Thứ Năm, 4 tháng 7, 2024

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: QUÉT SẠCH CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN ĐỂ PHÒNG, CHỐNG SUY THOÁI!

         55 năm sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (1969-2024), những điều Người chỉ dẫn, căn dặn trong tác phẩm vẫn vẹn nguyên giá trị thời sự đối với công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng!

Một trang bản thảo bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (3/2/1969)
Một trang bản thảo bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (3/2/1969)

PHÒNG, CHỐNG VÀ ĐẤU TRANH CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN NHƯ NGƯỜI CHỈ DẪN
Là người sáng lập, rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định rằng: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài”(1); “vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là “tính Đảng””(2) và “Ngoài lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Đảng ta không có lợi ích nào khác”(3)... mà còn thường xuyên quan tâm, chú trọng việc rèn luyện đạo đức cách mạng để phòng, chống và đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân - nguyên nhân sâu sa của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải là những tấm gương mẫu mực về phẩm chất đạo đức của người cách mạng, sống cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”; luôn luôn: 1) “Tự mình phải “hoà mà không tư”, “cả quyết sửa lỗi mình”, “vị công vong tư”, không hiếu danh, không kiêu ngạo”, “ít lòng ham muốn về vật chất”. 2) Đối người phải “với từng người thì khoan thứ”, “có lòng bày vẽ cho người”, “hay xem xét người”. 3) Làm việc phải “phục tùng đoàn thể”(4)... và đó chính là “làm người đày tớ nhân dân chứ không phải làm “quan” nhân dân”(5). Đó cũng chính là yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên phòng, chống và đấu tranh với mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân để nâng cao đạo đức cách mạng, xứng đáng với vai trò vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Và cũng vì Đảng là đội tiền phong của giai cấp và dân tộc, trên mọi lĩnh vực, nên đại đa số cán bộ, đảng viên là những người “anh dũng, gương mẫu, gian khổ đi trước, hưởng thụ đi sau và đã làm nên những thành tích rất vẻ vang”. Đó là những người “gái cũng như trai, rất hăng hái, dũng cảm trong mọi công tác. Đó là những bông hoa tươi thắm của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhân dân ta và Đảng ta rất tự hào có những người con xứng đáng như thế”(6) như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quyét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Tuy nhiên, vì “Đảng ta không phải từ trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra”(7) và “Đảng ta là một Đảng rất to lớn, bao gồm đủ các tầng lớp trong xã hội. Vì vậy có nhiều tính cách rất trung thành, rất kiên quyết, rất vĩ đại. Song cũng không tránh khỏi những tập tục, những tính nết, những khuyết điểm của xã hội bên ngoài, nó lây, ngấm vào trong Đảng”(8). Cho nên, vẫn còn những cán bộ, đảng viên, những tổ chức chưa thực hiện nghiêm việc rèn luyện đạo đức cách mạng để phòng và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, nên trong Đảng cũng vẫn còn những người thoái bộ, suy thoái, “đạo đức, phẩm chất còn thấp kém”, lối sống xa rời lý tưởng cách mạng đã được Người chỉ rõ trong tác phẩm này. Đó chính là những người: 1) “Việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”. 2) “Ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ”. 3) “Mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân”(9)...

Thực tế cho thấy, vì chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch “nội xâm”, luôn ẩn giấu trong mỗi con người; là thứ “vi trùng” mẹ, đẻ ra nhiều “virus” con, nên “rất gian giảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc. Mà ai cũng biết rằng xuống dốc thì dễ hơn lên dốc. Vì thế mà càng nguy hiểm”(10). Chủ nghĩa cá nhân không chỉ đối lập với đạo đức cách mạng, mà còn là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng; không chỉ là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội, mà còn “là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội”, cho việc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, cho nên “thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”(11). Vì thế, để xứng đáng với vai trò tiền phong, mỗi cán bộ, đảng viên không chỉ phải nhận thức sâu sắc về việc kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, phải thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng một Đảng Mácxít - Lêninnít, mà còn phải chú trọng phòng, chống và đấu tranh tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân từ sớm, từ xa để phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân với tinh thần tận tụy, không tư, không lợi.

Thực tế công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng 94 năm qua cũng cho thấy, chủ nghĩa cá nhân chính là sự biểu hiện tập trung nhất, rõ nét nhất, cụ thể nhất sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong mỗi con người, trong từng tổ chức. Chừng nào “vi trùng” chủ nghĩa cá nhân còn tiềm ẩn trong mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị; trong mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu, thì chừng đó còn đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ, còn gây bức xúc trong dư luận xã hội, làm xói mòn lòng tin yêu của nhân dân với Đảng và chế độ. Vì thế, trong mỗi cấp ủy, tổ chức cơ sở Đảng, chính quyền và trong mỗi cán bộ, đảng viên, chủ nghĩa cá nhân không chỉ là nguyên nhân sâu sa của những biểu hiện mất dân chủ, bè cánh, địa phương chủ nghĩa, hẹp hòi, ích kỷ, chia rẽ nội bộ, gây mất đoàn kết, làm suy yếu sức mạnh của từng tập thể, mà còn là những trở lực đối với sự toàn tâm, toàn ý phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng của những cán bộ, đảng viên chân chính. Cho nên, nhìn từ chiều cạnh nào cũng thấy chủ nghĩa cá nhân là một trong những nguy cơ lớn đe dọa uy tín, danh dự, vị thế cầm quyền/lãnh đạo hệ thống chính trị và vai trò tiền phong của Đảng; không chỉ ảnh hưởng tới Đảng, từng cán bộ, đảng viên, mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của quốc gia, dân tộc trên hành trình kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Từ những hệ lụy “do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm khuyết điểm” và nhìn vào thực tế những cán bộ, đảng viên vì sa vào chủ nghĩa cá nhân mà vi phạm Điều lệ Đảng, kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật đã, đang bị xử lý nghiêm minh, có thể thấy không phải ngẫu nhiên 55 năm trước đây trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” viết dịp kỷ niệm thành lập Đảng mùa Xuân năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại chỉ rõ yêu cầu: “Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật”(12) trong toàn Đảng và trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

QUÉT SẠCH CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN ĐỂ XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH
Xuyên suốt lịch sử công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, có thể thấy việc phòng, chống và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân để nâng cao đạo đức cách mạng trong toàn Đảng luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm; luôn được Đảng Cộng sản Việt Nam chú trọng triển khai sâu rộng từ Trung ương tới địa phương. Những nhiệm kỳ gần đây, cùng với việc đẩy mạnh công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, vấn đề phòng, chống và đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân cũng như những biểu hiện suy thoái đã trở thành nhu cầu tự thân của mỗi cấp ủy, tổ chức cơ sở Đảng, chính quyền và trong mỗi cán bộ, đảng viên.

Thực tế, việc triển khai gắn thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XI về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị khóa XIII về “Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”” với Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””... đã góp phần ngăn chặn những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Đồng thời, việc thực hiện các Quy định về nêu gương như Quy định số 55-QĐ/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”, Quy định số 08-QĐi/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương”… gắn với đẩy mạnh phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực trong toàn Đảng, hệ thống chính trị cũng đã góp phần thiết thực vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; kịp thời loại trừ những con sâu mọt ra khỏi Đảng.

Tuy nhiên, dưới tác động của nền kinh tế thị trường, của lối sống “sủng vật chất”, bị cám dỗ bởi vật chất, trong Đảng vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ, đảng viên được trao trọng trách tại các cơ quan công quyền đã lợi dụng, lạm dụng quyền lực được ủy thác để mưu cầu lợi ích riêng cho mình và nhóm lợi ích. Những hành động vụ lợi của họ là biểu hiện cao nhất của chủ nghĩa cá nhân, của sự suy thoái về đạo đức, lối sống; là minh chứng cho những biểu hiện kinh niên của căn bệnh cá nhân chủ nghĩa đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Những hành động vụ lợi của họ không màng đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân, không màng đến uy tín và danh dự của Đảng, của người đảng viên cộng sản, không chỉ gây thất thoát lớn tiền của của Nhà nước và nhân dân, mà còn đe dọa vị thế tiền phong của một Đảng cầm quyền.

Vì thế, đón Xuân mới Giáp Thìn 2024 và đọc lại những trăn trở, tâm huyết, những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” để phát huy những kết quả đạt được, khắc phục những hạn chế trong việc rèn luyện đạo đức cách mạng là việc làm vừa cần thiết vừa ý nghĩa. Từ những chỉ dẫn của Người, mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên không chỉ cần thấm nhuần sâu sắc hơn nữa lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, mà còn cần phải quán triệt thực hiện nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng và nhiệm vụ của người cán bộ, đảng viên.

Trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm thì xây dựng Đảng luôn là nhiệm vụ then chốt và phòng, đấu tranh quét sạch chủ nghĩa cá nhân luôn là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa thường xuyên, liên tục của Đảng cầm quyền. Vì thế, để Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là một khối đoàn kết, thống nhất trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và luôn gương mẫu về đạo đức, bảo đảm đường lối, chủ trương được chấp hành nghiêm chỉnh thì không thể sao nhãng việc phòng và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân từ sớm, từ xa; không thể sao nhãng việc nhận diện và chỉ ra các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh để đấu tranh ngăn chặn và phòng ngừa. Đi liền với đó là mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức cơ sở Đảng đều phải tiến hành tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát nghiêm túc để kịp thời phát hiện những cán bộ, đảng viên mắc sai lầm, khuyết điểm; kịp thời đưa ra biện pháp sửa chữa nghiêm túc và kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống để Đảng trong sạch, vững mạnh.

Mỗi cấp ủy, tổ chức cơ sở Đảng, cán bộ, đảng viên không chỉ phải nhận thức sâu sắc hơn nữa tác hại của chủ nghĩa cá nhân; hiểu rõ đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”, mà còn phải chú trọng thực hiện phòng, chống chủ nghĩa cá nhân đi liền với chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu trên tinh thần nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức, tính kỷ luật, tính năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Đặc biệt, một trong những biện pháp hữu hiệu để nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân chính là mỗi cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị nói riêng phải luôn thấu triệt: lợi ích của cá nhân gắn liền với lợi ích của tập thể, nên “nếu lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể” để phát huy tính tiền phong gương mẫu, nói đi đôi với làm. Đồng thời luôn đi sâu, đi sát, gần gũi với nhân dân; tôn trọng, lắng nghe nhân dân; tận tụy phụng sự nhân dân với tinh thần liêm, chính, chí công vô tư để tạo “hệ miễn dịch” với những biểu hiện cá nhân chủ nghĩa./.
____________________
(1) (2) (7) (8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự Thật, H, 2011, t.5, tr.289, 290-291, 303, 301-302.
(3) (10) (11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.604, 602, 609.
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.280-281.
(5) (6) (9) (12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.292, 546, 546-547, 547.

