Thứ Ba, 5 tháng 9, 2023

Chủ động đấu tranh, bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, “lợi dụng nhân quyền” chống phá Việt Nam

 

Để làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc lịch sử của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, hơn lúc nào hết, mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân cần hết sức tỉnh táo, đề cao cảnh giác để phát hiện, phòng chống, ngăn chặn kịp thời, hiệu quả và làm rõ, đầy lùi, đập tan thủ đoạn “lợi dụng nhân quyền” chống phá của các thế lực thù địch.

Truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc luôn là động lực to lớn, tiếp thêm sức mạnh để mỗi người dân Việt Nam mang trong mình dòng máu Lạc Hồng cảm nhận và chuyển hóa thành hành động, việc làm cụ thể, thiết thực, tiến lên giành những thắng lợi mới trên chặng đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước vẫn đang có những diễn biến phức tạp nên dân chủ, nhân quyền vẫn là chiêu bài, các thế lực bên ngoài lợi dụng một cách triệt để, núp bóng dưới nhiều hình thức nhằm gây mất ổn định, can thiệp vào nội bộ chính trị, xã hội ở Việt Nam. Đứng trước những âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, chúng ta cần làm quyết liệt, nhìn nhận rõ và đập tan thủ đoạn của chúng qua những nhiệm vụ trong thời gian tới.

Thứ nhất, tiếp tục đặt công tác phòng, chống hoạt động lợi dụng dân chủ, nhân quyền xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội nước ta dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện, tuyệt đối của Đảng và sự quản lý, điều hành của Nhà nước nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong triển khai công tác phòng chống, đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động lợi dụng dân chủ, nhân quyền chống phá công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Khẳng định nhất quán quan điểm của Đảng ta: Dân chủ là bản chất, là mục tiêu, là động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 

Thứ hai, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị trí, vai trò công tác bảo vệ và đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn hoạt động lợi dụng nhân quyền chống phá ta, coi đó là trách nhiệm của tất cả các cấp, các ngành và nhân dân để huy động sự tham gia của cả xã hội trong công tác này. Từng cán bộ, đảng viên phải nâng cao lập trường tư tưởng, chính trị vững vàng để nhận diện và kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm, sai trái thù địch, xuyên tạc, vu khống, phủ nhận dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Để mỗi cán bộ, đảng viên là chiến sĩ trên mặt trận bảo vệ nền tảng tư tưởng, thực hành phát huy dân chủ, nhân quyền ở nước ta.

Thứ ba, đổi mới hình thức, đa dạng các nội dung đấu tranh hiệu quả, bảo vệ dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhân quyền ở Việt Nam. Đổi mới, bổ sung nội dung đấu tranh trên cơ sở giữ vững quan điểm và nguyên tắc của Đảng và Nhà nước; mềm dẻo, linh hoạt, nhân văn trong phương pháp, công khai, minh bạch, dân chủ, góp phần tạo dư luận xã hội lành mạnh, đồng thuận. Trong đó, sử dụng các kênh truyền thông chính thống và các mạng xã hội để tiếp cận đến đông đảo quần chúng nhân dân vừa tuyên truyền, vừa bóc trần những xuyên tạc vô căn cứ của các thế lực thù địch lợi dụng những vấn đề chính trị, xã hội để chống phá nước ta.

Thứ tư, để không còn “mảnh đất” cho các thế lực thù địch lợi dụng chống phá, chúng ta cần đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, xoá đói, giảm nghèo, kết hợp với thực hiện công bằng xã hội, không ngừng nâng cao trình độ dân trí, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh bảo đảm ổn định chính trị, trật tự xã hội; nhanh chóng giải quyết triệt để các khiếu kiện, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của quần chúng nhân dân; chủ động định hướng dư luận, đưa thông tin đúng, chính thống đến nhân dân, không để xảy ra những tình huống bị động gây mất ổn định ở cơ sở. Trong đó, chú trọng, phối hợp giải quyết dứt điểm các “điểm nóng” ngay từ cơ sở, không để kéo dài, lây lan gây bức xúc dư luận.

Thứ năm, chúng ta thường xuyên, chủ động, xác định nhân quyền là một vấn đề nhạy cảm, phức tạp mà các thế lực thù địch, phản động lợi dụng nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta, thực hiện các mưu đồ chính trị đen tối. Vì vậy, cần thường xuyên nắm chắc tình hình, dự báo kịp thời mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng dân chủ, nhân quyền. Đồng thời, chủ động triển khai nắm âm mưu, hoạt động lợi dụng dân chủ, nhân quyền của các thế lực thù địch không nên mở rộng, mà phải áp sát trực diện vào vấn đề cần phải đấu tranh, đối tượng đấu tranh, nhằm chủ động, phê phán, phản bác, ngăn chặn những luận điệu phủ nhận thành tựu về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, để chống phá.../.

Nhận diện mũi tấn công ngụy dân chủ, nhân quyền của thế lực thù địch

 

Vẫn là những chiêu trò cũ rích của thế lực thù địch, lợi dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền đưa ra những thủ đoạn, các luận điệu để xuyên tạc, bóp méo sự thật về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, như: phủ nhận thành tựu, thực tiễn các giá trị lý luận, quan điểm, đường lối của Đảng về dân chủ, nhân quyền với những luận điệu như kích động vấn đề dân tộc thiểu số; xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền trên lĩnh vực tôn giáo, ngăn cản tự do ngôn luận, tự do hội họp; lợi dụng những hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội, sơ hở, thiếu sót trong quản lý, điều hành đất nước hoặc những vấn đề bức xúc, khiếu kiện kéo dài chưa được giải quyết để lôi kéo, kích động nhân dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất an ninh trật tự, xã hội...

Hay như chúng tung hô, cổ vũ, cường điệu hóa các giá trị dân chủ tư sản “kiểu Mỹ” và phương Tây, tuyệt đối hóa quyền con người với luận điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “lợi ích cá nhân cao hơn lợi ích cộng đồng, quốc gia”, tuyệt đối hóa các giá trị của quyền con người; xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm quyền cơ bản của con người, chèn ép “những người bất đồng chính kiến”… 

Rồi chúng còn sử dụng dân chủ, nhân quyền làm điều kiện để gây sức ép, can thiệp vào nội bộ nước ta như tìm cách gắn vấn đề viện trợ, hợp tác kinh tế với các điều kiện dân chủ, nhân quyền trong quan hệ ngoại giao với Việt Nam; đòi nước ta phải chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, cải cách chính trị, cải cách dân chủ, pháp luật theo kiểu phương Tây. Thông qua các diễn đàn công khai như hội thảo, hội nghị khoa học, những buổi tiếp xúc, đối thoại với các cơ quan chức năng của Việt Nam và yêu cầu ta phải đưa ra các lộ trình thực hiện các điều ước quốc tế về dân chủ, nhân quyền...

