Thứ Hai, 29 tháng 3, 2021

Ý nghĩa của chiến thắng ngày 30/4 Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước

Chiến thắng 30/4 là một trong những mốc son chói lọi nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Hướng tới k niệm 46 năm ngày Giải Phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2021), trong những ngày tháng 4 lịch sử chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu về ý nghĩa của chiến thắng này.

Vào cuối năm 1974 – đầu năm 1975, nhận thấy tình hình so sánh lực lượng ở Miền Nam có sự thay đổi mau lẹ có lợi cho cách mạng, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã đề ra kế hoạch giải phóng hoàn toàn Miền Nam trong hai năm 1975 và 1976. Bộ Chính trị nhấn mạnh “cả năm 1975 là thời cơ” và chỉ rõ “nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng hoàn toàn Miền Nam trong năm 1975”. Bộ Chính trị cũng nhấn mạnh cần tranh thủ thời cơ đánh thắng nhanh để đỡ thiệt hại về người và của cho nhân dân, giữ gìn tốt cơ sở kinh tế, công trình văn hóa, giảm bớt sự tàn phá của chiến tranh. Sau chiến thắng của quân ta ở chiến dịch Tây Nguyên và chiến dịch Huế-Đà Nẵng, Bộ Chính trị đã nhận định: “Thời cơ chiến lược đã đến, ta có điều kiện hoàn thành sớm quyết tâm giải phóng Miền Nam” và đã đưa ra quyết định: “phải tập trung nhanh nhất lực lượng, binh khí kỹ thuật và vật chất giải phóng Miền Nam trước mùa mưa”, đồng thời chiến dịch giải phóng Sài Gòn-Gia Định được Bộ Chính trị quyết định mang tên “chiến dịch Hồ Chí Minh”. Trước khi tấn công giải phóng Sài Gòn, quân ta đã tiến công Xuân Lộc và Phan Rang, đây là những căn cứ phòng thủ trọng yếu của địch để bảo vệ Sài Gòn từ phía đông.

Vào lúc 17 giờ ngày 26/4, quân ta đã nổ súng mở đầu chiến dịch, năm cánh quân của ta đã vượt qua tuyến phòng thủ của địch để tiến vào trung tâm Sài Gòn, đánh chiếm các cơ quan đầu não của chúng. 10 giờ 45 phút ngày 30/4, xe tăng và bộ binh của ta tiến vào Dinh Độc Lập, bắt toàn bộ Nội các của Sài Gòn, Dương Văn Minh vừa lên chức tổng thống ngày 28/4 đã phải tuyên bố đầu hàng quân ta không điều kiện. Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày, lá cờ cách mạng tung bay trên Dinh Độc Lập, báo hiệu sự toàn thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Đại thắng mùa xuân 1975 đã chứng minh trí tuệ và tài thao lược của Đảng ta trong lãnh đạo và chỉ đạo chiến tranh cách mạng, cũng như chứng minh tinh thần quật khởi của người dân Việt Nam trong đấu tranh chống ngoại xâm. Chiến thắng đã chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc và chế độ phong kiến ở nước ta, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất đất nước, đồng thời mở ra một kỷ nguyên mới của dân tộc, cả nước cùng tiến lên CNXH. Thắng lợi này đã đi vào lịch sử nước ta và của thế giới, như một trang sử chói lọi ở những năm 70 của thế kỷ XX, mang tầm quốc tế, tầm thời đại sâu sắc.


Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã đi vào lịch sử dân tộc như một mốc son chói lọi đưa đất nước ta bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta từ đây tập trung sức lực và trí tuệ hàn gắn vết thương chiến tranh xây dựng cuộc sống mới; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Chiến thắng ngày 30/4/1975 là thành quả vĩ đại trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội do Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; là trang sử hào hùng, chói lọi trên con đường dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm lịch sử của dân tộc. Quân và dân ta đã đánh thắng kẻ thù lớn mạnh và hung hãn nhất của loài người tiến bộ; kết thúc oanh liệt cuộc chiến đấu 30 năm giành độc lập tự do, thống nhất cho Tổ quốc; chấm dứt ách thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất nước ta; là thắng lợi tiêu biểu của lực lượng cách mạng thế giới, góp phần thúc đẩy cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì mục tiêu độc lập dân tộc, hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội; cổ vũ động viên các dân tộc đang tiến hành công cuộc giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa thực dân kiểu mới trên toàn thế giới.

