnh phát triển mới của đất nước.

Cần định vị và xây dựng cho toàn bộ xã hội Việt Nam không chỉ hành động vì mục tiêu lợi ích (lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội chính đáng) mà quan trọng hơn là phải đi tới một xã hội được dẫn dắt và hành động bởi động lực thúc đẩy giá trị xã hội. Đặc biệt, trong bối cảnh xã hội mà sự mâu thuẫn, xung đột xã hội cũng như giá trị xã hội và niềm tin xã hội đang có nhiều biểu hiện bất cập. Do đó, để bảo đảm mục tiêu trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, rất cần bảo đảm động lực thúc đẩy cho con người và xã hội phát triển không chỉ là “lợi ích xã hội mà còn là giá trị xã hội”. Đó là việc các cá nhân, nhóm, cộng đồng, giai tầng xã hội hướng tới lợi ích hài hòa và các giá trị tiến bộ, nhân văn, vì hạnh phúc bền vững trong phát triển xã hội.

Cần thúc đẩy hệ thống giá trị xã hội theo định hướng chủ đạo: (1) sự tiến bộ, công bằng và bình đẳng xã hội; (2) cơ hội, khát vọng và năng lực làm giàu chính đáng, hợp pháp của mọi người dân, mọi giai tầng xã hội; (3) sự tự do sáng tạo, tích cực thực hành dân chủ gắn với kỷ cương, kỷ luật trong xã hội; (4) sự đồng thuận, đoàn kết hữu cơ, “cùng thích nghi, cùng thắng, cùng phát triển” và công dân toàn cầu. Việc định hướng xây dựng, “lợi ích hài hòa”, “xã hội giá trị” là quá trình lâu dài, do đó cần có sự lãnh đạo thống nhất, trực tiếp và liên tục của Đảng Cộng sản Việt Nam. 

Cần đẩy mạnh việc “rút ngắn khoảng cách” tình trạng không tương thích giữa cách thức, mục tiêu học tập, đào tạo, bồi dưỡng và với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong bối cảnh mới. Muốn vậy, cần xử lý tốt mối quan hệ giữa mục tiêu giáo dục nhằm tạo ra những chủ thể xã hội có tính sáng tạo, có tinh thần dân chủ, tự do gắn liền với tính trách nhiệm xã hội và kỷ cương, kỷ luật cao. Đồng thời, mỗi con người, thành viên của tổ chức, cộng đồng và quốc gia dân tộc luôn phải có ý thức thực hiện tốt mục tiêu: “học tập suốt đời, học tập ở mọi nơi, mọi lúc; học biết cách học, học để làm việc; học để sáng tạo, học để chung sống”. Muốn vậy, quá trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, xã hội hóa cần nhấn mạnh tính phù hợp, tương tác xã hội thường xuyên, khả năng tự học hỏi lẫn nhau của các chủ thể xã hội.

Cần thực sự quán triệt và thực hiện có hiệu quả quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Con người là trung tâm của quá trình phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời vừa là mục tiêu vừa là động lực của quá trình phát triển kinh tế - xã hội”. Cần định vị và xây dựng các nhóm xã hội trong cấu trúc xã hội theo định hướng mô hình: (1) phát triển, trọng dụng và phát huy tối đa vai trò của nhóm xã hội cống hiến/tinh hoa; (2) mở rộng và phát huy tối đa vai trò của “nhóm nền”- tức là xây dựng mở rộng tối đa hóa những công dân tích cực, trách nhiệm xã hội của đất nước; (3) quan tâm thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, gắn kết và phát huy vai trò của nhóm “yếu thế” trong xã hội; (4) thực hiện kiểm soát, giảm thiểu thấp nhất về quy mô và tác hại xã hội đối với nhóm sai lệch xã hội, nhóm vi phạm pháp luật, nhóm tội phạm; (5) thực hiện tốt chính sách đền ơn đáp nghĩa đối với gia đình chính sách, người có công.

Phát huy vai trò của các môi trường xã hội hóa: vai trò gia đình, nhà trường, nhóm xã hội, truyền thông... trong quá trình xây dựng cấu trúc xã hội phù hợp với mục tiêu trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI. Quá trình xã hội hóa cần tạo lập vị thế và vai trò xã hội ở 3 cấp độ mục tiêu cơ bản: (1) làm con người hiện đại, hội nhập trong mối quan hệ với cộng đồng nhân loại trên thế giới; (2) làm công dân có trách nhiệm xã hội trong mối quan hệ với quốc gia, dân tộc; (3) làm phận sự chức nghiệp hiệu lực, hiệu quả trong mối quan hệ với vị thế, vai trò nghề nghiệp, lĩnh vực hoạt động.

Trong hoạch định, xây dựng và tổ chức thực hiện hệ thống chính sách phát triển kinh - tế xã hội của đất nước, cần tăng cường tính kết nối bởi các lát cắt cấu trúc xã hội khác nhau: (1) Cấu trúc xã hội - giai cấp; (2) Cấu trúc xã hội - nghề nghiệp, mức sống; (3) Cấu trúc xã hội - dân số; (4) Cấu trúc xã hội - giới; (5) Cấu trúc xã hội - tuổi; (6) Cấu trúc xã hội - học vấn; (7) Cấu trúc xã hội - dân tộc; (8) Cấu trúc xã hội - tôn giáo; (9) Cấu trúc xã hội nông thôn - đô thị. Trên cơ sở đó sẽ phát huy tối đa sức mạnh, khả năng tác động, mức độ thành công; cũng như nhìn thấy được sự “giới hạn” của từng chính sách kinh tế - xã hội trong tổng thể mục tiêu phát triển đất nước: nhanh, hài hòa và bền vững.

