Thứ Ba, 19 tháng 1, 2021

Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là lựa chọn đúng của Việt Nam .

Càng đến gần ngày khai mạc Đại hội lần thứ XIII của Đảng, các thế lực thù địch và những phần tử phản động càng đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Một trong những luận điệu đó là phủ nhận cụm từ “phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” trong dự thảo văn kiện đại hội. Họ cố tình "nhắm mắt" trước thực tiễn 35 năm đổi mới đã khẳng định phát triển kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) là sự lựa chọn đúng đắn của Việt Nam. Không phải là khái niệm mơ hồ Cách đây mấy năm, một số người tự xưng là “nhà nghiên cứu”, “nhà khoa học”, “nhà dân chủ” đã phát biểu trên một số tờ báo nước ngoài, trang mạng xã hội rằng “KTTT" và XHCN khác nhau như nước với lửa, như ngày với đêm, hoàn toàn đối lập nhau”; “KTTT là phủ định của XHCN và ngược lại”... Gần đây những người này lên diễn đàn “góp ý” vào dự thảo văn kiện Đại hội XIII của Đảng, cũng vẫn luận điệu ấy nhưng lại “bổ sung thêm vấn đề mang tính lý luận” rằng "KTTT định hướng XHCN là khái niệm mơ hồ” vì thế họ “kiến nghị không nên để cụm từ KTTT định hướng XHCN trong văn kiện Đại hội XIII”. Không hiểu những người nói trên “nghiên cứu” những gì nhưng xem họ phát biểu thì những người có hiểu biết chút ít về kinh tế thì cũng cảm nhận được sự mơ hồ của họ. Bởi lẽ KTTT là sản phẩm của văn minh nhân loại. Chủ nghĩa tư bản đã lấy KTTT làm cơ sở cho sự tồn tại, vận động, phát triển của mình. KTTT đã trải qua nhiều giai đoạn biến đổi thăng trầm, tiến hóa theo thời gian cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và các quan hệ kinh tế, dưới tác động của cách mạng khoa học-kỹ thuật. Trong những năm gần đây, dựa theo những nét khác biệt và tương đồng, người ta đã chia các mô hình kinh tế thị trường đang vận hành trên thế giới thành nhiều nhóm, tiêu biểu là mô hình thể chế KTTT tự do (Mỹ, Anh...); mô hình thể chế KTTT xã hội (Đức, Thụy Điển ...); mô hình thể chế KTTT nhà nước phát triển (Nhật Bản, Hàn Quốc...); mô hình thể chế KTTT định hướng XHCN như ở Việt Nam.... Tại Việt Nam, khái niệm KTTT định hướng XHCN được chính thức sử dụng trong các văn kiện Đại hội IX của Đảng (tháng 4-2001); theo đó, “Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, đó chính là nền KTTT định hướng XHCN”. Đại hội lần thứ XII của Đảng (tháng 1-2016) tiếp tục bổ sung, phát triển: “Nền KTTT định hướng XHCN Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của KTTT, đồng thời bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền KTTT hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN”. Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII trình Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục làm rõ thêm khái niệm KTTT định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền KTTT hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của KTTT, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng XHCN vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Nền KTTT định hướng XHCN Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng được khuyến khích phát triển. Như vậy không thể coi “KTTT định hướng XHCN” là khái niệm mơ hồ. Cũng phải nói thêm rằng, trong thời gian gần đây ở các nước tư bản phát triển, dù ở mức độ khác nhau, nhưng KTTT đều có định hướng xã hội. Đây là xu hướng tiến bộ, là những mầm mống của CNXH trong lòng chủ nghĩa tư bản. Do tính chất của thời đại, một nước kinh tế chưa phát triển, chưa qua giai đoạn phát triển TBCN, cũng có thể quá độ lên CNXH. Kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở những nước này, sử dụng cả KTTT và cả kinh tế TBCN để xây dựng nền tảng cơ sở vật chất cho CNXH. Thực tiễn đã chứng tỏ sự lựa chọn đúng đắn của Việt Nam Trong “bầu trời u ám” kinh tế thế giới năm 2020, Việt Nam nổi lên như một điểm sáng đáng ghi nhận và tự hào. Với tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2020 tăng 2,91% so với năm trước, Việt Nam thuộc nhóm nước có tăng trưởng cao nhất thế giới. Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và thiên tai gây hậu quả nặng nề thì đây là thành công lớn của Việt Nam. Lý giải nguyên nhân dẫn đến thành công này, nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, có nguyên nhân quan trọng từ mô hình thể chế KTTT định hướng XHCN. Mô hình này tỏ rõ hiệu quả về khả năng tự chủ, tự cường, phản ứng chính sách và phản ứng thị trường đồng bộ. Cùng với đó là sức chống chịu và thành công trong việc kiểm soát sự lây lan của dịch Covid-19. Với nguyên tắc quyền lực Nhà nước là tập trung, thống nhất đã giúp cho chính quyền Trung ương có đủ sức mạnh và có đủ thẩm quyền để ban hành quyết định nhanh chóng cho toàn hệ thống. Đây là một ưu thế rất lớn trong cuộc chiến chống dịch khi chính quyền Trung ương được điều hành bởi những người có năng lực và quyết đoán. Mô hình phân quyền của một số nước cho thấy việc ban hành các quyết định cần thiết đã bị chậm trễ hơn nhiều. Mà chậm một ngày thôi dịch bệnh đã có thể lây lan ra cộng đồng và vượt tầm kiểm soát. Chấp nhận hy sinh một số lợi ích kinh tế để bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân là quan điểm nhất quán của Chính phủ Việt Nam. “Chúng ta đã thảo luận, cơ bản thống nhất: Chống dịch đồng bộ, quyết liệt để bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân là nhiệm vụ hàng đầu nhưng phải thúc đẩy, giữ vững phát triển kinh tế, giữ ổn định xã hội, kinh tế vĩ mô, bảo đảm quốc phòng, an ninh”-Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã phát biểu như vậy tại phiên họp thường kỳ của Chính phủ tháng 1-2020. Có thể nói thể chế KTTT định hướng XHCN đã là cơ sở để Việt Nam hoàn thành mục tiêu “kép”, vừa phòng, chống dịch thành công, vừa tập trung nguồn lực phát triển kinh tế. Định hướng XHCN của nền KTTT được bảo đảm bởi vai trò quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, được thể hiện ở hệ thống pháp luật, chính sách, các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch để tạo ra môi trường kinh doanh công khai, minh bạch, thuận lợi, tạo động lực phát triển kinh tế nhanh, bền vững. BBC, hãng thông tấn xã quốc gia của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland ngày 12-1-2021 đã khẳng định: “Việt Nam đã xử lý kiên quyết, chặt chẽ và ngay từ đầu với đại dịch Covid-19, nhờ đó hạn chế thiệt hại ở mức thấp nhất. Như là một thắng lợi kép, Việt Nam đã phát triển kinh tế trở lại trong khi thế giới còn đầy rẫy khó khăn. Kết quả là, Việt Nam vượt qua Singapore và Malaysia để vào tốp 4 nền kinh tế hàng đầu Đông Nam Á, thậm chí Quỹ Tiền tệ quốc tế còn cho rằng Việt Nam đã ở trong tốp 3, vượt qua Philippines về mức độ thịnh vượng, và cả về tổng sản phẩm quốc nội thu nhập tính theo đầu người... Trung tâm Nghiên cứu kinh tế Nhật Bản (JCER) còn dự báo với khả năng hồi phục và bật dậy nhanh chóng sau dịch Covid-19, Việt Nam sẽ trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2023 và là nền kinh tế lớn thứ hai Đông Nam Á sau Indonesia vào năm 2035. Cũng là thời điểm Việt Nam sẽ vượt qua Đài Loan, theo JCER. Đấy không phải là sự so sánh quá lạc quan. Điều mà chúng tôi thấy được là Việt Nam đã không bị hụt hơi do hoàn cảnh và đó là tin tốt đối với một nền kinh tế vốn và vẫn còn đang ở trình độ thấp”. Nhờ phát triển KTTT định hướng XHCN mà từ một nền kinh tế nông nghiệp, lạc hậu, quy mô nhỏ bé, với GDP chỉ 14 tỷ USD và GDP bình quân đầu người chỉ khoảng 250USD trong những năm đầu đổi mới, Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng đói nghèo, chuyển sang thực hiện và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Kinh tế vĩ mô ngày càng ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, các cân đối lớn của nền kinh tế được cải thiện đáng kể. Chất lượng tăng trưởng được cải thiện. Thị trường tiền tệ, ngoại hối cơ bản ổn định. Tỷ trọng giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trong tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa tăng từ 19% năm 2010 lên khoảng 50% năm 2020. Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng tính chung 10 năm 2011-2020 đạt 39,0%. Tốc độ tăng năng suất lao động bình quân giai đoạn 2016-2020 là 5,8%/năm. Lạm phát cơ bản giảm từ 13,6% năm 2011 xuống khoảng 2,5% năm 2020. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tăng 3,6 lần, từ 157,1 tỷ USD năm 2010 lên 543,9 tỷ USD năm 2020... Những nhận định đánh giá của các tổ chức quốc tế, cơ quan thông tấn quốc tế và các con số thống kê nói trên đã minh chứng cho hiệu quả của việc phát triển KTTT định hướng XHCN của Việt Nam và khẳng định “lời khuyên” của những người muốn Việt Nam đi chệch đường là không có cơ sở về thực tiễn. Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Thực ra không phải bây giờ mà từ nhiều năm trước, các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội chính trị ở cả trong nước và nước ngoài thường xuyên chống phá Đảng, Nhà nước, công cuộc đổi mới, sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN của nhân dân ta. Chúng vẫn xuyên tạc rằng, không có nền kinh tế nào là nền KTTT định hướng XHCN; KTTT, các quy luật của KTTT và định hướng XHCN là những yếu tố đối lập nhau, loại trừ nhau; ghép định hướng XHCN vào KTTT là sự gán ghép chủ quan, duy ý chí, không có cơ sở khoa học. Có người còn “kiến nghị”: “Nếu bỏ, không có cái đuôi “định hướng XHCN” thì kinh tế đất nước sẽ phát triển nhanh hơn”... Những luận điệu như vậy không phải là không có tác động đến cán bộ, đảng viên, nhân dân, làm một số người băn khoăn, ảnh hưởng xấu đến sự thống nhất nhận thức, tư tưởng trong Đảng và trong xã hội; làm giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, vào con đường đi lên CNXH; ảnh hưởng tới việc thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, cần phải được đấu tranh, phản bác. Để đấu tranh có hiệu quả trước những luận điệu sai trái nói trên, một mặt chúng ta vẫn tiếp tục hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN. Trong đó cần ưu tiên xây dựng các cơ chế, chính sách, quy định pháp luật đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, hội nhập, ổn định, cụ thể, minh bạch gắn với tăng cường hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật. Phát triển đầy đủ và đồng bộ thị trường các yếu tố sản xuất, nhất là các thị trường quyền sử dụng đất và thị trường khoa học-công nghệ. Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII trình Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định một trong 12 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 là “Hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nền KTTT định hướng XHCN, tạo môi trường thuận lợi để huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy đầu tư, sản xuất kinh doanh. Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển đô thị; phát triển kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới; đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia; phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế”. Mặt khác cũng cần phải kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai lầm của các thế lực thù địch. Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần có quan điểm vững vàng, kỹ năng tiếp nhận, xử lý thông tin một cách khoa học trong thời đại bùng nổ thông tin; kiên định, tỉnh táo, không chia sẻ, bình luận những loại thông tin xấu độc, xây dựng cho được “hệ miễn dịch” trước thông tin xấu độc. Đồng thời, cần chủ động hơn trong đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi loại thông tin này, như giải pháp mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ ra: "Chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả đối với các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị chống phá Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc". "Hoàn thiện Quy chế về kỷ luật phát ngôn đối với cán bộ, đảng viên; xử lý nghiêm những cá nhân, nhóm người cấu kết với nhau, lợi dụng vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", tôn giáo, dân tộc để tuyên truyền, xuyên tạc và có hành vi nói, viết, lưu trữ, tán phát tài liệu sai trái...". Đối với các cơ quan pháp luật, phải chủ động, thường xuyên, kiên quyết, kịp thời, hiệu quả trong phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này, nhất là các đối tượng tạo lập, tán phát thông tin xấu độc, lợi dụng thông tin xấu độc để chống phá Đảng, Nhà nước, chính quyền, nhân dân và xử lý nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật./.