Chúng còn nhân cơ hội từ Quốc hội Mỹ, EU và các nước phương Tây thông qua các dự luật, nghị quyết, báo cáo thường niên... với nội dung xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp tôn giáo nhằm làm cho cộng đồng quốc tế hiểu không đúng tình hình trong nước, điển hình như: Báo cáo Tự do tôn giáo quốc tế của Bộ Ngoại giao Mỹ; Báo cáo tình hình nhân quyền thế giới hằng năm của Anh, Úc; Nghị quyết của Nghị viện châu Âu... Trong đó, chỉ riêng Hạ viện Mỹ hằng năm đã liên tục thông qua nhiều dự luật, nghị quyết về tình hình nhân quyền tại Việt Nam.

Một chiêu bài nữa cũng được sử dụng là thúc đẩy hình thành hội, nhóm, tổ chức chính trị đối lập Nhà nước. Họ tập hợp lực lượng hình thành các tổ chức dưới danh nghĩa “bảo vệ dân chủ, nhân quyền”, “yêu nước” với những cái tên rất kêu mang tinh thần “dân tộc” như “Hội phụ nữ nhân quyền”, “Nhóm công dân tự do”, “Nhóm tuổi trẻ yêu nước”. Chúng còn thúc đẩy sự ra đời các khuynh hướng dân chủ cực đoan, “xã hội dân sự”, hình thành tổ chức chính trị bất hợp pháp; vận động các tổ chức quốc tế trao “giải thưởng nhân quyền” cho các đối tượng vi phạm pháp luật bị bắt, xử lý ở trong nước… nhằm cổ suý, khích lệ số đối tượng trong nước hoạt động quyết liệt, tích cực hơn.

Có thể thấy rõ, những thủ đoạn đổi trắng, thay đen, bóp méo xuyên tạc lịch sử nhằm thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” đối với cách mạng Việt Nam của thế lực thù địch tuy không phải chiêu trò mới, nhưng, những luận điệu xuyên tạc và thô thiển của các thế lực thù địch với thủ đoạn chống phá tinh vi, chúng hiện nay vẫn đang sử dụng một số Website, Blog, tài khoản mạng xã hội “nhào nặn”, “vá víu” các sự kiện, tư duy ngụy biện xảo trá, đánh tráo khái niệm, suy diễn méo mó làm ảnh hưởng xuyên tạc lịch sử của của dân tộc ta, chống phá chúng ta.

Cảnh giác với "chiêu bài" hợp tác giáo dục

           - Vừa đến trường, thầy Hiệu trưởng Hùng lập tức gọi trưởng phòng truyền thông và hợp tác quốc tế lên để chất vấn: - Tôi hỏi cậu, người ta đang đồn ầm lên là trường mình tiếp tay cho phản động từ chính chương trình văn nghệ mà cậu đang cho luyện tập để biểu diễn trong lễ khai giảng năm học mới và chào đón tân sinh viên. Cậu có biết không ?

    - Liệu có hiểu nhầm gì không anh? Em giao cho đối tác xây dựng chương trình, tập dượt mấy hôm nay, các em sinh viên tham gia tập rất hào hứng. Hơn nữa, đối tác đang chào mấy gói hợp tác đào tạo nên chương trình khai giảng này họ giúp mình miễn phí, coi như là ra mắt, anh ạ.

    - Vậy là đúng rồi. Có phải công ty giáo dục của nước ngoài đang muốn hợp tác cung cấp giáo viên dạy học ngoại ngữ và văn hóa học cho trường ta đúng không? Cậu dừng ngay và thay thế một chương trình khác cho tôi!

    - Ơ, nhưng mà anh ơi...

    - Không nhưng nhị gì hết! Vậy là người ta đồn có cơ sở cả đấy. Đây, tôi cho cậu xem tin nhắn và hình ảnh tôi nhận được đây này. Chương trình văn nghệ chào sinh viên mới đang tập, cậu cho hát toàn bài hát nước ngoài. Rồi còn cả tiết mục nhảy nhót, mang mặc quần áo dáng dấp của quân xâm lược trước đây, lại bê nguyên lên sân khấu vũ điệu của phương Tây nữa. Cậu còn tư duy thế này thì sinh viên của cậu sẽ học được gì? Cậu cũng phải kiểm tra ngay liệu đối tác có âm mưu gì đằng sau “chiêu bài” hợp tác giáo dục không.

    - Anh nói thì em mới chột dạ nghĩ đến, có khi nào họ lợi dụng sự kiện của mình không nhỉ?

    - Điều đó là rõ rồi, cậu chủ quan và mất cảnh giác quá! Cậu có nhớ cách đây ít ngày, ở hội nghị tổng kết năm học 2022-2023 và triển khai nhiệm vụ năm học 2023-2024 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đại diện Bộ Công an đã cảnh báo việc các thế lực thù địch đang có dấu hiệu đẩy mạnh lợi dụng một số hoạt động hợp tác quốc tế trong đào tạo, nhắm vào đối tượng là học sinh, sinh viên, hòng kéo các em xa rời văn hóa dân tộc, phai nhạt tình yêu nước, thậm chí tác động đến tư tưởng của lớp trẻ để kích động chống đối, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước không? Cậu phải nâng cao cảnh giác, rà soát lại toàn bộ hoạt động hợp tác quốc tế cho tôi. Đừng để kẻ xấu tung ra một ít quyền lợi trước mắt rồi giấu sau lưng là âm mưu chống phá. Bài học “viên đạn bọc đường” đắt giá lắm, cậu có hiểu không?

    - Dạ, em đã hiểu rồi ạ. Em sẽ cho rà soát ngay, đồng thời xây dựng một chương trình văn nghệ mới để kịp cho khai giảng ạ!

Sự cần thiết phải giáo dục lý tưởng cộng sản cho thanh niên

          Quán triệt sâu rộng và tổ chức thực hiện có hiệu quả việc "Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" là một biện pháp thiết thực để nâng cao niềm tin, lý tưởng cộng sản cho thanh niên hiện nay.

Cùng với việc xác định rõ những nội dung cơ bản, V.I.Lê-nin còn chỉ dẫn cho chúng ta rất cụ thể vấn đề phải giáo dục lý tưởng cộng sản cho thanh niên như thế nào, bằng cách nào. Trước hết, Người cho rằng sự thấm nhuần lý tưởng cộng sản của thanh niên phải bắt đầu bằng việc họ tự ý thức là cần tiếp thu kiến thức, tự giáo dục, tự rèn luyện. Người nêu rõ: chúng ta không cần lối học gạo, nhưng chúng ta cần mở mang và hoàn thiện trí óc của mỗi người học bằng những kiến thức về những sự việc cơ bản, vì chủ nghĩa cộng sản sẽ trở thành trống rỗng..., người cộng sản sẽ chỉ là một anh khoe khoang..., nếu như tất cả các kiến thức đã thu nhận không được nghiền ngẫm trong ý thức của anh ta. Những kiến thức đó, không nên hấp thụ một cách giản đơn, mà phải hấp thụ có phê phán… Lý tưởng cộng sản với tư cách là một phẩm chất chính trị của con người, không tự hình thành và phát triển. Đó là quá trình chuyển hoá biện chứng từ nhận thức chính trị trở thành tình cảm cách mạng và biểu hiện ra ở hành vi, ở ý chí, quyết tâm của mỗi người cống hiến, hy sinh cho lý tưởng XHCN. Do đó, vai trò của công tác giáo dục, rèn luyện chỉ phát huy được hiệu quả thực sự khi mỗi người tiếp nhận nó một cách tự giác, biến nó trở thành động cơ bên trong, thôi thúc con người nỗ lực phấn đấu, rèn luyện.