Trong các hoạt động quản lý, giải quyết có hiệu quả các vấn đề kinh tế - xã hội ở Việt Nam, bên cạnh hoạt động quản lý nhà nước cần gia tăng tư duy, phương pháp và mô hình quản lý phát triển xã hội. Trong đó nhấn mạnh vai trò tham gia đa chủ thể quản lý, bằng nhiều hệ thống công cụ quản lý; quan tâm và tập trung vào những vấn đề mà quản lý nhà nước chưa vươn tới, gặp khó khăn, ít hiệu quả... Chẳng hạn, để kiểm soát xã hội, kiểm soát quyền lực, kiểm soát tham nhũng... có hiệu lực và hiệu quả cần phát huy vai trò tham gia của nhiều chủ thể xã hội và thông qua hệ thống công cụ tác động đồng thời bởi các thiết chế xã hội: thiết chế pháp luật, thiết chế chính trị, thiết chế kinh tế, thiết chế gia đình, thiết chế giáo dục, thiết chế đạo đức, thiết chế văn hóa, thiết chế tôn giáo, thiết chế truyền thông, thiết chế dư luận xã hội...

Để bảo đảm một cấu trúc xã hội của Việt Nam phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phát triển đô thị bền vững; xây dựng nông thôn mới; thực hiện dân chủ gắn liền với trách nhiệm, kỷ cương xã hội... nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước trên 5 trụ cột: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường, cần phải bảo đảm hệ thống chuẩn mực và giá trị xã hội hiện hành của đất nước có tác động sâu rộng trong nhận thức và hành động của mọi giai tầng xã hội. Đó là, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc; “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; “nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”.

                                                                                                                               Nguồn:TS ĐỖ VĂN QUÂN

Viện Xã hội học và Phát triển,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

 Điều phi lý trong báo cáo nhân quyền hằng năm của Bộ Ngoại giao Mỹ

Liên tục từ năm 1997 đến nay, Bộ Ngoại giao Mỹ đều đặn ra Báo cáo nhân quyền hằng năm, với nhiều điều phi lý. Tiêu biểu cho những điều phi lý đó là họ đánh giá Việt Nam “không tôn trọng sự toàn vẹn của con người”, khi chính nước Mỹ vẫn chìm sâu trong vấn nạn bạo lực súng đạn, phân biệt chủng tộc, cảnh sát lạm sát, v.v. Sự phi lý đó một lần nữa cần được vạch trần và đấu tranh bác bỏ.

Những năm gần đây, một số nước tư bản phát triển, trong đó có chính quyền Mỹ, đã và đang triệt để lợi dụng nhân quyền như là một công cụ - nói đúng hơn là đội lốt nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia, dân tộc, nhất là các nước đối lập về hệ tư tưởng, hoặc không nằm trong quỹ đạo ảnh hưởng của họ, nhằm ép buộc những nước này không đứng ngoài “trật tự thế giới” do họ làm chủ. Cùng với việc ra sức truyền bá các học thuyết, các giá trị dân chủ, nhân quyền tư sản, đề cao vị trí độc tôn của tự do, lợi ích cá nhân, “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, đặt nó đứng ngoài, thậm chí đứng trên pháp luật, lợi ích cộng đồng; họ còn tăng cường các hoạt động xuyên tạc, bóp méo tình hình nhân quyền của các nước. Họ tự cho mình quyền đứng trên pháp luật quốc tế để đưa ra các báo cáo, đánh giá nhân quyền của các quốc gia, dân tộc có chủ quyền khác. Vì thế, không lạ gì khi lâu nay các thế lực thù địch luôn coi “dân chủ”, “nhân quyền” là một mũi nhọn chống phá cách mạng Việt Nam, vẫn đều đặn ra báo cáo nhân quyền Việt Nam như một thông lệ. Có thể nói, từ tư cách của chủ thể đến nội dung các báo cáo này đều phi lý; nhưng chỉ xin bàn đến nội dung quyền sống hay “tôn trọng sự toàn vẹn của con người” trong các báo cáo ấy để minh chứng cho sự phi lý đến nực cười này.

Chúng ta đều biết, nhân quyền trước hết và tối thiểu nhất là quyền được sống của mỗi người, được pháp luật quốc tế và mỗi quốc gia, dân tộc bảo vệ như một tất yếu. Ở Việt Nam, cùng với sự phát triển kỳ diệu của đất nước trên nhiều lĩnh vực, hệ thống pháp luật về quyền con người ngày càng hoàn thiện. Cả hệ thống chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội và truyền thông, báo chí không ngừng nỗ lực để người dân được thụ hưởng đầy đủ nhất các quyền con người, quyền cơ bản của công dân. Sau khi trở thành thành viên Liên hợp quốc (năm 1977), Việt Nam đã từng bước tham gia hầu hết các Công ước quốc tế về quyền con người. Pháp luật về quyền con người của Việt Nam cũng đã có bước phát triển. Với 36 điều trên tổng số 120 điều quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, Hiến pháp năm 2013 vừa khẳng định sự nhất quán về nội dung quyền con người, quyền công dân đã được quy định trong các Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, vừa thể chế hóa sâu sắc, toàn diện nhận thức, quan điểm của Đảng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và chuẩn mực quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia.

