Thứ Năm, 1 tháng 6, 2023

Cho thuê đất cần hướng tới củng cố năng lực cạnh tranh và tăng trưởng kinh tế


Dự án luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) đã được trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại phiên họp thứ 22 vừa qua, dự kiến sẽ được trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 5 sắp tới. Trong quá trình xây dựng luật, việc tham khảo kinh nghiệm phát triển và quản lý thị trường bất động sản của một số nước trên thế giới là cần thiết để đảm bảo dự án luật đạt chất lượng cao.

Trong quá trình hoàn thiện dự án luật, cơ quan soạn thảo đã chủ động tham khảo những góc nhìn từ pháp luật quốc tế về quản lý nhà nước đối với thị trường bất động sản, mô hình tài chính bất động sản và định hướng phát triển thị trường bất động sản của một số nước có thể áp dụng vào Việt Nam. Theo đó, quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đang diễn ra mạnh mẽ ở Việt Nam tạo nên áp lực và nhu cầu rất lớn về phát triển hạ tầng và bất động sản đô thị, dẫn tới sự phát triển sôi động của thị trường bất động sản đô thị.

Hiện nay ở Việt Nam, có 4 kênh tài chính bất động sản chủ yếu đầu tư vào thị trường bất động sản sơ cấp, bao gồm: nguồn vốn tự có của doanh nghiệp, vốn huy động của khách hàng, vốn vay và vốn phát triển trái phiếu. Trong đó, vốn vay chủ yếu từ ngân hàng thương ại, ngoài ra còn có nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài, tuy nhiên nguồn vốn này chỉ có trong các dự án đầu tư nước ngoài hoặc hợp tác, liên doanh với nước ngoài. Khi đó cơ cấu vốn tự có sẽ là nguồn vốn đầu tư nước ngoài.

Dựa trên kinh nghiệm quốc tế, có thể dự báo xu hướng phát triển các kênh huy động vốn đầu tư bất động sản ở Việt Nam như sau: Trong điều kiện thị trường chứng khoán Việt Nam chưa phát triển, kênh tín dụng ngân hàng thương mại vẫn là kênh huy động và cung cấp vồn đầu tư bất động sản chủ yếu ở nước ta. Tuy nhiên, việc cho vay sẽ phát triển mạnh sang mảng bán lẻ (retail banking) tài trợ cho việc mua nhà của dân.

Bên cạnh đó, xu hướng đa dạng hóa các kênh huy động vốn cho đầu tư kinh doanh bất động sản đang ngày càng rõ nét. Cụ thể, các kênh huy động vốn và cấp vốn đầu tư bất động sản qua thị trường chứng khoán, đặc biệt là việc phát hành trái phiếu bất động sản sẽ phát triển cùng với sự phát triển của thị trường vốn. Các quỹ đầu tư, quỹ tiết kiệm nhà ở sẽ phát triển mạnh mẽ nếu có khung pháp lý đầy đủ. Thị trường thứ cấp thế chấp bất động sản sẽ hình thành từng bước một, tuy nhiên chưa có triển vọng cho chứng khoán hóa bất động sản. Các nguồn vốn từ nước ngoài sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong tài chính bất động sản ở Việt Nam, tuy vậy các

Đối với kinh nghiệm về khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai, có thể lấy áp dụng kinh nghiệm của Trung Quốc về việc cho thuê đất. Cải cách cho thuê đất nhằm mục đích kích thích sự phát triển kinh tế ở các địa phương, bằng cách cho phép các thành phố thu hút đầu tư nước ngoài thông qua quyền sở hữu đất ổn định và lâu dài cho các nhà đầu tư.  Kể từ khi bắt đầu thực hiện, cho thuê đất đã được được gắn với mục tiêu đầu tư cơ sở hạ tầng. Cho thuê đất cung cấp một nguồn thu nhập lớn và nguồn thu này được đầu tư cơ bản cho hệ thống cơ sở hạ tầng, và hơn hết là nhằm củng cố năng lực cạnh tranh cho tăng trưởng kinh tế của các thành phố của Trung Quốc./.