Với ý nghĩa đó, có thể thấy, giáo dục lý tưởng cộng sản chỉ thực sự đạt được hiệu quả cao nếu mỗi thanh niên tự ý thức và thực hiện tốt quá trình chuyển hoá giáo dục thành tự giáo dục. Tự giáo dục, tự rèn luyện để nâng cao lý tưởng cộng sản là quá trình tự giác của mỗi thanh niên nhằm hướng đến nâng cao trình độ nhận thức chính trị, củng cố và phát triển tình cảm cách mạng, rèn luyện ý chí quyết tâm cống hiến sức lực cho sự nghiệp cách mạng. Đó chính là quá trình họ tự trau dồi tri thức lý luận của mình, làm chủ hệ thống tri thức khoa học nói chung, tri thức lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng, tự rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, giữ vững lập trường giai cấp và đạo đức cách mạng trong mọi điều kiện, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn để học tập, rèn luyện, đáp ứng yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng. Tự giác học tập, rèn luyện, nâng cao nhận thức chính trị, trình độ lý luận, tình cảm cách mạng và ý chí quyết tâm chính là cơ sở quan trọng của lý tưởng cộng sản.

Như vậy, việc giáo dục chủ nghĩa cộng sản cho thanh thiếu niên luôn là vấn đề rất quan trọng, làm cho mỗi thanh thiếu niên phát huy tinh thần tự học tự rèn, trau dồi bản lĩnh người chiến sĩ cộng sản, góp phần tạo ngồn sức mạnh tổng hợp của đất nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay.

Chủ nghĩa xã hội con đường duy nhất đúng đắn của chúng ta

Đảng và nhân dân ta không phủ nhận rằng vẫn còn không ít khuyết điểm, hạn chế trong quá trình phát triển đi lên. Đúng là nước ta còn nghèo, thu nhập còn ở mức trung bình thấp, nhưng đó không phải là lỗi của con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và dân tộc ta lựa chọn mà do chính thực dân, đế quốc và các thế lực thù địch, tay sai đã kéo lùi sự phát triển của đất nước ta.

Nhưng giờ đây, những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực trong công cuộc đổi mới 35 năm qua là bằng chứng của sự vươn lên, khẳng định quá trình phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Đó cũng là bằng chứng sống động bác bỏ những toan tính của các phần tử chống đối, thù địch muốn chúng ta rời bỏ lựa chọn này, chia rẽ sự gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân trong quá trình thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Công cuộc đổi mới ở Việt Nam đã tạo ra kỳ tích về xóa đói giảm nghèo khi tỷ lệ nghèo đói giảm mạnh từ 50% xuống còn khoảng 2%. Năm 2006, Việt Nam tuyên bố hoàn thành Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc về xóa bỏ tình trạng nghèo đói cùng cực và thiếu đói, về đích trước 10 năm.

Việt Nam đang hiện thực hóa khát vọng phát triển thịnh vượng khi tầng lớp trung lưu chiếm 10% dân số hiện nay sẽ tăng lên 50% vào năm 2035 theo như dự báo của Ngân hàng thế giới. Việt Nam cũng đặt mục tiêu là nước đang phát triển có thu nhập trung bình cao vào năm 2030. Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Thông điệp được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh trong bài viết cũng chính là mục tiêu mà Đảng, Nhà nước luôn hướng tới và cố gắng đạt được.

Nhìn lại những năm qua, những tác động tiêu cực của các cuộc xung đột quân sự và suy thoái kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng nặng nề tới người dân ở nhiều quốc gia khi mà tỷ lệ thất nghiệp tăng cao. Mặc dù vậy, vượt bao khó khăn, sóng gió của đại dịch, Đảng, Nhà nước luôn giữ những nguyên tắc bất di, bất dịch. Đó là ưu tiên sức khỏe và sự an toàn của người dân lên trên hết. Mục tiêu ấy phù hợp lợi ích, nguyện vọng của nhân dân, được nhân dân đồng lòng ủng hộ và được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Những nỗ lực chống dịch Covid-19 đã chứng minh rằng, Việt Nam đã giải quyết được các vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển kinh tế. Chính thực tế này thêm khẳng định tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.

Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam sẽ còn lâu dài, liên tục, phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách và không thể nóng vội. Tuy nhiên, với lập trường kiên định, bản lĩnh vững vàng, quyết tâm cao, nỗ lực lớn và sự đồng sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, con đường ấy sẽ ngày càng rõ nét hơn, sự nghiệp đổi mới và phát triển ở Việt Nam sẽ ngày càng đạt được những thành tựu to lớn hơn, đất nước sẽ ngày càng phồn vinh, hạnh phúc, giàu mạnh.

Cần nhận thức đúng nội dung "tự do báo chí" trên cơ sở nhận thức đúng vai trò và nhiệm vụ vẻ vang của báo chí

        Theo các nhà nghiên cứu lịch sử báo chí, thì những hình thức ban đầu của báo chí, như những thông báo của chính quyền qua tiếng mõ làng, qua các yết thị dán ở nơi công cộng, như tờ Acta Diuna của người La Mã cổ xưa, các yết thị của chính quyền phong kiến Việt Nam ngày mồng một, ngày rằm dán tại các "Quảng Vân Đình",... là những hình thức sơ khai của báo chí. Cùng với sự phát triển của ngành in, gồm chế tạo ra máy in (1810), mực in (1814) , sự ra đời của báo viết ở phương Tây gắn liền với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản, nhằm phổ biến tư tưởng dân chủ tư sản, chống lại sự thống trị hà khắc của chế độ phong kiến, góp sức thúc đẩy phát triển khoa học-kỹ thuật và xây dựng xã hội công dân trong các nước châu âu. Như vậy báo chí ra đời do nhu cầu thông tin (trước hết là thông tin chính thức của nhà nước), do yêu cầu phát triển của xã hội công dân (trong thời kỳ đầu của nó nhằm chống lại chế độ phong kiến); tạo ra dư luận xã hội phục vụ sự phát triển của xã hội theo định hướng của giai cấp cầm quyền. Ở nước ta, cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, dưới triều Nguyễn, trong "Tám điều cấp cứu (Tế cấp bát điều ), Nguyễn Trường Tộ đã đề nghị "ấn hành một tờ nhật báo, đăng những chiếu, sớ, dụ và những hành sự của các vị danh thần đương thời cho học sinh đọc để biết công việc trong nước, đó cũng là một việc ích lợi. Lợi ích của nó rộng rãi thấm nhuận mưa móc, nhưng không thể chỉ rõ ra hết được, để làm sẽ thấy...".

Như vậy, từ sự ra đời của chủ nghĩa tư bản, với sự xuất hiện và phát triển của báo chí, có thể xác định các chức năng chính của báo chí là :

- Chức năng thông tin: cung cấp các thông tin, trước hết và chủ yếu nhất là của Nhà nước, công bố rộng rãi cho nhân dân biết.

- Chức năng phản ảnh: miêu tả những hoạt động kinh tế - xã hội về mọi mặt để mọi người trong xã hội đều biết.