Để khẳng định tính pháp lý của các quyền được Hiến pháp thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về quyền con người của Việt Nam ngày càng đồng bộ, từng bước hoàn thiện; việc tổ chức thực thi Hiến pháp, pháp luật về quyền con người được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Chính phủ, các bộ, ngành và chính quyền địa phương các cấp thường xuyên hướng dẫn, kiểm tra việc thực thi pháp luật; kịp thời ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm quyền con người, quyền công dân. Những năm gần đây, trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và tình hình thiên tai diễn biến phức tạp, với mục tiêu “sức khỏe và tính mạng của người dân là trên hết, trước hết”, Chính phủ luôn kết hợp chặt chẽ giữa đẩy mạnh phát triển kinh tế với chăm lo bảo đảm an sinh xã hội; kiên trì thực hiện “mục tiêu kép” để đem lại hạnh phúc, ấm no cho nhân dân. Theo đánh giá của Liên hợp quốc, chỉ số hạnh phúc của Việt Nam không ngừng tăng và nhanh nhất trong số các nước đang phát triển (năm 2020 tăng 04 bậc, xếp thứ 79 trên thế giới, đứng hàng đầu châu Á).

Trong tính tổng thể đó, lẽ dĩ nhiên, quyền sống hay “bảo đảm sự toàn vẹn của con người” được pháp luật Việt Nam bảo vệ và thực thi đầy đủ, nghiêm minh, bình đẳng với mọi công dân Việt Nam và người nước ngoài sinh sống, làm việc trên lãnh thổ Việt Nam. Đặc biệt, để đảm bảo an toàn cho người dân, pháp luật Việt Nam nghiêm cấm việc cá nhân sở hữu vũ khí (bao gồm cả vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thể thao) và công cụ hỗ trợ; còn những đối tượng được pháp luật cho phép trang bị, sử dụng súng được quy định rất cụ thể tại khoản 1, Điều 55, Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (năm 2017). Đó chủ yếu là những người được giao nhiệm vụ bảo vệ giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, phòng, chống tội phạm,… kèm theo những quy định chặt chẽ về các điều kiện, như: sức khỏe, phẩm chất đạo đức, đã qua đào tạo, huấn luyện và được cấp giấy chứng nhận về sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ. Mọi hành vi xúc phạm nhân phẩm, tra tấn, hành hung, tước đoạt mạng sống con người trái pháp luật đều bị xử lý nghiêm.

Vậy mà, các báo cáo nhân quyền về Việt Nam của Bộ Ngoại giao Mỹ vẫn đưa ra những nhận xét không khách quan, dựa trên những thông tin chưa được kiểm chứng, phiến diện về “bảo đảm sự toàn vẹn của con người” ở Việt Nam. Theo cách “bới lông tìm vết”, họ cố tình nhặt nhạnh những sự việc riêng lẻ, hy hữu chưa được kiểm chứng rồi ra sức thổi phồng, xuyên tạc, bóp méo để nó trở thành nghiêm trọng. Mục đích cuối cùng là để bôi xấu tình hình nhân quyền của Việt Nam nhiều nhất có thể. Và chỉ chờ có thế, các cá nhân, nhóm hoạt động đội lốt “dân chủ”, “nhân quyền” trong và ngoài nước đua nhau lên án Việt Nam vi phạm “dân chủ”, “nhân quyền”; từ đó, quy chụp, vu khống, hạ thấp uy tín của các cơ quan thi hành pháp luật Việt Nam; đồng thời, cho rằng “hậu quả” đó là do Đảng ta độc tài, toàn trị.

Điều phi lý là, trong khi cố tình “đặt điều” từ những sự việc chưa kiểm chứng, lớn tiếng rao giảng về “nhân quyền”, phán quyết về “bảo đảm sự toàn vẹn của con người” của các nước khác, thì chính quyền Mỹ lại cố tình lờ đi những “lỗ hổng” khó hàn gắn về vấn đề này ngay trong lòng nước Mỹ. Vấn nạn bạo lực súng đạn, phân biệt chủng tộc, cảnh sát lạm sát,… vẫn phủ bóng đen gây ám ảnh dai dẳng người dân Mỹ, gây chia rẽ sâu sắc trong nội bộ nước Mỹ. Ở Mỹ, năm 2020, hơn 45 nghìn người đã chết vì bạo lực súng đạn, tăng 35% so với năm trước đó. Theo số liệu thống kê của Cục Điều tra liên bang Mỹ (FBI): số vụ xả súng có chủ đích tại nước này trong năm 2021 đã tăng hơn 50% so với năm 2020. Năm 2022, bạo lực súng đạn lại tái diễn với hàng loạt vụ nổ súng kinh hoàng tại New York, Texas và nhiều nơi khác. Theo số liệu của Gun Violence Archive1, tính đến tháng 6/2022, bạo lực súng đạn đã khiến hơn 19.300 người thiệt mạng và trong dịp nghỉ lễ từ ngày 01 - 04/7/2022 vừa qua, xảy ra hơn 500 vụ xả súng ở hầu khắp các bang trên toàn nước Mỹ. Thực tế cho thấy, ở Mỹ, thuốc chữa bệnh, nước sạch cho người dân, sữa bột cho trẻ em có thời điểm có thể rất khan hiếm; nhưng, súng đạn thì luôn rất dồi dào, được phép bán công khai và mọi công dân có thể mua nếu có nhu cầu. Đây là nguồn cung cho những kẻ muốn dùng súng đạn để giải quyết mâu thuẫn, hay đơn giản giết người chỉ để thể hiện quan điểm tự do cá nhân. Gần đây, trước những hậu quả nặng nề do bạo lực súng đạn gây ra, đã có lúc chính quyền nước này muốn tìm cách thắt chặt kiểm soát, song vẫn bất lực, do lập trường của chính quyền vẫn đang bị chia rẽ bởi những lợi ích nhóm chi phối. Số lượng súng đạn được bán ra vẫn tăng lên theo những bất ổn của xã hội Mỹ. Theo Forbes2, gần 20 triệu khẩu súng đã được bán tại Mỹ trong năm 2021, tức là trong 100 người Mỹ thì 06 người đã mua súng, tăng tỷ lệ người trưởng thành ở Mỹ sử dụng lên 46%. Với dân số hơn 330 triệu người nhưng đã có hơn 393 triệu khẩu súng cá nhân được cấp phép tại Mỹ, tức là mỗi người sở hữu hơn 01 khẩu súng; đây là nguyên nhân hàng đầu khiến Mỹ là quốc gia hứng chịu nhiều bạo lực súng đạn nhất thế giới.

