Thứ Năm, 4 tháng 7, 2024
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: QUÉT SẠCH CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN ĐỂ PHÒNG, CHỐNG SUY THOÁI!
KIÊN QUYẾT QUÉT SẠCH CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN!
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THÍ ĐIỂM HỆ THỐNG GIAO THÔNG THÔNG MINH (TOC) TẠI HÀ NỘI!
BẠN CÓ BIẾT: GS-TS VÕ HỒNG ANH - NGƯỜI CON GÁI ĐẦU TIÊN CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP!
KHÁT VỌNG ĐỘC LẬP, TỰ DO ĐỂ DỰNG XÂY ĐẤT NƯỚC!
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CÓ 16,6 TRIỆU TÀI KHOẢN CỦA KHÁCH HÀNG LÀM XÁC THỰC SINH TRẮC HỌC THÀNH CÔNG!
THẾ GIỚI VIỆT NAM: KHAI MẠC NGÀY VĂN HÓA VIỆT NAM TẠI NGA!
Sửa đổi Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam:
RÚT NGẮN THỜI GIAN THĂNG QUÂN HÀM SĨ QUAN CẤP UÝ LÀ HỢP LÝ, HỢP TÌNH
Toàn quân vừa tiến hành tổng kết thực hiện Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam và phần lớn các ý kiến đều đề nghị cần sửa đổi luật này cho phù hợp với tình hình mới; đồng thời khắc phục một số bất cập phát sinh trong quá trình thi hành luật hiện nay.
Tại Hội nghị tổng kết thực hiện Luật Sĩ quan QĐND Việt Nam do Bộ Quốc phòng tổ chức ngày 10-6 vừa qua, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã khẳng định: Việc sửa đổi một số điều của Luật Sĩ quan hiện hành là cần thiết, nhằm bảo đảm quyền lợi tốt hơn, tác động tích cực đến quá trình thực hiện nhiệm vụ của sĩ quan, góp phần xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, tiến lên hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Theo đó, hội nghị đã thống nhất đề xuất sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Luật Sĩ quan hiện hành và một số văn bản quy phạm pháp luật có liên quan nhằm khắc phục những vướng mắc, bất cập hiện nay, như: Chức vụ của sĩ quan; tuổi phục vụ tại ngũ của sĩ quan; trần quân hàm cấp tướng; rút ngắn thời hạn xét thăng quân hàm cấp úy; chế độ, chính sách đối với sĩ quan; sĩ quan dự bị...
Đây là thông tin được cán bộ, chiến sĩ toàn quân cùng thân nhân, gia đình hết sức quan tâm. Đặc biệt, việc đề xuất rút ngắn thời hạn xét thăng quân hàm sĩ quan cấp úy không chỉ được các đối tượng liên quan trực tiếp đồng tình, mà cử tri và nhân dân cả nước đều thấy rõ sự cần thiết và ủng hộ, bởi những lý do sau:
Một là, theo quy định hiện hành, thời hạn xét thăng quân hàm từ thiếu úy lên trung úy là 2 năm; trung úy lên thượng úy và thượng úy lên đại úy là 3 năm.
Như vậy, trong điều kiện bình thường, sĩ quan phát triển tuần tự từ thiếu úy lên đại úy mất 8 năm và sau ít nhất 13 năm công tác (từ lúc học sĩ quan), ở tuổi ngoài 30 mới có quân hàm đại úy. Thực tế cho thấy, ở độ tuổi này sĩ quan phải làm việc với cường độ rất cao, đại đa số phải trực tại đơn vị và rất ít được về nhà nên cuộc sống gia đình vất vả cả về kinh tế và tinh thần.
Việc rút ngắn thời hạn xét thăng quân hàm sĩ quan cấp úy sẽ tạo động lực cho sĩ quan thêm yên tâm công tác, tích cực phấn đấu, nhất là giúp sĩ quan cấp úy (cùng với người thân) bớt so sánh về điều kiện sống và làm việc, công tác với bạn bè cùng lứa tuổi là cán bộ, công chức viên chức hay làm nghề tự do...