- Chức năng tạo ra dư luận xã hội: qua báo chí để hướng dẫn dư luận xã hội, hướng người ta tới những hành động xã hội, thúc đẩy sự phát triển xã hội theo chủ ý của giai cấp cầm quyền.

- Chức năng nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu tinh thần của các tầng lớp nhân dân...

Thực tiễn hoạt động của báo chí từ lúc ra đời đã khẳng định vai trò quan trọng của báo chí trong xã hội, đặc biệt là vai trò thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Vì vậy, " tự do báo chí" cũng phải nhằm phục vụ cho sự phát triển đó. Nhưng, cũng có một thực tế cần được làm sáng tỏ là có những tổ chức, những nhóm người thường núp dưới danh nghĩa "tự do báo chí" để chống lại sự phát triển của xã hội, bảo vệ những cái đã lỗi thời so với đà tiến lên của xã hội loài người, gieo rắc thói hư tật xấu, tệ nạn xã hội nhằm thực hiện những mưu đồ cá nhân, bảo vệ lợi ích của một thiểu số người, đi ngược lại xu thế tiến bộ chung của xã hội. Vậy, "tự do báo chí" cần được hiểu đúng và thực hiện đúng như thế nào?.

 

Nhận dạng những biểu hiện của sự chia rẽ dân tộc

Thực hiện chiến lược "Diễn biến hoà bình”, các thế lực thù địch dùng nhiều thủ đoạn thâm độc tác động vào đồng bào các dân tộc thiểu số. Lợi dụng trình độ phát triển kinh tế' xã hội còn thấp kém, lợi dụng các mối quan hệ dân tộc qua lại biên giới, các thế lực thù địch lôi kéo, mua chuộc, lừa gạt, gây chia rẽ, gây mất ổn định trong vùng đồng bào dân tộc, ngày càng trở nên nguy hiểm. Bọn hoạt động chống đối đã dùng tác động vật chất cụ thể mua chuộc, lôi kéo; lợi dụng truyền đạo trái phép để tập hợp quần chúng; lôi kéo các phần tử bất mãn, tạo các mối liên kết bên trong và bên ngoài. Chúng còn tuyên truyền, xuyên tạc những vấn đề lịch sử, tạo hố ngăn cách, chia rẽ rất thâm độc giữa đồng bào các dân tộc với đồng bào Kinh. Một số biểu hiện cụ thể như sau:

- Các thế lực thù địch đã tuyên truyền kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ly khai, phá vỡ đoàn kết các dân tộc, thống nhất đất nước như: thành lập "vương quốc của người Mông" ở các tỉnh biên giới phía Bắc, "nhà nước Đề ga" ở các tỉnh Tây Nguyên, "xưng Vua Dương Văn Minh trong đồng bào Dao" ở Tuyên Quang…

- Kích động tư tưởng hẹp hòi, tâm lý kỳ thị, tạo sự đối lập giữa các dân tộc đang sống và lao động cùng một địa bàn, đối lập đồng bào dân tộc với chính quyền; đe doạ, khống chế quần chúng tích cực, buộc làm theo kẻ xấu.

- Cung cấp tiền của, phương tiện, nuôi dưỡng bọn phản động sống lưu vong ở nước ngoài, hoặc tài trợ cho các hội, các nhóm lợi dụng danh nghĩa các dân tộc thiểu số ở nước ngoài; lừa mị, lôi kéo đồng bào các dân tộc thiểu số ở trong nước vượt biên trái phép. Một số tến hoạt động chống đối đã xâm nhập vào các vùng có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống để hoạt động gây rối hoặc gây bạo loạn.

- Chúng sử dụng các phương tiện thông tin, các văn hoá phẩm bằng ngôn ngữ, chữ viết của đồng bào các dân tộc thiểu số, để tuyên truyền các quan điểm, tư tưởng độc hại; kích động, lôi kéo các phần tử chống đối; đã dùng hàng chục đài phát thanh bằng tiếng Việt và tiếng các dân tộc để chống đối chế độ ta.

- Lợi dụng chính sách mở cửa, mở rộng quan hệ quốc tế của nhà nước ta để tranh thủ đưa người từ nước ngoài xâm nhập vào vùng đồng bào các dân tộc thiểu số; lợi dụng con đường du lịch, hoạt động từ thiện, nghiên cứu văn hoá dân tộc... để thu thập tin tức tình báo, móc nối xây dựng cơ sở...

- Lợi dụng chống tham nhũng và những vấn đề bức xúc ở cơ sở để thực hiện chia rẽ nội bộ; thực hiện các dự án... gây phức tạp về an ninh, trật tự.

- Ngoài các thủ đoạn trên, các thế lực thù địch còn đặc biệt chú ý tới việc phát triển đạo Tin lành vào vùng đồng bào các dân tộc thiểu số để tập hợp lực lượng, giành giật quần chúng phục vụ ý đồ chống phá trước mắt và lâu dài.

Tuy nhiên, với truyền thống đoàn kết dân tộc đã được xây dựng, vun đắp trong quá trình dựng nước, giữ nước và đấu tranh cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, tuyệt đại đa số đồng bào các dân tộc vẫn giữ vững niềm tin vào chế độ, gắn bó, đoàn kết với nhau, để xây dựng và bảo vệ đất nước./.

 

Thực chất ý đồ của các thế lực thù địch trong việc vu cáo về vi phạm nhân quyền ở Việt Nam

Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, các nước phương Tây, đặc biệt là Mỹ, thúc đẩy “diễn biến hoà bình", âm mưu xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, từng bước chuyển hoá xã hội ta theo con đường tư bản chủ nghĩa. Do đó, với chúng ta đây là cuộc đấu tranh thường xuyên và lâu dài. Các nước phương Tây sử dụng chính sách dùng vấn đề nhân quyền, tôn giáo làm công cụ trong các mối quan hệ chính trị, kinh tế và hợp tác chống khủng bố. Gần đây, vấn đề nhân quyền chống ta lại càng được đẩy lên. Lợi dụng đường lối cứng rắn của chính quyền Bush, các lực lượng chống Việt Nam tại Mỹ, đặc biệt là nhóm người Việt phản động, đẩy vấn đề nhân quyền lên để ngăn cản đà cải thiện quan hệ Việt-Mỹ. Do nhiều nguyên nhân, các lực lượng có thiện cảm, ủng hộ Việt Nam tại Mỹ và các nước Tây Âu có xu hướng giảm đi trong hai năm qua.