 

HỘI THẢO CHIA SẺ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ ĐIỆN GIÓ NGOÀI KHƠI VÀ QUY HOẠCH KHÔNG GIAN BIỂN

 


Phát biểu tại hội thảo, Tiến sĩ Tạ Đình Thi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội nhấn mạnh, phát triển năng lượng tái tạo là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, trong đó, điện gió ngoài khơi được xác định là một trong những giải pháp hiệu quả trong chuyển dịch năng lượng, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Đây cũng là nội dung có liên quan chặt chẽ đến Quy hoạch không gian biển đang được Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì lập và sẽ được trình Quốc hội thông qua trong thời gian tới. Theo đó, Quy hoạch dự kiến sẽ xác định các khu vực biển tiềm năng, phân vùng phù hợp để phát triển điện gió ngoài khơi.

Trưởng đại diện thường trú của UNDP tại Việt Nam, bà Ramla Khalidi nêu quan điểm, việc đẩy nhanh quy hoạch không gian biển là cần thiết để mở ra tiềm năng to lớn về phát triển điện gió ngoài khơi cho Việt Nam, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững và biến đổi khí hậu đã được công bố tại Hội nghị COP26, trong đó đặt mục tiêu đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Còn bà Hilde Solbakken, Đại sứ Na Uy tại Việt Nam cho rằng, quy hoạch không gian biển sẽ giúp quản lý đại dương bền vững, đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện tầm nhìn chung về một tương lai xanh, bền vững và thịnh vượng.

"Bằng cách chia sẻ và học hỏi lẫn nhau, chúng ta có thể đảm bảo mọi ngành và lĩnh vực đều được hưởng lợi từ đại dương mà vẫn có thể bảo tồn được hệ sinh thái biển và đa dạng sinh học. Vì vậy, chúng tôi cam kết hợp tác với các đối tác tại Việt Nam, trong đó có UNDP và các bộ, ngành quan trọng của Việt Nam để thúc đẩy tăng trưởng xanh bền vững, bảo vệ môi trường biển và hỗ trợ quá trình chuyển đổi năng lượng của Việt Nam”, bà Hilde Solbakken phát biểu.

Hội thảo “Điện gió ngoài khơi và Quy hoạch không gian biển Việt Nam” có sự tham gia của các bên liên quan chủ chốt trong lĩnh vực quy hoạch không gian biển ở Việt Nam như Cục Biển và Hải đảo Việt Nam (Bộ Tài nguyên và Môi trường), Cục Điện và Năng lượng tái tạo (Bộ Công Thương), Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN), Tổ chức GIZ, Ngân hàng Thế giới, Tổ chức Nghiên cứu công nghiệp và khoa học Na Uy (SINTEF), Equinor, cùng đại diện các đại sứ quán, các tổ chức quốc tế, các chuyên gia và khu vực tư nhân...

(Theo Báo Hà Nội mới)

 

Một số giải pháp ứng phó với âm mưu thủ đoạn lợi dụng trí tuệ nhân tạo

Trước âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo để tạo ra các nội dung phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, chống phá Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa như trên, chúng ta cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, nâng cao cảnh giác của cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với những thông tin xấu độc, tin giả, sai sự thật là sản phẩm của các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo.

Tăng cường các biện pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân về cơ hội và thách thức khi sử dụng các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo, đặc biệt tuyên truyền rõ về những hạn chế, những xu thế độc hại về trí tuệ nhân tạo, tránh thu hút sự quan tâm của người dân, đặc biệt là giới trẻ. Bảo đảm dòng thông tin chất lượng, chính xác, kịp thời từ truyền thông chính thống là thông điệp chủ đạo, tin cậy về các chủ đề liên quan đến các ứng dụng về trí tuệ nhân tạo mà dư luận xã hội quan tâm.

Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa, nhất là cho cán bộ, đảng viên. Trang bị cho cán bộ, đảng viên kỹ năng tự bảo vệ thông tin cho cá nhân, tổ chức; cách thức chắt lọc, tiếp nhận thông tin một cách đúng đắn, phù hợp; nâng cao khả năng nhận diện với các thông tin xấu độc, nguy hại đối với bản thân và xã hội do các ứng dụng trí tuệ nhân tạo tạo ra.