Điều phi lý nữa là, chỉ dựa vào những sự việc chưa được kiểm chứng, các báo cáo nhân quyền về Việt Nam của Mỹ vẫn lên án các lực lượng thực thi pháp luật Việt Nam làm tổn hại đến sức khỏe, nhân phẩm người khác. Thế nhưng, cảnh sát Mỹ lạm sát nhằm vào người da màu là một thực tế không thể chối cãi ở Mỹ. Theo thống kê của báo giới Mỹ, có hơn 1.000 người đã bị cảnh sát bắn tử vong ở Mỹ trong năm 2021. Một thực tế khác không khó để nhận thấy, mặc dù nhân danh bảo vệ “dân chủ”, “nhân quyền”, nhưng Mỹ và phương Tây lại không ngừng gia tăng việc tiến hành chiến tranh, can thiệp vũ trang ở nhiều nơi. Các cuộc “cách mạng màu sắc”, “can thiệp nhân đạo” mà Mỹ và phương Tây tiến hành ở Iraq, Afghanistan, Libya,… đã và đang gây ra những đau khổ không kể xiết dành cho người dân các nước này và đem lại lợi nhuận khổng lồ cho các tập đoàn sản xuất vũ khí. Hơn ai hết, người dân Việt Nam đều thấu hiểu bộ mặt thật đằng sau các chiêu trò “nhân quyền” của Mỹ. Trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, để bảo vệ cho “chế độ dân chủ” tay sai của mình ở miền Nam, Mỹ đã dội lên đầu mỗi người dân Việt Nam hơn 45,5 kg bom đạn; tiến hành hàng trăm nghìn cuộc vây ráp, khủng bố và giết chóc. Tàn ác hơn, họ đã cho rải hơn 80 triệu lít chất độc hóa học có chứa dioxin trên khắp Việt Nam, khiến gần 05 triệu người Việt Nam bị chết, tàn tật và di chứng cho nhiều thế hệ sau; hơn 40.000 người bị chết và 60.000 người bị thương do bom mìn sót lại sau chiến tranh gây ra, trung bình mỗi năm cướp đi tính mạng của hơn 1.000 người và hơn 1.300 người phải mang thương tích, thương tật suốt đời. Như vậy, chẳng phải chỉ đích danh, song ai cũng biết những kẻ lớn tiếng phê phán quốc gia khác không “bảo đảm sự toàn vẹn của con người” lại là kẻ vi phạm nghiêm trọng nhất điều này, cả trong lịch sử lẫn hiện tại. Sự thật đó cho thấy, cái gọi là “tôn trọng sự toàn vẹn của con người” trong báo cáo nhân quyền của Bộ Ngoại giao Mỹ thật phi lý.

Bản chất của nhân quyền là sự đảm bảo về quyền sống, quyền tự do và bình đẳng đối với mỗi con người trong một chế độ xã hội nhất định. Bảo đảm việc thực thi các giá trị này trên thực tế đến đâu sẽ nói lên bản chất của một chế độ xã hội. Với bản chất tốt đẹp, tiến bộ của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa - nền dân chủ của dân, do dân và vì dân, Việt Nam luôn đặt con người ở trung tâm của mọi chính sách phát triển, nhằm đem lại cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Đó là quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

                                                                                Nguồn: ĐỨC THỊNH và PHAN NGỌC PHÚC*

 Diễn đàn “Phát huy vai trò của tổ chức đoàn trong tham gia xây dựng Đảng, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh”

Đây là 1 trong 3 diễn đàn thảo luận quan trọng hướng tới chào mừng Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Khối Các cơ quan Trung ương lần thứ IV, nhiệm kỳ 2022-2027.

Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 25-7-2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã khẳng định, Đảng lãnh đạo công tác thanh niên và trực tiếp lãnh đạo Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Xây dựng Đoàn vững mạnh là nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, là xây dựng Đảng trước một bước.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng nhấn mạnh, cần phải tạo động lực cho thanh niên xung kích trong học tập, lao động sáng tạo, khởi nghiệp, lập nghiệp, làm chủ các kiến thức, khoa học, công nghệ hiện đại, phát huy vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng cần phải tăng cường sự lãnh đạo đối với công tác thanh niên bằng các nhiệm vụ và giải pháp toàn diện, đồng bộ, mạnh mẽ, tích cực và trách nhiệm.

Theo đó, phát biểu khai mạc diễn đàn, đồng chí Đào Anh Tuấn, Bí thư Đoàn Thanh niên Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nhấn mạnh, Đoàn Thanh niên tham gia xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị là nhiệm vụ xuất phát từ quy luật khách quan và quy luật sinh tồn của Đảng, Đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội của thanh niên. Do đó, việc Đoàn Thanh niên tham gia xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, mà trước hết và cụ thể nhất là tham gia xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh là nhiệm vụ thường xuyên, nhưng cũng là trách nhiệm, quyền và lợi ích hợp pháp của đoàn viên, thanh niên cũng như tổ chức đoàn.

Toàn cảnh diễn đàn.

Toàn cảnh diễn đàn. 

Diễn đàn khoa học lần này là nơi để trao đổi tri thức, cũng như đánh giá, khẳng định vai trò, trách nhiệm, những đóng góp của Đoàn Thanh niên trong việc tham gia xây dựng Đảng, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh, từ đó cùng thảo luận đưa ra giải pháp, kiến nghị, những bài học kinh nghiệm cho các hoạt động của Đoàn trong việc tiếp tục phát huy vai trò của mình.