Yêu nước ST.

KIÊN QUYẾT QUÉT SẠCH CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN!

     Thực tiễn khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định sự trường tồn và phát triển của dân tộc Việt Nam. Để đủ sức lãnh đạo đất nước và xã hội, ngay từ khi ra đời, Đảng ta đã đặc biệt nhấn mạnh công tác xây dựng Đảng nói chung và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân (CNCN) nói riêng!
Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh coi CNCN là “kẻ thù của cách mạng”. Đảng ta xác định đấu tranh chống CNCN vừa là một nội dung trọng tâm, vừa là một giải pháp rất quan trọng trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. 
Trong mọi thời kỳ cách mạng, trước bất cứ nhiệm vụ gì, Đảng ta đều đặc biệt coi trọng và gắn chặt với cuộc đấu tranh chống CNCN. Nhằm giải quyết vấn đề về tư tưởng và tổ chức của Đảng, trong đó có nội dung liên quan đến CNCN, từ năm 1939, Đảng ta đã tổ chức đợt sinh hoạt “tự phê bình” sâu rộng. Đặc biệt, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” viết năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ cụ thể 15 căn bệnh nguy hiểm trong Đảng bắt nguồn từ CNCN. Đảng ta nhận thức rõ nguồn gốc của những “căn bệnh” làm hư hỏng đội ngũ đảng viên, làm tha hóa Đảng ta không gì khác là CNCN. Từ chỗ coi CNCN là “kẻ thù của cách mạng”, Đảng xác định phải kiên quyết tuyên chiến với loại “giặc nội xâm” này. Vụ án Đại tá Trần Dụ Châu, Giám đốc Nha Quân nhu, vì CNCN mà phạm tội tham nhũng phải lĩnh án tử hình là ví dụ điển hình chứng minh cho tinh thần kiên quyết đấu tranh với CNCN trong Đảng. 

Qua các nhiệm kỳ đại hội, Đảng ta đều có các văn kiện chuyên đề về đấu tranh chống CNCN. Đặc biệt, từ Đại hội VI đến nay, tinh thần kiên quyết đấu tranh chống CNCN của Đảng ta được thể hiện rất rõ nét. Tại Đại hội XIII, Đảng ta đề ra yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng với 10 giải pháp cơ bản, trong đó nhấn mạnh phải: Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII với trọng tâm là ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm minh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những hành vi tham nhũng, tiêu cực và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định tinh thần “kiên quyết đấu tranh quét sạch CNCN trong toàn Đảng”. Tại Điều 3 của Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm, Đảng ta cũng nêu rõ đảng viên không được vướng vào “… CNCN, cơ hội, vụ lợi…”.
Nhờ thường xuyên coi trọng công tác xây dựng Đảng nói chung và đấu tranh chống CNCN nói riêng mà năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ta ngày càng được nâng lên. Đại đa số cán bộ, đảng viên của Đảng có bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn kiên định mục tiêu lý tưởng và con đường XHCN; phát huy tốt vai trò tiên phong, gương mẫu thực sự làm nòng cốt đi đầu trong công cuộc đổi mới và lãnh đạo quần chúng thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu của cách mạng. Nhiều tấm gương điển hình, tiên tiến được nhân rộng, lan tỏa trong đời sống xã hội. Mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng Đảng ta vẫn vững vàng chèo lái đưa con thuyền cách mạng vượt lên đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đặc biệt qua gần 40 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Bên cạnh những thành tựu quan trọng đạt được, bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra từ nhiệm kỳ khóa VII, trong đó có “nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội” vẫn hiện hữu, có mặt diễn biến gay gắt, phức tạp hơn. Đúng như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII đã chỉ rõ điều bức xúc và đáng lo nhất hiện nay là tình trạng tham nhũng, tiêu cực của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh sự “phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường XHCN, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Đảng; sa sút về ý chí chiến đấu, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh; thậm chí còn phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao; không thực hiện đúng các nguyên tắc xây dựng Đảng và tổ chức sinh hoạt Đảng”. 

Có nhiều nguyên nhân của tình trạng trên, nhưng Đảng ta nhận định nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu, trong đó có nguyên nhân vướng vào CNCN. Đây là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến những hành vi sai trái, tiêu cực. Để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của đội ngũ đảng viên ngang tầm với đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới, Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh phải “kiên quyết đấu tranh quét sạch CNCN trong toàn Đảng”.

Mặt khác, trước bối cảnh mới đất nước hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; nền kinh tế phát triển chưa bền vững, khủng hoảng kinh tế toàn cầu tác động ảnh hưởng rất lớn, cùng với những hạn chế, yếu kém còn tồn tại khiến nước ta đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới, đòi hỏi Đảng ta tiếp tục đẩy mạnh công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng lên tầm cao mới. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đề ra: “Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”. Có thể khẳng định đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị nói chung, đấu tranh kiên quyết với CNCN nói riêng không phải là ý muốn chủ quan của ai, mà là yêu cầu tất yếu của tình hình nhiệm vụ cách mạng. 
Để tiếp tục đấu tranh chống CNCN đạt hiệu quả cao, trước hết chúng ta cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, nhằm không ngừng nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường xây dựng XHCN. Đây là cơ sở, nền tảng để cán bộ, đảng viên xác định động cơ, mục đích rèn luyện, tu dưỡng phấn đấu đúng đắn, vì lợi ích của tập thể, của quốc gia, dân tộc, trong đó có gia đình, cá nhân mình. Chỉ có trên cơ sở ý thức rõ điều đó, cán bộ, đảng viên mới nâng cao sức “đề kháng”, không mắc vào CNCN.
Trong tổ chức xây dựng và sinh hoạt đảng phải giữ vững các nguyên tắc, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ gắn chặt với đề cao trách nhiệm cá nhân trong Đảng. Đồng thời, thường xuyên đẩy mạnh đấu tranh tự phê bình và phê bình nhằm phòng ngừa từ xa CNCN cũng như mọi biểu hiện tham nhũng, tiêu cực. Mỗi đảng viên, từng tổ chức Đảng phải coi tự phê bình và phê bình như phương thuốc để phòng ngừa và chữa trị các căn bệnh mắc phải. Mặt khác, phải có cơ chế phát huy tai mắt của nhân dân trong xây dựng Đảng và tham gia đấu tranh chống CNCN. Trước hết là phát huy vai trò của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc giám sát cán bộ, đảng viên. Phát huy tốt vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng trong tuyên truyền cổ vũ, tôn vinh những tổ chức đảng, đảng viên điển hình, tiên tiến và phát hiện, đấu tranh với những biểu hiện của CNCN. Dùng thông tin chính thống đẩy lùi những thông tin sai trái, xấu, độc, đề cao trách nhiệm của các cơ quan báo chí trong cung cấp thông tin, định hướng dư luận, đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn lợi cuộc đấu tranh chống CNCN, chống tham nhũng, tiêu cực để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THÍ ĐIỂM HỆ THỐNG GIAO THÔNG THÔNG MINH (TOC) TẠI HÀ NỘI!

     Sáng 4-7, TP Hà Nội khai trương thí điểm Trung tâm điều hành giao thông thông minh (TOC), ứng dụng công nghệ hiện đại vào điều hành giao thông, giảm thời gian và chi phí đi lại, bảo vệ môi trường!

Dự án TOC nhằm hiện thực hóa chỉ đạo của Thành ủy Hà Nội về “Chu.yển đ.ổi s.ố, xây dựng TP Hà Nội thông minh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, với mục tiêu đến năm 2030, Hà Nội sẽ cơ bản trở thành thành phố thông minh, hiện đại, từng bước kết nối với mạng lưới đô thị thông minh trong khu vực và thế giới.

Tại lễ khai trương, ông Thái Hồ Phương, Giám đốc Trung tâm Quản lý và Điều hành giao thông TP Hà Nội cho biết: “Hệ thống giao thông thông minh ITS bao gồm các ứng dụng kỹ thuật công nghệ vào công tác tổ chức, quản lý điều hành hệ thống giao thông vận tải hiệu quả...".

Theo ông Thái Hồ Phương, Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) đã phối hợp với Sở Giao thông vận tải Hà Nội triển khai phương án thí điểm TOC, với nội dung thiết lập Trung tâm Điều hành TOC tại Trung tâm Quản lý và Điều hành giao thông TP Hà Nội số 1 Kim Mã, quận Ba Đình, gồm: Thiết bị (máy tính, màn hình tấm ghép, tường lửa, thiết bị mạng, các thiết bị, phụ kiện đi kèm…); các phần mềm điều khiển (phần mềm đo đếm lưu lượng, giám sát vi phạm, cung cấp thông tin, điều khiển đèn tín hiệu giao thông thông minh…).

Hệ thống cũng được lắp đặt thiết bị ngoại vi tại 2 nút giao thông thí điểm trên đường Phạm Văn Bạch (nút giao Hoàng Quán Chi và Ngõ 9), gồm: Lắp đặt camera hỗ trợ xử phạt, camera đo đếm lưu lượng, camera đo tốc độ, biển VMS… Các chức năng của TOC trong giai đoạn thí điểm là: Giám sát giao thông, cung cấp thông tin giao thông, điều khiển giao thông, hỗ trợ xử lý vi phạm luật, quản lý sự cố, quản lý kết cấu hạ tầng giao thông, quản lý đỗ xe, quản lý thanh toán vé điện tử giao thông công cộng.

Tập đoàn Viettel cam kết hệ thống thí điểm được triển khai bảo đảm an toàn thông tin, an toàn dữ liệu theo các quy định có liên quan; không yêu cầu thành phố bồi hoàn kinh phí thực hiện thí điểm và sẽ bàn giao lại dữ liệu hình thành trong quá trình thí điểm cho thành phố sử dụng./.


Môi trường ST.

BẠN CÓ BIẾT: GS-TS VÕ HỒNG ANH - NGƯỜI CON GÁI ĐẦU TIÊN CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP!

     Năm 1988, GS - TS Võ Hồng Anh là người phụ nữ đầu tiên của ngành Vật lý được tặng Giải thưởng Khoa học Quốc tế Kovalevskaia - giải thưởng cao nhất của Việt Nam về khoa học kỹ thuật dành cho các nhà khoa học.
Giáo sư - Tiến sĩ Võ Hồng Anh (sinh năm 1939 - mất năm 2009) là một nữ giáo sư-tiến sĩ nổi tiếng về ngành toán lý tại Việt Nam. Bà là người phụ nữ đầu tiên của ngành vật lý nhận được Giải thưởng Kovalevskaya năm 1988. Bà là con gái đầu của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp và nhà cách mạng Nguyễn Thị Quang Thái(Em ruột của Nhà cách mạng Nguyễn Thị Minh Khai).

