Thứ Năm, 6 tháng 10, 2022

Tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 

Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng. Đây là điều đã được khẳng định và minh chứng trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Song, nền tảng đó muốn lâu bền, vững chắc thì không chỉ thể hiện trên văn bản, giấy tờ, nghị quyết,… của từng tổ chức, mà điều quan trọng nhất là sự tồn tại, thấm sâu trong chính nhận thức, suy nghĩ, tư tưởng, tình cảm và hành động thực tiễn – những biểu hiện cụ thể từ đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên. Điều đó được biểu hiện sinh động ở quan hệ biện chứng tác động lẫn nhau giữa hai nhân tố này trong quá trình vận động, phát triển của cách mạng. Theo đó, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở phương pháp luận, thế giới quan, nội dung, tiêu chí để xây đắp, bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Ngược lại, đạo đức cách mạng là cơ sở tiếp thu, “nuôi dưỡng” và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng. Do vậy, đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên có vai trò quan trọng, trực tiếp góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, đạo đức là gốc, nền tảng của người cách mạng, Người cho rằng “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”1. Đặc biệt, làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ, đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới “gánh được nặng và đi được xa”; trước những khó khăn, gian khổ, phức tạp không dao động, luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng đã lựa chọn. Vì vậy, tiêu chuẩn đầu tiên của người cán bộ là phẩm chất đạo đức, “đạo đức là gốc”, người cán bộ phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức mới có thể trở thành người cán bộ chân chính, “mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không”.

Đạo đức cách mạng, theo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, gồm nhiều yếu tố, tựu trung là: trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân; yêu thương con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng. Trong đó, điều mấu chốt nhất là: quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Thấm nhuần điều đó, từ khi thành lập Đảng cho tới nay, tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên luôn thể hiện rõ phẩm chất đạo đức cách mạng; tích cực, chủ động học tập, thấm nhuần và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; nêu cao bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì sự phát triển phồn vinh của đất nước.

Tuy nhiên, trước những tác động tiêu cực đa chiều, nhất là mặt trái của kinh tế thị trường và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch,... một số cán bộ, đảng viên đã không giữ được phẩm chất đạo đức, lối sống, sa vào chủ nghĩa cá nhân. Tình trạng tham nhũng, tiêu cực trên một số lĩnh vực, địa bàn, cơ quan, đơn vị của một số cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ cấp cao diễn ra nghiêm trọng, phức tạp, với nhiều biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội. Đặc biệt, một bộ phận cán bộ, đảng viên do thiếu tu dưỡng rèn luyện dẫn tới phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính tri, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thậm chí vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước buộc phải xử lý, v.v. Đó là nguyên nhân sâu xa dẫn đến một số cán bộ, đảng viên hư hỏng, biến chất đòi phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Triệt để lợi dụng thực trạng này, các thế lực thù địch đẩy mạnh xuyên tạc, kích động chống phá, gieo rắc hoài nghi,... làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, v.v.

Đại hội XII của Đảng đã đặt nhiệm vụ xây dựng Đảng về đạo đức ngang với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng cũng đã chỉ rõ sự suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên “là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”2. Đến Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh vấn đề xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; trong đó, xây dựng Đảng về đạo đức được đặt ở một vị trí cao hơn.

Như vậy, đạo đức cách mạng là phẩm chất quan trọng hàng đầu của mỗi cán bộ, đảng viên và có ý nghĩa quyết định tới sự tồn vong của Đảng, của chế độ nói chung và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nói riêng; đòi hỏi, cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần tự tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức cách mạng là giải pháp quan trọng để góp phần giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng. Để thực hiện tốt điều đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:

Một là, nhận thức đúng đắn vai trò quan trọng của tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng. Thực tế cho thấy, những cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật có nguyên nhân căn bản từ việc thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức. Mặc dù được công tác, học tập trong môi trường có tính kỷ luật cao, tổ chức chặt chẽ; vẫn được giáo dục, tuyên truyền; vẫn tham gia đầy đủ các lớp học, các hội nghị; được quán triệt, học tập đầy đủ các nghị quyết, chỉ thị,… nhưng do chưa nhận thức đúng vai trò của tự tu dưỡng nên một số cán bộ, đảng viên buông lỏng bản thân, không có, hoặc chưa có hoạt động tự tu dưỡng, rèn luyện đủ mạnh, khiến đạo đức người đảng viên, cán bộ không được bồi đắp, đi chệch hướng.

Việc rèn luyện đạo đức cách mạng không phải dễ dàng, bởi ai cũng muốn, thậm chí ham muốn được phát triển, có quyền lực, có điều kiện kinh tế, có cuộc sống sung túc, muốn được hưởng thụ, thậm chí còn muốn được xa hoa,… do vậy, đấu tranh để thắng những ham muốn của bản thân mình là một cuộc đấu tranh gay go, phức tạp và phải do tự mình “chiến đấu”. Khó, nhưng không phải không làm được. Tấm gương tự tu dưỡng, tự rèn luyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và biết bao đảng viên khác để đưa đất nước đến ngày hôm nay là minh chứng rõ nét. Sinh thời, Chủ tịch  Hồ Chí Minh chỉ rõ, kẻ địch cần chống trước hết là chống thói quen và truyền thống lạc hậu; đặc biệt là chống chủ nghĩa cá nhân đang ẩn chứa trong mỗi con người, khi có điều kiện tác động nó sẽ phát triển. Cho nên, mỗi cán bộ, đảng viên “trước hết phải đánh thắng lòng tà là kẻ thù trong mình”. Và, phải chủ động đấu tranh loại bỏ hàng trăm thứ bệnh do chủ nghĩa cá nhân gây ra vì nó là vật cản nguy hiểm cho việc xây dựng đạo đức cách mạng của quân nhân.

Hai là, tích cực nghiên cứu, học tập. Trước hết, phải thường xuyên học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Không nắm vững, không thấm nhuần nền tảng tư tưởng của Đảng thì không thể tu dưỡng được đạo đức cách mạng, đồng thời cũng không thể bảo vệ, phát triển, thậm chí còn làm tổn hại tới nền tảng tư tưởng của Đảng. Việc tự học tập là rất quan trọng, hiện nay, hoạt động này đang bị tác động tiêu cực từ nhiều mặt. Cản trở lớn nhất là sự phát triển của công nghệ giải trí, của mạng xã hội với vô vàn các nội dung khiến một số cán bộ, đảng viên thiên về “thỏa mãn” nhu cầu giải trí, sao nhãng việc nghiên cứu, học tập. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên cần xây dựng cho mình kế hoạch tự học tập phù hợp, hiệu quả, khả thi và thực hiện nghiêm túc. Giải quyết hài hòa giữa nhu cầu thư giãn, giải trí, tái tạo sức lao động với nhu cầu trau dồi kiến thức nền tảng của người cán bộ, đảng viên. Để việc tự học tập đạt hiệu quả, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần cụ thể hóa những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, đề ra phương hướng, mục tiêu, nội dung, giải pháp để tuyên truyền, giáo dục cho phù hợp với đặc điểm, tình hình nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, địa phương, đối tượng. Kết hợp tuyên truyền, giáo dục với tạo điều kiện cho đảng viên tự học, tự rèn, tự soi, tự sửa để hoàn thiện bản thân; nâng cao nhận thức về mục tiêu, lý tưởng cộng sản, lòng trung thành đối với mục tiêu, lý tưởng của Đảng; rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, tình yêu thương con người; gương mẫu trong công tác, lối sống, khiêm tốn giản dị, dân chủ, đoàn kết và kỷ luật, nói đi đôi với làm; thương yêu đồng chí, đồng đội, không quan liêu, độc đoán chuyên quyền, gia trưởng.v,v. Cán bộ, đảng viên phải có trình độ chuyên môn và tác phong, phương pháp công tác tốt; luôn đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc và của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân; luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, không dao động trước khó khăn, thử thách.

Ba là, thực hiện hiệu quả các nguyên tắc trong tự tu dưỡng đạo đức cách mạng. Đầu tiên là phải luôn nói đi đôi với làm, nêu gương tốt, làm việc tốt. Đây không chỉ là nguyên tắc rèn luyện mà còn là sự phân biệt giữa đạo đức cách mạng và phi đạo đức cách mạng. Vì vậy, lời nói của cán bộ, đảng viên phải đi đôi với việc làm và phải thực hiện tốt việc làm gương. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn 100 bài diễn văn tuyên truyền”, “trước mắt quần chúng, không phải cứ viết lên trán hai chữ cộng sản mà ta được họ yêu quý. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức”. Đạo đức ở đây không phải là đạo đức “tu thân” mà là đạo đức “dấn thân”, đạo đức trong hành động. Đã là hành động, nhất là hành động cách mạng, phải chú trọng đến hiệu quả. Nếu làm việc gì cũng không có hiệu quả thì không thể coi là một người có đạo đức. Muốn hướng dẫn cho quần chúng thì cán bộ, đảng viên phải làm mực thước. Muốn cho cơ quan, đơn vị đoàn kết, thì tập thể lãnh đạo phải thực sự dân chủ, đoàn kết, công tác cán bộ phải công tâm, khách quan, v.v. Cán bộ, đảng viên phải làm gương mọi mặt cho quần chúng noi theo.