5 nội dung, 5 phương thức tổ chức đoàn tham gia xây dựng Đảng, xây dựng cơ quan, đơn vị

Trao đổi tại diễn đàn, PGS, TS. Phạm Tất Thắng, Phó Viện trưởng Viện Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến các nội dung mà Đoàn Thanh niên sẽ tham gia xây dựng Đảng, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh bao gồm: (1) Tham gia xây dựng, góp ý vào các dự thảo, nghị quyết của Đảng, các chủ trương, kế hoạch công tác của cơ quan, đơn vị; (2) Tham gia thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; (3) Tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, của các cơ quan, đơn vị; (4) Tham gia hoạt động giám sát, phản biện xã hội, giám sát tổ chức đảng, đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức trong việc chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; (5) Phát huy vai trò của tổ chức đoàn trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái của thế lực thù địch.

Đồng chí Phạm Tất Thắng chỉ ra các phương thức để tổ chức đoàn thực hiện việc tham gia xây dựng Đảng, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh. Theo đó, tổ chức đoàn phải trở thành lực lượng nòng cốt tham gia tuyên truyền, vận động đoàn viên, thanh niên, các tầng lớp nhân dân trong việc thực hiện đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Ngoài ra, với thế mạnh của các cơ quan Trung ương với nhiều cơ quan nghiên cứu khoa học thì hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn trong đoàn viên, thanh niên cần được đẩy mạnh. Bên cạnh đó, thông qua các diễn đàn, tọa đàm với người đứng đầu cấp ủy, người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Đây vừa là kênh để đoàn viên, thanh niên bày tỏ tâm tư, nguyện vọng, nhưng cũng là nơi trao đổi, đóng góp ý kiến tham gia xây dựng Đảng, xây dựng cơ quan đơn vị một cách trực tiếp, hiệu quả. Tổ chức đoàn có thể phối hợp hành động cùng chính quyền, mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội khác tham gia xây dựng Đảng, xây dựng cơ quan, đơn vị. Đoàn Thanh niên cần thông qua chính các phong trào xung kích, hành động cách mạng của mình để thực hiện Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước với những ý tưởng đột phá, thực chất.

 5 thách thức đặt ra đối với tổ chức đoàn tham gia xây dựng Đảng

Tại diễn đàn, đồng chí Vũ Đình Hoàng, đoàn viên của Đoàn Thanh niên Học viện Chính trị khu vực I, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã chỉ ra những thách thức đối với tổ chức đoàn các cấp trong việc tham gia công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Theo đó, đồng chí Vũ Đình Hoàng chỉ ra 5 thách thức: (1) Tình trạnh “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị” đang xảy ra ở một bộ phận không nhỏ đoàn viên, thanh niên. Một số thanh niên không nhận thức được đầy đủ quyền lợi, trách nhiệm khi tham gia hoạt động đoàn; (2) Một số tổ chức đoàn xem nhẹ công tác giới thiệu đoàn viên ưu tú để xem xét kết nạp Đảng; (3) Việc tổ chức một số chương trình, phong trào cho thanh niên còn hình thức, chưa chú trọng đến việc phục vụ nhu cầu, lợi ích chính đáng của đoàn viên, thanh niên; (4) Hoạt động giám sát và phản biện xã hội ở một số tổ chức đoàn cấp cơ sở chưa phát huy được hết vai trò, trí tuệ của đoàn viên; (5) Hoạt động kiểm tra giám sát của tổ chức đoàn một số nơi chưa phát huy được hiệu quả. Có tình trạng uỷ ban kiểm tra của một số cơ sở đoàn không hoạt động hay hoạt động hình thức, qua loa.

Trước tiên phải xây dựng chính bản thân mỗi đoàn viên, thanh niên

Phát biểu tại diễn đàn, đồng chí PGS, TS. Đinh Ngọc Giang, Vụ trưởng Vụ Quản lý khoa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nhấn mạnh, đoàn viên, thanh niên phải tập trung xây dựng chính bản thân mình trước tiên, rồi từ đó mỗi người cán bộ, đảng viên sẽ là những cá nhân tốt để đóng góp được nhiều nhất cho cơ quan, đơn vị. Bản thân mỗi cá nhân tốt, đơn vị tốt thì toàn cơ quan cũng sẽ tốt lên.

Đồng chí Đinh Ngọc Giang cũng cho biết, việc tham gia xây dựng Đảng, xây dựng cơ quan, đơn vị nên đi từ những việc làm thiết thực, không phải quá lớn lao. Ví dụ như hiện nay, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh có đề án “Đào tạo đội ngũ giảng viên trẻ”, thì ngay từ khi xây dựng dự thảo Đề án thì Đoàn Thanh niên phải có tiếng nói, đóng góp, xây dựng. Hay Đoàn Thanh niên có thể chủ động ứng cử vào Ban Thanh tra nhân dân để tham gia giám sát hoạt động của các đơn vị, tổ chức, cơ quan.

Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân và những biểu hiện tiêu cực trong cơ quan, đơn vị

Đại diện cho tuổi trẻ cơ quan Ban Tổ chức Trung ương, đồng chí Nguyễn Bá Thắng, đoàn viên Chi đoàn 1 đã trình bày tham luận về chủ đề "Đoàn viên, thanh niên cơ quan Ban Tổ chức Trung ương tham gia đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân và những biểu hiện tiêu cực".

Đồng chí Nguyễn Bá Thắng trình bày tham luận

Đồng chí Nguyễn Bá Thắng phát biểu tại diễn đàn.