Ngày nay, trong công cuộc đổi mới của đất nước, chúng ta mãi tự hào và biết ơn sự hy sinh to lớn của các anh hùng, các thế hệ cha ông ta đã chiến đấu anh dũng vì độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc. Chúng ta càng tự hào, tin tưởng vào sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt tài tình của Đảng cộng sản Việt Nam, vào tinh thần quật cường bất khuất và trí thông minh, sáng tạo của dân tộc ta, của quân đội ta. Mỗi người dân Việt Nam nguyện tiếp tục phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần tự lực, tự cường, tinh thần đại đoàn kết toàn dân, bằng bản lĩnh, ý chí hiện thực hóa khát vọng về một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng vào năm 2045, tư tưởng xuyên suốt trong các văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng. 

Mai Năm Mới (ST)

Những quan niệm về dân chủ- làm cơ sở cho dân chủ xã hội chủ nghĩa ra đời và phát triển


 Theo nghĩa gốc (nguyên nghĩa): Thuật ngữ dân chủ xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ V đến thế kỷ IV tr.CN tại Hy Lạp. Theo tiếng Hy Lạp, dân chủ được viết là Demoskratos, trong đó Dẻmos nghĩa là nhân dân và kratos nghĩa là quyền lực. Theo cách diễn đạt này, dân chù trong tiếng Hy Lạp cổ được hiểu nhân dân cai trị và sau này được các nhà chính trị dịch giản lược là quyền lực của nhân dân hay quyền lực thuộc về nhân dân.

Đến thế kỷ XVIII, người Anh đã dựa vào ngôn ngữ Hy Lạp cổ để đưa ra thuật ngữ “democracy”, có nghĩa là “chính thể dân chủ”- thể chế dân chủ, một trong những hình thức chính quyền với đặc trưng là: chính quyền nhà nước phải thừa nhận quyền tự do và bình đẳng của công dân. Điều đó có nghĩa là: Dân chủ là chính thể nhà nước thừa nhận quyền tự do, bình đẳng của nhân dân.

Xem xét các nềp dân chủ trong lịch sử cho thấy, nội dung trên của khái niệm dân chủ về cơ bản vẫn giữ nguyên cho đến ngày nay. Điểm khác biệt cơ bản giữa cách hiểu về dân chủ thời cổ đại và hiện nay là ở tính chất trực tiếp của mối quan hệ sở hữu quyền lực công cộng và cách hiểu về nội hàm của khái niệm nhân dân. 

Cần cảnh giác với “dân chủ” mạng

Tự do internet không có nghĩa tuyệt đối. Không phải ai thích viết gì, nói gì, muốn xâm phạm cá nhân, tổ chức nào trên internet cũng được. Ngày nay, với sự bùng nổ internet, các quốc gia căn cứ đặc điểm, tình hình cụ thể để đề ra các quy định quản lý phù hợp. Điểm mấu chốt là dù quản lý theo phương thức nào thì cũng nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích cá nhân, tổ chức, tránh các hành vi lạm dụng phạm pháp.

Điều 25, Bộ luật dân sự 2005 quy định khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi, xin lỗi, cải chính công khai, yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại. Đồng thời, Bộ luật Hình sự cũng quy định rõ các điều luật về “tội vu khống”, “tội lợi dụng quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”... để xử lý các hành vi phạm tội.