Thực hiện lời dạy của Bác: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, việc làm gương phải thực hiện ở mọi nơi, mọi việc, từ cán bộ cấp cao tới cơ sở;tu dưỡng đạo đức cách mạng phải trên tinh thần tự giác, tự nguyện, dựa vào lương tâm, trách nhiệm, chức trách, nhiệm vụ của mỗi người và sự đóng góp xây dựng của tập thể. Trong cuộc sống thường nhật, ai cũng có mặt mạnh, mặt hạn chế, không ai có thể đạt tới sự hoàn mỹ một cách tuyệt đối. Cho nên, mỗi đảng viên phải biết và dám dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật bản thân con người mình và dựa vào tập thể để thấy cái tốt, cái hay để phát huy, cái xấu, cái ác để khắc phục. Việc tu dưỡng đạo đức cách mạng phải gắn liền với thực tiễn hoạt động công tác; phải bền bỉ, ở mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh.

Bốn là, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ. Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới những vi phạm của một số tổ chức, cá nhân thời gian qua, đó cũng là căn nguyên làm xói mòn đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Vì vậy, để tự tu dưỡng đạo đức cách mạng, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì cần nhận thức đúng đắn và thống nhất về nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Nắm chắc nội dung, yêu cầu của nguyên tắc trong tình hình mới; đấu tranh chống những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận nguyên tắc này. Quá trình thực hiện dân chủ phải đi đôi với tập trung; phát huy dân chủ phải đồng thời gắn liền với chống dân chủ cực đoan, dân chủ không tuân theo kỷ cương, phép nước. Nguyên tắc tập trung dân chủ phải được thực hiện theo đúng Điều lệ Đảng và trong mối quan hệ đồng bộ với các nguyên tắc khác, như tự phê bình và phê bình, đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Theo đó, những vấn đề trọng yếu, nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng nhất thiết phải được tập thể cấp ủy (ban thường vụ), chi bộ thông qua trước khi thực hiện. Từng đảng viên phải đề cao trách nhiệm tự phê bình và phê bình, phát biểu thẳng thắn, trung thực, khách quan; thấy đúng phải kiên quyết bảo vệ, thấy sai dám đấu tranh bác bỏ. Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, trên nguyên tắc luôn luôn đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân và tập thể cơ quan, đơn vị lên trên hết, trước hết. Không cơ hội, vụ lợi; chạy theo mục tiêu trước mắt, ngắn hạn để thu vén lợi ích cho bản thân, gia đình mà bỏ qua lợi ích tập thể. Chỉ khi nào cán bộ, đảng viên hết lòng, hết sức xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh thì khi đó chủ nghĩa cá nhân mới được đẩy lùi và đạo đức cách mạng mới được bồi đắp, phát huy.

Thực hiện hiệu quả việc tự tu dưỡng, rèn luyện là cơ sở, nền tảng để xây dựng và phát huy phẩm chất, đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Đó cũng là yếu tố gốc rễ để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

PHẠM TUẤN – MINH ĐỨC
_______________

1 - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 292.

2 -  ĐCSVN - Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H. 2016, tr. 23.

Ai đang đánh tráo khái niệm về nhân quyền?

     

Cái gọi là “thư ngỏ” của một vài tổ chức nhân danh quốc tế về nhân quyền gửi tới các quốc gia thành viên Đại hội đồng Liên hợp quốc (LHQ) nhằm vận động không bỏ phiếu cho Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025 thật thiếu cơ sở.

Ngoài việc thường xuyên “đâm bị thóc, chọc bị gạo” vấn đề nhân quyền của các quốc gia mà họ thù địch, thì vài tổ chức nhân danh quốc tế về nhân quyền này đã làm được gì để quyền con người trên thế giới tốt đẹp hơn? Thật lố bịch khi họ lại tự cho mình có quyền phán xét, mặc cả, ra điều kiện về nhân quyền đối với các quốc gia có chủ quyền như Việt Nam.


Một bản kiến nghị “tổ ong”

Tổ ong có hình thức thủng lỗ chỗ. Thư ngỏ của một số tổ chức này giống như một tổ ong. Nó chỉ có phần lõm mà không có phần lồi. Thôi thì vẫn còn một chút niềm tin vớt vát rằng, nhiều khả năng nguồn thông tin mà các tổ chức nhân danh nhân quyền này tiếp nhận được về Việt Nam thông qua một lăng kính méo mó.

Vì họ không được mắt thấy, tai nghe, tiếp nhận thông tin sai lệch nên họ mới đưa ra kiến nghị rằng “Việt Nam là một quốc gia vi phạm nhân quyền nghiêm trọng và triền miên, không tuân thủ các cam kết, có thành tích hợp tác kém với Hội đồng Nhân quyền (HRC)”.

Họ tiếp tục chụp mũ: Tình hình nhân quyền đang xấu đi ở Việt Nam như đàn áp các tổ chức phi chính phủ, các nhà báo độc lập, các nhóm tôn giáo, những người bảo vệ môi trường và đất đai, những người ủng hộ nhân quyền...

Trong khi đó, báo cáo của họ lại phớt lờ, không đề cập đến những thành tựu với sự nỗ lực không mệt mỏi mà Việt Nam đã đạt được khi phấn đấu cho quyền con người. Những thành tựu ấy không chỉ được “tai nghe, mắt thấy” ở Việt Nam, mà còn được chính các tổ chức lớn của LHQ báo cáo, đánh giá định kỳ, như Chương trình Phát triển của LHQ (UNDP); Tổ chức Y tế thế giới (WHO) hay chính Hội đồng Nhân quyền (HRC)...

Đến đây thì "thư ngỏ" đã “lòi đuôi cáo” khi nó rất không công bằng, cố tình chỉ thấy cây mà không chịu thấy rừng. Không chỉ dịp này, năm nào cũng vậy, họ luôn cùng nhau “tiền hô hậu ủng” để cho ra đời những bản báo cáo về nhân quyền đầy màu sắc chính trị, sai sự thật để chống phá Việt Nam và một số quốc gia mà họ cho là đối lập về hệ tư tưởng.

Điều đầu tiên cần nói rõ, những tổ chức nhân danh nhân quyền trên không có tư cách để đánh giá, chấm điểm, xếp loại về nhân quyền ở Việt Nam, chứ chưa nói đến việc làm sai trái khi cố tình gửi yêu sách đến LHQ.

Chính lịch sử hàng trăm năm đấu tranh cho sự tiến bộ của loài người, vì quyền con người, các quốc gia trong mái nhà chung LHQ đã thống nhất một quan điểm: “Áp đặt tiêu chuẩn dân chủ, nhân quyền cho một quốc gia là vô lý”. Các nước trên thế giới ở những trình độ phát triển khác nhau, thể chế chính trị khác nhau nên không thể lấy giá trị, tiêu chuẩn về dân chủ, nhân quyền của nước này áp đặt cho nước khác. Các văn kiện pháp lý về quyền con người được LHQ quy định rất rõ ràng.

Không quốc gia nào, kể cả LHQ, có quyền can thiệp vào công việc thực chất thuộc thẩm quyền quốc gia, chứ đừng nói gì đến các tổ chức nhân danh. Mục 7, Điều 2, Chương I, Hiến chương LHQ khẳng định: “Hiến chương này hoàn toàn không cho phép LHQ được can thiệp vào những công việc thực chất thuộc thẩm quyền nội bộ của bất cứ quốc gia nào...”.

Trong môi trường hội nhập, sự trao đổi, hợp tác, đối thoại trên lĩnh vực quốc tế về nhân quyền là rất quan trọng, vì có thể bổ sung thêm cơ chế, kinh nghiệm trong việc bảo đảm quyền con người, tuy nhiên, theo các quy định pháp lý, nó chỉ nhằm bổ sung chứ không thể thay thế các cơ chế về bảo đảm quyền con người đang vận hành tại các quốc gia.

Vậy thì mấy tổ chức nhân danh nhân quyền kia lấy tư cách gì để đòi tước tư cách một quốc gia có chủ quyền như Việt Nam? Họ chẳng có tư cách gì!

Sự thật không như họ nói

Cùng với việc bác bỏ nội dung sai sự thật, không khách quan với định kiến xấu mà một số tổ chức nhân danh nhân quyền quốc tế đã đưa ra về tình hình Việt Nam, ngày 22-9, tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao, về việc Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng nhấn mạnh, những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực bảo đảm quyền con người trong thời gian vừa qua đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

Chúng ta hãy kiểm chứng lời của người phát ngôn:

Trước tiên, xin được dẫn đánh giá của bà Caitlin Wiesen, Trưởng đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam qua Báo cáo phát triển con người toàn cầu năm 2020: “Với chủ trương phát triển lấy con người làm trung tâm, ưu tiên phát triển con người và thúc đẩy bình đẳng trong các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, Việt Nam đạt được mức phát triển con người cao. Đây là một thành tựu đáng ghi nhận và cũng tạo cơ hội cho sự phát triển tốt hơn, nhanh hơn trong giai đoạn tới”.