Con đường học tập và đóng góp của Bà đối với ngành Vật lý của Nước nhà.
Vào những năm toàn quốc kháng chiến nổ ra, chiến sự lan dần đến Quảng Bình, bà được bà nội đưa đi sơ tán tại Thanh Chương, Nghệ An.
Năm 1954, bà được đưa sang Liên Xô và theo học Trường Thiếu nhi Việt Nam Internat Moskva. Năm 1959, bà tốt nghiệp Phổ thông với Huy chương vàng. Sau đó, bà theo học ngành Vật lý lý thuyết lượng tử, Đại học Tổng hợp Quốc gia Lomonosov Moskva. Bà tốt nghiệp năm 1965 với bằng đỏ (hạng ưu).
Sau khi tốt nghiệp, bà về nước và được phân công làm cán bộ nghiên cứu thuộc Ban Toán - Lý, Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước. Năm 1966, bà lại được cử sang Liên Xô làm nghiên cứu sinh. Năm 1969, bà bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ Toán - Lý về "Lý thuyết Plasma" tại Hội đồng Khoa học Viện Nghiên cứu vật lý hạt nhân thuộc Trường Đại học Tổng hợp Moskva, Liên Xô.
Sau khi bảo vệ thành công luận án Phó tiến sĩ, bà được phân công về làm việc tại Trung tâm Vật lý lý thuyết, Viện Vật lý, Viện Khoa học Việt Nam. Đồng thời, bà cũng được mời làm cộng tác viên cao cấp tại Viện Liên hợp Nghiên cứu hạt nhân Quốc tế Dubna, Liên Xô. Năm 1979, bà lại sang Liên Xô, chính thức làm việc tại Viện Liên hợp Nghiên cứu hạt nhân Dubna, sau đó bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Toán - Lý với đề tài "Lý thuyết tác động tham số của bức xạ điện tử mạnh lên các tinh thể..." tại Hội đồng Khoa học Viện Liên hiệp nghiên cứu hạt nhân Dubna năm 1982.
*Bà lập gia đình với Tiến sĩ Vật lý lý thuyết Phan Trúc Long, con trai đầu của Luật sư Phan Anh. Ông Long mất cuối thập niên 1990 tại Moskva do tai nạn giao thông.
Hai ông bà có với nhau một người con trai duy nhất là Phan Hồng Việt, một vũ sư dancesport nổi tiếng.
Năm 1983 bà về nước, tiếp tục công tác tại Viện Khoa học Việt Nam và được phong học hàm Giáo sư. Năm 1987, bà chuyển về làm việc tại Viện Năng lượng Nguyên tử Quốc gia (sau là Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam), Phó phòng rồi Trưởng phòng Vật lý,lý thuyết và tính toán. Năm 1998, bà công tác tại Trung tâm Nghiên cứu Cơ bản và Tính toán, Viện Khoa học Kỹ thuật Hạt nhân, Viện Năng lượng Nguyên tử Quốc gia cho đến khi nghỉ hưu vào năm 2003.
Những năm cuối đời, bà dành hết sức lực cho hoạt động của Hội Khuyến học Việt Nam.
Bà qua đời ngày 18 tháng 7 năm 2009 tại Hà Nội.
Trong suốt gần 40 năm làm công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học, bà đã được thỉnh giảng, trao đổi nghiên cứu, dự hội nghị khoa học ở: Liên Xô, Nhật Bản, Mỹ, Pháp, các nước Đông Âu, Ý, Ấn Độ, Thái Lan, Malaisia... Bà cũng đã cho xuất bản trên 50 công trình khoa học được công bố, phần lớn ở nước ngoài, trong số đó có cuốn sách về Lý thuyết tương tác của bức xạ cường độ mạnh lên chất rắn - xuất bản ở Nga.
Bà cũng đã từng được khen thưởng toàn Viện Liên hợp Nghiên cứu Hạt nhân Đupna khóa 1979-1983.
Ngoài ra, bà còn được trao tặng Huy chương Vì sự nghiệp Khoa học và Công nghệ và Huy chương Vì sự nghiệp Khuyến học cho những đóng góp của mình trong việc nghiên cứu khoa học và công tác khuyến học./.
Yêu nước ST.

KHÁT VỌNG ĐỘC LẬP, TỰ DO ĐỂ DỰNG XÂY ĐẤT NƯỚC!

     Lịch sử đất nước mãi mãi ghi đậm khoảnh khắc huy hoàng của chiến thắng khi lá cờ cách mạng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập-sào huyệt cuối cùng của chính quyền ngụy Sài Gòn-vào lúc 11 giờ 45 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975. Đại thắng Mùa Xuân 1975 kết thúc thắng lợi chặng đường 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), đồng thời kết thúc vẻ vang quá trình 30 năm chiến tranh giành độc lập, bảo vệ Tổ quốc kể từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mở ra kỷ nguyên mới cho lịch sử dân tộc-kỷ nguyên độc lập, tự do và đi lên chủ nghĩa xã hội!
Chiến thắng 30/4/1975 là một chiến thắng toàn diện, triệt để bởi trên đất nước ta từ nay sạch bóng quân thù, nhân dân hai miền Nam-Bắc sẽ kề vai sát cánh xây dựng cuộc sống mới trong hòa bình, độc lập, tự do, đất nước phồn vinh hạnh phúc.
Ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, trong đó khẳng định: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” và “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, lời kêu gọi của Bác “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” luôn là nguồn động lực tinh thần to lớn thúc giục, động viên toàn quân, toàn dân ta “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” với tinh thần “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Miền Bắc vừa xây dựng, vừa thi đua lao động sản xuất trở thành “Hậu phương lớn của tiền tuyến lớn miền Nam”, vừa anh dũng chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, bảo vệ miền Bắc, chi viện cho miền Nam, tiến tới ngày toàn thắng. Dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng tạo của Đảng với chiến lược chiến tranh nhân dân, đã tập hợp và phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân, tạo nên một thế trận chiến tranh vững chắc, mà không có bất cứ một sức mạnh xâm lược nào có thể phá vỡ nổi. Vì vậy, dù “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!” (Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước của Hồ Chủ tịch-Tháng 7/1966) và cũng vì vậy mà trải qua 21 năm kháng chiến chống Mỹ, quân và dân cả nước đã anh dũng chiến đấu, từng bước đánh bại các chiến lược “chiến tranh đặc biệt” (1961-1965), “chiến tranh cục bộ” (1965-1968), “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969-1973) và chiến tranh phá hoại ra miền Bắc XHCN (1964-1972), giành thế thắng trên chiến trường và thế mạnh trên bàn đàm phán của Hội nghị Pa-ri, buộc Mỹ và tay sai phải ký kết Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, tạo điều kiện để quân và dân cả nước tiến lên giành toàn thắng.
Chiến thắng 30/4/1975 đã giành lại độc lập, tự do cho đất nước. Đó là chiến thắng mà cả dân tộc đã phải vượt qua chặng đường hơn 30 năm chiến tranh với biết bao hy sinh, mất mát vô cùng to lớn mới giành được. Chiến thắng này đã hiện thực hóa mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là mục tiêu, con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn từ những năm đầu thế kỷ XX, để từ đó càng vững niềm tin trên con đường đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Đến nay, sau hơn 35 năm đổi mới đất nước với sự tự chủ, sáng tạo trong đường lối lãnh đạo của Đảng, sự đồng lòng của toàn dân, đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững, thực hiện khát vọng hòa bình và phát triển của dân tộc./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CÓ 16,6 TRIỆU TÀI KHOẢN CỦA KHÁCH HÀNG LÀM XÁC THỰC SINH TRẮC HỌC THÀNH CÔNG!

         Phó Thống đốc cho biết ngày 1/7, khi Quyết định 2345 hiệu lực có xuất hiện những ách tắc cục bộ, nhưng sang ngày 2-3/7 việc xác thực sinh trắc học của các ngân hàng đã thông suốt hơn!

Tại Hội thảo “Giải pháp bảo vệ khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng” do Ngân hàng Nhà nước tổ chức sáng ngày 4/7, Phó Thống đốc Phạm Tiến Dũng cho biết tính đến 17 giờ ngày 3/7, có 16,6 triệu tài khoản khách hàng đã được các ngân hàng đối chiếu với dữ liệu sinh trắc học Bộ Công an.

"Con số này có thể nói bằng cả 1 năm ngành ngân hàng mở tài khoản cho khách hàng. Về cơ bản, đa số người có tài khoản có thể xác thực được qua điện thoại có NFC. Số ít có vướng mắc và được các ngân hàng hỗ trợ tại quầy. Hiện có ngân hàng đã làm xong xác thực 2,6 triệu tài khoản khách hàng," Phó Thống đốc chia sẻ.

Ông Dũng cũng cho biết ngày 1/7 khi Quyết định 2345 có hiệu lực đã xuất hiện những ách tắc cục bộ trong việc xác thực sinh trắc học của các ngân hàng, nhưng sang ngày 2-3/7 đã thông suốt hơn. Các vướng mắc khác như ứng dụng chưa thông suốt đang được các ngân hàng xử lý và dự kiến hết tuần này cơ bản xử lý xong. Đa số người làm sinh trắc học thành công, không vướng mắc. Chỉ có khoảng 10% trong số 16,6 triệu tài khoản đã xác thực sinh trắc học là được hỗ trợ tại quầy.

"Ngân hàng Nhà nước cũng đã yêu cầu các ngân hàng nghiêm túc thực hiện chống giả mạo, chống công nghệ deepfake, giả mạo ảnh tĩnh,” ông Dũng nhấn mạnh.

Cũng theo Phó Thống đốc, thời gian qua Ngân hàng Nhà nước và các bộ, ban ngành đã tổ chức nhiều hội thảo về chủ đề này bởi đây là việc vô cùng quan trọng trước tình trạng thủ đoạn lừa đảo trên không gian mạng gia tăng mạnh.

"Có đến hàng chục thủ đoạn lừa đảo và ngày càng tinh vi, gia tăng. Trong số các thủ đoạn trên không gian mạng, có các hành vi lừa đảo trực tiếp đối với các dịch vụ ngân hàng. Chưa kể, dù là thủ đoạn gì thì hầu như cuối cùng đều có liên quan đến về tài khoản ngân hàng," Phó Thống đốc cho biết.

Trước thực trạng này, Phó Thống đốc cho hay ngành ngân hàng đã có nhiều biện pháp, giải pháp để ngăn chặn lừa đảo, trong đó đã truyền thông mạnh mẽ cảnh báo tới khách hàng. Đặc biệt, Quyết định 2345 là giải pháp cụ thể mà ngành ngân hàng triển khai.

Theo đó, Quyết định 2345 giải quyết 2 điểm quan trọng, đó là chấm dứt tình trạng mở tài khoản bằng giấy tờ giả; hai là "xóa bỏ" việc mở tài khoản bằng giấy tờ thật nhưng không phải chính chủ người đó mở. Việc xác thực sinh trắc học theo yêu cầu Quyết định 2345 sẽ xác định đúng tài khoản, đúng người có căn cước công dân được Bộ Công an cấp. "Bản chất của Quyết định 2345 là làm sạch tài khoản, loại bỏ các tài khoản sử dụng giấy tờ giả, loại bỏ tài khoản không chính chủ," ông Dũng khẳng định.