Hai là, các bộ, ngành cần khẩn trương hoàn thiện các quy định về quản lý nhà nước trên không gian mạng, đẩy mạnh nghiên cứu xây dựng, đề xuất ban hành cơ chế, chính sách thu hút các tập đoàn, công ty công nghệ tham gia phát triển các ứng dụng, chương trình trí tuệ nhân tạo để đất nước có thể tiến tới tự chủ về lĩnh vực này, triển khai đồng bộ, có hiệu quả Quyết định số 127/QĐ-TTg, ngày 26/1/2021 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược quốc gia về phát triển trí tuệ nhân tạo đến năm 2030. Thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII, đó là: “Có chiến lược phát triển khoa học và công nghệ phù hợp với xu thế chung của thế giới và điều kiện đất nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư[9].

Ba là, phát huy vai trò và sự vào cuộc của các cơ quan chức năng trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch để đảm bảo hạn chế được những tác động tiêu cực do các ứng dụng này đem lại; tổ chức đấu tranh phản bác có hiệu quả những luận điệu lợi dụng các ứng dụng trên để tạo ra các nội dung tuyên truyền phá hoại cách mạng Việt Nam; phát hiện, điều tra, xử lý nghiêm minh, đảm bảo yếu tố răn đe nghiêm khắc đối với những tổ chức, các nhân lợi dụng các ứng dụng trên có hoạt động phá hoại nền tảng tư tưởng, chống phá Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Bốn là, tận dụng các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo vào thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bên cạnh việc hạn chế những tác động tiêu cực, cần tăng cường nghiên cứu, ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo phục vụ lực lượng thực hiện công tác báo chí, truyền thông, đó là: Ứng dụng để phục vụ khai thác, cung cấp thông tin từ các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo để xây dựng tin, bài viết về các sự kiện, chủ đề đang được dư luận quan tâm... phục vụ công tác phủ xanh, lan tỏa thông tin tích cực; đồng thời giảm thiểu thời gian biên tập, tận dụng nguồn nhân lực, đa dạng hóa các sản phẩm tuyên truyền từ bài viết, hình ảnh, âm thanh, video nhờ các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo. Tận dụng tính năng “tự học” và nguồn hạ tầng cơ sở dữ liệu lớn của các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân để tăng cường thông tin tích cực, tạo dựng “kho dữ liệu xanh” phục vụ nhiệm vụ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của thế lực thù địch./.

Thủ đoạn phát tán thông tin xấu độc sử dụng trí tuệ nhân tạo

Trên không gian mạng, các thế lực thù địch đã, đang và sẽ sử dụng một số phương thức, thủ đoạn chủ yếu như sau:

Đối với các chương trình tạo văn bản, các câu trả lời không mang tính cập nhật, sai lệch thông tin, phần lớn không trích dẫn nguồn dẫn: Các thế lực thù địch đã chỉnh sửa kỹ thuật để lồng ghép các quan điểm sai trái, thông tin xấu độc vào tương tác với ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo, sau đó lợi dụng mạng xã hội để lan truyền các thông tin trên không gian mạng; ca ngợi, tán dương các ứng dụng có sử dụng trí tuệ, nhân tạo sẽ làm thay đổi về công tác truyền thông hiện nay như: xuyên tạc việc ChatGPT và các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo có thể đưa ra thông tin hoặc đáp án “khách quan” hơn các thông tin do Đảng, Nhà nước ta tuyên truyền; lợi dụng việc thông tin mang tính thiếu cập nhật để đưa ra các thông tin sai sự thật, có lợi cho các hoạt động chống phá; việc đưa ra dữ liệu không xác thực, thiếu kiểm chứng; các đối tượng cố tình đặt những câu hỏi mang tính điều hướng, cung cấp dữ liệu sai sự thật để ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo đưa ra những kết quả theo ý đồ riêng; lợi dụng tính năng huấn luyện trong quá trình trao đổi để huấn luyện ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo phục vụ cho mục đích tuyên truyền thông tin sai sự thật, chống phá Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; lợi dụng khả năng tạo ra một lượng lớn văn bản một cách nhanh chóng và thuyết phục để phổ biến tin tức không chính xác, thậm chí là tin giả mạo trên quy mô lớn.

Đối với các chương trình tạo/chính sửa ảnh, âm thanh, video: Các thế lực thù địch có thể chỉnh sửa ảnh, âm thanh, video chứa nội dung xấu độc và ghép vào hình ảnh, tiếng nói, video của các lãnh đạo để tuyên truyền các quan điểm sai trái, thông tin xấu độc, sau đó lợi dụng mạng xã hội để lan truyền các thông tin này trên không gian mạng; lợi dụng khả năng tự động hóa việc tạo nội dung, ảnh, âm thanh, video có thể được xây dựng một cách dễ dàng, phục vụ tuyên truyền các nội dung độc hại bằng nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau.