Từ nhiều năm nay, LHQ luôn lấy Việt Nam là một điểm sáng về phát triển con người, nhất là trong thực hiện các mục tiêu Thiên niên kỷ về xóa đói, giảm nghèo, về công bằng và tiến bộ xã hội. Việt Nam nằm trong số những quốc gia đạt tốc độ giảm đói nghèo nhanh nhất thế giới. 

Năm 2006, Việt Nam đã tuyên bố hoàn thành "Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) về xóa nghèo", về đích trước gần 10 năm so với thời hạn. Cũng theo bà Caitlin Wiesen, quốc tế nhìn nhận rất tích cực những thành quả Việt Nam đạt được trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo trong vài thập kỷ vừa qua.

Đảng, Nhà nước ta luôn xác định chính sách nhất quán của Việt Nam trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, lấy con người là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước. Đại hội XIII của Đảng xác định: “Lấy con người là trung tâm của phát triển và được chia sẻ những thành quả của quá trình phát triển”(1).

Chính sách phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam là công bằng, hướng tới mọi đối tượng, không chỉ chú trọng phát triển kinh tế ở thành thị, mà luôn dành nguồn lực lớn, sự quan tâm sâu sắc tới xây dựng nông thôn mới, chăm lo đời sống người nông dân. Qua từng năm, hầu hết các chỉ tiêu về phát triển văn hóa, xã hội đều thay đổi nhanh chóng.

Một điểm đặc biệt của Việt Nam được quốc tế đánh giá rất cao, đó là đất nước rất chú trọng đến Chỉ số phát triển con người (HDI), dù kinh tế chưa đạt được như các nước tiên tiến. Báo cáo hằng năm của UNDP cho thấy, Việt Nam nằm trong nhóm các nước có tốc độ tăng HDI cao nhất thế giới. Nếu năm 1990, HDI của Việt Nam chỉ đạt mức thấp là 0,48 thì đến năm 2021, HDI của Việt Nam được UNDP công bố là 0,703, xếp thứ 115 trong số 191 quốc gia và vùng lãnh thổ. Cùng với quan tâm phát triển con người, quyền của các nhóm yếu thế như phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật... có những bước tiến rõ rệt.

Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng 20 năm qua; được LHQ đánh giá là điểm sáng về thực hiện bình đẳng giới trong thực hiện các mục tiêu Thiên niên kỷ. 

Phát biểu tại phiên họp cấp cao Khóa họp thường kỳ lần thứ 46 Hội đồng Nhân quyền LHQ ngày 22-2-2021, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh (nay là Phó thủ tướng Thường trực Chính phủ) khẳng định: "Là một thành viên tích cực của LHQ cũng như cộng đồng quốc tế, Việt Nam khẳng định thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về quyền con người, và luôn nỗ lực thúc đẩy phát triển quyền con người cả ở trong nước cũng như trên thế giới".

Một quốc gia có trách nhiệm giữa nói và làm

Cũng tại buổi họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao ngày 22-9 vừa qua, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định: "Chính sách nhất quán của Việt Nam là bảo vệ và thúc đẩy các quyền cơ bản của con người. Điều này đã được quy định cụ thể trong Hiến pháp 2013 và nhiều văn bản pháp luật khác có liên quan".

Quyền con người ở Việt Nam đã được thể hiện toàn diện, đầy đủ trong hiến pháp-đạo luật nền tảng của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đến Hiến pháp 2013, đã quy định rất rõ các quyền dân sự, chính trị; các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; các quyền của nhóm dễ bị tổn thương. Đặc biệt, Hiến pháp 2013 đã dành riêng một chương gồm 36 điều chế định và hiến định rõ ràng các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Đây là bản hiến pháp được quốc tế đánh giá là đỉnh cao trong hoạt động lập hiến bảo vệ quyền con người, quyền công dân, nó phù hợp với thực tiễn Việt Nam và với chuẩn mực quốc tế về quyền con người. Đơn cử như Điều 24 Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”.

Cùng với hiến pháp và các bộ luật, đến nay Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người, như: Công ước về quyền dân sự, chính trị; Công ước về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; Công ước về quyền trẻ em; Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người; Công ước về quyền của người khuyết tật...

Dù là quốc gia phải chịu nhiều đau thương, mất mát do chiến tranh tàn phá, nhưng đến nay, chúng ta có quyền tự hào, tự tin khi Nhà nước Việt Nam đã xây dựng được hệ thống pháp luật khá toàn diện, trong đó lấy con người làm trung tâm.

Việc Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025 là phù hợp với thực tiễn. Việt Nam không những đã có nhiều đóng góp tích cực mà còn có kinh nghiệm khi phấn đấu cho quyền con người.

Trước đó, năm 2013, Việt Nam lần đầu tiên trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2014-2016 với số phiếu 184/192, cao nhất trong số các nước thành viên mới. Khi đó, những sáng kiến của Việt Nam trong nhiệm kỳ 2014-2016 được quốc tế đánh giá cao, tiêu biểu như việc Việt Nam phối hợp cùng các quốc gia khác đưa ra: Vấn đề về bảo đảm quyền lao động của người khuyết tật; về bảo đảm môi trường làm việc an toàn cho người lao động trên biển; Nghị quyết về tác động của biến đổi khí hậu với quyền trẻ em; về nâng cao giáo dục trong phòng, chống buôn bán phụ nữ và trẻ em gái... 

Việc Việt Nam tiếp tục ứng cử là thành viên của Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025 là hoàn toàn xứng đáng. ASEAN cũng đã chính thức công nhận Việt Nam là ứng cử viên duy nhất của khối. Đó là minh chứng xác đáng cho những thành tựu và nỗ lực không ngừng của Việt Nam cho một cuộc sống tươi đẹp trên hành tinh xanh.

Việt Nam ứng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025 cùng nhiều cam kết, ưu tiên với thông điệp “Tôn trọng và Hiểu biết-Đối thoại và Hợp tác-Tất cả các quyền con người cho tất cả mọi người”. Việt Nam cũng đã được Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ủng hộ là ứng cử viên duy nhất của hiệp hội cho nhiệm kỳ này.

NGUYỄN ANH TUẤN

--------------------------------

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr. 81./.

Đấu tranh phản bác âm mưu, thủ đoạn chống phá trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật

     

Văn học, nghệ thuật là một bộ phận quan trọng của văn hóa, tác động trực tiếp đến quan điểm, nhận thức, tư tưởng, tình cảm và thẩm mỹ của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Văn học, nghệ thuật cũng là mục tiêu chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, là một trong những lĩnh vực mà các thế lực thù địch, phản động cùng những phần tử cơ hội thường xuyên lợi dụng để chống phá cách mạng nước ta. Nhận diện và đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, làm trong sáng đời sống tinh thần, tư tưởng cho con người và toàn xã hội.

ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Thời gian qua, các kênh truyền thông và các trang mạng xã hội đã được thiết lập để tạo kênh kết nối các lực lượng cực đoan, cơ hội ở trong và ngoài nước để lợi dụng lĩnh vực văn học, nghệ thuật nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, đồng thời lập quỹ để cung cấp tài chính, trả nhuận bút cho số văn nghệ sĩ cực đoan. Số văn nghệ sĩ này tiếp tục lợi dụng, núp bóng các tổ chức xã hội dân sự để thành lập các tổ chức đối lập, hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật. Các đối tượng này móc nối với các cá nhân, tổ chức nước ngoài thường xuyên thông qua các hoạt động tài trợ, biểu diễn, triển lãm, tọa đàm, hội thảo, giao lưu văn hóa, văn học, điện ảnh, mỹ thuật, sân khấu để tuyên truyền ảnh hưởng, lôi kéo lực lượng văn nghệ sĩ có tư tưởng dao động để khuếch trương lực lượng, tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; kích động tư tưởng đa nguyên, đòi tự do sáng tác một cách vô chính phủ

Ngoài ra, một bộ phận không nhỏ người Việt ở hải ngoại trong nhiều năm nay đã sử dụng văn học, nghệ thuật làm công cụ tuyên truyền tư tưởng nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta. Họ tung ra hàng loạt tác phẩm đủ các thể loại như tùy bút, nhật ký, hồi ký, truyện ngắn, tiểu thuyết và thơ… Mục đích của thế lực thù địch là ngụy tạo sự kiện, chứng cứ, làm sai sự thật nhằm hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh, phủ nhận thành quả cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Cùng với đó, các thế thực thù địch, chống phá triệt để lợi dụng các kênh ngoại giao, các tổ chức phi chính phủ để gây áp lực hòng tạo ra không gian hoạt động chống đối trong văn học, nghệ thuật trong nước.,… Ngoài ra, các đối tượng này còn tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, tôn vinh các tác giả, tác phẩm đi ngược lại lợi ích của dân tộc.