Tuy nhiên, trong nhiều vấn đề và ở từng thời điểm cụ thể, việc chống ta về tôn giáo, nhân quyền còn nhằm phục vụ mục tiêu tranh thủ nội bộ, nhất là tranh thủ cử tri gốc Việt. Vấn đề dân chủ, nhân quyền, đặc biệt quyền tự do cá nhân là mối quan tâm chung của đại bộ phận công chúng ở Mỹ và các nước xã hội dân chủ Tây Âu. Trong tiềm thức, họ luôn coi vấn đề bảo vệ nhân quyền là một vấn đề quan trọng. Do đó, hàng năm họ nêu vấn đề này với hơn 190 nước. Đáng chú ý, Mỹ cũng chỉ trích Tây Âu và ngược lại. Điều này cũng sẽ tồn tại lâu dài do có sự khác nhau về hệ thống giá trị, hệ thống quan niệm giữa các nước, các nền văn hoá. Để tranh thủ cử tri, mỵ dân, và làm lá bài chính trị giữa các đảng phái chính trị tại quốc hội, các lực lượng chính trị luôn lợi dụng vấn đề này. Những diễn biến trong những hoạt động chống ta trong lĩnh vực này cho thấy, nhiều vấn đề họ thúc đẩy chỉ nhằm phục vụ mục tiêu tranh thủ nội bộ, trong một thời điểm và ở một số phạm vi nhất định Những, cũng có nhiều vấn đề họ đã và còn tiếp tục nêu ra, cho dù ta có đáp ứng như thế nào.

- Các lực lượng thù địch cũng lợi đụng những thiếu sót của chính quyền các cấp, các địa phương của ta trong giải quyết các vấn đề đất đai, dân tộc thiểu số và tôn giáo; các vụ khiếu kiện ở địa thường; và việc ta tăng cường trấn áp các phần tử cơ hội chính trị vi phạm pháp luật để vu cáo ta.

Cho tới nay, mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể về chính trị, kinh tế, xã hội, góp phần không nhỏ vào việc bảo đảm tốt hơn các quyền cho người dân Việt Nam, chúng ta vẫn còn nhiều mặt cần phải củng cố, như hoàn thiện hệ thống pháp luật, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, tăng cường công tác thông tin tuyên truyền và xử lý kịp thời các vấn đề nhạy cảm khi mới nảy sinh, tránh tạo kẽ hở để kẻ địch lợi dụng tăng cường chống phá ta về nhân quyền. Trên tình thần đó, chúng ta chủ trương tích cực tham gia đối thoại và hợp tác quốc tế để thúc đẩy và bảo vệ quyền con người./.

Những luận điệu mà các thế lực thù địch thường tập trung chống ta về nhân quyền

a. Một số điểm trong lĩnh vực chính sách pháp luật, bị Mỹ và phương Tây thường xuyên công kích hoặc đòi xoá bỏ hẳn

Một mặt, các nước phương Tây phải thừa nhận những cải cách kinh tế, pháp luật của Nhà nước ta đã đảm bảo tốt hơn việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người tại Việt Nam. Mặt khác, họ ra sức chỉ trích, thậm chí bằng các thông tin sai lệch, tố cáo ta vi phạm nhân quyền, cho rằng một số điều khoản trong Hiến pháp của ta không đảm bảo quyền tự do của người dân. Đơn cử một số vấn đề sau:

- Trong các báo cáo, các lực lượng thù địch ra sức đòi ta phải bỏ Điều 4 trong Hiến pháp Việt Nam về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam;

- Một số điều của Bộ luật Hình sự liên quan đến tự do dân chủ và tôn giáo, phương Tây thường cho là quá mập mờ và dễ bị Nhà nước ta lạm dụng để hạn chế hoặc thậm chí đàn áp tự do dân chủ và tôn giáo của người dân, đặc biệt là người dân tộc thiểu số theo đạo Tin Lành, cụ thể như:

+ Điều 87 về tội phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc;

+ Điều 88 về tội tuyên truyền chống Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

+ Điều 258 về tội lợi đụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tổ chức xã hội và của công dân.

- Nghị định 31/CP về Quản chế hành chính cũng thường bị lên án là vi phạm chính Hiến pháp Việt Nam và đặc biệt là Công ước quốc tế về Quyền dân sự chính trị mà Việt Nam là thành viên. Hiện nay Mỹ và phương Tây đang ra sức đòi ta xoá bỏ Nghị định này.

b. Trong lĩnh vực các quyền cá nhân, đối phương thường tập trung vu cáo ta vi phạm các quyền sau:

- Quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo: Chúng vu cáo, chỉ trích ta "đàn áp” và cấm nhiều giáo phái tôn giáo hoạt động, đồng thời kiểm soát chặt chẽ hoạt động của các tổ chức tôn giáo nào đã được Chính phủ công nhận và cho phép. Đòi ta chấm dứt việc phủ quyết đối với việc bổ nhiệm các Giám mục Công giáo, hạn chế "có tính độc đoán" về số lượng học sinh được phép đào tạo thành mục sư, linh mục, bắt giam hoặc quản thúc "vô cớ" một số trường hợp giáo sĩ, chức sắc tôn giáo, "buộc" nhiều người thiểu số ở các vùng Tây Bắc và Tây Nguyên phải "bỏ đạo" bằng cách đe doạ xâm hại tính mạng hay tịch thu tài sản..; cấm các mục sư "đi lại truyền đạo tự do", thậm chí hạn chế và nhiều khi "cấm bừa bãi” các hình thức tụ họp hoạt động tôn giáo, "không cho" con em những người theo tôn giáo đến trường...

- Quyền được giam giữ, xét xử công bằng: vu cáo Chính phủ ta bắt giữ và giam cầm công dân một cách tuỳ tiện, kể cả đối với những người thể hiện quan điểm chính trị, tôn giáo của họ một cách hoà bình; không cho những người bị buộc tội được hưởng quyền có luật sư bào chữa hoặc tham dự khi bị hỏi cung; xét xử thiếu công khai; áp dụng chế độ đãi ngộ tù nhân hà khắc...

- Quyền tự do ngôn luận và báo chí: các thế lực chống đối ra sức công kích, vu cáo ta thực hiện chính sách "quấy nhiễu', "phân biệt đối xử", "đe doạ", "bỏ tù” hoặc có hình thức giam giữ đối với những cá nhân bày tỏ ý kiến bất đồng với chính sách của Đảng và Nhà nước một cách hoà bình; Đặc biệt là áp dụng nhiều điều khoản được định nghĩa "mập mờ" về an ninh quốc gia và chống xuyên tạc, nêu trong Hiến pháp và Bộ luật Hình sự, để ngăn chặn mạnh mẽ các "quyền tự do" đó. Cho rằng ta kiểm soát chặt chẽ báo chí, Internet và không cho phóng viên được tự do hoạt động.

- Quyền tự do hội họp và bày tỏ quan điểm: trên khía cạnh này Chính phủ ta thường bị chỉ trích là hạn chế và giám sát tất cả các hình thức biểu tình công khai. Những người muốn tụ tập thành nhóm phải xin giấy phép và chính quyền địa phương có thể cấp hoặc từ chối tuỳ tiện. Nhìn chung, Chính phủ không cho phép những cuộc biểu tình bị coi là do mục đích chính trị...

- Quyền được đối xử bình đẳng: các thế lực thù địch tiếp tục vu cáo ta phân biệt đối xử, thậm chí ngược đãi người dân tộc thiểu số và đàn áp họ về tôn giáo, có chính sách kì thị đối với người dân tộc.

- Quyền tự do đi lại trong nước, đi nước ngoài, di cư và hồi hương: chúng vu cáo ta hạn chế việc đi lại của những nhân vật bất đồng chính kiến với tôn giáo, quản thúc người không căn cứ vào pháp luật...