Theo đồng chí Nguyễn Bá Thắng, chủ nghĩa cá nhân và những biểu hiện tiêu cực là nguồn gốc gây ra các căn bệnh, những hệ luỵ hết sức nguy hại, đó là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, xa rời chính trị, mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN.

Theo đó, những năm qua, Đoàn Thanh niên cơ quan Ban Tổ chức Trung ương đã chăm lo làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục truyền thống, đạo đức, lối sống văn hóa cho đoàn viên, thanh niên, cũng như triển khai nhiều hoạt động tình nguyện xung kích vì cuộc sống cộng đồng, gắn các phong trào thanh niên gắn với nhiệm vụ, chuyên môn của đoàn viên, thanh niên tại các cơ quan, đơn vị trong Ban.

Ngoài ra, Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên cơ quan Ban Tổ chức Trung ương cũng đặc biệt quan tâm triển khai việc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, những biểu hiện tiêu cực gắn với phong trào “Xây dựng hình ảnh người đoàn viên cơ quan Ban Tổ chức Trung ương có bản lĩnh chính trị, vững vàng chuyên môn, nghiệp vụ, tận tuy, trách nhiệm với công việc, tham mưu giỏi, phục vụ tốt”.

Nhận thức rõ về trách nhiệm của tổ chức đoàn tham gia xây dựng Đảng, xây dựng cơ quan

Phát biểu bế mạc tại diễn đàn, đồng chí Nguyễn Ngọc Điệp, Phó Bí thư Đoàn Khối Các cơ quan Trung ương nêu lên những giải pháp mà các cấp bộ đoàn cần tập trung trong thời gian tới để phát huy vai trò của tổ chức đoàn tham gia xây dựng Đảng, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh.

Đồng chí Nguyễn Ngọc Điệp nhấn mạnh các giải pháp nhằm phát huy vai trò của tổ chức Đoàn tham gia xây dựng Đảng, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh.

Đồng chí Nguyễn Ngọc Điệp nhấn mạnh các giải pháp nhằm phát huy vai trò của tổ chức đoàn tham gia xây dựng Đảng, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh. 

Trước hết, mỗi các cấp bộ đoàn nhận thức rõ về trách nhiệm của mình đối với vấn đề này. Các cấp bộ đoàn cần xác định được nội dung để tham gia xây dựng Đảng, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh, phù hợp với điều kiện thực tế, nhiệm vụ chuyên môn, nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị mình và cần xác định đâu là nhiệm vụ trước mắt, đâu là nhiệm vụ mang tính chất chiến lược, lâu dài của cơ quan, đơn vị.

Cần chủ động đề xuất với các cấp ủy đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị trong việc đảm nhiệm những công trình, phần việc mới, nhiệm vụ khó. Cần kết hợp hài hòa giữa các nhiệm vụ chính trị trước mắt với các nhiệm vụ lâu dài của ngành, của đơn vị. Có cách làm sáng tạo, luôn luôn kiên trì trong công tác tham mưu, triển khai các nội dung của công tác đoàn và phong trào thanh niên.

VIỆT NAM HIỆN NAY KHÔNG PHẢI LÀ NƯỚC "TRUNG LẬP" MÀ LÀ MỘT QUỐC GIA "ĐỘC LẬP"!

     Thứ nhất: Việt Nam là quốc gia độc lập. Vì vậy, quan điểm của Việt Nam thông qua phát ngôn của bộ ngoại giao là phát ngôn của giới cầm quyền tại Việt Nam đưa ra chứ không lệ thuộc vào sự chỉ đạo của bất cứ quốc gia nào khác.
- Việt Nam từng lệ thuộc vào Pháp (Pháp đã bị đuổi sau Điện Biên Phủ)
- Việt Nam từng lệ thuộc vào Nhật (Nhật đã đầu hàng đồng minh và Việt Minh theo đồng Minh).
- Việt Nam từng bị Mỹ can thiệp vũ trang (Mỹ đã cút sau hiệp định Pari).
- Việt Nam từng lệ thuộc Trung Quốc bọn Việt Quốc Việt Cách bị đuổi ngay từ bình minh độc lập tự chủ 1945 - 1946, người Hoa mất quyền thống lĩnh kinh tế sau 1979.
     Thứ hai: Việt Nam là 1 thái cực (nước lớn) trong bàn cờ chính trị ở châu Á Thái Bình dương.
- Việt Nam sẵn sàng can thiệp vũ trang hỗ trợ Pa thét Lào.
- Việt Nam hào hiệp đưa quân tiến vào tận sào huyệt giúp nhân dân Campuchia diệt Polpot.
- Việt Nam đơn phương tuyên bố chủ quyền, quyền chủ quyền đối với Hoàng Sa - Trường Sa, kiên định chủ quyền ở vịnh Thái Lan thách thức quân đội Trung Quốc, Thái Lan, Mã Lai, Philippine, Indonesia... (vì nó là chủ quyền của Việt Nam. Cấm cãi)
- Tất cả các cuộc bàn thảo về an ninh biển Đông không thực sự có kết quả nếu không có Việt Nam tham gia với tư cách thành viên nòng cốt.
     Thứ ba: Việt Nam là quốc gia duy nhất trong thời điểm hiện tại thực sự thắng đế quốc Mỹ trong 1 cuộc chiến tranh hạng nặng.
     Nói tóm lại: Việt Nam là một nước độc lập, tự chủ./.
Môi trường (Yêu nước) ST.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 06 THÁNG 10 NĂM 1945!