Mục đích của hoạt động chống phá trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật là tạo ra “mũi đột phá”, “thọc sâu” vào ý thức hệ của nhân dân, nhằm làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về tư tưởng, tạo ra “khoảng trống” để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản vào và tiến tới xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Sự chống phá được tiến hành rất xảo quyệt, tinh vi nên việc nhận diện chúng không dễ dàng vì nó ẩn khuất trong những vỏ bọc “văn học”, “nghệ thuật”, “những sự kiện có thật”, đánh vào thị hiếu của con người. Các thế lực thù địch đã truyền bá các tác phẩm văn học, hội họa, những chương trình ca nhạc, phim ảnh có nội dung chống chế độ, dưới chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” để phủ nhận thành quả của cách mạng, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chế độ xã hội chủ nghĩa. Có những tác phẩm văn học đánh giá sai lệch, phiến diện về cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, làm lẫn lộn hoặc cố tình lập lờ về bản chất, tính chính nghĩa của các cuộc kháng chiến; từ đó, gây ra sự hoài nghi, mất niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ. Chúng còn đẩy mạnh tuyên truyền sai lệch về quan điểm, đường lối văn học, nghệ thuật của Đảng, rằng: “đường lối văn nghệ của Đảng là cứng nhắc, ép buộc”; cáo buộc các tác phẩm “phải chịu sự kiểm duyệt chặt chẽ của Nhà nước”, hay vu cáo “sự độc đoán về tư tưởng đã bóp chết văn học, nghệ thuật”, ...

Hiện nay, có khoảng gần 150 hội, nhóm bất hợp pháp, "trong đó có gần 100 nhóm có khuynh hướng hoạt động đối lập chính trị, có quan điểm cực đoan, quá khích, sai trái, thù địch và trong số đó có người nguyên là cán bộ lãnh đạo, tướng lĩnh, các nhà khoa học, văn nghệ sĩ đã có những đóng góp, cống hiến cho cách mạng, cho Đảng và đã từng được nhân dân tin tưởng”(1). Thông qua các nhà xuất bản bên ngoài, nhiều đối tượng văn nghệ sĩ, trí thức có quan điểm cực đoan đã sáng tác, in ấn và phát tán các tác phẩm văn học, thơ ca có nội dung sai trái, chống phá tư tưởng trên lĩnh vực văn học nghệ thuật. “Từ năm 1986 đến nay, công an đã phát hiện 272 tác phẩm văn học nghệ thuật có nội dung sai trái, phản động nhằm chống lại Đảng, Nhà nước và nhân dân ta”(2).

Hoạt động xuất bản phát tán tài liệu bài viết, bản thảo có nội dung nhạy cảm, trái với quy định và mục tiêu tuyên truyền của nhà nước. Đáng chú ý, chúng tán phát vào trong nước hàng chục nghìn tài liệu có nội dung xấu độc, thù địch và một số tác phẩm văn học, nghệ thuật được xuất bản ở nước ngoài có nội dung sai trái về chính trị, lồng ghép những quan điểm trái chiều, phức tạp để tuyên truyền xuyên tạc, kích động... Các lực lượng phản động, cơ hội chính trị đã móc nối, sử dụng một số cán bộ lão thành, có cả cán bộ đương chức, có tướng lĩnh đã nghỉ hưu, bộ phận trí thức, văn nghệ sĩ có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để tạo dựng “ngọn cờ”, tập hợp lực lượng chống đối, tán phát trên internet, mạng xã hội bài viết, tư liệu, tài liệu với luận điệu thâm độc, quan điểm sai trái, cổ xúy cho “dân chủ tư sản”, “xã hội dân sự”, “xã hội dân chủ” để tuyên truyền kích động, gia tăng các hoạt động chống phá.

Bên cạnh đó, thời gian qua, có không ít văn nghệ sĩ đã tận dụng uy tín cá nhân, tầm ảnh hướng với xã hội để đăng tải trên các trang cá nhân, các blog, tài khoản zalo, trang mạng xã hội facebook để bình luận những vấn đề thời sự, chính trị của đất nước bằng ngôn ngữ của văn chương, nghệ thuật với cái nhìn một chiều, cực đoan. Trên một số tài khoản facebook cá nhân, một số văn nghệ sĩ, trí thức cũng đã đăng tải những trạng thái, những bài thơ, đoạn trích văn xuôi bày tỏ cảm xúc, quan điểm cá nhân trước một số vụ việc trong nước theo hướng phê phán, reo giắc sự hoài nghi về đường lối, chủ trương của Đảng, quy định của chính quyền, ngành nhằm tạo cớ để các thế lực thù địch có dịp chống phá Đảng và chế độ ta.

Những âm mưu, thủ đoạn chống phá trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật có tác động không nhỏ đến tư tưởng, tình cảm của một bộ phận nhận dân trong thời gian qua, trong đó có giới trẻ. Có không ít người đã hoang mang, hoài nghi về lịch sử của dân tộc cũng như những thành quả cách mạng của nhân dân. Thậm chí có những người có tâm lý bi quan, chán nản, mất niềm tin vào những giá trị Chân - Thiện - Mỹ. Đó là một nguy hại rất lớn không thể coi thường, xem nhẹ.

THỰC TIỄN CÔNG TÁC ĐẤU TRANH NGĂN CHẶN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT

Trong suốt thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán quan điểm: “Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật, chăm lo bồi dưỡng và tạo mọi điều kiện cho sự tìm tòi, sáng tạo của đội ngũ văn nghệ sĩ. Đổi mới phương thức hoạt động của các hội văn học, nghệ thuật”. Khoản 2, Điều 60 của Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 cũng nêu rõ: “Nhà nước, xã hội phát triển văn học, nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần đa dạng và lành mạnh của nhân dân; phát triển các phương tiện thông tin đại chúng nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đó là cơ sở chính trị, pháp lý và định hướng quan trọng để phát triển văn học, nghệ thuật của nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến việc đấu tranh phòng, chống những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật.  

Ban Chỉ đạo Đề án 213 đấu tranh trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật đã phối hợp chặt chẽ với Ban tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, các ban ngành, cơ quan phụ trách đấu tranh cấp tỉnh và các địa phương không cấp phép, chấp nhận thành lập các nhóm, hội hoạt động bất hợp pháp, các nhóm hội có biểu hiện sai trái. Đồng thời, vận động cán bộ, đảng viên và người dân không tham gia hội, nhóm, tích cực phát hiện các biểu hiện sai trái của các nhóm đối tượng để đấu tranh chống lại, vạch trần âm mưu và thủ đoạn của thế lực thù địch. Vận động văn nghệ sĩ, trí thức không tham gia các hội nhóm, tổ chức sai trái mà tích cực tìm ra, vô hiệu hóa, kiên quyết không để các đối tượng công khai kế hoạch tuyên truyền thủ đoạn sai trái, thù địch để đấu tranh chống lại các thủ đoạn đó.

Các cơ quan đấu tranh đã phát hiện và chủ động phân loại các nhóm đối tượng với tính chất và mức độ sai phạm, thái độ chính trị sai trái thù địch của các nhóm đối tượng để sử dụng các biện pháp đấu tránh phù hợp, có hiệu quả. Với những đối tượng phức tạp, có hành vi cực đoan, quá khích xâm phạm đến an ninh quốc gia, chủ quyền thì bắt và xử lý trước pháp luật; đối tượng vi phạm ở mức nhẹ hơn thì răn đe, kiềm chế hoặc giáo dục, thuyết phục và tác động để đối tượng không tham gia hội, nhóm, từ bỏ các hoạt động và rời khỏi hội, nhóm.

Ngoài ra, các cơ quan pháp luật cũng xây dựng hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện nhiệm vụ này như Hiến pháp năm 2013; Luật Xuất bản; Luật Báo chí; Luật An ninh mạng; Luật Điện ảnh; Luật sở hữu trí tuệ; Nghị định 79/2012/NĐ-CP quy định về biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang, thi người đẹp và người mẫu, lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu và Nghị định số 15/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 79/2012/NĐ-CP ngày 05 tháng 10 năm 2012 của Chính phủ quy định về biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang, thi người đẹp và người mẫu; lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu; Nghị định 75/2010/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong hoạt động văn hóa; Nghị định số 113/2013/NĐ-CP của Chính phủ về hoạt động mỹ thuật; Quyết định số 3196/QĐ-BVHTTDL ngày 13/12/2021  của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành kèm theo “Quy tắc ứng xử của người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật”. …. Về cơ bản, các văn bản quy phạm pháp luật hiện có đã xác định tương đối rõ ranh giới cho hoạt động sáng tạo, chỉ ra những hành vi, hoạt động không được phép. Các văn bản quy phạm pháp luật trên cũng đã cơ bản tạo ra hành lang pháp lý cho hoạt động sáng tạo văn học, nghệ thuật đồng thời có khả năng ngăn chặn, xử lý những quan điểm sai trái, phản động.

 Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, lực lượng lãnh đạo, quản lý trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển lĩnh vực văn học, nghệ thuật nói chung, yêu cầu thực hiện nhiệm vụ đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trong lĩnh vực này nói riêng. Ở một số hội chuyên ngành văn học, nghệ thuật Trung ương, đội ngũ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu đã cao tuổi, sức khỏe hạn chế; trong khi đó ở một số hội văn học, nghệ thuật địa phương vẫn còn tình trạng bố trí lãnh đạo hội không có chuyên môn, chưa am hiểu sâu về lĩnh vực văn học, nghệ thuật mình phụ trách. Vì những lý do đó, người lãnh đạo chưa phát huy được vai trò tập hợp đội ngũ, hoặc những người làm chuyên môn không phục, thậm chí có nơi không giữ được đoàn kết nội bộ,…

Mặt khác, trong một thời gian dài, chúng ta chưa đánh giá đúng mức tầm quan trọng của công tác tổ chức, cán bộ trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, dẫn đến bố trí sai những cán bộ lãnh đạo, quản lý hoặc hạn chế năng lực, hoặc có tư tưởng phức tạp, khiến cho việc xử lý hậu quả trở nên rất khó khăn.