TỈNH TÁO, NHẠY BÉN TRONG CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

 

Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời đến nay luôn coi công tác lý luận là bộ phận quan trọng, là nhân tố hàng đầu cấu thành hoạt động lãnh đạo của Đảng.
Một vấn đề rất quan trọng cần nhận rõ, lý luận chính trị là bộ môn khoa học luôn phải đối diện với những quan điểm, luận thuyết trái ngược nên công tác lý luận có nhiệm vụ là đấu tranh chống các quan điểm sai trái và những tư tưởng lệch lạc. Lý luận, đặc biệt là lý luận chính trị lúc nào cũng dựa trên lập trường của một giai cấp nhất định và đấu tranh lý luận là một mặt trận quan trọng trong những cuộc đấu tranh giai cấp. Cuộc đấu tranh lý luận không chỉ xoay quanh vấn đề cốt lõi nhất của lý luận mà thường gắn với những vấn đề thực tiễn, nhất là những biến động của đời sống xã hội.
Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng-lý luận hiện nay đang diễn ra trong bối cảnh mới, có nhiều thuận lợi mới và không ít khó khăn, thách thức mới đối với việc bảo vệ những quan điểm lý luận của Đại hội XIII của Đảng. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là động lực, nguồn lực quan trọng để chúng ta vững bước đi lên. Điều đó làm cho công tác lý luận có một cơ sở thực tế mới, có một “cốt vật chất” vững chắc để thực hiện những nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên, tình hình trong nước hiện nay vẫn còn tồn tại một số vấn đề đáng được quan tâm giải quyết và cũng là những khó khăn đối với công tác lý luận và đấu tranh lý luận.
Bên cạnh đó, những thách thức đối với công tác lý luận từ bên ngoài tác động vào Việt Nam cũng không hề nhỏ. Đó là những nghịch lý, những diễn biến khó lường và khó dự báo của thế giới hiện nay. Ngay cả những giá trị cao đẹp và đích thực mà nhân loại dày công tạo dựng, vun đắp như hòa bình, độc lập, chủ quyền, công bằng, tiến bộ xã hội... cũng bị các thế lực thù địch, phản động dùng mọi mưu mô đánh phá. Đã thế, có một tình hình là thông tin về mọi mặt đời sống chính trị-kinh tế-văn hóa-xã hội ở mọi nơi trên thế giới và trong nước, cả mặt thuận và mặt trái, đều có thể hấp thụ được qua nhiều cách, nhiều chiều trên nhiều phương diện. Việc nghe, việc nhìn cũng như suy nghĩ của mỗi người trong điều kiện thông thoáng bên trong, mở cửa, hội nhập với bên ngoài hôm nay đã khác hôm qua. Tất cả điều đó tác động đến công tác lý luận nói chung và tác động trực tiếp đến cuộc đấu tranh lý luận nói riêng.
Từ những vấn đề đó đặt ra cho cuộc đấu tranh tư tưởng-lý luận hiện nay là chúng ta phải kế thừa những cách thức và phương pháp vốn có, đồng thời phải có cách làm đổi mới, sáng tạo để tìm ra được những luận cứ sắc bén. Điều căn bản là thấy hết những yêu cầu mới đặt ra đối với cuộc đấu tranh lý luận hiện nay. Những yêu cầu đó thể hiện trên một số nội dung chủ yếu sau:
Một là, trong cuộc đấu tranh lý luận, cần nhận rõ sự phức tạp trên con đường cách mạng nước ta vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Trên con đường đó, chúng ta gặp không ít khó khăn, không ít lực cản. Có những khó khăn do chính bản thân chúng ta không lường hết, khó khăn nội tại do chủ quan, duy ý chí hoặc do bảo thủ, trì trệ dẫn tới sự đình đốn, thậm chí vấp ngã. Từ đó dẫn tới sự lúng túng và thiếu lý lẽ, thậm chí bế tắc trong lập luận. Sự kiện ở Liên Xô trước đây và Đông Âu-những nơi mà CNXH hiện thực tưởng như rất vững chắc nhưng đã bị tan rã một cách nhanh chóng-đã cho chúng ta bài học sâu sắc cả về tính phức tạp của thế giới đương đại và những trắc trở, khó khăn trên con đường đi tới tương lai của loài người.