Lại thêm một "tiếng nói lạc điệu" cố ý xuyên tạc tình hình ở Việt Nam



Dư luận đã quá quen thuộc với cái gọi là “Báo cáo Thế giới hàng năm” hay còn gọi là “Phúc trình Thường niên” mà Tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW) đưa ra. Trong bản báo cáo năm 2021 mà họ tự cho là cập nhật và đánh giá tình hình nhân quyền của hàng trăm quốc gia trên khắp thế giới, như thường lệ, Tổ chức Theo dõi nhân quyền tiếp tục khoác “chiếc áo quan tòa” phán xét vấn đề quyền con người ở Việt Nam. 

TTO - Vấn đề Biển Đông được nêu trong cuộc họp đầu tiên của Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 2021 do Brunei chủ trì ngày 19-1.

Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Quốc Dũng, Trưởng SOM ASEAN Việt Nam, cùng đoàn quan chức ngoại giao Việt Nam đã tham dự Hội nghị Quan chức cấp cao ASEAN (SOM ASEAN) bằng hình thức trực tuyến. Đây là hội nghị có nhiệm vụ chuẩn bị các mặt cho Hội nghị Hẹp các Bộ trưởng Ngoại giao (AMMR) tổ chức trực tuyến ngày 21-1 tới, và cũng là hoạt động ASEAN đầu tiên trong năm 2021 do Brunei chủ trì. Trên cương vị chủ tịch luân phiên ASEAN, năm nay Brunei lấy chủ đề "Cùng chia sẻ, cùng chuẩn bị, cùng thịnh vượng". Trưởng SOM ASEAN Brunei bày tỏ mong muốn duy trì và thúc đẩy những kết quả ASEAN đạt được trong năm 2020 và trước đó, đồng thời khẳng định chủ trương lấy người dân làm trung tâm, thúc đẩy phát triển bền vững, cùng xây dựng một cấu trúc khu vực dựa trên luật lệ và đề cao chủ nghĩa đa phương, ủng hộ một hệ thống thương mại đa phương rộng mở. Các đại biểu tiếp tục phát biểu đề cao chủ nghĩa đa phương và tái khẳng định cam kết của ASEAN đối với thúc đẩy hợp tác đa phương để đảm bảo hòa bình, an ninh, an toàn và thịnh vượng ở khu vực và thế giới. Trên cơ sở đó, các nước đánh giá ASEAN tiếp tục có vai trò quan trọng trong khu vực, ngày càng trở thành lực lượng trung tâm, tập hợp các nỗ lực chung vì hòa bình, ổn định và thịnh vượng. Đáng chú ý, những giá trị cốt lõi của ASEAN, nêu trong các văn kiện chủ chốt, ngày càng được đánh giá cao, phát huy và áp dụng trong quan hệ giữa các nước trong khu vực và trong quan hệ đối ngoại của ASEAN. Nhìn lại những diễn biến trong năm 2020, các nước cho rằng tình hình Biển Đông tiếp tục diễn biến phức tạp, đòi hỏi ASEAN duy trì đoàn kết, nhất trí, cam kết đóng góp cho hòa bình, ổn định tại Biển Đông và trong khu vực nói chung. Các đại biểu cũng cho rằng các bên cần tiếp tục thực hiện đầy đủ, nghiêm túc Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và thúc đẩy nối lại thương lượng xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) hiệu quả và hiệu lực, phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS) 1982. Phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng Nguyễn Quốc Dũng nhấn mạnh ASEAN cần duy trì đoàn kết nội khối, chủ động ứng phó với thách thức mới nổi, đảm bảo đời sống của người dân và phục hồi bền vững hậu dịch bệnh, đồng thời ASEAN cần tiếp tục là lực lượng trung tâm, đi đầu trong khu vực, đóng góp tích cực cho hòa bình và ổn định bền vững của khu vực và thế giới.

Ý nghĩa, tầm quan trọng của đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng

 


Năm 2020 diễn ra đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2020-2025, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng là sự kiện có ý nghĩa trọng đại của đất nước, là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, tạo không khí phấn khởi, vui tươi, thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội lần thứ XIII của Đảng.

Bám sát mục đích, yêu cầu theo tinh thần Chỉ thị số 35-CT/TW của Bộ Chính trị về đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng và Kế hoạch Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Hướng dẫn số 1032-HD/HU ngày 31-03-2020 của ban tuyên giáo huyện ủy về công tác chỉ đạo đại hội đảng bộ cấp cơ sở tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng.

Mục tiêu làm cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nhận thức đầy đủ, sâu sắc ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của đại hội để chuẩn bị thật tốt và tổ chức thành công đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XX Đảng bộ huyện, đại hội lần thứ XIX đảng bộ tỉnh và Đại hội lần thứ XIII của Đảng; thông qua đại hội, tiếp tục nâng cao nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong xã về những quan điểm, chủ trương, định hướng lớn và những thành tựu đã đạt được trong nhiệm kỳ qua nhằm tiếp tục kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong năm 2020 của các cấp, các ngành trong hệ thống chính trị từ xã đến thôn.

Yêu cầu đặt ra của đại hội là trong toàn Đảng bộ xã là phải tạo sự thống nhất về nhận thức, tư tưởng chính trị và hành động trong Đảng, đồng thuận xã hội, phát huy dân chủ, tập hợp được hết trí tuệ từng đảng bộ, trí tuệ của nhân dân tham gia vào quá trình chuẩn bị đại hội cũng như triển khai, đưa nghị quyết đại hội Đảng bộ xã nhiệm kỳ 2020-2025, Nghị quyết Đại hội lần thứ XX Đảng bộ huyện, Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng vào cuộc sống.