         “Muốn cho danh chính, lợi chính, thì Danh, làm sao cho dân tộc mình có danh với thế giới, và Lợi, làm thế nào cho tranh được lợi với thế giới”!
     Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài “Nói chuyện với đại biểu các báo chí về nội trị, ngoại giao nước nhà trong những ngày vừa qua”, Người nói ngày 06 tháng 10 năm 1945; đăng trên Báo Cứu quốc, số 61, ngày 08 tháng 10 năm 1945.
     Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời - một mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Tuy nhiên, những năm tháng đầu sau ngày độc lập, chúng ta gặp phải muôn vàn khó khăn, thách thức, cùng lúc phải đối phó với giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm; chính quyền mới được thành lập chưa được củng cố, lực lượng vũ trang còn non yếu và những tàn dư của xã hội cũ còn sót lại trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; trong đó, có hiện tượng một số ít cán bộ ham muốn danh, lợi nên chưa thật sự tận tâm, tận lực phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.
     Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều bài viết, bài nói giải thích về Danh và Lợi cho cán bộ, đảng viên các cấp, các ngành để họ nắm rõ, hiểu đúng và hành động đúng. Theo Bác, Danh - nghĩa là phải làm tròn bất kỳ nhiệm vụ nào nhân dân giao phó thì đều là danh dự, là vẻ vang, là anh hùng, nếu phải hy sinh tính mạng thì tiếng thơm lưu truyền mãi mãi. Về Lợi, Hồ Chí Minh thường nhắc nhở cán bộ, đảng viên đối với công việc hằng ngày “Việc gì có lợi cho dân, thì phải làm cho kỳ được. Việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh” và việc gì dù lợi cho mình, phải xem xét có lợi cho nước hay không? Nếu không có lợi mà có hại cho nước thì quyết không làm. Khi phải cân nhắc, chọn lấy một, giữa lợi ích riêng và lợi ích chung, thì phải chọn lợi ích chung, phải hy sinh lợi ích riêng cho lợi ích chung, vì lợi ích cho nước tức là lợi ích cho mình, lợi ích chung của đất nước của dân tộc có thắng lợi thì lợi ích riêng của gia đình thắng lợi. Hồ Chí Minh từng chỉ rõ chủ nghĩa cá nhân – căn bệnh luôn đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc, chính là cha đẻ của tư tưởng danh lợi chỉ muốn làm ông này, ông khác, bà này, bà khác. Tư tưởng danh lợi lại đẻ ra trăm thứ bệnh.
     Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, các thế hệ cán bộ, đảng viên của Đảng đã luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc và nhân dân lên trên, lên trước, sẵn sàng chiến đấu, hi sinh vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, luôn đồng cam, cộng khổ với quần chúng nhân dân, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” thực sự là hạt nhân lãnh đạo, đoàn kết đã cùng với toàn dân, toàn quân làm nên những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, sa đà vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi…. làm giảm sút lòng tin đối của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ, cần phải kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm.
     Đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội là hạt nhân lãnh đạo, đoàn kết ở đơn vị, say mê, gắn bó hết mình với công việc, chức trách, nhiệm vụ được giao; có ý thức tiết kiệm của công, không tham nhũng, lãng phí; công minh, chính trực, thẳng thắn đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực; không quản hy sinh, gian khổ; luôn chấp hành và gương mẫu đi đầu trong mọi công việc; sẵn sàng đến những nơi khó khăn vất vả, từ biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa; có lối sống trung thực, giản dị, gần gũi, thương yêu đồng chí, đồng đội; có tinh thần đoàn kết, bao dung, độ lượng, vị tha. Gương mẫu trong mọi lúc, mọi nơi, luôn đi đầu gương mẫu trong thực hiện thắng lợi mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ của quân đội, là chỗ dựa tin cậy của bộ đội./.
Môi trường (Yêu nước) ST.