Hai là, thực tế nhiều năm qua, thu nhập của sĩ quan cấp úy thấp so với mặt bằng chung, ngoài lương thì hầu như không có khoản thu nhập nào khác, phụ cấp chức vụ và phụ cấp thâm niên của sĩ quan cấp úy rất ít (nhiều trường hợp là trợ lý, nhân viên không có phụ cấp chức vụ). Việc rút ngắn thời hạn thăng quân hàm cấp úy sẽ giúp các sĩ quan trẻ được tăng lương sớm hơn, cải thiện thu nhập, bớt một phần khó khăn.
Ba là, những năm vừa qua, số thí sinh đăng ký tuyển sinh vào các trường sĩ quan có xu hướng giảm và điều rất đáng báo động là rất ít học sinh giỏi đăng ký học sĩ quan. Nguyên nhân chủ yếu là thu nhập của sĩ quan không cao, trong khi điều kiện công tác và thời gian làm việc gò bó, vất vả, xa gia đình...
Thậm chí, có tình trạng một số học viên sĩ quan và sĩ quan trẻ còn muốn xin chuyển ngành, xuất ngũ. Thực tế này ảnh hưởng rất lớn đến mục tiêu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bởi nhân lực chất lượng cao là nhân tố giữ vai trò quyết định sức mạnh của mọi tổ chức. Nếu rút ngắn thời hạn xét thăng quân hàm cấp úy sẽ góp phần khắc phục được tình trạng này, tạo động lực thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao vào công tác trong Quân đội.
Ba lý do chính nêu trên đã cho thấy sự cần thiết của việc rút ngắn thời hạn thăng quân hàm sĩ quan cấp úy. Bên cạnh đó, việc rút ngắn thời hạn thăng quân hàm cấp úy còn là cơ sở để sĩ quan có đủ thời gian phát triển đến những bậc quân hàm cao hơn theo quy định của Luật Sĩ quan, bởi thực tế có những sĩ quan giữ chức vụ có trần quân hàm cao nhưng chưa đến hạn xét thăng quân hàm thì đã đến tuổi nghỉ hưu (nhất là với các sĩ quan trước đó bị chậm quân hàm vì giữ chức vụ chưa có trần quân hàm dù đã đến niên hạn).
Cuối cùng, điều rất cần phải nói thêm là thực tế công việc của sĩ quan cấp úy rất vất vả, nhất là với sĩ quan giữ chức trung đội trưởng, trực tiếp quản lý, huấn luyện chiến sĩ. Thời gian làm việc của đội ngũ “đầu binh cuối cán” gần như 24/24 giờ và kéo dài quanh năm, trừ ít ngày nghỉ phép; không chỉ trực tiếp làm công tác quản lý, chỉ huy bộ đội, mà còn phải trực tiếp huấn luyện đơn vị rất nhiều nội dung (không có chế độ phụ cấp “đứng lớp” như đối với giáo viên)... Vì thế, chủ trương rút ngắn thời hạn thăng quân hàm sĩ quan cấp úy không chỉ hợp lý mà còn rất hợp tình, thể hiện sự quan tâm chăm lo cho cán bộ cơ sở, là yếu tố động viên sĩ quan trẻ nỗ lực phấn đấu, cống hiến.
HUY QUANG
GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT, GIỮ NGHIÊM KỶ LUẬT QUÂN ĐỘI LÀ THIẾT THỰC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Để pháp luật thực sự đi vào cuộc sống, trở thành nền nếp, thói quen trong mọi hành vi, hoạt động của mỗi công dân và các tổ chức trong xã hội, cần phải thường xuyên quan tâm chăm lo nâng cao dân trí, bồi dưỡng ý thức pháp luật nhằm không ngừng nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật cho nhân dân. Đây không chỉ là trách nhiệm của riêng các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, mà còn là trách nhiệm của mọi cấp, mọi ngành, mọi tổ chức xã hội và của mỗi người dân. Đảng ta đã xác định: “Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật”. Quân đội nhân dân Việt Nam là công cụ bạo lực sắc bén của Nhà nước càng phải tăng cường giáo dục ý thức pháp luật, giữ nghiêm kỷ luật quân đội nhằm góp phần bảo vệ và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Thực tế những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các cấp đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và coi trọng bồi dưỡng ý thức pháp luật, giữ nghiêm kỷ luật như một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm xây dựng quân đội của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Hiện nay, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong điều kiện có nhiều tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, thì việc tăng cường bồi dưỡng ý thức pháp luật, giữ nghiêm kỷ luật càng trở nên cấp thiết nhằm làm cho cán bộ, chiến sĩ hiểu và chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội. Bồi dưỡng ý thức pháp luật là khâu rất quan trọng để đưa pháp luật thực sự đi vào đời sống xã hội trong lĩnh vực hoạt động quân sự. Thông qua bồi dưỡng ý thức pháp luật làm cho mọi người có trình độ văn hóa pháp lý cần thiết, trên cơ sở đó xác định đúng trách nhiệm, nghĩa vụ và tự giác chấp hành pháp luật Nhà nước, điều lệnh, điều lệ quân đội; tham gia tích cực vào việc đấu tranh chống mọi biểu hiện vi phạm pháp luật, tạo sự thống nhất về ý chí và hành động.