Trước hết, trong thời điểm hiện nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trên địa bàn xã phát huy lòng yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, phấn đấu thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2015-2020, Nghị quyết Đại hội lần thứ XIX Đảng bộ huyện và Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã đề ra. Cho đến nay, Đảng ủy xã đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức quán triệt sâu sắc mục đích, ý nghĩa của đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng; xác định vai trò quan trọng của đại hội Đảng các cấp trong quá trình tiến tới Đại hội lần thứ XX Đảng bộ huyện, đại hội lần thứ XIX đảngbộ tỉnh và Đại hội lần thứ XIII của Đảng, nâng cao nhận thức và tinh thần trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là các chi bộ nhằm tổ chức đại hội đảng bộ xã thành công vào trung tuần tháng 5 năm 2020.ST.NTC

Nhân sự đề cử chức danh lãnh đạo chủ chốt có số phiếu tập trung rất cao

 Trung ương đã thông qua danh sách nhân sự đề cử vào các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước nhiệm kỳ khóa XIII với số phiếu tập trung rất cao.

Sau 1,5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, dân chủ, trách nhiệm cao, với bầu không khí phấn khởi, tin tưởng, sáng 17/1, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương đã họp phiên bế mạc, hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra, kết thúc Hội nghị sớm hơn 1,5 ngày so với kế hoạch ban đầu.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng phát biểu bế mạc Hội nghị.

Tại Hội nghị lần này, Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận dân chủ, thẳng thắn, trách nhiệm và biểu quyết thông qua danh sách nhân sự đề cử bổ sung một số đồng chí lần đầu tham gia Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, bổ sung một số đồng chí Ủy viên Trung ương khóa XII thuộc trường hợp "đặc biệt" tái cử khóa XIII và một số đồng chí lần đầu thuộc trường hợp "đặc biệt" tham gia Ủy viên Trung ương chính thức; thông qua nhân sự là Ủy viên Bộ Chính trị khóa XII thuộc trường hợp "đặc biệt" tái cử khóa XIII và danh sách đề cử các đồng chí vào các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước nhiệm kỳ khóa XIII với số phiếu tập trung rất cao.

Ban Chấp hành Trung ương cũng đã thảo luận và thống nhất cao với Tờ trình của Bộ Chính trị về dự kiến Danh sách Đoàn Chủ tịch, Đoàn Thư ký và Ban Thẩm tra tư cách đại biểu Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Trung ương đã thông qua các báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về các văn kiện trình Đại hội XIII, về công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII; cho ý kiến về Báo cáo tổng kết công tác tài chính đảng nhiệm kỳ 2016-2020. Đồng thời, Trung ương yêu cầu Tiểu ban Tổ chức phục vụ Đại hội và các cơ quan, đơn vị có liên quan khẩn trương, nghiêm túc rà soát lại toàn bộ các khâu chuẩn bị phục vụ Đại hội, để bảo đảm Đại hội XIII của Đảng thành công tốt đẹp.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định, Hội nghị đã thành công rất tốt đẹp; công việc chuẩn bị cho Đại hội XIII của Đảng đã cơ bản được hoàn tất theo đúng mục đích, yêu cầu và kế hoạch đề ra. Đây là Hội nghị thứ 15 và cũng là Hội nghị cuối cùng của khóa XII.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh: "Đến giờ phút này, chúng ta có thể tự hào khẳng định: Suốt nhiệm kỳ khóa XII vừa qua, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và trong nước với biết bao nhiêu biến động khó lường, bao nhiêu khó khăn, thử thách nhưng Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã đoàn kết một lòng, với quyết tâm và nỗ lực rất cao, đã hoàn thành toàn bộ chương trình công tác toàn khóa đề ra, đã lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta giành được những kết quả rất quan trọng, để lại nhiều dấu ấn nổi bật, tạo ra niềm tin mới, khí thế mới, động lực mới, để sắp tới chúng ta tiếp tục vững vàng vượt qua khó khăn, thách thức, tận dụng thời cơ, thuận lợi đưa đất nước bước vào một thời kỳ phát triển mới".

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ, chỉ còn đúng một tuần nữa Đại hội XIII của Đảng sẽ chính thức khai mạc. Đây là sự kiện chính trị trọng đại của Đảng và của dân tộc. Cán bộ, đảng viên và nhân dân đang rất quan tâm, theo dõi, mong chờ và đặt nhiều kỳ vọng vào thành công của Đại hội.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị, các đồng chí Trung ương tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, trách nhiệm cao và kết quả tốt đẹp của Hội nghị Trung ương, nghiêm túc thực hiện và lãnh đạo tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết Hội nghị, lãnh đạo toàn Đảng khẩn trương hoàn tất các công việc còn lại, là những hạt nhân lan tỏa kết quả tốt đẹp của Hội nghị Trung ương lần này trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta và mang tinh thần này vào Đại hội để tiến hành Đại hội toàn quốc lần thứ XIII thành công rực rỡ, đáp ứng được lòng mong đợi và niềm hy vọng lớn lao của toàn Đảng, toàn dân.


Bệnh nhân 1440 vẫn dương tính ở lần xét nghiệm thứ 13

 Chiều 19/1, thông tin từ ngành chức năng của Vĩnh Long xác nhận, bệnh nhân 1440 có kết quả xét nghiệm ở lần thứ 13 dương tính với SARS-CoV-2, sau khi có kết quả xét nghiệm thứ 12 âm tính.

 Trước đó, vào ngày 15/1, bệnh nhân 1440 được lấy mẫu xét nghiệm lần thứ 12. Ở lần xét nghiệm này bệnh nhân âm tính với SARS-CoV-2.

Hiện bệnh nhân này đã có 25 ngày được cách ly điều trị tại Bệnh viện Lao và bệnh phổi Vĩnh Long trong tình trạng sức khỏe ổn định, không có triệu chứng ho sốt.

Như Dân Trí đã đưa, ngày 24/12, anh L.T.T (SN 1988, ngụ xã Nhơn Phú, huyện Mang Thít, Vĩnh Long), là bệnh nhân Covid-19 thứ 1440 đã đi qua nhiều nước, sau đó nhập cảnh về Việt Nam qua biên giới Campuchia - Việt Nam ở tỉnh An Giang.

Ngay sau đó, mẹ của bệnh nhân đã rất ý thức về dịch bệnh nên tự giác thông báo với ngành chức năng đưa anh T. đi cách ly. 

NGHĨA ĐỒNG BÀO

 


Bác Hồ của chúng ta, đã đi khắp năm châu, bốn biển tìm con đường cứu nước cứu dân; Bác đã làm đủ nghề để kiếm sống và hoạt động cách mạng. Cuộc đời của Bác rất gian truân và khổ cực, đến đâu ngoài việc tự lực cánh sinh là chính, Bác Hồ của chúng ta luôn nhận được sự giúp đỡ rất vô tư, trọng thị của người dân bản địa (như: tạo điều kiện về vật chất, tinh thần, che chở, đùm bọc, bảo vệ...). Bất cứ người nào khi được tiếp xúc với Bác cũng cảm nhận được tài năng, đức độ của Bác, Bác là một tấm gương lớn, có khả năng thu hút mọi người trong suy nghĩ và hành động, có sức cảm hóa mọi người, nhất là đối với những người bất đồng chính kiến. Một bài học lớn mà Bác để lại cho chúng ta là “Nghĩa đồng bào”, là phải gần dân, nắng nghe ý kiến và nguyện vọng chính đáng của nhân dân, thì công cuộc cách mạng sẽ thành công (khó một lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong). Bài học này theo tôi đã và đang được vận dụng, thực hiện tốt, nhất là trong năm 2020 vừa qua, mong rằng tiếp tục được thực hiện hiệu quả trong công cuộc phát triển đất nước, để xây dựng đất nước hùng cường và thịnh vượng./.

KÍNH TRỌNG BÁC HỒ

 


Sinh ra và lớn lên ở vùng đất địa linh nhân kiệt, trong cái lôi của quê hương cách mạng, có rất nhiều sĩ phu yêu nước tích cực đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc. Nguyễn Tất Thành người thanh niên yêu nước, tuy mới ngoài 20 tuổi đã sớm nhận ra những con đường cách mạng của các vị tiền bối chưa phù hợp với tình tình hình thực tế xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, nên chưa thành công hoặc có thành công ở một mức độ nhất định, chưa trọn vẹn; một quyết định táo bạo của Người, là phải ra nước ngoài học hỏi kinh nghiệm và tìm con đường đúng đắn, phù hợp để cứu nước cứu dân. Việc làm này, không phải ai cũng nghĩ ra và cũng làm được; đã thể hiện tầm nhìn và tư duy siêu phàm của Người khi còn rất trẻ; nền móng ấy chỉ có ở các bậc trung quân, ái quốc, tư tưởng ấy chỉ xuất hiện ở Người hiền tài, vĩ nhân, một lòng yêu nước, thương lòi, không phải ai cũng có được. Thực tế cách mạng ở Việt Nam đã chứng minh hùng hồn thành công của con đường mà Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn; được bạn bè quốc tế nể phục và đã lan tỏa đến nhiều quốc gia dân tộc trên thế giới./.

Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được khẳng định trong thực tế tiến hành cách mạng và được nhân dân thừa nhận.


Thực tiễn Việt Nam đã từng có thời kỳ đa đảng. Năm 1946, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam còn tồn tại hai đảng đối lập là Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam cách mạng đồng minh Hội. Hai đảng này không đại diện cho lợi ích quốc gia, dân tộc và nhân dân, mà bám gót ngoại bang, nên không được nhân dân chấp nhận.

  Có thời kỳ, bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam còn có Đảng Dân chủ Việt Nam (1944 - 1988) và Đảng Xã hội Việt Nam (1946 - 1988), nhưng các đảng ấy cũng không được đa số nhân dân giao cho sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng. Các đảng ấy, đều tuân thủ đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân giao phó, ủy thác. Sau đó hai đảng này tuyên bố tự giải thể và chỉ còn lại Đảng Cộng sản Việt Nam. Như vậy, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là hiển nhiên, là sự lựa chọn và giao phó của lịch sử, của nhân dân và dân tộc Việt Nam, Đảng  không tranh giành vai trò lãnh đạo với bất kỳ đảng phái nào.

 Trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, Đảng ta là đảng cầm quyền chính là thông qua việc nắm quyền, Đảng thực hiện sứ mệnh lãnh đạo xã hội, lãnh đạo hệ thống chính trị, lãnh đạo nhân dân, để đạt được mục tiêu cách mạng mà Đảng và dân tộc đều đồng thuận.

 Từ khi ra đời cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do.Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, công cuộc đổi mới đã thu được nhiều thắng lợi: Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay.

 Tuy nhiên, trong lãnh đạo, Đảng có lúc phạm sai lầm, khuyết điểm, có những sai lầm nghiêm trọng. Đảng đã nghiêm túc tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, chỉnh đốn để tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên. Nhưng, một số kẻ thù địch, cơ hội chính trị lại không thấy hoặc cố tình lờ đi điều ấy, hơn thế, họ còn thổi phồng những khuyết điểm, sai lầm của Đảng và quy kết Đảng không đủ năng lực lãnh đạo trong điều kiện mới của đất nước. Rõ ràng đây là một sự xuyên tạc, vu cáo Đảng ta, nhằm kích động, chia rẽ nội bộ Đảng, chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân, hòng làm tan rã Đảng ta, chế độ ta từ gốc, từ bên trong, hết sức thâm độc và nguy hiểm.

 Quan hệ Đảng - dân là mối quan hệ bản chất và máu thịt của Đảng ta. Ngay từ khi ra đời Đảng luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, được nhân dân thương yêu, đùm bọc, che chở và xây dựng. Hơn 90 năm đi theo Đảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tầng lớp nhân dân Việt Nam nhận rõ hơn ai hết, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, không có một lực lượng, một tổ chức nào có thể đại diện chân chính cho lợi ích của mình. Vì thế, nhân dân tin tưởng ủy thác trao quyền lãnh đạo cho Đảng Cộng sản Việt Nam.

 Thực tế cách  mạng Việt Nam cho thấy, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử, là ý nguyện của nhân dân. Vì thế, các tầng lớp nhân dân mong muốn Đảng luôn giữ vững vai trò lãnh đạo, không chia sẻ quyền lực với các lực lượng khác khác trong vai trò cầm quyền của mình. Bởi đó là nguyên tắc đã được được hiến định và là một kết quả tất yếu của lịch sử cách mạng Việt Nam, không thể thay đổi

 Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước và xã hội.

 Tuyệt đại đa số nhân dân mong muốn Đảng tự chỉnh đốn, khắc phục các khuyết điểm, yếu kém để hoàn thành sứ mệnh của mình là lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Để xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân, Đảng đã đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn, làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, làm tròn trách nhiệm là đội tiên phong, vai trò của Đảng cầm quyền và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới. Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã đề ra bốn nhóm giải pháp giải quyết những vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng, trong đó nhóm giải pháp thư tư nêu rõ việc phát huy vai trò, trách nhiệm của quần chúng nhân dân trong nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

 Tóm lại, quan điểm cho rằng "Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng để lãnh đạo đất nước" là quan điểm sai lầm, phản khoa học, phi thực tế. Quan điểm này dựa trên những lập luận mang tính chủ quan, võ đoán, thiếu căn cứ khoa học, bất chấp đạo lý và lẽ phải thông thường, phiến diện và phi lôgic. Thực tiễn cách mạng Việt Nam và những thành quả mà nhân dân ta đạt được, dưới sự lãnh đạo của Đảng hơn 90 năm qua, đã hoàn toàn bác bỏ quan điểm sai trái, thù địch đó và chứng minh Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất có đủ khả năng lãnh đạo đất nước thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh", xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân./.

BÁC HỒ RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC

 


Năm 1858, Thực dân Pháp nổ tiếng súng đầu tiên, áp đặt ách nô lệ trên đất nước Việt Nam. Không chịu ách nô nệ, lầm than, nhiều cuộc khởi nghĩa và phong trào cách mạng đã diễn ra ở nhiều nơi trên đất nước ta, nhằm đánh đuổi Thực dân Pháp, giành lại độc lập và tự do cho đất nước. Các cuộc khởi nghĩa yêu nước của nhân dân ta lần lượt bị thất bại, trong biển máu; các phong trào cách mạng cũng bị thất bại, nhiều sĩ phu yêu nước bị bắt và bị tù đầy... nguyên nhân của những thất bại trên của các cuộc khởi nghĩa và phong trào cách mạng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là do chưa có đường lối cách mạng đúng đắn và phù hợp với thực tế các mâu thuẫn cơ bản đang tồn tại trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ. Trước cảnh nước mất, nhà tan, ngày 28 tháng 01 năm 1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành (21 tuổi) đã ra đi tìm con đường cứu nước, cứu dân. Như vậy, chúng ta thấy Bác Hồ (Nguyễn Tất Thành), mặc dù tuổi đời còn rất trẻ, nhưng đã nhìn nhận thực tế của đất nước rất sâu sắc (người dân có lòng yêu nước nồng nàn, quyết tâm, khát vọng cháy bỏng là giải phóng dân tộc, tự do, ấm no, hạnh phúc; lúc này đất nước đang thiếu một con đường cách mạng), có tầm nhìn chiến lược và quyết tâm rất cao, khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, quyết tâm tìm ra con đường cứu nước, cứu dân khỏi ách lầm than, nô lệ. Bác Hồ của chúng ta khi còn trẻ đã có tư duy đi trước thời đại, tầm nhìn xa, trông rộng, khoa học và thực tế. Lịch sử dân tộc Việt Nam và thế giới đã chứng minh con đường cứu nước, cứu dân của Bác Hồ là hoàn toàn đúng đắn và đầy sáng tạo, đúng là vị Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam.

QUỐC GIA HẠNH PHÚC


Mức thu nhập cá nhân tốt đóng vai trò quan trọng tạo ra hạnh phúc. Nói cách khác, bạn khó có thể hạnh phúc nếu bạn chật vật trong thiếu thốn đói nghèo.

Nhưng có tiền chỉ là điều kiện cần chứ chưa tạo nên một hạnh phúc đủ đầy và bền lâu. Các nghiên cứu kinh tế gần đây cho thấy, khi thu nhập bình quân đầu người đã vượt quá một ngưỡng nào đó, người ta không còn thấy hạnh phúc hơn nếu giàu có hơn. Các nhà khoa học còn gọi là "hội chứng mất niềm vui".

Kinh tế gia được giải Nobel, Amartya Sen, cho rằng, mục đích phát triển cuối cùng của con người không chỉ trở lên giàu có mà còn có cuộc sống tự do viên mãn. Vì thế, bên cạnh tiền, còn những yếu tố và điều kiện khác để dẫn đến hạnh phúc.

Gần đây, như một sở thích nghề nghiệp, tôi nghiên cứu và trao đổi với đồng nghiệp về mối liên hệ giữa hạnh phúc và một số hiện tượng xã hội. Chúng tôi đi tìm các câu trả lời cho câu hỏi: có phải tỷ lệ tội phạm là trẻ vị thành niên tại Việt Nam có xu hướng gia tăng so với trước đây? trong hoàn cảnh tương tự, tại sao người này phạm tội mà người khác lại không?

Một trong những quan điểm đồng nghiệp tôi nghiêng về là do quá trình phát triển của mỗi cá nhân. Một đứa trẻ lớn lên trong một gia đình thiếu hạnh phúc, thiếu tình yêu thương hay trong môi trường bạo lực và xáo trộn khi trưởng thành thường bị thiếu hụt trong nhân cách, ít hạnh phúc hơn. Những người ít hạnh phúc hơn thường có khả năng phạm tội cao hơn, đây là kết luận của một số nghiên cứu tâm lý và xã hội học.