Theo ông Dũng, việc thực hiện xác thực sinh trắc học là cần thiết, thêm 1 lớp bảo vệ nên chắc chắn là an toàn hơn. Trường hợp khách hàng có làm mất giấy tờ, bị kẻ xấu mang đến ngân hàng giả mạo để lừa đảo tiền cũng khó thực hiện vì có sinh trắc học khuôn mặt để xác nhận chính chủ hay không./.
Môi trường ST.

THẾ GIỚI VIỆT NAM: KHAI MẠC NGÀY VĂN HÓA VIỆT NAM TẠI NGA!

     Tối 2/7 tại Thủ đô Moscow diễn ra Lễ khai mạc “Ngày Văn hóa Việt Nam tại Nga năm 2024”. Buổi lễ do Bộ Văn hóa Liên bang Nga, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam và ROSCONCERT - đơn vị chuyên tổ chức các sự kiện văn hóa và nghệ thuật tại Nga, phối hợp tổ chức!

Tham dự Lễ khai mạc có Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Liên bang Nga (Thượng viện Nga) - Andrey Yatskin, Bộ trưởng Bộ Văn hóa Liên bang Nga- Olga Liubimova; Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao Nguyễn Hòa Bình, Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng, Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền Việt Nam tại Nga Đặng Minh Khôi cùng đông đảo đại biểu và nhân dân 2 nước Việt Nam, Liên bang Nga. 

Diễn ra khi 2 nước chuẩn bị kỷ niệm 75 năm thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 2025, “Ngày Văn hóa Việt Nam tại Nga năm 2024” có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát triển hơn nữa mối quan hệ giữa Việt Nam và Nga. Phát biểu tại Lễ khai mạc, Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Liên bang Nga - Andrey Yatskin khẳng định: Quan hệ hợp tác văn hoá-nhân văn bao gồm lĩnh vực điện ảnh, bảo tàng, nghệ thuật xiếc, sân khấu... có vai trò đặc biệt quan trọng trong quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời giữa Việt Nam và Liên bang Nga.

“Ngày nay, chúng ta có thể tự hào khẳng định rằng, tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt Nam-Nga đã được thử thách qua năm tháng đúng như câu tục ngữ của Việt Nam đã nói ‘Lửa thử vàng, gian nan thử sức’. Tôi tin tưởng rằng, ‘Ngày Văn hóa Việt Nam tại Nga năm 2024’, gồm biểu diễn nghệ thuật, triển lãm, giới thiệu trang phục truyền thống áo dài, chiếu phim sẽ giúp công chúng Nga đến gần hơn với nền văn hóa Việt Nam, đóng góp tích cực trong việc mở rộng, tăng cường quan hệ giữa 2 nước”, ông Yatskin nói. 

Tại buổi lễ, Bộ trưởng Bộ Văn hóa Liên bang Nga- Olga Liubimova và Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng đã phát biểu và khẳng định, thời gian qua sự hợp tác trong lĩnh vực văn hoá và du lịch giữa 2 nước có những bước phát triển vượt bậc. Đó là tài sản vô giá của nhân dân hai nước, là sự “đơm hoa kết trái” cho chặng đường dài hai nước đã cùng nhau vun đắp, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách.

Bộ trưởng Nguyễn Văn Hùng nêu rõ: “Lễ khai mạc Ngày văn hoá Việt Nam tại Liên bang Nga năm 2024 là sự kiện mở đầu cho chuỗi các hoạt động biểu diễn nghệ thuật, triển lãm, chiếu phim, chương trình giới thiệu du lịch Việt Nam, hứa hẹn mang tới các bạn Nga hình ảnh về một “Việt Nam an toàn, thân thiện, hiền hòa, mến khách, hội nhập và phát triển”. Ngày văn hoá Việt Nam tại Liên bang Nga năm 2024 là minh chứng sống động về việc củng cố, phát huy mối quan hệ hữu nghị truyền thống, tình cảm đặc biệt giữa Việt Nam - Liên bang Nga đã được Lãnh đạo và nhân dân hai nước qua các thời kỳ xây dựng và dày công vun đắp. Với ý nghĩa đó cao đẹp đó, tôi xin tuyên bố khai mạc Những ngày Văn hóa Việt Nam tại Liên bang Nga năm 2024”. 

Tiếp đó, các đại biểu tham dự Lễ khai mạc đã thưởng thức một chương trình nghệ thuật đặc biệt kết hợp giữa âm nhạc cổ điển, thính phòng Việt Nam – Liên bang Nga; các tiết mục âm nhạc truyền thống, các tiết mục múa của Việt Nam do các nghệ sĩ Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam và Nhà hát Nghệ thuật đương đại Việt Nam trình diễn.

“Những ngày Văn hóa Việt Nam tại Nga năm 2024” diễn ra từ ngày 1-7/7, tại các thành phố lớn của Nga là Moscow, Saint Petersburg và Ulianov - quê hương của Lenin. Trong khuôn khổ chương trình sẽ có “Ngày phim Việt Nam” giới thiệu 5 bộ phim của các đạo diễn Việt Nam đã giành được nhiều giải thưởng quốc gia và quốc tế./.


Yêu nước ST.

 Sửa đổi Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam:

RÚT NGẮN THỜI GIAN THĂNG QUÂN HÀM SĨ QUAN CẤP UÝ LÀ HỢP LÝ, HỢP TÌNH

Toàn quân vừa tiến hành tổng kết thực hiện Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam và phần lớn các ý kiến đều đề nghị cần sửa đổi luật này cho phù hợp với tình hình mới; đồng thời khắc phục một số bất cập phát sinh trong quá trình thi hành luật hiện nay.

Tại Hội nghị tổng kết thực hiện Luật Sĩ quan QĐND Việt Nam do Bộ Quốc phòng tổ chức ngày 10-6 vừa qua, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã khẳng định: Việc sửa đổi một số điều của Luật Sĩ quan hiện hành là cần thiết, nhằm bảo đảm quyền lợi tốt hơn, tác động tích cực đến quá trình thực hiện nhiệm vụ của sĩ quan, góp phần xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, tiến lên hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Theo đó, hội nghị đã thống nhất đề xuất sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Luật Sĩ quan hiện hành và một số văn bản quy phạm pháp luật có liên quan nhằm khắc phục những vướng mắc, bất cập hiện nay, như: Chức vụ của sĩ quan; tuổi phục vụ tại ngũ của sĩ quan; trần quân hàm cấp tướng; rút ngắn thời hạn xét thăng quân hàm cấp úy; chế độ, chính sách đối với sĩ quan; sĩ quan dự bị...

Đây là thông tin được cán bộ, chiến sĩ toàn quân cùng thân nhân, gia đình hết sức quan tâm. Đặc biệt, việc đề xuất rút ngắn thời hạn xét thăng quân hàm sĩ quan cấp úy không chỉ được các đối tượng liên quan trực tiếp đồng tình, mà cử tri và nhân dân cả nước đều thấy rõ sự cần thiết và ủng hộ, bởi những lý do sau:

Một là, theo quy định hiện hành, thời hạn xét thăng quân hàm từ thiếu úy lên trung úy là 2 năm; trung úy lên thượng úy và thượng úy lên đại úy là 3 năm.

Như vậy, trong điều kiện bình thường, sĩ quan phát triển tuần tự từ thiếu úy lên đại úy mất 8 năm và sau ít nhất 13 năm công tác (từ lúc học sĩ quan), ở tuổi ngoài 30 mới có quân hàm đại úy. Thực tế cho thấy, ở độ tuổi này sĩ quan phải làm việc với cường độ rất cao, đại đa số phải trực tại đơn vị và rất ít được về nhà nên cuộc sống gia đình vất vả cả về kinh tế và tinh thần.

Việc rút ngắn thời hạn xét thăng quân hàm sĩ quan cấp úy sẽ tạo động lực cho sĩ quan thêm yên tâm công tác, tích cực phấn đấu, nhất là giúp sĩ quan cấp úy (cùng với người thân) bớt so sánh về điều kiện sống và làm việc, công tác với bạn bè cùng lứa tuổi là cán bộ, công chức viên chức hay làm nghề tự do...

Hai là, thực tế nhiều năm qua, thu nhập của sĩ quan cấp úy thấp so với mặt bằng chung, ngoài lương thì hầu như không có khoản thu nhập nào khác, phụ cấp chức vụ và phụ cấp thâm niên của sĩ quan cấp úy rất ít (nhiều trường hợp là trợ lý, nhân viên không có phụ cấp chức vụ). Việc rút ngắn thời hạn thăng quân hàm cấp úy sẽ giúp các sĩ quan trẻ được tăng lương sớm hơn, cải thiện thu nhập, bớt một phần khó khăn.

Ba là, những năm vừa qua, số thí sinh đăng ký tuyển sinh vào các trường sĩ quan có xu hướng giảm và điều rất đáng báo động là rất ít học sinh giỏi đăng ký học sĩ quan. Nguyên nhân chủ yếu là thu nhập của sĩ quan không cao, trong khi điều kiện công tác và thời gian làm việc gò bó, vất vả, xa gia đình...

Thậm chí, có tình trạng một số học viên sĩ quan và sĩ quan trẻ còn muốn xin chuyển ngành, xuất ngũ. Thực tế này ảnh hưởng rất lớn đến mục tiêu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bởi nhân lực chất lượng cao là nhân tố giữ vai trò quyết định sức mạnh của mọi tổ chức. Nếu rút ngắn thời hạn xét thăng quân hàm cấp úy sẽ góp phần khắc phục được tình trạng này, tạo động lực thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao vào công tác trong Quân đội. 

Ba lý do chính nêu trên đã cho thấy sự cần thiết của việc rút ngắn thời hạn thăng quân hàm sĩ quan cấp úy. Bên cạnh đó, việc rút ngắn thời hạn thăng quân hàm cấp úy còn là cơ sở để sĩ quan có đủ thời gian phát triển đến những bậc quân hàm cao hơn theo quy định của Luật Sĩ quan, bởi thực tế có những sĩ quan giữ chức vụ có trần quân hàm cao nhưng chưa đến hạn xét thăng quân hàm thì đã đến tuổi nghỉ hưu (nhất là với các sĩ quan trước đó bị chậm quân hàm vì giữ chức vụ chưa có trần quân hàm dù đã đến niên hạn).