Quán triệt và cụ thể hóa các chương trình của Chính phủ và Bộ Quốc phòng, các đơn vị trong toàn quân đã triển khai nghiêm túc, đầy đủ nội dung quy định; hoàn thành việc phổ cập những kiến thức cơ bản về pháp luật và phổ biến kịp thời các nội dung pháp luật có liên quan tới mọi quân nhân như: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi), Bộ Luật tố tụng hình sự, Bộ Luật dân sự, Bộ Luật hôn nhân và gia đình; đồng thời, trang bị những kiến thức pháp luật trực tiếp liên quan đến chức năng nhiệm vụ đơn vị, nghĩa vụ và quyền lợi của công dân như: Luật Nghĩa vụ quân sự (sửa đổi), Luật Sĩ quan, Bộ Luật lao động, Luật Công đoàn, Pháp lệnh dân quân, tự vệ… Nội dung quan trọng trong các bộ luật có liên quan trực tiếp đến đời sống của cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị đã được cấp ủy, chỉ huy các cấp vận dụng trong sinh hoạt, học tập và công tác như Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Giao thông đường bộ, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và biện pháp phòng ngừa trong quân đội.
Bồi dưỡng ý thức pháp luật, giữ nghiêm kỷ luật được thực hiện dưới nhiều hình thức như tuyên truyền thông qua đài truyền thanh nội bộ, qua chế độ thông báo chính trị, nói chuyện thời sự, các hoạt động “sân khấu hóa”, diễn đàn thanh niên, văn hóa văn nghệ, tọa đàm khoa học… nhằm thực hiện lý luận gắn liền với thực tiễn, học đi đôi với hành. Thông qua các hoạt động tích cực nêu trên, công tác bồi dưỡng ý thức pháp luật đã thu được những kết quả nhất định. Tình hình chấp hành pháp luật, kỷ luật quân đội có nhiều chuyển biến tiến bộ do trình độ nhận thức pháp luật, ý thức chấp hành kỷ luật của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ được nâng cao. Tuy nhiên, việc bồi dưỡng ý thức pháp luật, giữ nghiêm kỷ luật trong mấy năm qua vẫn chưa ngang tầm với yêu cầu thực hiện quản lý quân đội bằng pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ của quân đội.
Trong những năm tới, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục triển khai quán triệt thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09-11-2022 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW), trong đó xác định rõ mục tiêu “đến năm 2030, thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trở thành chuẩn mực ứng xử của mọi chủ thể trong xã hội”. Đồng thời, đề ra một trong những nhiệm vụ và giải pháp quan trọng là: “Ðẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về Hiến pháp và pháp luật, về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và yêu cầu, nhiệm vụ tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”; “tiếp tục đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Xây dựng mạng lưới, nâng cao năng lực của hệ thống dịch vụ pháp lý, trợ giúp pháp lý và hỗ trợ pháp lý để người dân và doanh nghiệp dễ tiếp cận pháp luật”; “đổi mới cơ chế thi hành pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng pháp luật với thực hiện pháp luật, bảo đảm pháp luật được thực hiện công bằng, nghiêm minh, nhất quán, kịp thời, hiệu lực, hiệu quả”. Để triển khai kịp thời hiệu quả các chủ trương, đường lối được đề ra tại Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Quốc phòng đã có những chỉ thị cần thiết để triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong quân đội. Các văn bản đó sẽ là cơ sở định hướng quan trọng trong việc tăng cường bồi dưỡng ý thức pháp luật, giữ nghiêm kỷ luật quân đội. Là nội dung quan trọng của công tác giáo dục, huấn luyện, bồi dưỡng ý thức pháp luật nhằm làm cho mọi người có trình độ giác ngộ cao về chính trị, tuyệt đối trung thành, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; có đạo đức, lối sống trong sáng, ý thức kỷ luật nghiêm. Với ý nghĩa đó, quân đội phải tăng cường bồi dưỡng ý thức pháp luật cho tất cả các đối tượng. Trong thời gian tới, cần tập trung làm tốt một số vấn đề cơ bản sau:
Một là, tích cực đổi mới nội dung bồi dưỡng ý thức pháp luật cho phù hợp với từng đơn vị, từng đối tượng trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể.