NÊU CAO TINH THẦN TRÁCH NHIỆM TRƯỚC CỘNG ĐỒNG VÀ XÃ HỘI

Để tăng cường công tác đấu tranh ngăn chặn âm mưu, thủ đoạn chống phá của thế lực thù địch trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật ở nước ta giai đoạn hiện nay, cần chú trọng đến những giải pháp cơ bản sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động đấu tranh ngăn chặn âm mưu thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật, coi đây là một mặt trận trọng yếu trong cuộc chiến đấu tranh chống lại các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.  

Hai là, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với hoạt động văn học, nghệ thuật, nhất là các hội, nhóm hay hoạt động của các nhà văn, nhà thơ, các văn nghệ sĩ bằng những quy định cụ thể; đồng thời có chế tài nghiêm khắc để xử lý những trường hợp vi phạm quy định. Có cơ chế, chính sách phù hợp để huy động những nhà văn, nhà thơ, các văn nghệ sĩ tham gia đấu tranh chống lại các hoạt động lôi kéo, kích động, chống phá của các thế lực thù địch trên các diễn đàn, nhất là trên mạng xã hội.

Ba là, phát huy vai trò của các cơ quan truyền thông, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân trong giám sát, phản biện hoạt động văn học, nghệ thuật. Các cơ quan truyền thông cần phát huy tinh thần trách nhiệm trong việc biểu dương, lan tỏa những hoạt động văn học, nghệ thuật có giá trị tích cực, có tính định hướng theo phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, đồng thời, lên tiếng phê phán những hoạt động văn học, nghệ thuật phản cảm, đi ngược lại quy định của Đảng, Nhà nước và thuần phong mỹ tục của dân tộc. Các đoàn thể chính trị - xã hôi và nhân dân phát huy vai trò giám sát, phản biện hoạt động của các nhà văn, nhà thơ, các văn nghệ sĩ; kịp thời đóng góp ý kiến để điều chỉnh những hành vi “lệch chuẩn”.

Bốn là, bản thân những người hoạt động trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật phải luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm trước cộng đồng và xã hội; chấp hành nghiêm chỉnh những quy tắc đạo đức nghề nghiệp và quy định về văn hóa ứng xử; nêu cao tinh thần dân tộc, ý thức bảo vệ truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, biết tận dụng lợi thế, uy tín của người nổi tiếng để tuyên truyền, quảng bá những giá trị tích cực; lên án, bài xích những biểu hiện sai trái, lệch lạc.

Có thể nhận thấy, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật là một nhiệm vụ rất quan trọng trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta hiện nay. Để cuộc đấu tranh này thực sự có hiệu quả, ngoài việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật mà đội ngũ văn nghệ sĩ, những người làm công tác lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật cũng cần nâng cao nhận thức, bản lĩnh, trách nhiệm của mình trong việc xây dựng nền văn học, nghệ thuật trong sáng, phù hợp với định hướng của Đảng và thị hiếu lành mạnh của nhân dân, tránh để các thế lực thù địch lôi kéo, mua chuộc.

TS. Thành Thu Trang

Học viện Chính trị Khu vực I

 

(1) (2) Vũ Thành Nam: Cảnh giác với thủ đoạn móc nối, lôi kéo văn nghệ sĩ của các thế lực thù địch nhằm chống Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, Tạp chí Khoa học an ninh, tháng 8/2020, tr.26, 28.

Phai nhạt lý tưởng cách mạng - con đường dẫn đến “tự triệt tiêu mình”

 

Lý tưởng cách mạng là định hướng giá trị cốt lõi, xuyên suốt của người cộng sản, là mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân.

CHIẾC XE ĐẠP CHỞ GẦN 4 TẤN HÀNG TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ

 Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, chiếc xe đạp của chiến sĩ dân công Ma Văn Thắng (đoàn Phú Thọ) có chuyến đã chở 325 kg hàng, gấp 13 lần một người gồng gánh, một con số khủng khiếp đối với một người nông dân nhỏ bé và chiếc xe đạp thồ đơn sơ.

Đó là chiếc xe đạp hiệu "Lanh côn" do Pháp sản xuất, vốn của một người giàu có ở xã, được trưng dụng và giao cho ông Ma Văn Thắng sử dụng phục vụ chiến dịch Điện Biên. Thời gian đầu, trung bình mỗi chuyến chỉ chở được từ 80 - 100 kg gạo, nhưng cũng hết sức vất vả.
Để nâng cao năng suất thồ hàng, ông Thắng đã gia cố chiếc xe khi gắn thêm một đoạn tre già bằng cổ tay, dài khoảng 1 mét vào ghi đông xe, trục yên xe được gắn một đoạn tre cao hơn yên khoảng nửa mét để người thồ hàng có thể cầm và giữ thăng bằng cho xe. Ngoài ra, ông còn hàn thêm sắt, buộc thêm gỗ để tăng độ cứng của khung xe, lấy vải, quần áo cũ, săm cũ lót vào bên trong tăng độ bền của săm, lốp xe…. Với sáng kiến của mình, những chiếc xe thồ của ông Thắng và đồng đội mỗi chuyến chở được tới hơn 300 kg gạo. Trong một lần chở hàng đến ngã ba Nghĩa Lộ, qua kiểm tra - xe của ông đã chở khối lượng hàng hóa là 325 kg. Kỷ lục này được Ban chi viện chiến dịch xác nhận, biểu dương rộng rãi trên toàn mặt trận.
Kết thúc chiến dịch, xe của ông Thắng đã vận chuyển được 3.700 kg hàng hóa trên tổng chiều dài 2.100 km đường rừng núi và chiếc xe ông sử dụng để phục vụ chiến dịch đã trở thành chiếc xe đạp thồ có năng suất cao nhất chiến dịch. Với thành tích nổi bật này, ông Thắng đã được Ban Chỉ huy chiến dịch và Ban Cung cấp mặt trận tặng thưởng hai bằng khen, một Huân chương Chiến công hạng Ba. Hiện chiếc xe đạp thồ của ông Ma Văn Thắng được lưu giữ, trưng bày tại Bảo tàng Quân khu 2.
Những chiếc xe đạp thồ trong chiến dịch Điện Biên khiến cả thể giới kinh ngạc, là biểu tượng của sự sáng tạo, sức mạnh của chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện./.


NGƯỜI HÀN QUỐC XUYÊN TẠC TRẮNG TRỢN LỊCH SỬ VIỆT NAM NHƯ THẾ NÀO?

 Trong tập 8 bộ phim Little Women, một nhân vật trong phim đề cập đến sự thiện chiến của quân đội Hàn Quốc trong cuộc chiến tại Việt Nam. Nhân vật này cho biết vào năm 1967, một đội quân thiện chiến của người Hàn Quốc được tuyển chọn và đưa đến Việt Nam. Trong một trận thắng, một người lính Hàn có thể tiêu diệt 20 người lính Việt Nam và có những người lính Hàn Quốc có tiêu diệt 100 lính Việt Nam (?)