Thực tiễn quá trình cách mạng của chúng ta hiện nay cũng chứa đựng những vấn đề không đơn giản. Phát triển kinh tế thị trường trong điều kiện toàn cầu hóa, mở cửa hội nhập quốc tế là những nhiệm vụ tất yếu mà chúng ta đang tiến hành. Mặc dù chúng ta luôn giữ định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) nhưng phát triển kinh tế thị trường càng mạnh thì tính tự phát của khuynh hướng tư bản chủ nghĩa cũng sẽ tăng lên. Chúng ta lại đang ở thời kỳ quá độ, trong đó nền kinh tế và cả xã hội cũng có những vấn đề quá độ đan xen nhau, rất khó rạch ròi. Quá trình mở cửa hội nhập, chủ động làm ăn với các nước tư bản chủ nghĩa lại sử dụng những giải pháp và cách thức phát triển của chủ nghĩa tư bản để xây dựng CNXH đặt ra nhiều thách thức đối với công tác lý luận và đặc biệt là công tác đấu tranh về lý luận để bảo vệ những nguyên lý và quan điểm, định hướng của chúng ta.
Hai là, phải xuất phát từ tư duy khoa học và sáng tạo trong cuộc đấu tranh lý luận; để có sức thuyết phục, mọi lý lẽ được sử dụng phải mang tính khoa học và sáng tạo. Chúng ta đều thấy rằng, một mặt, lý thuyết về CNXH và xã hội XHCN được hình thành một cách khoa học, có khảo sát, phân tích thấu đáo trên cơ sở vận dụng những quy luật khách quan. Nhưng mặt khác, đôi khi chúng ta không chú ý hoặc vô tình bỏ qua một vấn đề quan trọng là những luận thuyết về CNXH được xác lập dựa vào những phương pháp trừu tượng rất cao. Phải tìm tòi và gạt bỏ các vấn đề, các yếu tố đặc thù, hoặc không cơ bản để đi sâu vào lý giải những vấn đề cốt lõi.
Tính trừu tượng cao của CNXH khoa học chính là những nguyên lý chung nhất, mang tính phổ biến nhất có thể áp dụng cho mọi nơi, mọi nước. Tuy nhiên, trong quá trình vận dụng để xây dựng CNXH, không thể không tính đến những điều kiện đặc thù. Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực về sự vận dụng một cách sáng tạo như thế. Trên cơ sở nắm bắt sâu sắc bản chất cách mạng và khoa học, tinh thần biện chứng và nhân đạo của học thuyết Mác-Lênin, Bác Hồ đã vận dụng sáng tạo học thuyết đó cùng với việc kế thừa chủ nghĩa yêu nước, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại để đưa ra những tư tưởng phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã và đang soi đường cho cách mạng Việt Nam giành nhiều thắng lợi, trở thành nền tảng tư tưởng bền vững của dân tộc và có sức lan tỏa ra thế giới.
Ba là, trong đấu tranh lý luận không được phiến diện, tuyệt đối hóa một chiều và không công thức hóa. Phiến diện và tuyệt đối hóa sẽ dẫn tới làm mất đi tính khoa học của lý luận và tính phong phú của thực tế, làm cho lý luận bị ngưng đọng và không đủ uyển chuyển để tìm ra những luận cứ đấu tranh. Như khi luận bàn về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, chúng ta có lúc đánh giá, nhìn nhận quá cao tác dụng “mở đường” của quan hệ sản xuất; lúc khác thì chỉ để ý đến vấn đề lợi ích, đến việc phát huy các yếu tố của lực lượng sản xuất nên coi nhẹ, thậm chí quên mất việc quan hệ sản xuất phù hợp một cách chủ động và tích cực đối với lực lượng sản xuất. Khi nói về kết cấu và bản chất của CNXH, đôi khi chúng