Ý thức pháp luật được cấu thành bởi các yếu tố: tri thức, tình cảm, niềm tin, do vậy nội dung bồi dưỡng phải đáp ứng yêu cầu hình thành và phát triển các yếu tố cấu thành, đặc biệt coi trọng trang bị và nâng cao tri thức pháp luật, khơi dậy sự giác ngộ và tình cảm tốt đẹp của quân nhân đối với pháp luật. Trong quá trình thực hiện, phải luôn bám sát vào nội dung các văn bản, chỉ thị và hướng dẫn của cơ quan cấp trên về pháp luật, giữ nghiêm kỷ luật quân đội; căn cứ vào đặc điểm, tình hình, yêu cầu, nhiệm vụ đơn vị để xác định nội dung bồi dưỡng cho phù hợp. Cần chú trọng đến các nội dung có liên quan đến quốc phòng, an ninh, hoạt động quân sự; các văn bản liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ công dân nói chung và quân nhân nói riêng. Đối với cán bộ, đảng viên, cần thực hiện nghiêm quy định những điều điều đảng viên không được làm; những quy định cụ thể về trình tự, thủ tục xử lý vi phạm kỷ luật và những vấn đề quan trọng, bức xúc mới nảy sinh trong thực tiễn mà đơn vị đang tập trung tháo gỡ như: quy định về cấm quân nhân uống bia, rượu trong giờ hành chính, cấm say trong mọi lúc mọi nơi, cấm căng tin trong đơn vị bán bia, rượu; bắt buộc mọi quân nhân đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy tham gia giao thông đường bộ… Đây là những nội dung quan trọng trong bồi dưỡng ý thức pháp luật, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong đơn vị quân đội. Nội dung này không chỉ giúp quân nhân chấp hành nghiêm pháp luật, hạn chế tội phạm xảy ra, mà còn thiết thực chấp hành pháp luật của Nhà nước, kỷ luật quân đội và góp phần xây dựng Nhà nước vững mạnh toàn diện, quản lý xã hội bằng pháp luật.
Hai là, kết hợp nhiều hình thức, phương pháp bồi dưỡng ý thức pháp luật cho phù hợp để quân nhân dễ tiếp thu, dễ nhớ, dễ vận dụng.
Các văn bản quy phạm pháp luật thường có nhiều thuật ngữ khó, nội dung nhiều và không dễ tiếp thu, trong khi đó thời gian dành cho bồi dưỡng ý thức pháp luật là có giới hạn. Do vậy, thường xuyên kết hợp nhiều hình thức, phương pháp bồi dưỡng cho phù hợp, tạo ra nhiều “kênh” thông tin về pháp luật cho quân nhân là rất cần thiết. Ngoài việc bồi dưỡng pháp luật theo chương trình, kế hoạch hàng năm của cơ quan chính trị, còn cần phải thường xuyên lồng ghép bồi dưỡng ý thức pháp luật với các hình thức hoạt động công tác đảng, công tác chính trị ở đơn vị; tăng cường tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biến về pháp luật; giữ nghiêm kỷ luật trong các ngày nghỉ cuối tuần, hoạt động dã ngoại và hoạt động ngoại khóa; tổ chức các hoạt động thi đua đột kích trong các tháng cao điểm về chấp hành pháp luật, giữ nghiêm kỷ luật theo từng chủ đề một cách sinh động; ngoài ra, phải thường xuyên tổ chức cho cán bộ, chiến sĩ đọc báo, nghe đài, xem tivi về các chuyên mục tìm hiểu, giải đáp pháp luật…
Ba là, cấp ủy, chỉ huy các đơn vị thường xuyên kiểm tra, đôn đốc và uốn nắn kịp thời những sai phạm của các đối tượng thuộc quyền.