Chiếu theo mốc thời gian nói trong phim và những gì lịch sử Hàn Quốc từng đề cập, có khả năng bộ phim lấy tình tiết từ trận Trà Bình Đông - còn phía Việt Nam gọi là trận Quang Thạnh, nơi mà “rồng xanh bị xé xác, mãnh hổ bị phanh thây”, trận này khiến quân đội Hàn Quốc đóng tại nhiều cứ điểm gần Trà Bình Đông phải rút lui, các hoạt động càn quét phải tạm dừng cho tới giữa năm 1968 sau sự kiện Tết Mậu Thân khi quân ta yếu thế hơn trên chiến trường.
Còn với nhiều người Hàn Quốc, họ nói rằng đây là một trận đấu “2400 lính Việt Cộng phải chịu thua trước 249 lính Hàn Quốc”, “chỉ có 15 lính Hàn Quốc thiệt mạng khi đối đầu với 2 trung đoàn lính Việt Cộng”, “200 lính Hàn có khả năng tác chiến như một đội quân 5000 lính”...
Trên Youtube, những người Hàn Quốc yêu cầu những người dân Việt Nam phải cám ơn những binh lính Hàn Quốc, phải đúc tượng và treo tấm ảnh của những người lính Rồng Xanh - Mãnh Hổ, phải tôn thờ những chiến binh Đại Hàn… Liệu những người Hàn Quốc có biết rằng những chiến công mà binh lính Hàn Quốc khi tham chiến tại Việt Nam lại là những “chiến công tưởng tượng”, được thêu dệt và bịa đặt hay không?
Năm 1966, quân đội Hàn Quốc tham gia chiến dịch “Hành quân Van Buren” tại Phú Yên và chúng tự khai rằng đã tiêu diệt khoảng trên 900 lính Việt Cộng. Nhưng, hơn 900 lính Việt Cộng thiệt mạng đó hóa ra lại đến từ khoảng 22 vụ thảm sát khiến 925 người dân Việt Mạng thiệt mạng, trong đó vụ có thảm sát Hòn Đình (Đông Hòa, Phú Yên) khiến 65 người thiệt mạng… Còn nữa, trong năm 1966, một loạt các chiến dịch “tìm diệt” của quân Hàn Quốc tại Quảng Ngãi, Quảng Nam đã diễn ra chúng báo cáo rằng có hàng trăm lính Việt Cộng bị tiêu diệt, nhưng quãng thời gian này cũng là quãng thời gian ác mộng của những người dân hai tỉnh này khi một loạt các vụ thảm sát diễn ra. Mình được nghe câu nói của một bác nông dân sống ở Bình Sơn mô tả về sự dã man của quân lính Hàn Quốc: “Cứ quân Đại Hàn đi đến đâu, bia mộ của dân thường mọc lên đến đó”.
Một sự kiện vô lý khác là những người Hàn Quốc tuyên truyền về cuộc hành quân Operation Hoang Dieu 101 diễn ra cuối 1970 và đầu năm 1971 của lính Hàn đã khiến hơn 5000 lính Việt Công bị tiêu diệt. Nhưng trong trang niêm yết của Lực lượng Delta thuộc Thủy quân lục chiến - đơn vị phối hợp cùng quân đội Hàn Quốc, chiến dịch này chỉ khiến ~375 lính Việt Cộng thiệt mạng. Tức là phía Hàn Quốc đã thổi phồng lên gấp gần 20 lần số liệu thương vong.
Trong tập 5 của bộ phim Litte Women, phim tái hiện lại một góc của Bảo tàng tưởng niệm chiến tranh Hàn Quốc ở Seoul về cuộc chiến của lính Hàn tại Việt Nam. Phim ca ngợi chủ nghĩa anh hùng của binh lính Hàn Quốc tại Việt Nam, những người xuất thân khó khăn nhưng đến một quốc gia xa xôi để chiến đấu vì công lý, chiến đấu vì Tổ Quốc, chưa hết, phim đề cao một tướng Hàn Quốc là “anh hùng chiến tranh Việt Nam”...
White Badge, một trong những bộ phim chính luận xuất sắc nhất lịch sử Hàn Quốc cũng có đề tài về cuộc chiến tại Việt Nam. Phim nói về một nhà báo và góc nhìn của những người lính tham chiến tại Việt Nam. Trong phim có phân cảnh quân Đại Hàn càn quét dân làng, bắt và hành hạ một người phụ nữ có bầu không vũ khí, người phụ nữ này nói: “Tao sẽ đẻ con và tao sẽ mang còn vào rừng, con tao sẽ chiến đấu đến khi lũ chúng mày cút khỏi Việt Nam”... Khi ra mắt và cả khi đạt giải thưởng Rồng Xanh, bộ phim cũng chịu sự phản đối gay gắt bởi những người cựu binh Hàn Quốc từng tham chiến ở Việt Nam. Đại diện của một nhóm cựu chiến binh còn cho rằng tình tiết phim xuyên tạc và bộ đội Hàn Quốc “không giết bất cứ một dân thường” nào trong chiến tranh Việt Nam…
Lịch đã qua và đôi khi nó đau thương khiến người ta không muốn nhớ lại… Lịch sử được phản ánh ở trong những chuyến thăm của những người Hàn Quốc đến Việt Nam trong phong trào “xin lỗi Việt Nam”, lịch sử tồn tại trong hơn 20 bia đá, tượng đài khắc ghi hàng chục ngàn những dân thường Việt Nam bị thảm sát bởi những người lính Hàn Quốc, lịch sử được đúc kết trong bức tượng Pieta Việt Nam tại Jeju…
Bao nhiêu sinh mạng vô tội của người Việt Nam đã mất đi, cuộc chiến giành độc lập thống nhất của người Việt Nam gặp khó khăn hơn rất nhiều bởi những người lính Hàn Quốc…. Người Hàn thu được rất nhiều ngoại tệ từ cuộc chiến còn người Việt Nam lại mất đi rất nhiều nước mắt…
Những vết sẹo vẫn đang âm ỉ đợi lành, chỉ xin đừng làm nó rách ra thêm lần nữa!

CHỈNH ĐỐN ĐẢNG KHÔNG PHẢI LÀ “VỞ TUỒNG”

 


Những năm vừa qua, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã được Đảng ta thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, góp phần xây dựng Đảng vững mạnh, đủ năng lực và uy tín lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Thành tựu đó được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta ghi nhận, thêm tự hào, tin tưởng và được dư luận quốc tế đánh giá cao.


Trong khi đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã và đang tìm mọi cách phá hoại những thành công của Đảng ta. Chúng phủ nhận kết quả, bóp méo, xuyên tạc sự thật công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cho rằng đó là những việc làm vô ích, không hiệu quả, thậm chí là thủ đoạn dùng để đấu đá nội bộ, triệt phá nhau hoặc bao che cho nhau mà thôi. Ví dụ như tháng 9-2022, Thoibao News cho rằng, chỉnh đốn đảng ở Việt Nam là “Vở tuồng đang diễn ra ở Việt Nam”.


Nhưng sự thật những gì mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm được và thực tiễn đang diễn ra của cách mạng Việt Nam đã bác bỏ hoàn toàn luận điệu sai trái mang tính xuyên tạc, vu khống, chống phá của kẻ xấu. 


Chúng ta hãy cùng tìm hiểu một số nội dung mà Thoibao News đưa ra để chứng minh cho sự sai trái, thủ đoạn xấu xa, hành vi chống phá thâm độc, trắng trợn đó. Thoibao News cho rằng: chỉnh đốn Đảng chỉ là kịch bản chứ không phải là chủ trương và “Vở kịch này ngày càng dở”. Trong khi ngay từ rất sớm, lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng ta đã rất chú ý đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Năm 1925, trước khi Đảng ra đời, Hồ Chí Minh đã xác định rõ vai trò của Đảng, yêu cầu Đảng phải vững mạnh để lãnh đạo cách mạng thắng lợi: “Trước hết phải có Đảng cách mệnh. Đảng có vững, cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững, thuyền mới chạy”. Còn trong Di chúc, Hồ Chí Minh viết: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình, là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết thống nhất trong Đảng”.


Không ai có thể phủ nhận được sự thật: sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; xây dựng, chỉnh đốn Đảng luôn luôn là nhiệm vụ then chốt, đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta, chế độ ta.


Hơn 92 năm qua, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là việc làm thường xuyên của Đảng. Trong quá trình trưởng thành, phát triển, Đảng luôn có đường lối, chủ trương, chính sách và biện pháp thực hiện xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Năm 1939, trong tác phẩm “Tự chỉ trích”, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã nhấn mạnh tinh thần tự phê bình và phê bình trong Đảng, xác định: “Phê bình Đảng là để thống nhất tư tưởng, để rèn luyện mình, để đề cao uy tín và ảnh hưởng của Đảng, nhằm làm cho Đảng ngày càng mạnh và cách mạng ngày càng phát triển. Muốn vậy, phê bình phải nắm vững mục đích xây dựng Đảng, xây dựng đồng chí mình, không được đả kích hoặc cường điệu những sai lầm khuyết điểm của đồng chí mình”. Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ cũng chỉ rõ: Đảng có trách nhiệm không bi quan, hoảng hốt, không đắc chí, tự mãn mà phải phân tích xác thực hoàn cảnh để tìm ra nguyên nhân thất bại và nghiên cứu phương pháp sửa chữa và tiến thủ.

Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới đất nước, chỉ tính từ Đại hội Đảng lần thứ XI đến nay, Đảng ta đã có Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII và khóa XIII với nhiều giải pháp, cách làm về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tháng 10-2021, tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Ban Chấp hành Trung ương đã đánh giá: “Năm năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, quyết liệt, thường xuyên, liên tục, có trọng tâm, trọng điểm của các cấp ủy, tổ chức đảng, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng Đảng đã được triển khai thực hiện nghiêm túc, toàn diện, đồng bộ, thống nhất, thực sự đi vào cuộc sống, có nhiều bước đột phá quan trọng, tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ”. Ban Chấp hành Trung ương cũng đã ban hành Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thông chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; đồng thời, Trung ương cũng ban hành Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm với nhiều điểm mới nổi bật so với Quy định trước đó. 


Điều đáng phấn khởi là những chủ trương, biện pháp, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã được thực hiện thành công và đem lại hiệu quả thiết thực trên thực tế. Xin nêu thực tế trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực: Ngày 30-6-2022 đã diễn ra Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong giai đoạn từ 2012 đến 2022. Phát biểu tại Hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Công tác đấu tranh, phòng chống tham nhũng đã được Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, bài bản, ngày càng đi vào chiều sâu, có bước tiến mạnh, đạt nhiều kết quả cụ thể, rất quan trọng, toàn diện, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội, và thực sự “đã trở thành phong trào, xu thế không thể đảo ngược”, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình ủng hộ, đánh giá cao, được bạn bè quốc tế ghi nhận”. 