ta mô tả nó một cách công thức đơn giản, hời hợt, sơ lược, coi như không có mâu thuẫn; không nhìn thấy hết và không quan tâm hết đến các hệ thống lợi ích khác nhau của các tầng lớp xã hội. Tất cả những điều đó đã vô tình hạ thấp vị trí và vai trò của hệ tư tưởng XHCN và trên thực tế sẽ tạo ra những cơ chế kìm hãm sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Bốn là, đấu tranh lý luận cần lấy căn cứ từ thực tiễn, quan tâm đến vấn đề của thực tiễn đặt ra. Nếu trong đấu tranh lý luận mà cứ đi theo công thức định sẵn, không chú ý đến các vấn đề mới nảy sinh trong kinh tế, không để tâm đến tâm trạng xã hội và tình cảm của nhân dân thì không thể đủ sức thuyết phục. Một khi công tác tư tưởng, lý luận cứ theo một khuôn khổ cứng nhắc, không đề cập đến những vấn đề thực tiễn đang nảy sinh vào hoạt động của mình thì nhất định các tư tưởng lý luận xa lạ sai lệch sẽ xen vào. Trong những dạng thức tư tưởng dễ xâm nhập vào quần chúng, phải kể đến ý thức tư tưởng tiểu tư sản. Ý thức tiểu tư sản thường được “tái sinh” từ sự chủ quan của công tác tư tưởng nói chung và công tác đấu tranh lý luận nói riêng; từ những vi phạm nguyên tắc XHCN trong sản xuất, phân phối và trong cả sinh hoạt đời sống đã động chạm đến lợi ích vật chất, quyền lợi của quần chúng lao động. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người mở đầu cho cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa tự giải phóng khỏi ách kìm kẹp của chủ nghĩa thực dân, đứng lên giành chính quyền, xây dựng xã hội mới. Trên từng bước đường đổi mới gặp vô vàn khó khăn của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chứng minh một cách rõ ràng cho quần chúng hiểu được những điều cụ thể, từng công việc cần làm và sẽ làm được nếu tất cả mọi người cùng giác ngộ, cùng quyết tâm, đồng lòng, chung sức.
Năm là, đấu tranh lý luận phải hướng vào chủ đích là củng cố niềm tin, sao cho toàn thể cán bộ, đảng viên, nhân dân tin vào sự tất thắng của sự nghiệp cách mạng, quyết tâm thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một điều rất hiển nhiên là triển vọng phát triển của đất nước phụ thuộc đáng kể vào tư tưởng và nhận thức của con người. Khi tư tưởng đã thông, thống nhất một cách nghĩ sẽ biến ý chí thành hành động, làm cho triệu người đồng lòng, chung sức, tạo thành lực lượng vật chất to lớn thúc đẩy xã hội tiến lên. Yếu tố cốt lõi đưa tới thống nhất tư tưởng và hành động là niềm tin. Niềm tin trong mỗi con người là sự chắt lọc từ nhận thức và nằm trong chiều sâu nhận thức, nhưng lại có ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với việc định hướng tư tưởng và định hướng hành động. Niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân là keo gắn trong Đảng và giữa Đảng với nhân dân, tạo thành động lực to lớn giúp chúng ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Để xác lập và củng cố niềm tin, điều cần thiết nhất là phải nâng cao trình độ giác ngộ, trình độ hiểu biết cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, đối với chúng ta, chỉ có tình cảm là không đủ, mà phải là tình cảm cách mạng dựa trên cơ sở lý luận khoa học vững chắc. Có như vậy mới định hướng đúng cho mỗi người khi gặp những điều kiện và biến cố phức tạp trong một thế giới đầy xáo động, ngổn ngang, bất trắc khôn lường. Có như vậy mới đủ kiên định trước mọi thử thách của thời cuộc.
NTT st