Trong lãnh đạo, chỉ huy đơn vị, cần đưa các nội dung giáo dục pháp luật thành chế độ nền nếp hoạt động của đơn vị; coi kết quả bồi dưỡng ý thức pháp luật là một trong những tiêu chuẩn đánh giá cán bộ, đảng viên, đoàn viên hằng năm. Mỗi cán bộ, đảng viên dù ở cương vị nào cũng phải thực sự là tấm gương sáng về ý thức chấp hành pháp luật, giữ nghiêm kỷ luật để chiến sĩ học tập, làm theo. Đó là những việc làm thiết thực góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân trong quân đội ta hiện nay./.
MIỀN TRUNG
“NÓI MIỆNG, AI CŨNG NÓI ĐƯỢC. TA CẦN PHẢI THỰC HÀNH”
Trong Bài nói chuyện tại Trường Cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh, Bác Hồ đã chỉ rõ: “… Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành. Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm.
Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân”. Bài nói được đăng trên Báo Cứu quốc, số 136 (06/01/1946), cách đây hơn 74 năm, trong bối cảnh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vừa mới ra đời, đang đối mặt với muôn vàn khó khăn, thách thức lớn, đặt ra yêu cầu đối với Đảng ta phải củng cố, xây dựng, phát huy cao độ vai trò các tổ chức, các lực lượng, nhất là vai trò gương mẫu, đi đầu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kháng chiến, kiến quốc.
Lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉnh huấn, yêu cầu cán bộ, chiến sĩ trong các trường quân sự của Đảng, Nhà nước phải gương mẫu đi đầu trong hành động, tích cực tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, gắn bó giúp nhân dân, chống mọi biểu hiện: Nói nhiều, nói suông; nói không đi đôi với làm, đoàn kết chiến đấu chống “thù trong, giặc ngoài”, bảo vệ thành quả cách mạng. Thấm nhuần lời dạy của Người, ngay từ đầu năm 1946, Trường Cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh và các trường quân sự đã được lãnh đạo, chỉ huy trong các nhà trường quân đội quán triệt sâu sắc, chuyển hóa thành kế hoạch hành động cách mạng, thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục-đào tạo cán bộ quân sự đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của cách mạng.
Hiện tại, lời năm xưa của Chủ tịch Hồ Chí Minh được các nhà trường quân đội nghiên cứu học tập, vận dụng sáng tạo vào giáo dục-đào tạo, với phương châm gắn nhà trường với đơn vị; lý luận với thực hành, lấy thực hành làm chính; nêu cao vai trò gương mẫu của đội ngũ giảng viên, quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ sĩ quan quân đội vừa "hồng", vừa "chuyên", đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới.
QĐND
Nghệ thuật sử dụng tam thập lục kế trong chiến tranh của ông cha ta
Tam thập lục kế hay Tam thập lục sách là cuốn sách
ghi lại 36 kế sách nổi tiếng của Trung Quốc. Hiện chưa rõ ai là tác giả chính
thức của cuốn sách. Có ý kiến cho rằng Tam thập lục kế do Tôn Tử thời Xuân Thu chấp bút, cũng có ý
kiến cho đó là trước tác của Gia Cát Vũ Hầu thời Tam Quốc. Tuy nhiên các ý kiến
trên đều chưa có cơ sở khoa học vững chắc. Hiện nay, quan điểm phổ biến nhất
cho rằng Tam thập lục kế được
biên soạn bởi nhiều tác giả khác nhau trong suốt lịch sử Trung Quốc. Hiện không
rõ Tam thập lục kế được
truyền sang nước ta vào giai đoạn nào nhưng chắc chắn rằng trong quá trình dựng
nước và giữ nước, cha ông ta đã tiếp thu những tinh hoa của cuốn sách này, sáng
tạo và vận dụng theo cách của riêng mình. Bài viết dưới đây xin điểm qua một số
kế “điển hình” trong cuốn sách trên mà các nhà quân sự nước ta sử dụng đã được
sử sách ghi lại.