Trên đây là một số quyền cá nhân các thế lực thù địch vẫn lên tiếng cho rằng ta vi phạm, đáng chú ý là các quyền này đều là các quyền dân sự, chính trị vốn được xem trọng hàng đầu trong xã hội phương Tây.

Tập hợp lực lượng của các đối tượng chống ta về nhân quyền

 

Trong vấn đề nhân quyền, Mỹ, các nước EU, Bắc Âu và úc thường có quan điểm tương đồng khi chỉ trích ta, tuy ở mức độ khác nhau. Mỹ và EU công kích thô bạo; còn cách đề cập của Bắc Âu và Úc có phần phải chăng. Nhưng một điểm chung là xu hướng các nước này ngày càng thể chế hoá, cơ chế hoá việc lên án ta về nhân quyền dưới các dạng báo cáo, nghị quyết, khuyến nghị và đối lập cơ chế đối thoại song phương. Các thể chế này gây ảnh hưởng không nhỏ đến hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế

- Mỹ: hàng năm Mỹ có 4 báo cáo về vấn đề nhân quyền của Việt Nam: hai báo cáo của Cục Lao động, Dân chủ và Nhân quyền thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ, về tình hình nhân quyền vào tháng 3, và tự do tôn giáo các nước vào tháng 9; “Báo cáo về Tình hình tự do tôn giáo các nước" của Uỷ ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ vào tháng 5 (riêng năm 2003 lần đầu tách riêng phần báo cáo về Việt Nam). Kể từ tháng 12/2002, mục 702 Luật Chuẩn chi hoạt động đối ngoại của Mỹ cũng yêu cầu Bộ Ngoại giao Mỹ phải báo cáo về tiến bộ của Việt Nam sau mỗi lần đối thoại song phương về nhân quyền. Ngoài ra vào tháng 6 hàng năm, Quốc hội Mỹ còn xem xét lại việc gia hạn miễn áp dụng Tu chính án Jackson-vanik trên cơ sở xem xét vấn đề di cư. Bên cạnh phương thức thể chế hoá việc tố cáo vấn đề nhân quyền, tôn giáo của ta qua con đường báo cáo và dự luật, Mỹ cũng không ngừng đưa ra các đòi hỏi về nhân quyền, tôn giáo trong các đối thoại song phương với ta.

- EU: Tháng 5 hàng năm, Nghị viện Liên minh châu âu ra Báo cáo về tình hình nhân quyền Việt Nam, tuỳ trường hợp cụ thể, cũng có thể ra thêm Báo cáo về Tình hình tự do tôn giáo (năm 2001). Năm 2002, họ cũng ra một nghị quyết mới về tình hình Tây Nguyên ở Việt Nam. Cùng trong năm này, Quốc hội Đức lần đầu tiên có nghị quyết yêu cầu Uỷ ban châu Âu và Chính phủ của các nước EU thực hiện điều khoản quy định về nhân quyền trong Hiệp định khung năm 1995 về hợp tác giữa EU với Việt Nam; Thụy Điển cũng lần đầu tiên ra Báo cáo về Tình hình nhân quyền các nước, trong đó có Việt Nam. Trong đối thoại với Việt Nam, Troika EU ở Hà Nội thường xuyên yêu cầu ta cung cấp cho họ những thông tin liên quan đến tình hình nhân quyền, tôn giáo ở Việt Nam.

- Ôxtrâylia: cho đến nay tuy Ôxtrâylia chưa có cơ chế ra báo cáo về tình hình nhân quyền ở Việt Nam song Chính phủ Ôxtrâylia tỏ ra rất quan tâm đến vấn đề tôn giáo, nhân quyền ở Việt Nam. Cũng giống như các nước phương Tây, Ôxtrâylia đề nghị ta cũng cấp thông tin về nhiều trường hợp bị pháp luật Việt Nam xét xử mà họ theo dõi và cho là gắn với lý do bất đồng chính kiến hoặc tôn giáo. Kể từ năm 2002, việc Ôxtrâylia đề nghị đối thoại thường niên với ta về nhân quyền cho thấy sự chú ý ngày càng tăng của Chính phủ và Quốc hội úc đối với tình hình nhân quyền ở Việt Nam, mặc dù ở mức độ nhẹ nhàng hơn so với Mỹ và Tây Âu.

chế chống ta về nhân quyền của các nước nêu trên cũng hết sức đa dạng và linh hoạt: có thể qua các kênh chính thức như Chính phủ, Quốc hội; qua kênh các phương tiện truyền thông như báo chí, phát thanh, truyền hình của cả chính giới lẫn tư nhân; và qua kênh các diễn đàn quốc tế trong và ngoài Liên hợp quốc (phát biểu, thảo nghị quyết, gửi các kháng thư vu cáo ta tới các cơ chế có chức năng theo dõi vấn đề nhân quyền của các nước, điển hình như Tiểu ban và Uỷ ban Nhân quyền Liên hợp quốc, nhằm tác động để các cơ chế này phải đưa "vấn đề nhân quyền của Việt Nam" ra xem xét tại các khoá họp hàng năm).

Chỉ tính riêng các tổ chức phi chính phủ quốc tế đã có thể thấy thực trạng vu cáo ta trong lĩnh vực nhân quyền không phải là nhẹ: Các báo cáo và kháng thư kêu gọi của tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW), tổ chức ân xá quốc tế (AI), tổ chức Nhà báo Quốc tế (IJ), tổ chức Văn bút Quốc tế (IP)... tất cả đều chung giọng điệu chỉ trích gay gắt tình hình nhân quyền ở nước ta. Một số tổ chức quốc tế về tôn giáo sau khi trở về từ chuyến đi thực địa tại Việt Nam năm 2002 thậm chí còn mặc nhiên tuyên bố trong báo cáo của họ rằng, Chính phủ Việt Nam đã và đang lừa gạt cộng đồng quốc tế là họ đang có chủ trương cải thiện về tự do, nhân quyền và tự do tôn giáo; thực chất Việt Nam đang tiến hành chiến dịch chống đạo Tin Lành. Khoảng 60 vạn người H'mông ở vùng núi phía Bắc đang sống rất khổ cực; 14 nghìn người di cư vào Tây Nguyên thường xuyên bị người Kinh phân biệt đối xử, đàn áp và ngược đãi... hoàn toàn trái ngược với những gì diễn ra trên thực tế.

Dựa trên những tài liệu sai sự thật này, các phương tiện thông tin đại chúng ở nhiều nước phương Tây, đặc biệt là báo chí của lực lượng người Việt phản động sống lưu vong ở nước ngoài tăng cường đưa tin, bài tuyên truyền, xuyên tạc nhằm tác động xấu đến dư luận quốc tế về Việt Nam, cũng như kích động các phần tử chống đối trong nước hoạt động ráo riết hơn. Một số đối tượng phản động người Việt ở nước ngoài còn núp bóng các tổ chức phi chính phủ có quy chè quan sát viên tại Hội đồng Kinh tế - Xã hội của Liên hội quốc (ECOSOC), đề tranh thủ lợi đụng các diễn đàn quốc tế của Liên Hợp Quốc làm nơi vu cáo ta về các vấn đề nhân quyền, tôn giáo. Trong nước, được chính các đối tượng này liên lạc và hậu thuẫn về tài chính, các phần tử cơ hội chính trị cực đoan cũng không bỏ lỡ cơ hội để tuyên truyền bóp méo các chính sách của Nhà nước ta và rêu rao về cái gọi là "sự vi phạm dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam".