Nhưng mức độ hạnh phúc và sự tác động của nó không dừng ở mỗi cá nhân. Nó ảnh hưởng đến sự phát triển của mỗi quốc gia. Chỉ số phổ biến mà các quốc gia vẫn dùng để đánh giá sự phát triển của mình là Mức thu nhập bình quân đầu người - GDP trên đầu người. Song ở khía cạnh khác, kinh tế học hiện đại coi GDP chỉ là điều kiện cần, còn điều kiện đủ của chất lượng phát triển là chỉ số hạnh phúc của người dân.

Ngoài chỉ số GDP, các nước giàu hơn thuộc khối OECD gần đây công bố các chỉ số hạnh phúc dựa trên khảo sát người dân của mình. Bhutan - quốc gia có thu nhập trung bình khá giống Việt Nam - đề xuất khái niệm Tổng sản lượng Hạnh phúc quốc gia (Gross national happiness) thay cho GDP từ đầu những năm 1970 và đã liên tục công bố chính thức chỉ số này từ hơn chục năm qua. Chỉ số này bao gồm các khía cạnh như sức khỏe tinh thần, y tế, giáo dục, sức khỏe môi trường và đa dạng sinh học, dịch vụ công. Mức thu nhập chỉ là một trong các yếu tố tạo nên chỉ số hạnh phúc.

Việt Nam vừa bước vào thập kỷ phát triển kinh tế mới, 2021-2030, mục tiêu Chính phủ luôn khẳng định là tiến tới nước thu nhập trung bình và cao hơn. Mục tiêu này rất đúng đắn, thể hiện trong các chỉ số GDP mục tiêu luôn được đặt ra ấn tượng từ đầu năm. Ví dụ, GDP mục tiêu năm 2021 của chúng ta tới 6%, con số khá ấn tượng với thế giới.

Nhưng, tôi cho rằng chúng ta không nhất thiết phải đợi đến lúc "giàu" - cả quốc gia và dân chúng vươn tới mục đích thu nhập cao - thì mới có hạnh phúc. Tôi khá ngạc nhiên khi biết, trả lời câu hỏi về lựa chọn "ưu tiên cao nhất của nhà nước hiện nay là cứu người khỏi Covid-19 cho dù phải hy sinh phát triển kinh tế" trong một khảo sát gần đây của UNDP, có tới 89% người dân Việt Nam được hỏi trả lời "có", cao hơn hẳn mức trung bình của thế giới là 67%. Điều này chứng tỏ người Việt Nam không đánh giá kinh tế là quan trọng nhất.

Tôi cho rằng đã tới lúc chúng ta thay đổi cách nhìn nhận, đo lường sự phát triển của xã hội không chỉ bằng tăng tưởng thu nhập mà bằng cả các chỉ số phi thu nhập. Với các bộ chỉ số thế giới sẵn có và đang dùng, Chính phủ và Tổng cục Thống kê hoàn toàn có thể đánh giá và công khai chỉ số hạnh phúc của Việt Nam.

Chỉ số này sẽ tích hợp được các yếu tố cho thấy rõ hơn chất lượng cuộc sống, bao gồm môi trường, chất lượng không khí, chất lượng di chuyển và sinh hoạt, dịch vụ công của chính phủ, sự tiếp cận giáo dục và y tế, an ninh xã hội... Xây dựng bộ chỉ số hạnh phúc là bước đi ban đầu giúp Việt Nam có thể đánh giá kịp thời và đưa ra chính sách phù hợp để nâng cao hơn chất lượng sống của người dân.

Cái gì đo đếm được mới có thể thay đổi được. Quan trọng hơn, chỉ số này nếu có sẽ tạo ra động lực để cả nhà nước và người dân cùng cải thiện chất lượng sống. Điều này đã được chứng minh ở các quốc gia đi trước. Một số quốc gia đã phải trả giá cho sự đánh đổi kinh tế với các "yếu tố mềm" như môi trường xuống cấp gây ra sức khỏe kém và rút ngắn tuổi thọ người dân. Nhưng vài năm trước, họ đã sửa chữa: tuyên chiến với ô nhiễm không khí, đồng thời có hàng loạt biện pháp như đóng cửa các nhà máy ô nhiễm, thúc ép các ngành công nghiệp sử dụng năng lượng sạch.

Một quốc gia hạnh phúc gồm những người dân hạnh phúc. Các triết gia cho rằng, hạnh phúc không ở đâu xa lắc với hành trình đầy chông gai, mà gồm những điều nhỏ bé trên con đường chúng ta đi mỗi ngày. Với những chính sách được điều chỉnh phù hợp, dù nhỏ hay lớn, khi gần hơn với người dân, Chính phủ có thể nâng cao hạnh phúc - hay sự hài lòng của dân chúng.

Xã hội tốt đẹp hơn bắt đầu từ việc tạo ra các cá nhân hạnh phúc, và gia đình hạnh phúc. Khi mỗi mắt xích nhỏ hạnh phúc với công việc mình làm, thái độ tích cực có thể tạo ra hiệu quả và năng suất cao hơn. Khi đó, chỉ số GDP sẽ tốt lên tự nhiên mà không cần "chín ép".

                                                                     Đặng Hoàng Hải Anh

'Người Việt nên chơi Tết thay vì ăn Tết'

 


Ngày nay thức ăn, vật chất đủ đầy, chúng ta nên chuyển sang chơi Tết để chăm sóc đời sống tinh thần hơn là sa vào rượu chè, nhậu nhẹt.

Có thể thấy nhiều người chúng ta xưa nay rất ám ảnh với cái ăn. Vậy nên mới có những câu ca dao tục ngữ, chẳng hạn: "Miếng ăn là miếng tồi tàn, mất ăn một miếng lộn gan lên đầu".

Và sau đó, động từ ăn được ghép với những từ khác để nói lên hiện tượng, sự vật hàng ngày: "Học ăn, học nói, học gói, học mở", ăn phải đi liền với nói thành "ăn nói", lúc chơi cờ bạn thì "ăn thua".

Hay như đến với dịp lễ lạt lớn nhất trong năm, từ ăn nằm trang trọng ở vị trí đầu tiên: Ăn Tết. Đúng như vậy, thời xưa quanh năm cái gì ngon, cái gì đẹp cũng để dành cho Tết. Chỉ có Tết mới ám ăn dám xài.

Nói xưa chi cho xa, cách đây chỉ vài chục năm, vào thời bao cấp, hai chất quan trọng mà ai cũng thèm thuồng và chờ đợi đến tết mới được ăn đó là chất béo và chất ngọt (đường).

Thời đó mẹ tôi nuôi heo, cả năm trời mà con heo nặng chưa tới một tạ. Khoảng hai mấy Tết, cả nhà tôi, ba tôi và anh trai tôi từ sớm hì hụi vào chuồng bắt và trói heo để làm thịt ăn Tết. Nếu hàng xóm có hùn phần thì lúc chia chác, cái quý nhất là mỡ heo chứ chẳng phải thịt. Vì bữa cơm thường ngày cần có mỡ để chiên xào, không có thịt cũng chẳng sao. Chỉ mấy ngày Tết mới thấy mặt thịt heo luộc, thịt kho Tàu trên mâm cơm. Cũng chỉ ngày Tết mới có chút bánh trái hay các loại mứt. Trẻ con thường thèm đồ ngọt, chỉ mong chờ Tết mới được ăn.

Đó là ăn. Về mặc, có xấp vải cũng để dành Tết may quần áo. Đồ may xong cũng cất kỹ trong tủ, sáng mùng một Tết mới được mặc.

Dĩ nhiên những chuyện trên chỉ là một chuyện nhỏ trong muôn vàn những câu chuyện thiếu thốn của lúc xưa. Thời nay thì không như vậy. Đồ ăn, thức uống có sẵn và luôn đầy ắp ở siêu thị, ở chợ. Mỗi cuối tuần, gia đình, vợ chồng con cái đều dắt nhau đi nghỉ mát, đi khu vui chơi, đi ăn uống.

Với điều kiện kinh tế hiện nay, so với mặt bằng chung thời trước, có thể tạm so sánh là đã khấm khá hơn. Vì thế, cái việc đề nghị nghỉ tết đúng nghĩa của tôi là hợp lý. Chúng ta đâu còn thiếu ăn nữa mà cứ "ăn" Tết. Hãy chuyển qua chơi Tết. Tết thì cứ đi chơi, xả stress để làm mới lại tinh thần. Chơi Tết cũng là lúc dành thời gian cho những thú vui giải trí mà ngày thường không có điều kiện làm được.

Nếu không thích đi chơi, hãy dành khoảng thời gian này để nghỉ ngơi, tái tạo sức lực, hướng tới đời sống tinh thần đã bị bỏ bê quanh năm. Hãy giản lược các thủ tục rườm rà và đừng để nó làm gánh nặng cho mọi người.

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội là chính danh, hợp hiến và hợp pháp.


 

Trên thế giới, việc quy định về đảng chính trị trong Hiến pháp mang tính phổ biến. Chẳng hạn: Hiến pháp của các nước: Thụy Sĩ, Hàn Quốc, Cộng hòa Liên bang Đức, Trung Quốc, Hàn Quốc có 01 điều; Hiến pháp của các nước Thổ Nhĩ Kỳ, Ucraina, Ba Lan có 02 điều; Hiến pháp Udơbêkixtan có 03 điều,… quy định về đảng chính trị.