Cuối cùng, điều rất cần phải nói thêm là thực tế công việc của sĩ quan cấp úy rất vất vả, nhất là với sĩ quan giữ chức trung đội trưởng, trực tiếp quản lý, huấn luyện chiến sĩ. Thời gian làm việc của đội ngũ “đầu binh cuối cán” gần như 24/24 giờ và kéo dài quanh năm, trừ ít ngày nghỉ phép; không chỉ trực tiếp làm công tác quản lý, chỉ huy bộ đội, mà còn phải trực tiếp huấn luyện đơn vị rất nhiều nội dung (không có chế độ phụ cấp “đứng lớp” như đối với giáo viên)... Vì thế, chủ trương rút ngắn thời hạn thăng quân hàm sĩ quan cấp úy không chỉ hợp lý mà còn rất hợp tình, thể hiện sự quan tâm chăm lo cho cán bộ cơ sở, là yếu tố động viên sĩ quan trẻ nỗ lực phấn đấu, cống hiến.

HUY QUANG

 GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT, GIỮ NGHIÊM KỶ LUẬT QUÂN ĐỘI LÀ THIẾT THỰC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN 

XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Để pháp luật thực sự đi vào cuộc sống, trở thành nền nếp, thói quen trong mọi hành vi, hoạt động của mỗi công dân và các tổ chức trong xã hội, cần phải thường xuyên quan tâm chăm lo nâng cao dân trí, bồi dưỡng ý thức pháp luật nhằm không ngừng nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật cho nhân dân. Đây không chỉ là trách nhiệm của riêng các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, mà còn là trách nhiệm của mọi cấp, mọi ngành, mọi tổ chức xã hội và của mỗi người dân. Đảng ta đã xác định: “Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật”. Quân đội nhân dân Việt Nam là công cụ bạo lực sắc bén của Nhà nước càng phải tăng cường giáo dục ý thức pháp luật, giữ nghiêm kỷ luật quân đội nhằm góp phần bảo vệ và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thực tế những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các cấp đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và coi trọng bồi dưỡng ý thức pháp luật, giữ nghiêm kỷ luật như một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm xây dựng quân đội của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Hiện nay, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong điều kiện có nhiều tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, thì việc tăng cường bồi dưỡng ý thức pháp luật, giữ nghiêm kỷ luật càng trở nên cấp thiết nhằm làm cho cán bộ, chiến sĩ hiểu và chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội. Bồi dưỡng ý thức pháp luật là khâu rất quan trọng để đưa pháp luật thực sự đi vào đời sống xã hội trong lĩnh vực hoạt động quân sự. Thông qua bồi dưỡng ý thức pháp luật làm cho mọi người có trình độ văn hóa pháp lý cần thiết, trên cơ sở đó xác định đúng trách nhiệm, nghĩa vụ và tự giác chấp hành pháp luật Nhà nước, điều lệnh, điều lệ quân đội; tham gia tích cực vào việc đấu tranh chống mọi biểu hiện vi phạm pháp luật, tạo sự thống nhất về ý chí và hành động.

Quán triệt và cụ thể hóa các chương trình của Chính phủ và Bộ Quốc phòng, các đơn vị trong toàn quân đã triển khai nghiêm túc, đầy đủ nội dung quy định; hoàn thành việc phổ cập những kiến thức cơ bản về pháp luật và phổ biến kịp thời các nội dung pháp luật có liên quan tới mọi quân nhân như: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi), Bộ Luật tố tụng hình sự, Bộ Luật dân sự, Bộ Luật hôn nhân và gia đình; đồng thời, trang bị những kiến thức pháp luật trực tiếp liên quan đến chức năng nhiệm vụ đơn vị, nghĩa vụ và quyền lợi của công dân như: Luật Nghĩa vụ quân sự (sửa đổi), Luật Sĩ quan, Bộ Luật lao động, Luật Công đoàn, Pháp lệnh dân quân, tự vệ… Nội dung quan trọng trong các bộ luật có liên quan trực tiếp đến đời sống của cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị đã được cấp ủy, chỉ huy các cấp vận dụng trong sinh hoạt, học tập và công tác như Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Giao thông đường bộ, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và biện pháp phòng ngừa trong quân đội.

Bồi dưỡng ý thức pháp luật, giữ nghiêm kỷ luật được thực hiện dưới nhiều hình thức như tuyên truyền thông qua đài truyền thanh nội bộ, qua chế độ thông báo chính trị, nói chuyện thời sự, các hoạt động “sân khấu hóa”, diễn đàn thanh niên, văn hóa văn nghệ, tọa đàm khoa học… nhằm thực hiện lý luận gắn liền với thực tiễn, học đi đôi với hành. Thông qua các hoạt động tích cực nêu trên, công tác bồi dưỡng ý thức pháp luật đã thu được những kết quả nhất định. Tình hình chấp hành pháp luật, kỷ luật quân đội có nhiều chuyển biến tiến bộ do trình độ nhận thức pháp luật, ý thức chấp hành kỷ luật của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ được nâng cao. Tuy nhiên, việc bồi dưỡng ý thức pháp luật, giữ nghiêm kỷ luật trong mấy năm qua vẫn chưa ngang tầm với yêu cầu thực hiện quản lý quân đội bằng pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ của quân đội.

Trong những năm tới, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục triển khai quán triệt thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09-11-2022 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW), trong đó xác định rõ mục tiêu “đến năm 2030, thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trở thành chuẩn mực ứng xử của mọi chủ thể trong xã hội”. Đồng thời, đề ra một trong những nhiệm vụ và giải pháp quan trọng là: “Ðẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về Hiến pháp và pháp luật, về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và yêu cầu, nhiệm vụ tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”; “tiếp tục đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Xây dựng mạng lưới, nâng cao năng lực của hệ thống dịch vụ pháp lý, trợ giúp pháp lý và hỗ trợ pháp lý để người dân và doanh nghiệp dễ tiếp cận pháp luật”; “đổi mới cơ chế thi hành pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng pháp luật với thực hiện pháp luật, bảo đảm pháp luật được thực hiện công bằng, nghiêm minh, nhất quán, kịp thời, hiệu lực, hiệu quả”. Để triển khai kịp thời hiệu quả các chủ trương, đường lối được đề ra tại Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Quốc phòng đã có những chỉ thị cần thiết để triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong quân đội. Các văn bản đó sẽ là cơ sở định hướng quan trọng trong việc tăng cường bồi dưỡng ý thức pháp luật, giữ nghiêm kỷ luật quân đội. Là nội dung quan trọng của công tác giáo dục, huấn luyện, bồi dưỡng ý thức pháp luật nhằm làm cho mọi người có trình độ giác ngộ cao về chính trị, tuyệt đối trung thành, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; có đạo đức, lối sống trong sáng, ý thức kỷ luật nghiêm. Với ý nghĩa đó, quân đội phải tăng cường bồi dưỡng ý thức pháp luật cho tất cả các đối tượng. Trong thời gian tới, cần tập trung làm tốt một số vấn đề cơ bản sau:

Một là, tích cực đổi mới nội dung bồi dưỡng ý thức pháp luật cho phù hợp với từng đơn vị, từng đối tượng trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể.

Ý thức pháp luật được cấu thành bởi các yếu tố: tri thức, tình cảm, niềm tin, do vậy nội dung bồi dưỡng phải đáp ứng yêu cầu hình thành và phát triển các yếu tố cấu thành, đặc biệt coi trọng trang bị và nâng cao tri thức pháp luật, khơi dậy sự giác ngộ và tình cảm tốt đẹp của quân nhân đối với pháp luật. Trong quá trình thực hiện, phải luôn bám sát vào nội dung các văn bản, chỉ thị và hướng dẫn của cơ quan cấp trên về pháp luật, giữ nghiêm kỷ luật quân đội; căn cứ vào đặc điểm, tình hình, yêu cầu, nhiệm vụ đơn vị để xác định nội dung bồi dưỡng cho phù hợp. Cần chú trọng đến các nội dung có liên quan đến quốc phòng, an ninh, hoạt động quân sự; các văn bản liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ công dân nói chung và quân nhân nói riêng. Đối với cán bộ, đảng viên, cần thực hiện nghiêm quy định những điều điều đảng viên không được làm; những quy định cụ thể về trình tự, thủ tục xử lý vi phạm kỷ luật và những vấn đề quan trọng, bức xúc mới nảy sinh trong thực tiễn mà đơn vị đang tập trung tháo gỡ như: quy định về cấm quân nhân uống bia, rượu trong giờ hành chính, cấm say trong mọi lúc mọi nơi, cấm căng tin trong đơn vị bán bia, rượu; bắt buộc mọi quân nhân đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy tham gia giao thông đường bộ… Đây là những nội dung quan trọng trong bồi dưỡng ý thức pháp luật, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong đơn vị quân đội. Nội dung này không chỉ giúp quân nhân chấp hành nghiêm pháp luật, hạn chế tội phạm xảy ra, mà còn thiết thực chấp hành pháp luật của Nhà nước, kỷ luật quân đội và góp phần xây dựng Nhà nước vững mạnh toàn diện, quản lý xã hội bằng pháp luật.

Hai là, kết hợp nhiều hình thức, phương pháp bồi dưỡng ý thức pháp luật cho phù hợp để quân nhân dễ tiếp thu, dễ nhớ, dễ vận dụng.

Các văn bản quy phạm pháp luật thường có nhiều thuật ngữ khó, nội dung nhiều và không dễ tiếp thu, trong khi đó thời gian dành cho bồi dưỡng ý thức pháp luật là có giới hạn. Do vậy, thường xuyên kết hợp nhiều hình thức, phương pháp bồi dưỡng cho phù hợp, tạo ra nhiều “kênh” thông tin về pháp luật cho quân nhân là rất cần thiết. Ngoài việc bồi dưỡng pháp luật theo chương trình, kế hoạch hàng năm của cơ quan chính trị, còn cần phải thường xuyên lồng ghép bồi dưỡng ý thức pháp luật với các hình thức hoạt động công tác đảng, công tác chính trị ở đơn vị; tăng cường tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biến về pháp luật; giữ nghiêm kỷ luật trong các ngày nghỉ cuối tuần, hoạt động dã ngoại và hoạt động ngoại khóa; tổ chức các hoạt động thi đua đột kích trong các tháng cao điểm về chấp hành pháp luật, giữ nghiêm kỷ luật theo từng chủ đề một cách sinh động; ngoài ra, phải thường xuyên tổ chức cho cán bộ, chiến sĩ đọc báo, nghe đài, xem tivi về các chuyên mục tìm hiểu, giải đáp pháp luật…

Ba là, cấp ủy, chỉ huy các đơn vị thường xuyên kiểm tra, đôn đốc và uốn nắn kịp thời những sai phạm của các đối tượng thuộc quyền.

Trong lãnh đạo, chỉ huy đơn vị, cần đưa các nội dung giáo dục pháp luật thành chế độ nền nếp hoạt động của đơn vị; coi kết quả bồi dưỡng ý thức pháp luật là một trong những tiêu chuẩn đánh giá cán bộ, đảng viên, đoàn viên hằng năm. Mỗi cán bộ, đảng viên dù ở cương vị nào cũng phải thực sự là tấm gương sáng về ý thức chấp hành pháp luật, giữ nghiêm kỷ luật để chiến sĩ học tập, làm theo. Đó là những việc làm thiết thực góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân trong quân đội ta hiện nay./. 