Cũng cần biết rõ thêm: Thoibao News còn cho rằng: “Lãnh đạo Việt Nam có vấn đề cả về thấy và nghe”. Nhưng với việc không thấy, không nghe những thực tiễn tốt đẹp đang diễn ra ở Việt Nam rồi cố tình nói bậy bạ thì chính Thoibao News mới có vấn đề và vấn đề rất nặng về thấy và nghe. Đó chỉ có thể là sự thấy và nghe của những kẻ chuyên xuyên tạc, chống phá, đi ngược lại sự thật.


Như vậy, chúng ta có đủ cơ sở để thấy rõ: xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã và đang là sự thật thắng lợi của Đảng Cộng sản Việt Nam chứ không phải “vở tuồng” như Thoibao News xuyên tạc, vu khống. Chỉ có Thoibao News và những kẻ phá hoại đã và đang cố tình diễn tuồng một cách trơ trẽn, lố bịch trước thực tế công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và sự phát triển tốt đẹp của cách mạng Việt Nam mà thôi.

Xin kết thúc bài viết này bằng lời phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Theo kết quả điều tra dư luận xã hội do Ban Tuyên giáo Trung ương tiến hành mới đây, tuyệt đại đa số ý kiến của người dân (93%) bày tỏ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng; khiến cho mọi sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực xấu, thù địch đều trở nên trơ trẽn, nực cười”!./.


CÔNG MINH

BÊN CẠNH SỰ ĐÊ HÈN CỦA TIỂU NHÂN, LÀ CHÍ KHÍ NGƯỜI ANH HÙNG!

         Vĩ tuyến 17, ngày và đêm - một bộ phim từ câu chuyện có thật: 
     Đồng chí Ba Thuận, bí thư chi bộ của xã, khi tên sỹ quan ngụy là Trần Sùng tìm cách lung lạc, nói sẽ tha cho ông nếu cùng hắn quỳ xuống thề “xoá bỏ hận thù”, ông đã đanh thép trả lời rằng: “Tao quỳ nửa đời người rồi, đã đứng lên được là không quỳ xuống nữa”!
     Và khi Trần Sùng lấy cái chết ra để đe dọa, muốn ông từ bỏ niềm tin vào lý tưởng của Đảng, Ba Thuận đã dõng dạc: “Nhìn vào mắt mày, tao thấy mày đang run rợ. Còn tao, dù có chết tao vẫn luôn tin vào Đảng, tin rằng đất nước sẽ sum họp, non sông sẽ thống nhất”.
     Khi bị lũ ngụy đê hèn thiêu sống, Ba Thuận vẫn hét lên động viên bà con: “Đừng kêu khóc trước mắt kẻ thù. Trong chiến tranh, việc sinh tử là lẽ thường tình”!


Yêu nước ST.

 NHỮNG TỔNG THỐNG MỸ THẤT BẠI Ở CHIẾN TRANH VIỆT NAM 

-----

1. David D. Eisenhower (1890-1969) được coi là Tổng thống Mỹ đã khơi mào cuộc chiến tranh Việt Nam. Với chiến lược “Chiến tranh đơn phương”, ông ta đã dựng lên chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm và biến miền Nam Việt Nam thành “thuộc địa kiểu mới” ở Đông Nam Á. Dưới sự bảo trợ của Tổng thống Eisenhower, chính quyền Diệm – Nhu đã mở hàng loạt chiến dịch “tố Cộng”, “diệt Cộng”, lê máy chém đi khắp miền Nam Việt Nam để tàn sát những người kháng chiến và yêu nước.

 

2. Người kế nhiệm Eisenhower là Tổng thống Mỹ John F. Kennedy (1917-1963). Với chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, Kennedy đã thúc đẩy việc xây dựng quân đội Sài Gòn mạnh với vũ khí, trang bị và cố vấn Mỹ. Thời Kennnedy, chính quyền Diệm ra sức tiến hành “bình định”, lập “ấp chiến lược” nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng miền Nam. Sự nghiệp của Tổng thống Kenny kết thúc khi ông ta bị ám sát ngày 22/11/1963, ít ngày sau khi anh em Diệm – Nhu bị sát hại trong cuộc đảo chính do Mỹ giật dây.

 

3. Tổng thống Lyndon B. Johnson (1908-1973) với chiến lược “Chiến tranh cục bộ”. Với chiến lược này, Mỹ trực tiếp đưa quân sang Việt Nam, thực hiện “tìm và diệt” ở miền Nam và đẩy mạnh chiến tranh phá hoại miền Bắc trên quy mô lớn. Chính sách của Tổng thống Johnson không chỉ tàn phá nặng nề hai miền Việt Nam mà còn khiến quân đội Mỹ hứng chịu những tổn thất thảm khốc, khiến phong trào phản chiến ở Mỹ lan rộng với sự tham gia của hàng trăm nghìn người thuộc mọi tầng lớp quần chúng.

 

4. Richard Nixon (1913-1994) là vị Tổng thống Mỹ tai tiếng nhất thời chiến tranh Việt Nam. Dưới thời Nixon, Mỹ thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, có mục tiêu rút quân nhưng để lại cố vấn chỉ huy, viện trợ lớn cho chế độ ngụy Sài Gòn, đồng thời đưa miền Bắc "về thời đồ đá". Theo mệnh lệnh của Nixon, máy bay chiến lược B-52 của Mỹ đã thực hiện hàng nghìn lượt ném bom rải thảm mang tính hủy diệt vào Hà Nội, Hải Phòng và các đô thị miền Bắc, bị truyền thông quốc tế lên án như tội ác chiến tranh không thể dung thứ.

 

5. Gerald Ford (1913-2006) là Tổng thống Mỹ cuối cùng dính líu đến cuộc chiến tranh Việt Nam. Ông ta tiếp tục theo đuổi chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, hậu thuẫn cho ngụy Sài Gòn chống phá Hiệp định Paris và dùng lực lượng tấn công lớn trên chiến trường miền Nam. Dù vậy chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” từng bước bị phá sản, buộc Mỹ phải bỏ rơi đồng minh chế độ của Nguyễn Văn Thiệu. Ngày 30/4/1975, Gerald Ford và giới chức Mỹ cay đắng nhìn cuộc chiến mà đất nước mình tiêu tốn hàng vạn nhân mạng kết thúc với thất bại toàn cục...

 

Nguồn: Sưu tầm

 

 

 KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC CỦA DÂN TỘC TA!

--------------

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta dù đã trải qua rất nhiều khó khăn, gian khổ, hy sinh nhiều của nhiều người nhưng thắng lợi rất vẻ vang. Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, Bác Hồ muôn vàn kính yêu đã viết nên khúc khải hoàn ca vĩ đại nhất, hào hùng nhất của thế kỷ XX. Đó là chiến công chung của cả dân tộc trước giặc Mỹ xâm lược, quân đội chư hầu và tay sai, bán nước ngụy Sài gòn, sự thật lịch sử đã quá rõ ràng, ánh sáng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng còn che mờ cả nhật nguyệt.

Ấy thế mà những năm gần đây, người ta xuyên tạc về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh của dân tộc Việt Nam. Tháng Tư về thì những tiếng vọng từ phía bên kia Đại Tây Dương và cả những kẻ bất mãn trở cờ trong nước, trong đó có cả một số nhà sử học, những người có chức sắc vẫn cứ tiếp tục ca bài ca muôn thủa, xuyên tạc bản chất của cuộc kháng chiến với luận điệu: "Cuộc chiến Việt Nam đã đi qua 47 năm nhưng Việt Nam vẫn ăn mừng chiến thắng 30/4. Đây là cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn thì có gì phải vui mừng. Người Cộng sản đã đối xử tàn bạo với những người thua cuộc sau năm 1975”... Xin luận giải vấn đề như sau:

BẢN CHẤT CỦA CUỘC CHIẾN:

Trước hết cần khẳng định rõ, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta (1954-1975) là cuộc chiến giữa một bên là nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và một bên là đế quốc Mỹ, quân đội chư hầu như Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, Úc…và tay sai bán nước ngụy Sài Gòn. Đây không phải là một cuộc nội chiến vì  kẻ nắm thực quyền và quyết định mọi việc của phe địch là đế quốc Mỹ, ngụy Sài Gòn chỉ do Mỹ dựng lên, làm tay sai để hợp thức hóa mưu đồ biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới. 

Mỹ mang quân đội trực tiếp xâm lược, từ vũ khí cho đến mọi thứ đều do một tay Mỹ chu cấp, nuôi dưỡng bọn Việt gian, phản quốc để chống lại đất nước. Trong giai đoạn đỉnh quân số của Quân đội Mỹ triển khai ở chiến trường miền Nam Việt Nam lên đến 541.933 quân, nhằm phục vụ cho chiến lược Chiến tranh Cục bộ mà Lầu Năm Góc kỳ vọng sẽ giúp họ chiến thắng. Người Mỹ mang quân đi giết người Việt Nam và bị người giết, mất hơn 58.000 nhân mạng, hơn 303.000 người thành tàn tật, phế nhân và 1000 tỷ USD (thời giá 2010)…Vậy đây nhất quyết không phải là cuộc nội chiến! Nội chiến chỉ là câu chuyện nội bộ giữa các phe phái trong cùng một nước, không có quân đội nước ngoài tham gia, chi phối, làm chủ. Cuộc nội chiến ở Hoa Kỳ thế kỷ 19 là ví dụ điển hình. Phe miền Bắc với tư tưởng "tự do" đã đánh thắng phe miền Nam với tư tưởng không giải phóng nô lệ. 