Ai cũng có quyền tiếp cận thông tin, nhưng mỗi người hãy tự biết cách bảo vệ mình trước những thông tin sai trái, bịa đặt, độc hại. Quyền tự do thể hiện quan điểm, chính kiến nhưng quyền ấy là có ranh giới, cần tỉnh táo nhận diện để không bị rơi vào sự hỗn độn thông tin, không bị kẻ xấu hướng lái, lôi kéo, biến mình thành nhà “dân chủ mạng”, trở thành con rối của kẻ địch, sử dụng mạng internet thành công cụ xâm hại cá nhân, tổ chức, xâm hại quốc gia, dân tộc mà mình là chủ thể có nghĩa vụ bảo vệ, gìn giữ.

Cần đặc biệt cảnh giác với các thông tin bịa đặt, độc hại trên không gian mạng của các thế lực thù địch, phản động hòng chia rẽ nội bộ, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân và phải nghiêm trị hành vi sử dụng mạng internet phá hoại nội bộ, bôi nhọ, hạ uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

 

Cần cảnh giác với “dân chủ” mạng

Tự do internet không có nghĩa tuyệt đối. Không phải ai thích viết gì, nói gì, muốn xâm phạm cá nhân, tổ chức nào trên internet cũng được. Ngày nay, với sự bùng nổ internet, các quốc gia căn cứ đặc điểm, tình hình cụ thể để đề ra các quy định quản lý phù hợp. Điểm mấu chốt là dù quản lý theo phương thức nào thì cũng nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích cá nhân, tổ chức, tránh các hành vi lạm dụng phạm pháp.

Điều 25, Bộ luật dân sự 2005 quy định khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi, xin lỗi, cải chính công khai, yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại. Đồng thời, Bộ luật Hình sự cũng quy định rõ các điều luật về “tội vu khống”, “tội lợi dụng quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”... để xử lý các hành vi phạm tội.

Ai cũng có quyền tiếp cận thông tin, nhưng mỗi người hãy tự biết cách bảo vệ mình trước những thông tin sai trái, bịa đặt, độc hại. Quyền tự do thể hiện quan điểm, chính kiến nhưng quyền ấy là có ranh giới, cần tỉnh táo nhận diện để không bị rơi vào sự hỗn độn thông tin, không bị kẻ xấu hướng lái, lôi kéo, biến mình thành nhà “dân chủ mạng”, trở thành con rối của kẻ địch, sử dụng mạng internet thành công cụ xâm hại cá nhân, tổ chức, xâm hại quốc gia, dân tộc mà mình là chủ thể có nghĩa vụ bảo vệ, gìn giữ.

Cần đặc biệt cảnh giác với các thông tin bịa đặt, độc hại trên không gian mạng của các thế lực thù địch, phản động hòng chia rẽ nội bộ, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân và phải nghiêm trị hành vi sử dụng mạng internet phá hoại nội bộ, bôi nhọ, hạ uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

 

VẠCH TRẦN NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI PHỦ NHẬN MỤC TIÊU ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

 Qua 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tạo tiền đề quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển; khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử. Tuy nhiên, đất nước ta cũng đang đứng trước những khó khăn, thách thức không nhỏ. Tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, khó lường, nhất là sự cạnh tranh về chủ quyền, lãnh thổ, biển, đảo ngày càng quyết liệt giữa các nước diễn ra ở nhiều khu vực, trong đó có Biển Đông; sự chống phá quyết liệt bằng chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Trong nước, những hạn chế, khuyết điểm vốn có của nền kinh tế chưa được giải quyết; những hạn chế, yếu kém trong lãnh đạo, quản lý và những vấn đề mới phát sinh đã làm cho kinh tế phát triển thiếu ổn định, chưa bền vững; chất lượng, hiệu quả, năng suất lao động xã hội và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp.

Lợi dụng tình hình đó, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, thậm chí một số cán bộ, đảng viên non kém về bản lĩnh chính trị và sự nhạy cảm về chính trị muốn phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng. Họ cho rằng “chủ nghĩa xã hội là con đường mù mờ, không có tương lai”, “đi vào ngõ cụt”, “đã bị lịch sử phủ định”; “ngày xưa trong thời kỳ phong kiến đã có chủ nghĩa xã hội đâu mà vẫn giữ được độc lập dân tộc”, “lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa là do ý chí chủ quan của Đảng”; “chủ nghĩa nào, chế độ nào cũng được, miễn là dân giàu, nước mạnh”. Những quan điểm trên đây không thể đứng vững được trước sự phê phán của lý luận và thực tế lịch sử.