 

 

Nước mắt Đại ngoại bên bo bo

Trong những năm sau chiến tranh chống Mỹ, tình nước, dù bận trăm công ngàn việc nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn dành thời gian đi thăm các cơ sở sản xuất, trong đó có Hợp tác xã cơ khí đóng tàu Quyết Thắng, xã Nam Dương, huyện Nam Ninh, nay là huyện Nam Trực, Tỉnh Nam Định.

Hôm ấy là ngày 2-4-1983, nhận được điện khẩn của Tỉnh ủy Hà Nam Ninh, ông Vũ Đình Đê, chủ nhiệm hợp tác xã cùng với gần 700 xã viên, dưới sự chỉ đạo của công an huyện khẩn trương chuẩn bị cờ hoa để đón Đại tướng. Không ai bảo ai, tất cả như một guồng máy.

Đúng 9 giờ sáng ngày 2-4-1983, chiếc xe “nhà binh” chở Đại tướng cùng đoàn xe tùy tùng và xe của các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh qua cầu Vân Tràng, theo đê sông Đào đến cổng hợp tác xã... Đại tướng Võ Nguyên Giáp bước xuống xe giơ tay vẫy chào các xã viên đứng hai bên đường bảo: “Nắng nôi thế này, các đồng chí đứng thế này làm gì cho mệt”. Nói rồi ông bắt tay từng người và đi thẳng xuống phân xưởng đóng sà lan và tàu lưới thép. Ông Đặng Công Thuần năm ấy mới ngoài 40 tuổi được Đại tướng bắt tay đầu tiên, và được hỏi thăm sức khỏe, công việc của phân xưởng.

Ông Thuần kể về những năm chiến tranh chống Mỹ, phân xưởng này ban ngày đi sơ tán vào làng nhưng vẫn mang theo nguyên vật liệu để sản xuất. Tối ưu trở về lán trại, dưới ánh sáng tỏa sáng gắn kết thành những thuyền gỗ nhỏ trọng lượng tải 5 tấn đưa vào miền Nam để phát sóng theo dòng kênh nhỏ khí vũ khí, thực lương, thực phẩm đến cho khu du kích hoặc căn cách mạng nào đó để chiến đấu đáp lại những cuộc quét quét của Mỹ-giả. Sau ngày hòa bình chuyển sang đóng sà lan thép và thuyền xi măng.

Nước mắt Đại ngoại bên bo bo

Đại tướng Võ nguyên Giáp xuống tận tổ sản xuất thăm hỏi từng người. Ông cầm từng thanh thép lên bảo: “Bắt thép này chúng ta nhập từ Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa, nó quý hơn vàng. Tại thời điểm đất nước ta đang phải hàn gắn vết thương chiến tranh, các đồng chí cần tiết kiệm thời gian và nguyên vật liệu để xây dựng cơ sở như Bác Hồ Ngộ phải không?”. Mọi người đồng thanh: “Thưa Đại tướng phải ạ”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến bên một con thuyền xi măng đang chuẩn bị hạ phóng xuống dòng sông Đào để thử máy. Ông gõ vào thành thuyền, lấy thanh sắt gõ vào thân con thuyền bảo: “Thuyền này các đồng chí đóng được bao nhiêu ngày rồi?”.- “Thưa Đại tướng, được 27 ngày rồi ạ”, một đồng chí nữ công nhân trả lời. Đại tướng nói ngay: “27 ngày mà xi măng khô, gõ boong boong thế này là đảm bảo kỹ thuật đấy”. Các đồng chí lãnh đạo võ phục và chính quyền tỉnh đi theo ai cũng trầm tĩnh trang hiểu biết thực tế của Đại tướng.

Sau khi đi thăm cả hai phân xưởng, ông về nhà ăn. Lúc này các đồng chí cấp dưỡng đang chuẩn bị bữa ăn chiều cho công nhân, ai ai đều phấn khởi động. Đại tướng mãng ra hiệu cứ làm không cần phải dừng tay. Đại tướng đến bên một mãng và một hầm hầm bo bo (đây là loại mỳ còn nguyên hạt làm các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu viện hỗ trợ. Lúc ấy thiếu tiền thực lương nên những người ăn bình bầu dùng nó để ăn thay bình. Các hộ gia đình thường rang để ăn thay cơm như ăn ngô rang), ông lấy khăn tay mềm nước mắt. Mọi người cảm động nhìn nhau không có tiếng xì xầm. Ông nói với mọi người: “Các đồng chí ạ! Đất nước ta còn khó quá. Đảng và phủ Chính biết nhưng chưa giải quyết được. Các đồng chí cố gắng nỗ lực. Trong chiến tranh chống Mỹ các đồng chí đã đóng tàu thuyền phục vụ kháng chiến, trong hòa bình các đồng chí quyết tâm giữ lấy kho báu quý giá này để xứng đáng với cái tên “Quyết Thắng” mà đơn vị ta mang tên”. Ông nói vừa dứt thì tiếng vỗ tay hoan chiến vang lên trong nhà ăn. Như mọi khó khăn còn thiếu sót của thời kỳ hậu chiến đã được giảm bớt.

Bà Mai Thị Thân, gần 70 tuổi đời, 35 tuổi Đảng, đang cư trú ở thôn Vân Tràng nhớ lại ngày ấy cho biết: “Nhìn thấy Đại tướng bước vào nhà ăn, chúng tôi vừa sống vừa lo. Lễ kỷ niệm lần đầu tiên được gặp ông. Lo vì thức ăn chả có gì đáng kể. Động cơ bo bo. Thức ăn thì chỉ có rau muống dồn xì dầu cọ miến (loại hơi dầu chế biến bằng phương pháp thủ công). Không ngờ Đại tướng rất thông cảm và động viên đáp ứng kịp thời”.

Sau khi ghé thăm cơ sở sản xuất, nơi ăn, nơi ở của cán bộ công nhân viên và xã hội, Đại tướng khen: “Tuy khó khăn nhưng đồng chí ăn ở Phá Sản gọn gàng. Đặc biệt là không có hiện tượng chênh lệch giữa bộ lọc và xã hội. Thế là rất tốt”. Đại tướng trở về hội trường, ông nói nhiều về tình hình biên giới, về việc làm Mỹ cấm vận Việt Nam. Không khí buổi họp tại hội trường rất sôi động.

Những người có mặt trong buổi đón tiếp hôm nay, giờ đây đã trở thành thành ông bà. Có người đã qua đời như chủ nhiệm Vũ Đình Đê… Những kỷ niệm về Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong lần ông về thăm Hợp tác xã Quyết Thắng thì mãi mãi không phai mờ. Họ truyền lại cho con cháu những ấn tượng khó quên này để con cháu họ nối tiếp truyền thống cha ông sống xứng đáng với mảnh đất còn ghi dấu chân một vị tướng tài của dân tộc và của cả thế giới.