THỜI HẬU CHIẾN: CHÚNG TA ĐÃ RẤT NHÂN ĐẠO!

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khi trả lời chất vấn trước Nghị viện Pháp vào cuối thập niên 1980 đã tuyên bố: “học tập cải tạo là một chính sách nhân đạo, bởi nếu ở những nước khác, bao gồm cả Pháp, những tù nhân này lẽ ra đã bị xử tử hàng loạt vì tội phản quốc, cộng tác với quân xâm lược nước ngoài. Những người đã phạm phải những tội ác tày trời chống lại đất nước, những người mà nếu ở những nước khác, mà chính quý vị ở đây (các nghị sỹ, nhà báo Pháp) ngay sau khi được giải phóng khỏi Đức Quốc xã, biết chuyện gì đã xảy ra (nước Pháp đã xử tử hơn 10.000 người cộng tác với Đức Quốc xã sau khi được quân Đồng Minh giải phóng năm 1945, xem Épuration légale)... Những người này được cho cơ hội trở lại làm một công dân bình thường, tham gia vào cộng đồng cả nước như bao người. Các vị còn đòi hỏi gì nữa?”. 

Người Pháp từng sát hại dã man cả gái điếm chỉ vì họ bán thân cho quân Đức Quốc xã trong thế chiến thứ Hai để trả thù, còn chúng ta dù trải qua nhiều năm chiến tranh, đất nước tổn thất nặng nề nhưng vẫn tạo điều kiện, nhường cơm, xẻ áo cho hơn 200.000 người, những người mang nợ máu với non sông trong số 1.000.000 người ra trình diện, cho họ học tập, cải tạo và đa số họ trở thành người có ích cho xã hội, cùng nhau xây dựng đất nước sau này. Vậy Mỹ, Pháp sao có thể nói là nhân văn hơn chúng ta, sao có thể nói là hòa giải, hòa hợp dân tộc theo cách khoan hồng, độ lượng như chúng ta?

HOÀ HỢP DÂN TỘC KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ QUÊN ĐI QUÁ KHỨ!

 

Hòa hợp dân tộc là việc làm thường xuyên, liên tục, bắt đầu từ sau khi Việt Nam thống nhất chứ không phải bây giờ. Tuy nhiên lịch sử phải được nhắc lại cho con cháu hiểu để thêm yêu tổ quốc, căm ghét bọn bán nước cầu vinh, giáo dục công dân Việt Nam về lòng yêu nước, trân quý giá trị hòa bình và phẩm giá của người Việt Nam; tri ân các anh hùng liệt sỹ đã ngã xuống vì độc lập, tự do của tổ quốc. Ngày 30/4 hàng năm, người Việt Nam mãi mãi tôn vinh, mãi mãi tự hào, mãi mãi nhắc tới, mãi mãi ăn mừng. 

Hòa hợp dân tộc không đồng nghĩa với xuyên tạc lịch sử, cào bằng giữa ta và giặc. Đám tàn dư đừng hòng trâng tráo, đánh bùn sang ao hòng rửa tội bán nước. Một số cán bộ, đảng viên trước đây trót ăn theo, nói leo đám ba que xỏ lá thì nên suy nghĩ lại, đừng có nói với nhân dân Việt Nam về cái gọi là “30/4 không nên ăn mừng, không nên kỷ niệm”. Đó là giọng điệu của giống vô loài, phản chủ./.

 

Nguồn:TUYENGIAOBINHPHUOC.ORG.VN.

 

 

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI BÀI QUỐC CA VIỆT NAM

 

Quốc ca Việt Nam ra đời đã được 76 năm – cùng với Quốc kỳ, Quốc huy và Thủ đô Hà Nội – Quốc ca Việt Nam đã hòa vào máu thịt của mỗi người dân đất Việt.

Dù ở đâu trên trái đất này, nếu ai đó hát Quốc ca Việt Nam thì hãy tin rằng đó là người bạn, người đồng chí của chúng ta. Nhưng cũng ít ai biết rằng Quốc ca Việt Nam gắn liền với Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những ngày sôi nổi của Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám. Chính Người đã lựa chọn và sửa chữa để trở thành bài ca bất diệt của nước Việt Nam. Bác Hồ đã xem xét và sửa chữa một cách cẩn thận bài “Tiến quân ca”. Người đã sửa chữa một số câu từ, như câu mở đầu của “Tiến quân ca”, nguyên bản là “Đoàn quân Việt Minh đi…”, Người đã sửa lại là “Đoàn quân Việt Nam đi…”; hoặc câu “Thề phanh thây uống máu quân thù…”, Người đã sửa lại “Đường vinh quang xây xác quân thù…”. Rõ ràng những câu chữa lại của Bác Hồ chính xác hơn, đẹp hơn và đáp ứng yêu cầu của bài Quốc ca Việt Nam.

Ngày 2/9/1945, trong không khí tưng bừng của lễ Tuyên ngôn Độc lập, Quốc ca Việt Nam đã vang lên trong hàng triệu trái tim của con dân Việt Nam, báo hiệu một kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc. Nhắc lại sự kiện này, cố nhạc sĩ Văn Cao đã nói: "Đây là hạnh phúc lớn lao nhất của đời tôi, là niềm tự hào không bao giờ quên khi được lãnh tụ kính yêu sửa chữa một tác phẩm nghệ thuật của mình".

Quốc ca Việt Nam đã trở thành một phần máu thịt của Tổ quốc và chắc chắn còn trường tồn rất lâu dài với lịch sử dân tộc.

 

 SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI MỘT CÁCH ĐÚNG ĐẮN

Mạng xã hội có nhiều lợi ích không thể phủ nhận nhưng cũng gây ra nhiều tác hại và hệ lụy, đòi hỏi chúng ta phải là những người sử dụng thông thái, biết "gạn đục, khơi trong."

Trong thời đại hiện nay, mạng xã hội đang là xu thế và ngày càng được nhiều người sử dụng, nhất là lớp trẻ. Nhiều mạng xã hội đang hoạt động song đặc tính chung của chúng là người dùng tự cung cấp nội dung, ý tưởng và chia sẻ rộng rãi trên internet.

Mạng xã hội có nhiều lợi ích, trong đó có việc giúp chúng ta nhanh chóng cập nhật tin tức đời sống xã hội; kết nối một cách thuận tiện và không tốn kém các mối quan hệ khi chúng ta không thể gặp gỡ trực tiếp người thân, bạn bè, đồng nghiệp, đối tác…; nâng cao kỹ năng sống và sự hiểu biết về mọi lĩnh vực; cảnh báo mọi người để tránh được nhiều hiểm họa trong cuộc sống, nâng cao tinh thần cảnh giác.

Song mạng xã hội cũng gây ra nhiều tác hại và hệ lụy mà nguy hiểm nhất là làm trì trệ các hoạt động sống của con người (ăn, ngủ, nghỉ, làm việc); gây tâm trạng tiêu cực khi chúng ta tiếp nhận nhiều thông tin xấu; lấy mất quá nhiều thời gian khi chúng ta lướt web, chơi game, "chém gió" thiếu kiểm soát; tạo ra nguy cơ tiếp xúc với các nguồn tin lá cải không chính xác, không được kiểm chứng, nhằm mục đích câu "view" câu "like."

Ngoài ra, mạng xã hội là nơi hoàn hảo để những người "ngáo" quyền lực thể hiện bản thân. Việc thể hiện bản thân quá đà lại nhận được sự cổ vũ của "cư dân mạng" trong thời gian dài sẽ dẫn đến con người ta lẫn lộn giữa đời thực và thế giới ảo, hoang tưởng về quyền lực, vượt ra khỏi ranh giới đạo đức, có thể phải đối mặt với bản án hình sự.

Có những vấn đề phức tạp, khiến người dùng mạng xã hội thiếu tỉnh táo không biết đâu là được phép, đâu là điều cấm kỵ. Do đó, người sử dụng mạng xã hội phải thực sự chú ý và được trang bị những kiến thức cần thiết để bảo đảm rằng mình sử dụng không gian mạng có trách nhiệm, không vi phạm quy định của pháp luật có liên quan như Bộ luật Dân sự, Luật An ninh mạng và vi phạm Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội.

Theo Nghị định 15, mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin đối với cá nhân là 100 triệu đồng. Hành vi lưu trữ, truyền đưa thông tin giả mạo, sai sự thật, vu khống, xuyên tạc, xúc phạm uy tín của tổ chức và danh dự, nhân phẩm của cá nhân bị phạt 50-70 triệu đồng.

Mức phạt 50-70 triệu đồng cũng được áp dụng đối với hành vi cung cấp thông tin cổ súy các hủ tục, mê tín, dị đoan, dâm ô, đồi trụy, không phù hợp với thuần phong, mỹ tục của dân tộc.

Luật pháp, các quy định, quy tắc ứng xử về mạng xã hội chỉ phát huy tác dụng khi chúng ta là những người sử dụng thông thái, biết "gạn đục, khơi trong"./.