MIỀN TRUNG

 “NÓI MIỆNG, AI CŨNG NÓI ĐƯỢC. TA CẦN PHẢI THỰC HÀNH”


Trong Bài nói chuyện tại Trường Cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh, Bác Hồ đã chỉ rõ: “… Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành. Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm.

Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân”. Bài nói được đăng trên Báo Cứu quốc, số 136 (06/01/1946), cách đây hơn 74 năm, trong bối cảnh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vừa mới ra đời, đang đối mặt với muôn vàn khó khăn, thách thức lớn, đặt ra yêu cầu đối với Đảng ta phải củng cố, xây dựng, phát huy cao độ vai trò các tổ chức, các lực lượng, nhất là vai trò gương mẫu, đi đầu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kháng chiến, kiến quốc.

Lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉnh huấn, yêu cầu cán bộ, chiến sĩ trong các trường quân sự của Đảng, Nhà nước phải gương mẫu đi đầu trong hành động, tích cực tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, gắn bó giúp nhân dân, chống mọi biểu hiện: Nói nhiều, nói suông; nói không đi đôi với làm, đoàn kết chiến đấu chống “thù trong, giặc ngoài”, bảo vệ thành quả cách mạng. Thấm nhuần lời dạy của Người, ngay từ đầu năm 1946, Trường Cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh và các trường quân sự đã được lãnh đạo, chỉ huy trong các nhà trường quân đội quán triệt sâu sắc, chuyển hóa thành kế hoạch hành động cách mạng, thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục-đào tạo cán bộ quân sự đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của cách mạng.

Hiện tại, lời năm xưa của Chủ tịch Hồ Chí Minh được các nhà trường quân đội nghiên cứu học tập, vận dụng sáng tạo vào giáo dục-đào tạo, với phương châm gắn nhà trường với đơn vị; lý luận với thực hành, lấy thực hành làm chính; nêu cao vai trò gương mẫu của đội ngũ giảng viên, quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ sĩ quan quân đội vừa "hồng", vừa "chuyên", đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới.


QĐND

Nghệ thuật sử dụng tam thập lục kế trong chiến tranh của ông cha ta

 

 

Tam thập lục kế hay Tam thập lục sách là cuốn sách ghi lại 36 kế sách nổi tiếng của Trung Quốc. Hiện chưa rõ ai là tác giả chính thức của cuốn sách. Có ý kiến cho rằng Tam thập lục kế do Tôn Tử thời Xuân Thu chấp bút, cũng có ý kiến cho đó là trước tác của Gia Cát Vũ Hầu thời Tam Quốc. Tuy nhiên các ý kiến trên đều chưa có cơ sở khoa học vững chắc. Hiện nay, quan điểm phổ biến nhất cho rằng Tam thập lục kế được biên soạn bởi nhiều tác giả khác nhau trong suốt lịch sử Trung Quốc. Hiện không rõ Tam thập lục kế được truyền sang nước ta vào giai đoạn nào nhưng chắc chắn rằng trong quá trình dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã tiếp thu những tinh hoa của cuốn sách này, sáng tạo và vận dụng theo cách của riêng mình. Bài viết dưới đây xin điểm qua một số kế “điển hình” trong cuốn sách trên mà các nhà quân sự nước ta sử dụng đã được sử sách ghi lại.

1. Kim thiền thoát xác

Kim thiền thoát xác nghĩa là con ve sầu vàng lột xác. Kế này dùng cho lúc nguy cấp, nguy hiểm đến tính mạng. Người thực hiện kế này ngụy trang thành một người khác để đánh lừa đối phương nhằm chạy trốn, chờ cơ hội khác “báo thù rửa hận”. Theo các sách như Đại Việt thông sử, Lam Sơn thực lục… vào giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa, nghĩa quân Lam Sơn do lực lượng mỏng, không tinh nhuệ, lương thảo thiếu thốn nên thường xuyên thua trận. Trong một lần bị quân Minh vây đánh, tình thế hết sức nguy cấp, Lê Lợi đã hỏi các tướng lĩnh theo mình ai chịu thực hiện kế kim thiền thoát xác để cứu chúa. Lê Lai đã đứng ra nhận thực hiện kế này. Ông mặc áo bào của Lê Lợi, dẫn quân xông ra mở đường máu, thu hút sự chú ý của quân Minh tạo điều kiện cho Lê Lợi thoát thân. Sự hi sinh anh dũng của Lê Lai là một trong những nhân tố then chốt giúp nghĩa quân Lam Sơn không bị tan rã, sau đó phát triển lớn mạnh đánh tan quân Minh xâm lược giải phóng đất nước khỏi ách nô lệ. Có thể nói đây là kế “kim thiền thoát xác” thành công nhất trong lịch sử quân sự nước nhà, là nền tảng dựng nên một triều đại mới.

2. Mĩ nhân kế

Mĩ nhân kế là cách dùng gái đẹp để làm xoay chuyển, thay đổi tình thế mà những phương thức khác không thể thực hiện được. “Anh hùng nan quá mĩ nhân quan”, trong lịch sử quân sự thế giới, đây là một trong những kế sách cổ xưa nhất và cũng hiệu quả nhất từ trước đến nay. Phù Sai mất nước vào tay Câu Tiễn một phần là do Tây Thi, Đổng Trác chết thảm bởi nhan sắc chim sa cá lặn của Điêu Thuyền. Cha ông ta trong quá trình dựng nước và giữ nước ở những tình thế nhất định cũng sử dụng kế sách này. Khi vó ngựa quân Nguyên Mông ồ ạt như bão lũ tràn xuống xâm lược, để làm chậm bước tiến quân của địch, tạo cho đại quân có thêm thời gian tổ chức lực lượng, chuẩn bị chiến đấu vua Trần Thánh Tông đã phải gả em gái út của mình là công chúa An Tư cho Thoát Hoan. Kế hoạch đã thành công mĩ mãn. Tốc độ tiến quân của quân Nguyên Mông chậm lại. Sau này dưới tài thao lược “dụng binh như thần” của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và tinh thần chiến đấu quả cảm anh dũng vô song của đội quân “Sát Thát”, nhà Trần đã đánh tan quân Nguyên Mông xâm lược, một lần nữa giải nguy cho đất nước khỏi vó ngựa Mông Cổ. Trong một tình huống khác, mặc dù không bị quân giặc xâm lược nhưng nhằm tạo thế bang giao, thu phục nhân tâm của người Chiêm, vua Trần Anh Tông đã gả Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm Thành là Chế Mân. Cuộc hôn nhân này đã giúp Đại Việt không những ổn định mà cỏn mở rộng bờ cõi ra phía Nam nhờ của hồi môn của công chúa Huyền Trân là hai châu Ô, Lý vua Chiêm trao tặng.

3. Tiên phát chế nhân

Tiên phát chế nhân là kế ra tay trước để giành chiếm ưu thế, đoạt lợi, giành lấy chiến thắng. Nhà quân sự đầu tiên và có lẽ cũng là duy nhất đến thời điểm này sử dụng kế tiên phát chế nhân ở nước ta là danh tướng Lý Thường Kiệt. Sau thất bại ở lần xâm lược thứ nhất, nhà Tống vẫn nuôi mộng xâm lăng Đại Việt. Vua quan nhà Tống đã huy động hàng chục vạn quân, xây dựng các căn cứ quân sự, hậu cần giáp biên giới để tập kết lực lượng, tích trữ lương thảo, phục vụ trực tiếp cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt. Trước mưu đồ xâm lược ngày càng lộ rõ của nhà Tống, Lý Thường Kiệt đã chủ động đề xuất với triều đình nhà Lý đem quân đi đánh phủ đầu, đập tan ý đồ xâm lược của quân địch. Vậy là lần đầu tiên trong lịch sử quân sự nước nhà, quân đội nhà Lý đã Bắc phạt, chủ động công kích một quân đội mạnh hơn nhiều lần. Ông dẫn 10 vạn quân tinh nhuệ, bất ngờ mở cuộc tiến công sang phía Nam đất Tống, nhanh chóng tiêu diệt các đồn, trại của giặc, triệt phá các căn cứ quân sự, hậu cần quan trọng ở dọc biên giới từ cửa biển Khâm Châu, Liêm Châu cho tới thành Ung Châu, buộc nhà Tống một lần nữa phải từ bỏ tham vọng xâm chiếm nước ta. Những chiến thắng vang dội của quân đội nhà Lý đã chứng minh việc sử dụng kế tiên phát chế nhân của Lý Thường Kiệt là hoàn toàn đúng đắn, thích hợp và sáng tạo trong hoàn cảnh bấy giờ.

4. Khổ nhục kế

Người thực thi kế này phải tự hoặc để người khác hành hạ bản thân mình nhằm tiếp cận, chiếm vào lòng tin của kẻ địch để hoàn thành một âm mưu nào đó. Người thực thi kế khổ nhục dài nhất và cũng thành công nhất ở nước ta là Nguyễn Trãi, danh nhân văn hóa thế giới, nhà chính trị - quân sự kiệt xuất, “kiến trúc sư” trưởng của chiến thắng Lam Sơn. Sau khi nhà Hồ thua trận, đất nước bị nhà Minh thôn tính, nhân dân lầm lạc. Biết Nguyễn Trãi là người có tài, các tướng nhà Minh là Trương Phụ, Hoàng Phúc đã dụ ông ra làm việc cho chúng. Nguyễn Trãi không chịu, ông dùng khổ nhục kế, chấp nhận bị giam lỏng ở thành Đông Quan. Suốt mười năm trời sống trong cảnh “nhà một gian/ no nước uống/ thiếu cơm ăn”, Nguyễn Trãi đã hoàn thành Bình Ngô sách và chiếm được lòng tin của Hoàng Phúc. Sau đó, vào thời cơ thích hợp, lợi dụng lòng tin của viên tướng giặc này, Nguyễn Trãi đã bỏ trốn khỏi Đông Quan, tìm gặp Lê Lợi, mở ra một chương mới cho nghĩa quân Lam Sơn

5. Dĩ dật đãi lao

Dĩ dật đãi lao có nghĩa là “lấy gần đợi xa, lấy nhàn đợi mệt”, đợi quân địch mỏi mệt, nhuệ khí chiến đấu giảm sút rồi mới thừa cơ xuất kích để giành lấy thắng lợi. Kế dĩ dật đãi lao được nghĩa quân Lam Sơn áp dụng trong trận Chi Lăng - Xương Giang nổi tiếng. Khi hay tin Liễu Thăng, Mộc Thanh đem mười mấy vạn quân chia hai ngả ứng cứu Vương Thông, Lê Lợi đã bàn với các tướng lĩnh nên dùng kế dĩ dật đãi lao để hạ địch. Theo kế này, nghĩa quân Lam Sơn đã đón lõng Liễu Thăng ở biên ải. Và kết thúc của viên tướng nhà Minh đã xảy ra như những lời miêu tả trong Bình Ngô Đại Cáo “Ngày mười tháng tám, trận Chi Lăng Liễu Thăng thất thế/ Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu”.