Một số tác động tiêu cực của các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI)

 Nguy cơ mất an toàn thông tin: Trên MXH xuất hiện nhiều quảng cáo mời gọi cài đặt ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo, phần lớn những liên kết này đều dẫn đến ứng dụng giả mạo, không có giá trị pháp lý và có thể chứa phần mềm gián điệp. Khi phần mềm này được cài đặt trên điện thoại hoặc các thiết bị điện tử, nguy cơ bị lộ lọt, mất thông tin cá nhân hoặc bị giám sát.

Khi thiết lập và sử dụng các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo, người dùng phải đăng ký tài khoản và sử dụng số điện thoại để kích hoạt tài khoản. Việc đăng ký tài khoản cá nhân trên ứng dụng này đều phải cung cấp thông tin cá nhân như: Họ tên, tuổi, số điện thoại, địa chỉ email... Những thông tin này được liên kết với các ứng dụng như: Facebook, Zalo, Instagram hoặc liên kết với các ứng dụng tiện ích, giao dịch thương mại điện tử, trò chơi trực tuyến khác. Dựa vào đây, phương thức tự học của các chương trình có thể sẽ vừa thu thập thông tin cá nhân và vừa có thể "đánh dấu" hồ sơ cá nhân riêng biệt với từng người sử dụng phục vụ nhiều mục đích phân tích dữ liệu về đặc điểm, sở thích, tính cách hoặc ngành nghề...

Nguy cơ mất an ninh trật tự: Tội phạm có thể lợi dụng các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo để phục vụ cho các mục đích phạm tội như: lừa đảo chiếm đoạt tài sản (thông qua việc chiếm đoạt tài khoản cá nhân), bán khống tài khoản, tư vấn các hoạt động phạm pháp như chế tạo thuốc độc, bom mìn, thủ thuật vượt qua các hoạt động an ninh, chỉnh sửa, cải thiện mã độc... Ngoài ra, khi cán bộ, đảng viên sử dụng các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo có thể làm lộ lọt các thông tin liên quan đến cơ quan, đơn vị khi cung cấp dữ liệu cho những ứng dụng này để biên tập, nghiêm trọng hơn có thể gây mất an toàn thông tin cho hệ thống nội bộ.

Liên quan đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, những ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo trên có thể mang lại những tác động tiêu cực sau:

Thời điểm ChatGPT và các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo được cộng đồng mạng quan tâm, các thế lực thù địch lợi dụng các ứng dụng này để tạo làn sóng dư luận, lan truyền, phát tán tin giả, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, kích động chia rẽ sắc tộc, tôn giáo, gây mất ổn định trật tự - an toàn xã hội...; cắt ghép các quan điểm sai trái, thông tin xấu độc vào các tương tác với các ứng dụng này, kết hợp với các công cụ mạng xã hội để lan truyền các thông tin xấu độc, kêu gọi một số thành phần xấu vào chia sẻ, bình luận trên các trang thông tin điện tử gây hoang mang dư luận.

Đối với một số câu hỏi về tình hình chính trị, kinh tế - xã hội, lịch sử Việt Nam, các nội dung “được tạo ra” từ các sản phẩm trí tuệ nhân tạo hầu hết đáp ứng được yêu cầu và có độ chính xác nhất định; tuy nhiên, ngoài những câu trả lời mang tính khái quát đối với các vấn đề phức tạp, nhạy cảm, các hồi đáp của ChatGPT có phần một chiều, đặc biệt là các vấn đề về dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo.

Có thể nói nguồn dữ liệu đầu vào của các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo vẫn có thể được kiểm soát, kiểm duyệt bởi người tạo dựng nên hệ thống do tính sở hữu về mặt hạ tầng, dữ liệu và thuật toán của người xây dựng nên. Nếu có thực sự dữ liệu và các thuật toán không mang tính khách quan, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị có thể tận dụng tính không minh bạch và tính “không công bằng” của thuật toán để tăng cường các hoạt động can thiệp mà khó có thể phát hiện hoặc kiến nghị đối với các nội dung sinh ra bởi các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo. Nghiêm trọng hơn khi các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo được phát triển thành một ứng dụng mang tính cộng đồng, nó sẽ trở thành một công cụ để tuyên truyền các thông tin sai sự thật, xấu độc và thiếu kiểm chứng nhằm chống phá chính quyền các nước đối lập về chính trị, trong khi đó thông tin thực sự tốt lại có thể bị sàng lọc và kiểm duyệt.

AI và công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là công nghệ số phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia, dân tộc. Trong đó trí tuệ nhân tạo (AI) được xem là một trong những công nghệ cốt lõi của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0; nhiều quốc gia đã ghi nhận những ảnh hưởng to lớn của AI trong mọi mặt đời sống xã hội. Ở nước ta, một số sản phẩm của AI được phát triển trong thời gian gần đây đã mang đến nhiều thách thức cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. 