Thời gian gần đây xuất hiện trên internet và một số ấn phẩm in, tán phát những quan điểm sai trái, như đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lênin để từ đó phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Họ nói “Đảng Cộng sản Việt Nam dẫn dắt dân tộc đi theo đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội”, “thể chế chính trị ở Việt Nam hiện nay là độc đảng, toàn trị, đang kìm hãm tự do, dân chủ, chia rẽ dân tộc”; họ yêu cầu “Việt Nam ngày nay phải chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ” . Thực chất, họ muốn chúng ta phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; Đảng phải từ bỏ vai trò lãnh đạo của mình, từ bỏ hệ tư tưởng Mác – Lênin, từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa để chuyển sang dân chủ tư sản, tức là từ bỏ mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là những quan điểm sai trái, thù địch, cản trở sự phát triển của đất nước ta. Vì vậy mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, cần phải hết sức cảnh giác và tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc này của các thế lực phản động, thù địch./.

 

CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ SỰ LỰA CHỌN DUY NHẤT ĐÚNG CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là vấn đề lý luận và thực tiễn rất cơ bản, trọng yếu, liên quan trực tiếp đến đường lối chính trị của Đảng, phương hướng phát triển của đất nước. Đây là vấn đề trung tâm, cốt lõi trong đường lối cách mạng nước ta; nó chi phối toàn bộ các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại, an ninh - quốc phòng, xây dựng Đảng... của Đảng ta. Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề rất rộng lớn và phức tạp, có nhiều cách tiếp cận khác nhau và hiện vẫn còn không ít nội dung phải tiếp tục nghiên cứu, cắt nghĩa, lý giải, trả lời, cả trên định hướng chung cũng như trên định hướng cụ thể cho từng lĩnh vực.

Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: con đường cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội. Sự lựa chọn đó chính là sự chọn của dân tộc ta, của nhân dân Việt Nam, của giai cấp công nhân, phù hợp xu thế thời đại mới - thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong suốt quá trình thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, Đảng và nhân dân ta luôn nhận rõ cách mạng xã hội chủ nghĩa là một sự nghiệp đầy khó khăn, phức tạp, phải coi trọng và tuân thủ các quy luật khách quan, không thể nóng vội, chủ quan, duy ý chí, đốt cháy giai đoạn. Từng bước nhận rõ hơn về nền kinh tế ngoài quốc doanh và tập thể trong phát triển  sản xuất…con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta được chứng minh bằng những thắng lợi to lớn và phong phú nó đã làm thay đổi căn bản thế và lực của dân tộc ta.

Trong tình hình hiện nay, khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để chống phá các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó chúng coi Việt Nam là một trọng điểm để chống phá. Trên mặt trận lý luận tư tưởng kẻ thù cho rằng sự sụp đổ đó thì lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin không còn giá trị. Song chúng ta khẳng định tính tất thắng của chủ nghĩa xã hội, và thấy rõ sự sụp đổ đó chỉ là sụp đổ của một mô hình do sai lầm về nhận thức và chủ quan duy ý chí. Trong giai đoạn hiện nay chủ nghĩa tư bản đã điều chỉnh thích nghi, có những biện pháp kinh tế xã hội nhằm phát triển sản xuất, đồng thời làm dịu những xung đột trong nội bộ từng nước cũng như giữa các nước tư bản với nhau. Những biện pháp đó không thể vượt qua những khuôn khổ của chế độ tư bản chủ nghĩa. Vì vậy về bản chất của chủ nghĩa tư bản không hề thay đổi. Chủ nghĩa tư bản hiện đại ngày càng bộc lộ những khuyết điểm yếu kém, tình trạng chạy đua vũ trang, phân biệt giàu nghèo, bóc lột giá trị thặng dư…vẫn là bức xúc, và những mâu thuẫn vốn có trong lòng xã hội tư bản vẫn là nhân tố để chúng ta khẳng định loài người tất yếu đi theo con đường xã hội chủ nghĩa.