 Các bản Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980, năm 1992 và năm 2013 đều có 01 điều quy định: "Đảng Cộng sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội", là phù hợp với xu hướng chung của thế giới hiện nay, không phải là cá biệt.

 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: "Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam". Điều lệ Đảng quy định: "Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền… Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy".

 Như vậy, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội được xây dựng trên cơ sở pháp lý đồng bộ (hệ thống các văn bản pháp luật) và đồng thuận (điều lệ, quy định) của các tổ chức có liên quan, không phải do Cương lĩnh, Điều lệ Đảng "đơn phương" quy định. Đây là một yếu tố quan trọng bảo đảm tính chính danh đầy đủ được quy định tại Hiến pháp và Điều lệ Đảng, điều lệ các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội nghề nghiệp về mối quan hệ của Đảng với các tổ chức khác ở Việt Nam.

 Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng xác định: "Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc"[10]. Bởi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Trên thực tế, Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản.

 

Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội là cần thiết, tất yếu, khách quan.

 

Vấn đề Đảng Cộng sản cầm quyền là một trong những nội dung quan trọng được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đề cập. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C. Mác và Ph. Ăngghen đã chỉ rõ: giai cấp công nhân là giai cấp cách mạng nhất, tiên tiến nhất, giai cấp có sứ mệnh lịch sử đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản. Nhưng muốn thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình thì giai cấp công nhân phải có "đội tiên phong với lý luận tiên phong và hành động tiên phong" để lãnh đạo. Đội tiên phong chính là Đảng Cộng sản, - bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân. Các ông đã chứng minh, chính đảng của giai cấp công nhân ra đời là một đòi hỏi tất yếu khách quan của cuộc đấu tranh giai cấp cần có lực lượng lãnh đạo giai cấp thực hiện sứ mệnh lịch sử thế giới của mình. Ph. Ăngghen cho rằng, Đảng Cộng sản ra đời là điều kiện tiên quyết để bảo đảm cho cách mạng xã hội chủ nghĩa giành thắng lợi và thực hiện được mục tiêu cuối cùng của nó là thủ tiêu giai cấp.

 Kết thừa tư tưởng trên đây của Mác - Ăngghen, V.I. Lênin khẳng định: "Về nguyên tắc, Đảng Cộng sản phải giữ vai trò lãnh đạo, đó là điều không còn phải nghi ngờ gì nữa". Bởi Đảng Cộng sản là đội tiên phong giác ngộ có tổ chức, và là tổ chức chặt chẽ nhất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, chỉ có Đảng Cộng sản mới có đủ phẩm chất chính trị và năng lực, xứng đáng là người lãnh đạo xã hội mới. V.I. Lênin cũng chỉ rõ: "Đảng Cộng sản…. cầm quyền tức là Đảng không chỉ lãnh đạo Nhà nước mà là lãnh đạo cả xã hội". Và trong điều kiện cầm quyền đó, Đảng phải là "trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại".

 Sự ra đời của một Đảng Cách mạng chân chính là hết sức cần thiết. Giải đáp vấn đề "Cách mệnh trước hết phải có cái gì?",Hồ Chí Minh chỉ rõ "trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững mạnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy".Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03-02-1930) là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Đây là một bước ngoặt lịch sử trọng đại, chấm dứt cuộc khủng hoảng kéo dài về tổ chức và đường lối của cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. "Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng".

 

Thứ Hai, 18 tháng 1, 2021

NHẬN DIỆN RÕ THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ ĐẢNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Hiện nay, các thế lực thù địch tung ra quan điểm "Đảng Công sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, không đủ khả năng để lãnh đạo đất nước". Mục đích và thủ đoạn của chúng là gì? Có thể xem xét trên các khía cạnh sau đây:

Về chính trị: chúng cho rằng "Ở Việt Nam, công nghiệp chưa phát triển, số lượng, chất lượng công nhân giai cấp công nhân bị hạn chế. Đảng Cộng sản Việt Nam không thể gọi là Đảng của giai cấp công nhân được, nó có rất ít tính tính công nhân mà mang đậm tính nông dân, chịu ảnh hưởng nặng nề của chủ nghĩa phong kiến". Vì thế, "giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản không thể lãnh đạo, xây dựng được chủ nghĩa xã hội đích thực ở Việt Nam" (!). "Đảng không nên giữ vai trò lãnh đạo chính trị, không nên và không thể lãnh đạo tuyệt đối". Chúng phê phán Đảng ta đã sai lầm về chính trị khi "vội vàng xóa bỏ" đảng Dân chủ và đảng Xã hội, "tạo điều kiện cho Đảng Cộng sản độc đoán, chuyên quyền, bóp nghẹt tự do, dân chủ". Chúng kêu gọi: "Từ bỏ độc quyền lãnh đạo là vấn đề căn bản vì đó là then chốt của chế độ dân chủ. Đảng Cộng sản Việt Nam cho mình cái quyền đứng trên dân tộc, cái đó không ai chịu chấp nhận"; đòi "xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng".

Về tư tưởng: chúng cho rằng "Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng là sai lầm", vì rằng "chủ nghĩa Mác - Lênin là ngoại lai, bắt nguồn từ phương Tây, nên không còn phù hợp với Việt Nam"; rằng "Học thuyết Mác là sản phẩm của thế kỷ XIX, do vậy, đem đặt nó trong bối cảnh thế kỷ XXI nếu không lạc hậu, thì cũng chẳng thể là khoa học"(!); "chủ nghĩa Mác đã đóng góp khá nhiều cho lịch sử, đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử rồi, nó không còn phù hợp với thời đại ngày nay"; v.v..

Đối với tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng cho rằng, Hồ Chí Minh là nhà "dân tộc chủ nghĩa chứ không phải là nhà mácxít"; "không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng" vì không phù hợp với điều kiện mới của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Đảng Cộng sản Việt Nam đề cao tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, là để "an dân" chứ thực chất không theo Hồ Chí Minh (!?).

Về phương diện tổ chức: chúng tập trung đánh vào các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ. "Trong nội bộ Đảng vẫn duy trì cái gọi là "chế độ tập trung dân chủ" mà hầu hết các đảng cộng sản trên thế giới đã từ bỏ, vì thế thực chất, sự quyền lực bao giờ cũng đưa đến chỗ triệt tiêu dân chủ. Nhiều lắm dân chủ chỉ trở thành đồ rởm, chỉ các tác dụng trang trí cho sự tập trung quyền lực". Chúng cho rằng, nguyên tắc tập trung dân chủ đã lỗi thời, nó chỉ thích hợp với hoạt động của Đảng khi chưa giành được chính quyền, còn hoạt động bí mật hoặc lãnh đạo trong chiến tranh; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên nhân gây ra độc đoán, chuyên quyền trong Đảng và trong xã hội, sẽ không có dân chủ, không có nhân đạo.

Chúng còn cho rằng, trong Đảng có nhiều phe phái: phe cải cách và phe bảo thủ; trong Đảng còn có các nhóm lợi ích, v.v..

Về đạo đức: chúng bịa đặt, bôi nhọ, nói xấu cán bộ Đảng và Nhà nước, đánh vào sinh hoạt, đạo đức, lối sống các đồng chí lãnh đạo; tung ra nhiều những chuyện giật gân trong sinh hoạt của lãnh đạo. Chúng cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng suy thoái, đảng viên của Đảng suy thoái, biến chất; tham nhũng, tham ô, lãng phí là căn bệnh trầm kha không thể chữa trị được. Từ đó chúng suy diễn thành "Đảng tham nhũng", "Nhà nước tham nhũng"...

Thực chất, đây là những thủ đoạn dọn đường cho sự hình thành tư tưởng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập hòng vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

 Chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam là mục tiêu hàng đầu và xuyên suốt của các thế lực thù địch. Chúng dùng nhiều thủ đoạn tinh vi, tiến hành tác động, phá hoại nội bộ Đảng, làm giảm uy tín, đi đến xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Tuy nhiên, dù có sử dụng "trăm phương nghìn kế", các thế lực thù địch cũng không thể phủ nhận được sự thật hiển nhiên về niềm tin của toàn dân ta đồng lòng đi theo Đảng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với những thành tựu to lớn đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận cả trên phương diện lý luận, thực tiễn và lịch sử.