6. Phủ để trừu tân

Phủ để trừu tân có nghĩa là rút lửa đáy nồi. Kế này dùng trong quân sự là nhắm vào hậu cần, quân lương, tiếp tế của địch khiến địch thiếu thốn buộc phải chấp nhận thất bại. Nhà Trần đã sử dụng kế này, đập tan tham vọng “báo thù, rửa hận” biến Đại Việt thành nô lệ của quân Nguyên Mông trong lần thứ ba xâm lược. Ở lần tấn công này, quân Nguyên đã lập thêm đạo thủy quân do Ô Mã Nhi thống lĩnh vừa nhằm tiến đánh theo đường thủy, vừa bảo vệ đoàn thuyền lương do tướng Trương Văn Hổ chỉ huy đi sau. Sở dĩ quân Nguyên vận lương bằng thủy quân là nhằm giải quyết tình trạng thiếu lương - một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại của chúng trong hai lần xâm lược trước - khi phương án vận chuyển bằng đường bộ cho đạo quân lên tới 50 vạn đi vào nơi “xa xôi, hiểm trở” như Đại Việt là không “an toàn” và không đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên vua quan, tướng lĩnh nhà Trần đã sớm đoán và đập tan âm mưu chuyển lương bằng thủy quân của quân Nguyên. Sau thất bại không chặn được bước tiến của Ô Mã Nhi, tướng Trần Khánh Dư đã lập công chuộc tội bằng chiến thắng oanh liệt ở trận Vân Đồn. Ở trận này, đoàn thuyền lương của tướng Trương Văn Hổ đã rơi vào bẫy do Trần Khánh Dư giăng sẵn trên cửa ải Vân Đồn. Kết quả toàn bộ thuyền lương của nhà Nguyên đã bị thủy quân nhà Trần đốt phá, cướp sạch. Chiến thắng Vân Đồn là chiến thắng bản lề, then chốt, mang tính chất “thay đổi cuộc chơi” giữa quân đội nhà Trần và quân Nguyên Mông. Mất lương thực, lại thêm nỗi ám ảnh về hai thất bại trước, quân Nguyên rệu rã tinh thần, rút lui nhanh chóng.

7. Điệu hổ li sơn

Điệu hổ li sơn là kế dụ, nhử địch ra khỏi nơi ẩn nấp, an toàn để dễ bề tấn công, tiêu diệt. Đây là kế người anh hùng Nguyễn Huệ áp dụng trong trận thủy chiến kinh điển Rạch Gầm - Xoài Mút với quân Xiêm. Được Nguyễn Ánh cầu viện, năm 1784 quân Xiêm ồ ạt đổ bộ vào nước ta, đánh đâu thắng đấy, tình thế Đằng Trong rất nguy ngập. Nguyễn Nhạc cử Nguyễn Huệ vào Nam dẹp loạn Xiêm. Sau khi nghiên cứu kĩ địa hình, tương quan lực lượng giữa hai bên, Nguyễn Huệ biết khó có thể đánh thắng quân Xiêm ở đại bản doanh của chúng nên đã dùng kế điệu hổ li sơn, khiêu khích, dẫn dụ quân Xiêm đến khúc sông Mỹ Tho từ Rạch Gầm đến Xoài Mút để tiêu diệt. Trúng kế của Nguyễn Huệ, quân Xiêm hùng hổ tiến vào hiểm địa và ở khúc sông này quân Tây Sơn đã phô diễn sức mạnh hủy diệt của mình đánh cho quân Xiêm khiếp đảm, táng hồn không dám “ho he” giúp đỡ Nguyễn Ánh thêm một lần nào nữa.

Tam thập lục kế, binh pháp, trận đồ… xét đến cùng là những kinh nghiệm chiến trận được đúc rút thực tiễn. Kế sách là “chết”, là cái tĩnh tại, bất động trong sách vở. Điều quan trọng là cách vận dụng các kế sách trên chiến địa để đạt được thắng lợi cuối cùng. Qua những trận chiến ở trên, có thể thấy cha ông ta ngày trước đã rất linh hoạt, sáng tạo như thế nào trong dụng kế, tính mưu, điều binh, khiển tướng để bảo vệ cơ nghiệp của tổ tông, bảo vệ đất nước trước những đạo quân xâm lược hùng mạnh gấp nhiều lần. Những chiến thắng ấy, những cách thức vận dụng các mưu kế ấy mãi là bài học quý giá trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc hôm nay./.

 

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẢNG TA LÀ ĐẠO ĐỨC!

     Đạo đức, theo ý nghĩa thông dụng là tập hợp những quan điểm, tư tưởng, tình cảm thể hiện ra ở hành vi của một giai cấp, tầng lớp, của một người, một tổ chức xã hội hay nghề nghiệp nhất định (đảng chính trị, cơ quan nhà nước, hội, đoàn...) đối với thế giới tự nhiên, xã hội, con người!

Có thể hiểu Đạo là quy luật xảy ra xung quanh ta, không phụ thuộc vào ý muốn của cá nhân; nó là những nhân tố khách quan quy định các mối quan hệ của con người với gia đình (cha mẹ, anh em, chồng vợ, con cháu...); với học đường (thày trò, bè bạn...); với xã hội (công dân với nhà nước, đảng viên với Đảng, với đồng chí, đồng bào, đồng loại, với quốc gia, quốc tế) và con người với giới tự nhiên (môi trường, môi sinh, tài nguyên...).

Đức là sự hiểu đạo, là sự nắm vững và vận dụng quy luật, là cái chủ quan của con người khi ứng xử với thế giới khách quan. Đức thể hiện trình độ nhận thức, trước tiên là ở lời nói, ở thái độ, nhưng cuối cùng là ở hành động. Trình độ cao thì Đức dầy (đạo cao, đức trọng). Đức đi liền với hạnh (hành). Đức hạnh chính là năng lực, là hành động của con người, của tổ chức trước thế giới khách quan.

Mỗi một hình thái kinh tế-xã hội hình thành trên đó những kiểu đạo đức đặc thù của nó và cùng trong một xã hội, mỗi giai cấp, tầng lớp... xuất phát từ lợi ích của nó lại có một quan niệm khác nhau về đạo đức. Những giai cấp đứng ở vị trí trung tâm của thời đại, tiêu biểu cho xu hướng phát triển tiến lên của nhân loại thường có nhận thức và hành vi đạo đức tiến bộ, có sức cảm hoá và chi phối chung đối với đạo đức xã hội đương thời. Đó chính là một thứ đạo đức mới, đạo đức của một giai cấp đại diện cho sức phát triển tiên tiến và đang có sứ mệnh dẫn đầu cuộc cải biến cách mạng và kiến tạo xã hội mới-xã hội không có người bóc lột người.

Đạo đức của Đảng Cộng sản Việt Nam là đạo đức của giai cấp công nhân kết hợp nhuần nhuyễn với tinh hoa đạo đức truyền thống lâu đời của dân tộc Việt Nam, nó là sự thể hiện bản chất, tư cách, sứ mệnh cao cả và bổn phận của Đảng đối với nhân dân, Tổ quốc. Hồ Chí Minh đã khẳng định: Đảng ta là một đảng chân chính cách mạng “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”(1). Người còn nói: Đảng cũng ở trong xã hội mà ra và Đảng là do mỗi một đảng viên, do nhiều đảng viên kết lại mà thành. Vì vậy, mỗi một đảng viên trước hết phải là một công dân có đạo đức (đạo đức làm người, đạo đức công dân) đồng thời phải thấm nhuần đạo đức cách mạng bởi theo logic của sự phát triển thì người ta ai cũng vậy, trước tiên là phải biết làm việc, có biết làm việc thì mới biết làm người và có biết làm một người chân chính thì mới biết làm một đảng viên, cán bộ tốt, tức là biết làm một chiến sĩ cách mạng, một đảng viên của một Đảng chân chính cách mạng.

Về đạo đức công dân, Hồ Chí Minh nói ngắn gọn: “Nhân dân có quyền lợi làm chủ thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân, giữ đúng đạo đức công dân”(2). Khái niệm bổn phận có quan hệ chặt chẽ với khái niệm thân phận. Con người biết rõ được thân phận (cái tôi) của mình nhờ có sự phát triển về sinh lý, tâm lý và quan hệ xã hội. Cái tôi chỉ xuất hiện trong quan hệ với người khác, với cộng đồng (gia đình, dòng tộc, dân tộc, quốc gia...). Khi người ta tự ý thức được mình là ai, là thế nào và phải làm gì trong quan hệ ấy tức là lúc nó ý thức được bổn phận của mình. Ở đây Hồ Chí Minh muốn mỗi người Việt Nam, sau khi đã có chính quyền thì phải hiểu rằng thân phận của mình đã thay đổi từ là người nô lệ, mất nước trở thành người làm chủ đất nước nên phải có thái độ đúng trong quan hệ với Nhà nước của chính mình tức là ý thức về cái tôi - công dân, của một nước Việt Nam mới, một nước dân chủ cộng hoà. Mỗi công dân đều được hưởng quyền lợi của mình thì đồng thời cũng phải có nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ lợi ích chung của xã hội. Đó là đạo đức công dân. Khái niệm bổn phận ở đây là để nhấn mạnh đến khía cạnh nghĩa vụ như là sự tất yếu của “cái tôi”, của đạo đức làm người, đạo đức công dân - một tất yếu của người làm chủ nước nhà.

Đạo đức công dân, theo Hồ Chí Minh, bao gồm:
    - Tuân theo pháp luật Nhà nước.
    - Tuân theo kỷ luật lao động.
    - Giữ gìn trật tự chung.
    - Đóng góp (nộp thuế) đúng kỳ, đúng số lượng để xây dựng lợi ích chung.
    - Hăng hái tham gia công việc chung.
    - Bảo vệ tài sản công cộng.
    - Bảo vệ Tổ quốc (3).

Mỗi đảng viên trước hết phải là người có đạo đức công dân, gương mẫu làm tròn bổn phận công dân, “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”.

Đạo đức của Đảng Cộng sản Việt Nam là đạo đức cách mạng.

Đạo đức cách mạng là hệ thống các mối quan hệ cơ bản và nội dung của các mối quan hệ đó mà người đảng viên phải nhận thức và rèn luyện để ứng xử với bản thân, với tổ chức, với nhà nước, với nhân dân và với đồng chí, đồng bào. Tất cả mọi cán bộ, đảng viên dù làm công tác đảng hay công tác chính quyền, dù ở bất cứ cương vị nào đều do yêu cầu của cách mạng mà tổ chức phân công. Theo Hồ Chí Minh, dù là chủ tịch nước, uỷ viên các cấp bộ Đảng hay bộ trưởng cho đến nhân viên lái xe, quét rác... tất cả đều phải rèn luyện đạo đức cách mạng, đều phải toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân.