1. Kim thiền thoát xác
Kim thiền thoát xác nghĩa là con ve sầu vàng lột xác. Kế này
dùng cho lúc nguy cấp, nguy hiểm đến tính mạng. Người thực hiện kế này ngụy
trang thành một người khác để đánh lừa đối phương nhằm chạy trốn, chờ cơ hội
khác “báo thù rửa hận”. Theo các sách như Đại Việt thông sử, Lam Sơn
thực lục… vào giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa, nghĩa quân Lam Sơn do lực
lượng mỏng, không tinh nhuệ, lương thảo thiếu thốn nên thường xuyên thua trận.
Trong một lần bị quân Minh vây đánh, tình thế hết sức nguy cấp, Lê Lợi đã hỏi
các tướng lĩnh theo mình ai chịu thực hiện kế kim thiền thoát xác để cứu chúa.
Lê Lai đã đứng ra nhận thực hiện kế này. Ông mặc áo bào của Lê Lợi, dẫn quân
xông ra mở đường máu, thu hút sự chú ý của quân Minh tạo điều kiện cho Lê Lợi
thoát thân. Sự hi sinh anh dũng của Lê Lai là một trong những nhân tố then chốt
giúp nghĩa quân Lam Sơn không bị tan rã, sau đó phát triển lớn mạnh đánh tan
quân Minh xâm lược giải phóng đất nước khỏi ách nô lệ. Có thể nói đây là kế
“kim thiền thoát xác” thành công nhất trong lịch sử quân sự nước nhà, là nền
tảng dựng nên một triều đại mới.
2. Mĩ nhân kế
Mĩ nhân kế là cách dùng gái đẹp để làm xoay chuyển, thay đổi
tình thế mà những phương thức khác không thể thực hiện được. “Anh hùng nan quá
mĩ nhân quan”, trong lịch sử quân sự thế giới, đây là một trong những kế sách
cổ xưa nhất và cũng hiệu quả nhất từ trước đến nay. Phù Sai mất nước vào tay
Câu Tiễn một phần là do Tây Thi, Đổng Trác chết thảm bởi nhan sắc chim sa cá
lặn của Điêu Thuyền. Cha ông ta trong quá trình dựng nước và giữ nước ở những
tình thế nhất định cũng sử dụng kế sách này. Khi vó ngựa quân Nguyên Mông ồ ạt
như bão lũ tràn xuống xâm lược, để làm chậm bước tiến quân của địch, tạo cho
đại quân có thêm thời gian tổ chức lực lượng, chuẩn bị chiến đấu vua Trần Thánh
Tông đã phải gả em gái út của mình là công chúa An Tư cho Thoát Hoan. Kế hoạch
đã thành công mĩ mãn. Tốc độ tiến quân của quân Nguyên Mông chậm lại. Sau này
dưới tài thao lược “dụng binh như thần” của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và
tinh thần chiến đấu quả cảm anh dũng vô song của đội quân “Sát Thát”, nhà Trần
đã đánh tan quân Nguyên Mông xâm lược, một lần nữa giải nguy cho đất nước khỏi
vó ngựa Mông Cổ. Trong một tình huống khác, mặc dù không bị quân giặc xâm lược
nhưng nhằm tạo thế bang giao, thu phục nhân tâm của người Chiêm, vua Trần Anh
Tông đã gả Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm Thành là Chế Mân. Cuộc hôn nhân
này đã giúp Đại Việt không những ổn định mà cỏn mở rộng bờ cõi ra phía Nam nhờ
của hồi môn của công chúa Huyền Trân là hai châu Ô, Lý vua Chiêm trao tặng.