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG BIỂU HIỆN BẤT TUÂN DÂN SỰ


Bất tuân dân sự (BTDS) là các hoạt động công khai từ chối tuân theo hoặc vi phạm một cách cố ý đối với một số đạo luật nhất định nhằm cản trở quá trình thực thi chính sách, luật pháp của Nhà nước. Đây là hình thức phản kháng bất bạo động, gây áp lực buộc Nhà nước phải thay đổi chính sách, luật pháp, thậm chí dẫn đến lật đổ chính quyền.
Trên thế giới, các thế lực thù địch đã lợi dụng BTDS để đẩy lên thành các cuộc cách mạng hòa bình chống lại chính phủ, thậm chí lật đổ chính phủ. Điển hình như: cách mạng vàng ở Philippines năm 1983, cách mạng nhung ở Tiệp Khắc năm 1989, cách mạng đường phố ở Nam Tư năm 2000, cách mạng nhung ở Gruzia năm 2003, cách mạng cam ở Ukraina năm 2004 và 2014...
BTDS gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, cản trở hoạt động công quyền, thực thi công lý, gây ra những hiểm họa khôn lường, thậm chí khủng hoảng toàn diện, sâu sắc cho nhiều vùng lãnh thổ và quốc gia trên thế giới.
Thời gian gần đây, các thế lực thù địch lợi dụng BTDS để chống phá sự nghiệp đổi mới của Việt Nam, từng bước thực hiện mục tiêu diễn biến hòa bình nhằm lật đổ chính quyền, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức khác nhau. Cụ thể như bất tuân cưỡng chế của một số đối tượng khi giải phóng mặt bằng ở Bắc Giang, Hải Phòng, Hà Nội, Đắk Nông, Gia Lai...; bất tuân quy định về thành lập hội (nhóm), đòi lập các tổ chức xã hội dân sự (thực chất là phản động trá hình) như "Hội anh em dân chủ", "Hội phụ nữ nhân quyền Việt Nam", "Hội cựu tù nhân lương tâm Việt Nam"...
Ở Hải Dương trong những năm trước cũng từng xảy ra những sự việc BTDS dưới hình thức tập trung đông người phản đối chính sách thu hồi đất của tỉnh để triển khai các dự án phát triển kinh tế-xã hội. Như vụ khiếu kiện đông người dẫn đến những hành động quá khích ở phường Hải Tân (TP Hải Dương); khiếu kiện ở xã Lai Vu (Kim Thành) khi thu hồi đất triển khai dự án khu công nghiệp Lai Vu; phản đối triển khai dự án xây dựng nhà máy xử lý rác thải, phát điện ở xã Lương Điền (Cẩm Giàng) và gần đây là vụ khống chế Nhà máy nước sạch ở xã An Phượng (Thanh Hà). Đây là những hành động BTDS của một nhóm người gây rối ở địa phương.
Một số nguyên nhân chính của BTDS do sự hạn chế hiểu biết pháp luật của một bộ phận người dân dẫn đến hành động mang tính chủ quan (cá biệt có yếu tố kích động của các phần tử xấu); công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật chưa sâu rộng, nhất là tuyên truyền trước khi triển khai các dự án đầu tư; việc nắm và phản ánh dư luận xã hội, nhất là giải quyết ngay những băn khoăn, thắc mắc từ cơ sở chưa được làm tốt; một bộ phận cán bộ, đảng viên còn vi phạm kỷ luật...
Trước những diễn biến phức tạp, sự biến tướng của BTDS trong đời sống xã hội, chúng ta cần chủ động phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời việc lợi dụng BTDS nhằm thực hiện mục tiêu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch. Lên án mạnh mẽ và kiên quyết đấu tranh vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các tổ chức phản động có những hành động xúi giục, kích động lôi kéo người dân. Phối hợp chặt chẽ các tổ chức ở cơ sở để nắm thông tin một cách thường xuyên, liên tục. Đặc biệt quan tâm đẩy mạnh công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quyền và nghĩa vụ công dân; lên án những hành vi vi phạm pháp luật; đa dạng hoá các hình thức tuyên truyền trước, trong và sau khi triển khai các dự án đầu tư, các công trình trọng điểm, nhất là các công trình liên quan đến lợi ích của người dân. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và quản lý nhà nước. Nâng cao chất lượng chế độ dân chủ đại diện, mở rộng và có cơ chế từng bước thực hiện chế độ dân chủ trực tiếp một cách thiết thực. Nâng cao hiệu quả công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; kịp thời phát hiện và xử lý các vấn đề bức xúc của nhân dân.
Cần kịp thời rà soát, bổ sung hoặc thay thế cơ chế, chính sách không còn phù hợp, tạo sự cân bằng lợi ích giữa các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, Nhà nước và nhân dân. Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội gắn với xóa đói, giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Khi xảy ra hiện tượng lợi dụng BTDS, đặc biệt đối với các điểm có tình hình phức tạp, khiếu kiện đông người thì cấp ủy, chính quyền cần chủ động nắm tình hình để có các phương án giải quyết linh hoạt, kịp thời và hiệu quả ngay từ cơ sở, tránh để bùng phát thành các điểm nóng.

Có thể là hình ảnh về 6 người, mọi người đang đứng và quân phục

BẢO VỆ CHÍNH TRỊ NỘI BỘ, YÊU CẦU VÀ NHIỆM VỤ TRONG TÌNH HÌNH MỚI


Bảo vệ chính trị nội bộ là một trong những nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; có ý nghĩa sống còn đối với sinh mệnh của Đảng, sự sống còn của chế độ và lợi ích quốc gia - dân tộc.
Thời gian qua, các cấp ủy, tổ chức đảng đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; nắm chắc tình hình, rà soát, thẩm tra vấn đề lịch sử chính trị và chính trị hiện nay nên công tác bổ nhiệm, luân chuyển, điều động, đề bạt cán bộ, phục vụ kịp thời, hiệu quả công tác nhân sự. Kết quả nổi bật của công tác bảo vệ chính trị nội bộ là đã góp phần quan trọng khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội cũng như củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác bảo vệ chính trị nội bộ vẫn còn những hạn chế nhất định cần phải tiếp tục giải quyết tốt hơn, nhất là khắc phục sự bị động, lúng túng trong rà soát, thẩm tra, xác minh, thẩm định, kết luận về tiêu chuẩn chính trị của các đối tượng; nắm và quản lý tình hình chính trị nội bộ sâu sát, kịp thời hơn. Thực hiện các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước của một số cơ quan, đơn vị, cá nhân cần nghiêm túc hơn, không để xảy ra sơ hở, mất cảnh giác, kể cả ở cơ quan, đơn vị, vị trí trọng yếu, cơ mật. Cùng với đó, phải phối hợp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ ở một số cấp ủy, tổ chức đảng thường xuyên, chặt chẽ hơn.
Thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực và trong nước tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường, điều đó đặt ra nhiều vấn đề mới cho công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới. Trong đó cần tiếp tục quán triệt sâu sắc và triển khai đồng bộ, toàn diện các giải pháp, biện pháp cụ thể, khả thi để nâng cao hơn nữa trình độ nhận thức, hiểu biết về vị trí, vai trò, nội dung, yêu cầu, nhiệm vụ của công tác bảo vệ chính trị nội bộ cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy. Kết hợp chặt chẽ giữa công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; thường xuyên thực hiện tốt công tác nắm tình hình, rà soát chính trị nội bộ; tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức, bố trí cán bộ làm công tác bảo vệ an ninh ở các cấp. Chủ động phối hợp với các cơ quan có liên quan trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ; nâng cao ý thức trách nhiệm, niềm vinh dự, tự hào của cán bộ, đảng viên được bổ nhiệm, đề bạt, cử đi học, ra nước ngoài... để tiếp tục đạt được những kết quả tốt hơn trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.
Có thể là hình ảnh về 1 người, đang đứng và văn bản