AI là sự mô phỏng hoạt động trí tuệ con người bằng máy móc, đặc biệt là hệ thống máy tính. Đây là một ngành thuộc lĩnh vực khoa học máy tính (Computer science) và sản phẩm này do con người lập trình tạo nên với mục tiêu giúp máy tính có thể tự động hóa các hành vi giống với con người. Cụ thể, trí tuệ nhân tạo giúp máy tính có thể tổng hợp, phân tích, mô phỏng những hoạt động tư duy giống con người như: suy nghĩ, phân tích, học hỏi, lập luận, tự thích nghi,… để giải quyết các vấn đề qua giao tiếp. Các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo là những ứng dụng máy tính mô phỏng hành vi của con người bằng cách học các mẫu dữ liệu và thông tin chuyên sâu khác nhau. Một số ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo có thể đưa ra các kết quả đa dạng nhờ xử lý và thu thập những dữ liệu có sẵn để tạo nội dung, biên tập, chỉnh sửa, thay thế nội dung,... được nhắc đến nhiều trong thời gian gần đây tự tạo nội dung, đó là: Ứng dụng tạo văn bản (tự động tạo văn bản qua tương tác với người sử dụng): Điển hình cho các ứng dụng này là ChatGPT (viết tắt của Chat Generative Pre-training Transformer), đây là một ứng dụng có thể xử lý các tương tác để truyền tải ngôn ngữ tự động, ứng dụng giúp thay thế con người trả lời các câu hỏi, được đào tạo để đưa ra câu trả lời giống một cuộc hội thoại thông thường như người thật. Ngoài ra, một số ứng dụng tự tạo nội dung khác có thể tạo/chỉnh sửa ảnh, tạo/chỉnh sửa âm thanh, tạo video. Những ứng dụng này giúp người dùng giảm thời gian biên tập nội dung so với các hoạt động tạo nội dung truyền thống. Người dùng có thể sử dụng ứng dụng để tăng hiệu suất công việc, tiết kiệm thời gian xây dựng các nội dung có mục đích cá nhân hoặc thương mại, áp dụng linh hoạt trong các ngành Khoa học - Kỹ thuật, giáo dục, báo chí, quảng cáo, âm nhạc, hội họa, điện ảnh...

Mặc dù có nhiều tác động tích cực đến đời sống xã hội, tuy nhiên các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo đang đặt ra nhiều nghi vấn về các vấn đề liên quan đến an toàn thông tin, vấn đề về đạo đức xã hội, quyền con người, các hoạt động chính trị,… Vấn đề được các chuyên gia quan tâm ở đây đó là sự “thiếu công bằng” trong các thuật toán (có khả năng dẫn đến các hành vi phân biệt đối xử, thành kiến về chủng tộc và giới tính,…), sự vi phạm quyền riêng tư của người dùng, khả năng định hướng người dùng bởi các nội dung được tạo ra như văn bản, âm thanh, video. Dư luận trên mạng xã hội, nhiều ý kiến cho rằng mặc dù các câu hỏi đưa ra từ ứng dụng có thể chính xác hoặc không, tuy nhiên việc trải nghiệm với tâm lý chờ đợi câu trả lời từ một ứng dụng trí tuệ nhân tạo khiến đa số người dùng hứng khởi, tò mò. Tuy nhiên cũng có trường hợp người dùng cảm thấy lo ngại, trong đó liên quan đến hành lang pháp lý cũng như tiềm ẩn nhiều rủi ro và nghiêm trọng hơn khi nhiều người thực sự tin những thông tin đưa ra từ các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo.

Các ứng dụng sử dụng trí tuệ nhân tạo hiện có nhiều tiềm năng phát triển và vẫn có thể được cải thiện hơn nữa để áp dụng vào đời sống, xã hội. Các công nghệ này vẫn còn có thể được cải tiến hơn nữa về độ chính xác nhờ cập nhật về công nghệ, bổ sung về mặt dữ liệu, nâng cấp về mặt hạ tầng, do đó trong tương lai gần sẽ trở thành một công cụ đắc lực cho nhiều ngành nghề, lĩnh vực. Tuy nhiên, về bản chất, ứng dụng này vẫn hoàn toàn phụ thuộc vào các thuật toán, dữ liệu đầu vào do con người cung cấp, do đó các sản phẩm được tạo ra từ các ứng dụng trí tuệ nhân tạo hoàn toàn phụ thuộc vào yêu cầu đầu vào của con người và chưa có khả năng sinh ra tri thức mới.