3. Tiên phát chế nhân
Tiên phát chế nhân là kế ra tay trước để giành chiếm ưu thế,
đoạt lợi, giành lấy chiến thắng. Nhà quân sự đầu tiên và có lẽ cũng là duy nhất
đến thời điểm này sử dụng kế tiên phát chế nhân ở nước ta là danh tướng Lý
Thường Kiệt. Sau thất bại ở lần xâm lược thứ nhất, nhà Tống vẫn nuôi mộng xâm
lăng Đại Việt. Vua quan nhà Tống đã huy động hàng chục vạn quân, xây dựng các
căn cứ quân sự, hậu cần giáp biên giới để tập kết lực lượng, tích trữ lương
thảo, phục vụ trực tiếp cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt. Trước mưu đồ xâm
lược ngày càng lộ rõ của nhà Tống, Lý Thường Kiệt đã chủ động đề xuất với triều
đình nhà Lý đem quân đi đánh phủ đầu, đập tan ý đồ xâm lược của quân địch. Vậy
là lần đầu tiên trong lịch sử quân sự nước nhà, quân đội nhà Lý đã Bắc phạt,
chủ động công kích một quân đội mạnh hơn nhiều lần. Ông dẫn 10 vạn quân tinh
nhuệ, bất ngờ mở cuộc tiến công sang phía Nam đất Tống, nhanh chóng tiêu diệt
các đồn, trại của giặc, triệt phá các căn cứ quân sự, hậu cần quan trọng ở dọc
biên giới từ cửa biển Khâm Châu, Liêm Châu cho tới thành Ung Châu, buộc nhà
Tống một lần nữa phải từ bỏ tham vọng xâm chiếm nước ta. Những chiến thắng vang
dội của quân đội nhà Lý đã chứng minh việc sử dụng kế tiên phát chế nhân của Lý
Thường Kiệt là hoàn toàn đúng đắn, thích hợp và sáng tạo trong hoàn cảnh bấy
giờ.
4. Khổ nhục kế
Người thực thi kế này phải tự hoặc để người khác hành hạ bản
thân mình nhằm tiếp cận, chiếm vào lòng tin của kẻ địch để hoàn thành một âm
mưu nào đó. Người thực thi kế khổ nhục dài nhất và cũng thành công nhất ở nước
ta là Nguyễn Trãi, danh nhân văn hóa thế giới, nhà chính trị - quân sự kiệt
xuất, “kiến trúc sư” trưởng của chiến thắng Lam Sơn. Sau khi nhà Hồ thua trận,
đất nước bị nhà Minh thôn tính, nhân dân lầm lạc. Biết Nguyễn Trãi là người có
tài, các tướng nhà Minh là Trương Phụ, Hoàng Phúc đã dụ ông ra làm việc cho
chúng. Nguyễn Trãi không chịu, ông dùng khổ nhục kế, chấp nhận bị giam lỏng ở
thành Đông Quan. Suốt mười năm trời sống trong cảnh “nhà một gian/ no nước
uống/ thiếu cơm ăn”, Nguyễn Trãi đã hoàn thành Bình Ngô sách và
chiếm được lòng tin của Hoàng Phúc. Sau đó, vào thời cơ thích hợp, lợi dụng
lòng tin của viên tướng giặc này, Nguyễn Trãi đã bỏ trốn khỏi Đông Quan, tìm
gặp Lê Lợi, mở ra một chương mới cho nghĩa quân Lam Sơn
5. Dĩ dật đãi lao
Dĩ dật đãi lao có nghĩa là “lấy gần đợi xa, lấy nhàn đợi mệt”,
đợi quân địch mỏi mệt, nhuệ khí chiến đấu giảm sút rồi mới thừa cơ xuất kích để
giành lấy thắng lợi. Kế dĩ dật đãi lao được nghĩa quân Lam Sơn áp dụng trong
trận Chi Lăng - Xương Giang nổi tiếng. Khi hay tin Liễu Thăng, Mộc Thanh đem mười
mấy vạn quân chia hai ngả ứng cứu Vương Thông, Lê Lợi đã bàn với các tướng lĩnh
nên dùng kế dĩ dật đãi lao để hạ địch. Theo kế này, nghĩa quân Lam Sơn đã đón
lõng Liễu Thăng ở biên ải. Và kết thúc của viên tướng nhà Minh đã xảy ra như
những lời miêu tả trong Bình Ngô Đại Cáo “Ngày mười tháng tám,
trận Chi Lăng Liễu Thăng thất thế/ Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt
đầu”.