NGĂN CHẶN SỰ HOÀNH HÀNH CỦA THÔNG TIN XẤU ĐỘC TRÊN MẠNG

 


Đại đa số người dân khi gặp phải những thông tin thất thiệt, xấu độc đều rất bất bình,lên án mạnh mẽ. Tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân ta rất tâm huyết, trách nhiệm trước sự kiện lớn của Đảng. Tuy nhiên, bên cạnh sự chống phá của các thế lực thù địch, có một điều rất đáng lưu tâm là ngay trong nội bộ ta xuất hiện những cán bộ suy thoái tư tưởng, cơ hội chính trị, tham vọng cá nhân. Họ tìm cách tiến thân nhưng không bằng sự nỗ lực phấn đấu của chính mình cống hiến, không bằng uy tín của cá nhân mình mà lại tìm mọi cách hạ uy tín đồng chí, đồng nghiệp mình. Chính những con người này cũng tung tin bóp méo, xuyên tạc sự thật, vu khống, gửi đơn thư nặc danh, mạo danh hoặc sử dụng mạng xã hội để tạo "sóng" dư luận, nhằm động cơ cá nhân thấp hèn. Do vậy, cùng với đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, chúng ta cần đẩy mạnh phòng, chống thông tin xuyên tạc, bịa đặt, xấu độc ngay từ bên trong làm trong sạch nội bộ. Xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng, vu khống, bôi nhọ, tố cáo sai sự thật, chúng ta cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao khả năng “miễn dịch” cho nhân dân trước những thông tin xấu độc từ kẻ xấu và các thế lực thù địch. Đặc biệt, cần phát huy tốt vai trò của báo chí, truyền thông trong đấu tranh phòng, chống. Thực tiễn đòi hỏi sự chủ động thông tin và tính định hướng của báo chí chính thống phải rất cao. Báo chí chính thống phải là một trong những kênh thông tin chủ lực, hữu hiệu để cung cấp thông tin kịp thời, trung thực, minh bạch, khách quan giúp người dân hiểu biết toàn diện, đầy đủ về các vấn đề, sự kiện của Đảng, của đất nước để từ đó định hướng dư luận, vun đắp, xây dựng niềm tin cho nhân dân. Đồng thời góp phần nâng cao “sức đề kháng” cho nhân dân trước những thông tin xấu độc, xuyên tạc nhằm động cơ chống phá Đại hội XIII của Đảng.

Những biện pháp trên là rất cần thiết, nhưng có lẽ để vô hiệu hóa thông tin xấu độc phương cách tốt nhất là chúng ta phải tiếp tục làm tốt mọi công việc chuẩn bị để bảo đảm Đại hội XIII của Đảng chúng ta thành công tốt đẹp. Đó chính là đòn phản bác thuyết phục trước những chiêu trò chống phá của các thế lực thù địch, phản động./.

Hướng tới Đại hội XIII của Đảng

 Đại hội XIII của Đảng chuẩn bị khai mạc trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường. Đây cũng là thời điểm đặc biệt, khi đất nước có sự chuyển giao thế hệ từ lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, được rèn luyện, trưởng thành trong những năm tháng kháng chiến, sang lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, trưởng thành trong hòa bình và được đào tạo từ nhiều nguồn, trong đó có cả việc học tập ở trong nước và nước ngoài.

Tại Hội nghị lần thứ 15 (Khóa XII) mới đây, Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII đã thảo luận dân chủ, thẳng thắn, trách nhiệm và biểu quyết thông qua danh sách nhân sự đề cử bổ sung một số đồng chí lần đầu tham gia Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, bổ sung một số đồng chí Ủy viên Trung ương khóa XII thuộc trường hợp “đặc biệt” tái cử khóa XIII và một số đồng chí lần đầu thuộc trường hợp “đặc biệt” tham gia Ủy viên Trung ương chính thức; thông qua nhân sự là Ủy viên Bộ Chính trị khóa XII thuộc trường hợp “đặc biệt” tái cử khóa XIII và danh sách đề cử các đồng chí vào các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước nhiệm kỳ khóa XIII với số phiếu tập trung rất cao.

Trước thềm Đại hội XIII của Đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân kỳ vọng không để lọt những cán bộ mắc những nhóm khuyết điểm Trung ương đã đề ra. Đồng thời tin tưởng vào một nhiệm kỳ mới với đội ngũ cán bộ thực sự đủ đức, đủ tài, có tầm nhìn chiến lược, có tư duy đổi mới, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Trong quá trình chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã có bài viết quan trọng và nhiều lần nhấn mạnh đến công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII của Đảng. Tại Hội nghị cán bộ toàn quốc ngày 23/4/2020 và Hội nghị Trung ương lần thứ 12 từ ngày 11-14/5/2020 bàn về công tác chuẩn bị nhân sự, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã có bài phát biểu chỉ đạo quan trọng về “Một số vần đề cần đặc biệt quan tâm trong công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII của Đảng”.

Trong bài viết của mình, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã đề cập toàn diện và phân tích sâu sắc về vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII của Đảng. Yêu cầu của công tác chuẩn bị nhân sự lần này; nội dung, phương pháp, quy trình, cách thức tiến hành và xác định trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, mà trước hết là của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Tiểu ban nhân sự.

Như vậy, nói đến công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII của Đảng là nói đến việc chuẩn bị nhân sự Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ 2021 - 2026. Đây là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa quyết định vận mệnh của Đảng, của chế độ xã hội chủ nghĩa và sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong những năm tới.  

Công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII của Đảng được đặc biệt chú trọng về chất lượng trên cơ sở bảo đảm số lượng và cơ cấu hợp lý, nhưng không vì cơ cấu mà hạ thấp tiêu chuẩn. Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII phải thật sự là một tập thể đoàn kết thống nhất, trong sạch vững mạnh; có tư duy đổi mới và tầm nhìn chiến lược; tiêu biểu cho toàn Đảng về trí tuệ, tính chiến đấu, tính kỷ luật và gắn bó mật thiết với nhân dân.  

Đồng thời, bảo đảm tính kế thừa, phát triển và sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ cán bộ cao cấp của Đảng. Tỷ lệ cán bộ trẻ, nữ, người dân tộc thiểu số nhiệm kỳ Đại hội XIII cũng tăng hơn so với nhiệm kỳ Đại hội XII.

Cụ thể là: Tỷ lệ trẻ dưới 45 tuổi trên 10% (Khóa XII là 9,5%); cán bộ nữ từ 10-12% (Khóa XII là 10%); cán bộ là người dân tộc thiểu số từ 10-12% (Khóa XII là 8,5%). Việc chuẩn bị, giới thiệu và bầu cử Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Khóa XIII phải thực sự dân chủ, khách quan, công tâm và đặt lợi ích của quốc gia - dân tộc và của nhân dân lên trên hết, trước hết.

Dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh. Trong đó, trọng tâm là đẩy mạnh toàn diện cuộc đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ. Chúng ta tin tưởng vào quyết tâm xây dựng, chỉnh đốn và đổi mới của Đảng, tin tưởng vào thành công và sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng./

 

Thật giả nhân sự XIII của Đảng

        Trước, đại hội XIII  của Đảng, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội, phản động tung ra các luận điệu sai trái, thù địch chống phá. Trên các trang mạng xã hội một số đối tượng cơ hội, chống đối trong và ngoài nước đã tập trung khai thác, đăng tải hàng loạt bài viết sai lệch, suy diễn với dụng ý xấu. Những luận điệu xuyên tạc, sai trái các đối tượng tập trung chống phá đáng chú ý là:

Chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trên VOA, họ đưa ra những luận điệu: “Ý thức hệ và điều cần thay đổi”, “Cung cách chuẩn bị nhân sự và đường lối xây dựng xã hội không thay đổi, vẫn là kiên trì xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vẫn coi học thuyết xây dựng xã hội của Lênin làm nền tảng tư tưởng - lý luận thì đừng mong một sự thay đổi tốt đẹp”. Từ đó xuyên tạc: “Chuyện Đảng cộng sản kiên quyết chỉ duy trì một ngôi nhà chính trị duy nhất – ngôi nhà của những người theo Mác và Lênin – khiến cho hàng chục triệu người trở thành vô gia cư về chính trị, nhân dân chẳng tha thiết gì với chủ nghĩa cộng sản và các đồng chí trong đảng cộng sản”…

Nhằm cổ suý đa nguyên, đa đảng, đả phá và hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, trên đài BBC, VOA… đăng tải các bài viết, trong đó lấy ý kiến của một số cá nhân, đối tượng vốn có “thâm niên” chống đối Đảng Cộng sản, chính quyền nhân dân, cho rằng đã đến lúc “Đảng Cộng sản Việt Nam phải dân chủ hoá, đa đảng. Phải chấp nhận và để cho chế độ đa đảng xuất hiện, tồn tại để các đảng phái chính trị cạnh tranh công khai, công bằng”. Họ viện cớ góp ý để kích động: “phải đa đảng, từ đó xem đảng nào có những quyết sách tốt nhất, được ủng hộ nhất đưa đất nước phát triển và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, cũng như ai phục vụ nhân dân tốt nhất và được nhân nhân tín nhiệm giao phó trọng trách điều hành việc nước”.