Hồ Chí Minh không bàn về đạo đức một cách hàn lâm như các nhà đạo đức học. Những phạm trù đạo đức cách mạng mà Người sử dụng đều chứa đựng một nội dung cách mạng và khoa học trên cơ sở những giá trị truyền thống, đồng thời tiếp thu, phát triển những giá trị đạo đức cao đẹp của nhân loại. Với ý thức thực hiện một cuộc cách mạng trên lĩnh vực đạo đức, tự mình nêu gương và đòi hỏi những ai đứng trong hàng ngũ cách mạng đều phải lấy đạo đức làm gốc, Hồ Chí Minh đã xây dựng một hệ thống quan điểm đạo đức mới mà Người gọi là đạo đức cách mạng. Có thể khẳng định rằng, toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển một ngành đạo đức mới - đạo đức cách mạng Việt Nam - mà Người vừa là tác giả sáng tạo lý thuyết, vừa là nhà thực hành mẫu mực. Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, đồng thời Người là biểu tượng cao đẹp nhất về đạo đức của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Về phạm trù “đạo đức”, Hồ Chí Minh đã rất chú trọng xác định nội hàm phổ biến của nó thể hiện ở cách dùng các từ có nghĩa tương đồng với nhau để diễn đạt sao cho dung dị, dễ hiểu, gắn liền với từng đối tượng cụ thể. Lúc đầu Người dùng khái niệm “tư cách”. Năm 1925, khi viết cuốn “Đường kách mệnh” (xuất bản năm1927), cuốn sách mở lòng cho các cán bộ lớp đầu tiên của Đảng, Người dành hẳn một chương viết về “Tư cách một người cách mệnh”. Đến năm 1947, khi viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Người dùng cả hai khái niệm "Tư cách" và ‘"Đạo đức” với nội dung cơ bản giống nhau. Có khi Người lại nói “đạo đức cách mạng” là những” tính tốt” bao gồm: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư hoặc nhân, nghĩa, trí dũng, liêm... Khi khuyên dạy các đối tượng như du kích, bộ đội, công an... Người thường dùng khái niệm tư cách như “tư cách đội viên du kích”, “tư cách người công an cách mạng”. Lại có khi Người dùng khái niệm “nhân cách” cũng với ý nghĩa như “tư cách” hoặc “đạo đức”. Ví dụ “Muốn giữ vững nhân cách, tránh khỏi hủ hoá thì phải luôn luôn thực hành bốn chữ…: cần kiệm, liêm chính”(4). Đến tháng 12-1958, Người cho in một chuyên luận trên Tạp chí Học tập (bút danh: Trần Lực) với tựa đề: “Đạo đức cách mạng”. Có thể nói, ở tác phẩm này, Hồ Chí Minh đã nêu ra một cách đầy đủ, hoàn chỉnh, chính xác nhất về quan điểm đạo đức cách mạng.

Hồ Chí Minh đã chỉ rõ vai trò, ý nghĩa và biểu hiện của đạo đức cách mạng
- “Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước”(5).

 - “Có đạo đức cách mạng thì gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hoá. Đó cũng là những biểu hiện của đạo đức cách mạng”(6).

Về hệ thống các phạm trù đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh không chú trọng lập ngôn, hầu như Người dùng lại tất cả những khái niệm, phạm trù đã có trong học thuyết Đức trị của Nho giáo như: trung, hiếu, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, nhân, nghĩa, tín, trí, dũng... Nhưng cái đặc sắc của Hồ Chí Minh là ở chỗ không những Người biết tiếp thu một cách chọn lọc những tinh hoa văn hoá, đạo đức Nho giáo mà Người còn loại bỏ những nội dung hẹp hòi, lỗi thời và đưa vào những phạm trù nói trên các nội dung hoàn toàn mới, phù hợp với thời đại mới. Có thể thấy rõ Hồ Chí Minh đã làm một cuộc cách mạng về đạo đức, Người đã biến đổi, phát triển, thay thế tư tưởng đạo đức Nho giáo truyền thống thành đạo đức cách mạng.

Trong hệ thống các phạm trù đạo đức cách mạng thì phạm trù xuất phát là Trung thành. Xưa là trung với vua, trung thành nhiều khi mù quáng. Một thứ ngu trung mang nặng ý thức hệ phong kiến, coi sơn hà, xã tắc là của vua nên trung quân được coi là ái quốc. Với Hồ Chí Minh thì lòng trung thành tuyệt đối là trung với nước, với Tổ quốc và nhân dân. Lòng trung thành với Đảng cũng chính bởi Đảng đặt lợi ích của nhân dân, Tổ quốc lên trên hết, trung thành với Đảng là bởi vì Đảng trung thành với nhân dân. Trung thành đi kèm với xây dựng, bảo vệ chính quyền nhân dân, lấy nhân dân làm mục tiêu quyết định, chi phối mọi hành động. Lòng trung thành được thử thách rõ ràng nhất khi Tổ quốc bị xâm lăng thì dám hy sinh chiến đấu đánh đuổi bọn cướp nước và bọn tay sai bán nước để giành và giữ vững chủ quyền quốc gia. Lòng trung thành còn phải thể hiện ở tinh thần lao động sáng tạo xây dựng đất nước giàu mạnh và còn ở sự dũng cảm đấu tranh chống lại mọi bất công, tàn bạo, các biểu hiện quan liêu, tham nhũng trong bộ máy chính quyền.

Theo Hồ Chí Minh, lòng trung thành - với nội hàm như trên - phải là sợi chỉ đỏ xuyên suốt và chi phối toàn bộ hệ thống quan điểm đạo đức cách mạng. Ví dụ, khi nói về phạm trù “liêm” Người đã phân tích như sau:

“Liêm là trong sạch, không tham lam. Ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, những người làm quan, không đục khoét dân gọi là liêm, chữ liêm ấy chỉ có nghĩa hẹp…

Ngày nay, nước ta là Dân chủ Cộng hoà, chữ liêm có nghĩa rộng hơn, là mọi người đều phải liêm... Chữ liêm phải đi đôi với chữ kiệm. Cũng như chữ kiệm phải đi đôi với chữ cần. Có kiệm mới liêm được. Vì xa xỉ mà sinh tham lam.

Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là bất liêm”(7).

Theo Hồ Chí Minh những biểu hiện dưới đây đều là bất liêm:
“Người cán bộ cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút hoặc trộm của công làm của tư.

Người buôn bán, mua 1 bán 10, hoặc mua gian, bán lậu, chợ đen, chợ đỏ, tích trữ đầu cơ.

Người có tiền, cho vay cắt cổ, bóp hầu, bóp họng đồng bào.

Người cày ruộng, không ra công đào mương mà lấy cắp nước ruộng của láng giềng.

Người làm nghề (bất cứ nghề gì) nhân lúc khó khăn mà bắt chẹt đồng bào.

Người cờ bạc chỉ mong xoay của người làm của mình.

Dìm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình là đạo vị (đạo là trộm).

Gặp việc phải, mà sợ khó nhọc, nguy hiểm không dám làm là tham vật uý lao (tham vật chất, sợ lao động, ngại khó - TĐH chú thích).

Gặp giặc mà rút ra, không giám đánh là tham sinh uý tử (tham sống sợ chết; hèn, TĐH chú thích)(8).

Hồ Chí Minh đã kết luận như sau: “Do bất liêm mà đi đến tội trộm cắp. Công khai hay bí mật, trực tiếp hay gián tiếp, bất liêm tức là trộm cắp... Cụ Khổng Tử nói: “Ai cũng tham lợi thì nước sẽ nguy”. Để thực hiện chữ liêm cần có tuyên truyền và kiểm soát, giáo dục và pháp luật, từ trên xuống, từ dưới lên trên.

Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vị tư”.

Vì vậy, cán bộ phải thực hành chữ liêm trước, để làm kiểu mẫu cho dân”(9).

Khi phân tích về chữ liêm, Hồ Chí Minh bao giờ cũng lưu ý đến ba điều cốt yếu sau đây: Một là, vai trò của nhân dân và trình độ của nhân dân trong việc làm cho bộ máy lãnh đạo, quản lý thật liêm khiết. “Quan tham vì dân dại”. Nếu dân hiểu biết, không chịu đút lót thì “quan dù không liêm cũng phải hoá ra liêm. Vì vậy dân phải biết quyền hạn của mình, phải biết kiểm soát cán bộ để giúp cán bộ thực hiện chữ liêm"(10). Hai là, vai trò của luật pháp. “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì"(11). Ba là, liêm luôn đi cùng với xỉ (xấu hổ). Xấu hổ là một đặc điểm thuộc bản tính người. Người biết xấu hổ thì là người có lòng tự trọng cao, là người có sức mạnh nội tâm để giữ cho bản thân tránh tham lam, tội lỗi: “Mỗi người phải nhận rằng tham lam là một điều rất xấu hổ, kẻ tham lam là có tội với nước, có tội với dân"(12). Muốn có đạo đức cách mạng thì, như Hồ Chí Minh đã căn dặn, mọi người từ cán bộ đảng viên cấp cao xuống đến cơ sở đều phải kiên quyết chống kẻ thù bên trong là chủ nghĩa cá nhân, đồng thời phải nghiêm khắc với bản thân mà suốt đời tu dưỡng rèn luyện để xứng đáng với tư cách là đảng viên của một đảng chân chính cách mạng.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng được nhân dân tin yêu, quý trọng không chỉ vì những thành tựu vĩ đại chưa từng có trong lịch sử Đảng đã mang lai cho dân tộc, mà còn vì Đảng, tiêu biểu nhất là Hồ Chí Minh, đã là một biểu tượng cao đẹp nhất của một kiểu đạo đức mới-đạo đức vì dân, trung với nước, hiếu với dân. Chúng ta, có thể mượn câu nói bất hủ sau đây của Nguyễn Ái Quốc khi Người nói về Lênin để hiểu rõ về một trong những nguyên nhân quan trọng nhất làm nên uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với nhân dân ta: “Không phải chỉ thiên tài của Người, mà chính là tính coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thày, đã ảnh hưởng lớn lao tới các dân tộc châu Á và đã khiến cho trái tim của họ hướng về Người, không gì ngăn cản nổi”(13). Đảng Cộng sản Việt Nam được suy tôn là Đảng của nhân dân các dân tộc Việt Nam vì, trước hết, Đảng ta là đạo đức./.
---------------------
(1, 7, 8, 9, 10, 11, 12) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2020, T 5, Tr 249, 240, 241.
(2, 3, 4) sđd, tập 7, tr.452, 347.
(5, 6) sđd, tập 9, tr.284.
(13) sđd, tập 1, tr.295.
Yêu nước ST.