6. Phủ để trừu tân
Phủ để trừu tân có nghĩa là rút lửa đáy nồi. Kế này dùng trong
quân sự là nhắm vào hậu cần, quân lương, tiếp tế của địch khiến địch thiếu thốn
buộc phải chấp nhận thất bại. Nhà Trần đã sử dụng kế này, đập tan tham vọng
“báo thù, rửa hận” biến Đại Việt thành nô lệ của quân Nguyên Mông trong lần thứ
ba xâm lược. Ở lần tấn công này, quân Nguyên đã lập thêm đạo thủy quân do Ô Mã
Nhi thống lĩnh vừa nhằm tiến đánh theo đường thủy, vừa bảo vệ đoàn thuyền lương
do tướng Trương Văn Hổ chỉ huy đi sau. Sở dĩ quân Nguyên vận lương bằng thủy
quân là nhằm giải quyết tình trạng thiếu lương - một trong những nguyên nhân
dẫn đến thất bại của chúng trong hai lần xâm lược trước - khi phương án vận
chuyển bằng đường bộ cho đạo quân lên tới 50 vạn đi vào nơi “xa xôi, hiểm trở”
như Đại Việt là không “an toàn” và không đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên vua quan,
tướng lĩnh nhà Trần đã sớm đoán và đập tan âm mưu chuyển lương bằng thủy quân
của quân Nguyên. Sau thất bại không chặn được bước tiến của Ô Mã Nhi, tướng
Trần Khánh Dư đã lập công chuộc tội bằng chiến thắng oanh liệt ở trận Vân Đồn.
Ở trận này, đoàn thuyền lương của tướng Trương Văn Hổ đã rơi vào bẫy do Trần
Khánh Dư giăng sẵn trên cửa ải Vân Đồn. Kết quả toàn bộ thuyền lương của nhà
Nguyên đã bị thủy quân nhà Trần đốt phá, cướp sạch. Chiến thắng Vân Đồn là
chiến thắng bản lề, then chốt, mang tính chất “thay đổi cuộc chơi” giữa quân đội
nhà Trần và quân Nguyên Mông. Mất lương thực, lại thêm nỗi ám ảnh về hai thất
bại trước, quân Nguyên rệu rã tinh thần, rút lui nhanh chóng.
7. Điệu hổ li sơn
Điệu hổ li sơn là kế dụ, nhử địch ra khỏi nơi ẩn nấp, an toàn để
dễ bề tấn công, tiêu diệt. Đây là kế người anh hùng Nguyễn Huệ áp dụng trong
trận thủy chiến kinh điển Rạch Gầm - Xoài Mút với quân Xiêm. Được Nguyễn Ánh
cầu viện, năm 1784 quân Xiêm ồ ạt đổ bộ vào nước ta, đánh đâu thắng đấy, tình
thế Đằng Trong rất nguy ngập. Nguyễn Nhạc cử Nguyễn Huệ vào Nam dẹp loạn Xiêm.
Sau khi nghiên cứu kĩ địa hình, tương quan lực lượng giữa hai bên, Nguyễn Huệ
biết khó có thể đánh thắng quân Xiêm ở đại bản doanh của chúng nên đã dùng kế
điệu hổ li sơn, khiêu khích, dẫn dụ quân Xiêm đến khúc sông Mỹ Tho từ Rạch Gầm
đến Xoài Mút để tiêu diệt. Trúng kế của Nguyễn Huệ, quân Xiêm hùng hổ tiến vào
hiểm địa và ở khúc sông này quân Tây Sơn đã phô diễn sức mạnh hủy diệt của mình
đánh cho quân Xiêm khiếp đảm, táng hồn không dám “ho he” giúp đỡ Nguyễn Ánh
thêm một lần nào nữa.
Tam thập lục kế, binh pháp, trận đồ… xét đến cùng là những kinh nghiệm chiến
trận được đúc rút thực tiễn. Kế sách là “chết”, là cái tĩnh tại, bất động trong
sách vở. Điều quan trọng là cách vận dụng các kế sách trên chiến địa để đạt
được thắng lợi cuối cùng. Qua những trận chiến ở trên, có thể thấy cha ông ta
ngày trước đã rất linh hoạt, sáng tạo như thế nào trong dụng kế, tính mưu, điều
binh, khiển tướng để bảo vệ cơ nghiệp của tổ tông, bảo vệ đất nước trước những
đạo quân xâm lược hùng mạnh gấp nhiều lần. Những chiến thắng ấy, những cách
thức vận dụng các mưu kế ấy mãi là bài học quý giá trong công cuộc bảo vệ Tổ
quốc hôm nay./.