 

Khắc sâu lời Bác, thi đua dạy tốt, học tốt, nghiên cứu khoa học và công tác tốt

Cách đây 65 năm, nhân chuyến thăm công trình thủy nông Gia Thượng, xã Ngọc Thụy, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội (nay là phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, TP Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm , nói chuyện với cán bộ, giáo viên, học viên Trường Cán bộ hậu cần (nay là Học viện Hậu cần). Những lời khuyên căn bản, dạy bảo của Người đã trở thành kim chỉ nam để các thế hệ cán bộ, học viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ Học viện Hậu cần vượt qua mọi khó khăn, thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ service.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến công tác hậu cần và đào tạo đội ngũ cán bộ hậu cần Quân đội. Trong suốt 72 năm xây dựng, trưởng thành, Học viện Hậu cần vinh dự được Bác trực tiếp đến thăm, nói chuyện, gửi thư động viên và dành nhiều tình cảm, sự quan tâm đặc biệt. Lịch sử truyền thống của nhà trường còn ghi lại: Ngày 7-9-1958, Bác đến thăm không báo trước, lại vào ngày nghỉ nên cán bộ, học viên nhà trường rất bất ngờ, vui sướng. Bác đi thăm nhiều nơi, từ nhà ở học viên, bếp ăn đến khu tăng gia, chăn nuôi... Bác hỏi han, động viên, khen ngợi cán bộ, học viên trong điều kiện còn nhiều khó khăn, thiếu thốn vẫn thực hiện được nền nếp chính quy, ổn định và cải thiện đời sống. Bác căn dặn mọi người phải nắm vững, thực hiện tốt nhiệm vụ của cách mạng, Quân đội; học tập phải kết hợp nhuần nhuyễn với thực hành. Bác khẳng định: Hậu cần là công việc rất quan trọng, rất đáng tự hào, lái xe, cấp dưỡng đều có tiền đồ nếu như mọi người làm tốt nhiệm vụ, chức trách của mình. Và Người căn dặn: “Vừa phải cố gắng dạy tốt, học tốt, vừa phải chú trọng tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, đúng là trường đào tạo cán bộ hậu cần”.

Vinh dự và tự hào, sau ngày Bác đến thăm trường, Hiệu ứng và Ban hiệu đã phát động Phong trào “Thi đua làm theo lời Bác”. Các huấn luyện viên chỉ tiêu, xây dựng nhà chính, tăng sản phẩm xuất khẩu đều được điều chỉnh nâng cấp. Toàn trường sôi nổi hưởng ứng phong trào thi đua. Giáo viên đi sâu vào cải tiến phương pháp huấn luyện, làm thêm nhiều mô hình học cụ, trợ giúp hỗ trợ học viên với khẩu hiệu “Tất cả vì học viên”; học viên có Phong trào “Tiên tiến giúp chậm tiến”, “Chưa cảm được bài còn học” và thực hiện “4 tốt” (tư tưởng tốt, học tập tốt, điều lệnh tốt, sản phẩm tốt).

Khắc sâu lời Bác, thi đua dạy tốt, học tốt, nghiên cứu khoa học và công tác tốt

Những năm sau này, quá trình đào tạo, nhà trường thường xuyên giáo dục các thế hệ học nhận thức tầm quan trọng sâu của công tác hậu cần Quân đội , về vai trò, trách nhiệm, trách nhiệm của người cán bộ hậu cần; luôn coi trọng việc gắn thuyết với thực hành, nhà trường gắn liền với chiến trường, đơn vị. Nhà môi trường xây dựng chủ động, điều chỉnh chương trình, tổ chức bồi dưỡng, đào tạo các đối tượng khác nhau, đáp ứng yêu cầu, phương châm đào tạo cán bộ hậu cần theo từng cách mạng; thường xuyên quan tâm chăm sóc xây dựng đội ngũ nhà giáo, đã chiến đấu hoàn bộ, giáo viên đi thực tế ở các chiến trường, các đơn vị, vừa chiến đấu, phục vụ chiến đấu, thực hiện nhiệm vụ được giao, vừa nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để bổ sung vào bài giảng, biên soạn chương trình, tài liệu góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện viên của nhà trường.

Để động viên, khơi dậy khát cống hiến của cán bộ, giáo viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ, nhà trường Thúc đẩy phong trào thi đua, nổi bật là “Thi đua làm theo lời Bác”, “Đẩy mạnh thi đua lập công ơn Bác, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, “Thi đua tốt, học tốt, nghiên cứu khoa học và công tác tốt”, “Ngành hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy” ... biến phong trào thi đua thành hành động cách mạng, tập trung đột phá vào những nhiệm vụ trọng tâm trong từng giai đoạn. Ghi sâu lời bác dạy, nhà trường thường xuyên Đẩy mạnh tăng sản xuất, thực hành tiết kiệm, tạo thành phong trào sôi nổi với nhiều mô hình sáng tạo, hiệu quả; thực hiện tốt quan điểm “hậu cần hai trong một”, vừa cải thiện, nâng cao đời sống bộ đội, vừa phục vụ huấn luyện thực hành, bồi dưỡng kinh nghiệm tổ chức tăng sản phẩm cho người học.

Không ngừng học tập và làm bác sĩ, bằng công sức, trí tuệ, các thế hệ cán bộ, học viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ của Học viện Hậu cần xây dựng nên truyền thống vẻ vang: “Tuyệt đối trung thành, chủ động sáng tạo, tập bó chặt, dạy tốt học tốt, gắn kết với chiến trường, hướng dẫn về đơn vị”. Dù thời chiến hay thời bình, nhiệm vụ thường xuyên hay đột xuất, Học viện luôn vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Nhà trường đã đào tạo được hàng vạn cán bộ, nhân hậu cần, tài chính cho Quân đội. Các thế hệ học sinh khi ra trường đã có mặt ở khắp các chiến trường, đơn vị trong toàn quân, hái tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu và xây dựng Quân đội. Hàng chiến đồng đã được tặng huân chương, huy chương các loại, nhiều đồng chí đã trở thành thành viên cấp cao của Đảng, Nhà nước và Quân đội; được phong tặng danh hiệu cao quý... Học viện vinh dự được Đảng, Nhà nước tặng thưởng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân và nhiều phần thưởng cao quý khác. Đó là những chứng chỉ sinh viên tôi đã chọn làm lời giảng dạy của Bác sĩ của các thế hệ cán bộ, giáo viên, học viên, nhân viên, nhà trường học.

65 năm trôi qua, những hình ảnh và những động lực, những đặc điểm cần có của Bác sĩ khi đến thăm trường vẫn tiếp tục được ghi trong tâm khảm, là động lực để các thế hệ cán bộ, học viên, học viên, nhân thành viên, chiến sĩ Học viện Hậu cần không ngừng kết nối xây dựng Học viện ngày càng phát triển. Giữ gìn và phát huy kho báu quý giá, hiện nay, quản bộ, học viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ Học viện đang thúc đẩy thi đua học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đổi mới, sáng tạo, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội trong tình hình mới; xây dựng Đảng Bộ Học viện trong Firmware mạnh mẽ, Học viện vững chắc toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”, xứng đáng là “trường đào tạo cán bộ hậu cần” như lời dạy và mong muốn của Người dùng.