Lấy vỏ bọc bên ngoài là dân chủ, họ quy kết công tác cán bộ của Đảng rằng, cách làm nhân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay không có sự cạnh tranh công khai, minh bạch. Tất cả các quy định, thủ tục lựa chọn nhân sự chỉ để hợp thức hóa việc lựa chọn người theo phe cánh, quan hệ và việc mua quan bán tước (tiêu cực, hối lộ, đút lót). Đó là cách lựa chọn nhân sự được đúc kết: “thứ nhất hậu duệ - thứ nhì quan hệ - thứ ba tiền tệ - thứ tư trí tuệ. Trong khi đó cũng có sự cạnh tranh nhưng là cạnh tranh ngầm giữ các phe cánh”. Họ phân tích theo hướng tiêu cực “tranh giành quyền lực”, “đấu đá nội bộ”, dự đoán, sắp xếp vị trí theo kiểu “trong nhà chưa tỏ, ngoài ngõ đã thông”, phân tích, suy diễn theo chiều hướng tiêu cực, đấu đá, mất đoàn kết nội bộ, gây rối loạn thông tin, hoang mang trong dư luận xã hội.

Thủ đoạn của các đối tượng nhằm thực hiện mục tiêu cuối cùng, không bao giờ thay đổi là xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, hướng lái cách mạng Việt Nam chệch hướng với mục tiêu, con đường mà Đảng và Bác Hồ, nhân dân đã lựa chọn. Từ lâu, các thế lực chống phá đã ra sức xuyên tạc, bóp méo, suy diễn, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vốn là cơ sở lý luận khoa học, cách mạng, kim chỉ nam cho mọi hành động trong quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội là mục tiêu tấn công, thúc đẩy “tự do hóa” chính trị. Thực hiện “đa nguyên chính trị, “đa đảng đối lập” để tạo ra cơ hội, môi trường hoạt động của các tổ chức phản động, đảng phái chính trị đối lập. Họ luôn hô hào đất nước phải “đa nguyên” mới là tự do, “đa đảng” mới có dân chủ; coi đó là tiêu chuẩn, giá trị khuôn mẫu để dẫn dắt sự tiến bộ của mọi quốc gia, dân tộc dù điều kiện, hoàn cảnh lịch sử khác nhau. Do vậy, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng được quy định trong Điều 4 – Hiến pháp, cũng như vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội được lịch sử dân tộc, nhân dân lựa chọn là âm mưu, thủ đoạn tinh vi, mục đích của các thế lực thù địch, phản động.

Công tác cán bộ là một trong những nội dung quan trọng nhất mỗi kỳ Đại hội Đảng. Nhằm làm suy giảm, xói mòn niềm tin của quần chúng nhân dân vào tính ưu việt của chế độ, uy tín của Đảng, chúng tinh vi khoét sâu vào công tác nhân dự Đại hội; giở trò dự đoán nhân sự, sắp xếp ghế này, ghế nọ, tung chiêu phe này đánh phia kia, người này “tranh giành, tiêu diệt, triệt hạ” người kia… Các đối tượng tự vẽ lên tình hình chính trị nội bộ với gam màu xám, an ninh chính trị “đấu đá, lâm nguy”. Nhiều người nếu thiếu tỉnh táo, khi xem các thông tin tiêu cực trên mạng có thể bị dẫn dắt theo luận điệu của chúng, tư tưởng hoang mang, dao động, mất niềm tin vào chế độ, vai trò lãnh đạo của Đảng.

Thực chất, việc xuyên tạc Hội nghị 13 nằm trong mưu đồ chống phá Đại hội XIII của Đảng, một phương thức, thủ đoạn của chiến lược “diễn biến hoà bình”, xóa bỏ CNXH ở Việt Nam, thực hiện đa nguyên, đa đảng, thay đổi thể chế chính trị.

Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH được xây dựng trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là sự lựa chọn của lịch sử. Đi theo chủ nghĩa Mác – Lênin, xác định độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là mục tiêu xuyên suốt, được xây đắp, bảo vệ bằng xương máu của bao thế hệ người dân đất Việt. Sự lựa chọn và kiên định đó đã đem lại thành quả, để đất nước có “vị thế và cơ đồ” như ngày hôm nay. Bởi vì chủ nghĩa, tư tưởng, chế độ ấy bảo vệ lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân, đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân lao động, có Đảng Cộng sản là đội quân tiên phong của giai cấp công nông lãnh đạo, tổ chức cách mạng, vì lợi ích của dân tộc, nhân dân.

Chính vì vậy, trong bài viết “Chuẩn bị và tiến hành thật tốt Đại Hội XIII của Đảng, đưa đất bước vào một giai đoạn phát triển mới”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; kiên định đường lối đổi mới của Đảng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN”. Đây là nền tảng vững chắc của Đảng ta. Thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên đổi mới không phải là “đổi màu”, “hòa tan” như các thế lực thù địch mong muốn.

Kích động chống phá vào góp ý dự thảo các văn kiện Đại hội XIII của Đảng

Trong khi đông đảo các tầng lớp nhân dân đang có những ý kiến đóng góp tâm huyết, trách nhiệm vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng thì vẫn còn một số người cố tình lợi dụng việc đóng góp ý kiến để xuyên tạc, tuyên truyền các luận điệu sai trái, thù địch. Vì vậy, việc nhận diện một cách đầy đủ âm mưu, ý đồ, thủ đoạn của các đối tượng từ đó chủ động triển khai các công tác, biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn là rất cần thiết khi Đại hội XIII của Đảng đang đến gần.

Những người này đưa ra những luận điệu cho rằng: Dự thảo văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng chỉ là sự sao chép và biến tấu từ văn bản các đại hội trước, nội dung không có giá trị gì so với sự phát triển của đất nước mà ngược lại là nhân tố kìm hãm sự tiến bộ của dân tộc ta; văn kiện Đại hội XIII cũng chỉ là những vấn đề sáo rỗng, giáo điều, bảo thủ, khư khư ôm giữ chủ nghĩa Mác - Lênin để duy trì quyền lực của Đảng mà thôi... Từ đó, họ kích động các đối tượng cơ hội, bất mãn viết bài tung lên Internet, mạng xã hội, tạo dư luận đòi Việt Nam phải thay đổi toàn bộ “bộ khung” hiện nay, tức là thực hiện “đa nguyên”, “đa đảng”, “xã hội dân sự” và “đừng trông chờ vào Đại hội XIII của Đảng”.

Cá biệt, một số đối tượng còn đưa ra những luận điệu xuyên tạc rằng, việc coi trọng “xây dựng chỉnh đốn hệ thống chính trị” gắn với chỉnh đốn Đảng trong dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII cho thấy, Đảng đang lo ngại về vai trò và sức mạnh của Đảng. Một số đối tượng khác thì lợi dụng việc góp ý vào dự thảo các văn kiện Đại hội XIII của Đảng để kêu gọi đòi thay đổi Điều 9, Điều 10 Hiến pháp năm 2013 để tổ chức công đoàn trở thành các tổ chức “xã hội dân sự”, không chịu sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; thay đổi cơ cấu tổ chức và thành phần của các cơ quan như Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên... để những tổ chức này được thành lập dựa trên sự tự nguyện của người dân, không chịu sự chỉ đạo, định hướng của Đảng, Nhà nước.

Tại cuộc họp Tiểu ban Văn kiện Đại hội XIII của Đảng ngày 11-9-2020, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh rằng, văn kiện Đại hội là văn kiện rất quan trọng, không phải là nghị quyết bình thường mà là văn kiện 5 năm mới có một lần, vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn, tính chính trị, rất cơ bản, còn lưu mãi trong lịch sử. Bởi vậy, các tầng lớp nhân dân, các nhà nghiên cứu, nhà khoa học cần có nhiều ý kiến đóng góp tâm huyết, trách nhiệm để Đảng tiếp thu, chọn lọc, tìm tiếng nói chung để trình ra Đại hội.

Để chủ động phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn âm mưu, ý đồ, hoạt động của các đối tượng lợi dụng việc góp ý vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, chúng ta cần thực hiện tốt một số công việc trọng tâm sau:

Tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về ý nghĩa, sự cần thiết của việc đóng góp ý kiến đối với các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, về những vấn đề, nội dung, hình thức thảo luận, đóng góp ý kiến... nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động, cũng như sự đồng thuận trong nhân dân. Tổ chức việc thảo luận, lấy ý kiến nhân dân vào dự thảo các văn kiện Đại hội XIII của Đảng nghiêm túc, có chất lượng, tránh hình thức. Các cơ quan chức năng giúp việc cho Đảng cần đề cao trách nhiệm, tiếp thu đầy đủ ý kiến của các tầng lớp nhân dân, tổng hợp nghiên cứu, phân tích những ý kiến có đủ căn cứ khoa học và những ý kiến chưa có cơ sở khoa học, tham mưu đề xuất đưa ra Đại hội thảo luận, quyết định.

Tăng cường đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch về dự thảo các văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Chú ý phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, truyền thông, đội ngũ nhà báo và sự tham gia tích cực của những người có uy tín, ảnh hưởng trong xã hội, nhất là trí thức, văn nghệ sĩ, nhà khoa học, chuyên gia, những người nghiên cứu lý luận... trong đấu tranh phản bác. Thực hiện tốt việc đấu tranh trên các phương tiện truyền thông đại chúng, Internet, mạng xã hội. Đồng thời, coi trọng công tác định hướng dư luận xã hội trong đấu tranh với thông tin xuyên tạc về dự thảo các văn kiện Đại hội XIII của Đảng.