 MƯU ĐỒ PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI QUỐC HỘI

Trong lúc Hội đồng Bầu cử Quốc gia, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan chức năng đang gấp rút tiến hành những bước cần thiết theo quy định của pháp luật để chuẩn bị cho bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, thì trên mạng xã hội xuất hiện những luận điệu xuyên tạc, sai trái hòng làm suy giảm niềm tin của cử tri và nhân dân, phá hoại cuộc bầu cử.
Vệt bài “Vạch trần chiêu trò đòi “dân chủ” vô nguyên tắc trong bầu cử” nhằm chỉ ra những mưu đồ, luận điệu sai trái chống phá bầu cử để từ đó, cử tri và nhân dân nhận diện rõ, hoàn toàn vững tin, thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ bầu cử của mình trong “ngày hội của toàn dân”.
Một số đối tượng đòi mở rộng dân chủ trong hoạt động bầu cử và hoạt động của Quốc hội để từ đó đưa ra những yêu sách, luận điệu hoàn toàn sai trái như: Đòi Quốc hội phải độc lập với Đảng; cho rằng Đảng lãnh đạo Quốc hội là đứng ngoài và đứng trên luật pháp; rằng Đảng lãnh đạo Quốc hội là biểu hiện của mất dân chủ; đòi phải cân bằng quyền lực giữa Quốc hội và Đảng nên cần có ít nhất 50% đại biểu Quốc hội không phải là đảng viên, vì chỉ có đại biểu Quốc hội không phải là đảng viên mới đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, còn đại biểu Quốc hội là đảng viên chỉ bảo vệ ý chí của Đảng... Vậy những luận điệu trên sai trái và nguy hiểm như thế nào?
ĐẢNG LÃNH ĐẠO QUỐC HỘI ĐÃ ĐƯỢC HIẾN ĐỊNH
Đầu tiên cần phải khẳng định rằng, Nhà nước mà chúng ta đang xây dựng là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; do đó, mọi hoạt động đều phải thượng tôn pháp luật, không chấp nhận bất cứ một hoạt động nào trái pháp luật. Pháp luật nước ta đã quy định, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Điều này được ghi rõ trong Hiến pháp, được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Cụ thể, tại Khoản 1, Điều 4, Hiến pháp 2013 quy định rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam-Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Như thế, việc Đảng lãnh đạo Nhà nước trong đó có Quốc hội-một cơ quan của Nhà nước-đã được khẳng định trong Hiến pháp. Cho nên, không thể có việc Quốc hội độc lập hoặc thậm chí đối lập với Đảng như yêu sách của các thế lực thù địch bên ngoài, một số phần tử chống đối hoặc một số người không am hiểu pháp luật. Và như vậy, Đảng lãnh đạo công tác bầu cử Quốc hội, HĐND là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.
Phương thức lãnh đạo của Đảng với Quốc hội, trước tiên bằng nghị quyết, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng. Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, đại diện cho cử tri, toàn thể nhân dân nên việc Đảng lãnh đạo Quốc hội chính là để thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật, từ đó đưa vào thực tiễn cuộc sống.
Đảng lãnh đạo Quốc hội trực tiếp, toàn diện nhưng không làm thay, mà Đảng lãnh đạo Quốc hội là để phát huy vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội, phát huy trí tuệ của Đảng Đoàn Quốc hội, các đoàn ĐBQH, từng ĐBQH và thực hiện ý nguyện của nhân dân. Thông qua hoạt động của Quốc hội (lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước) tác động lại sự lãnh đạo của Đảng trong việc đưa ra các chủ trương, chính sách mới để đưa đất nước ngày càng phát triển.
Đảng viên trong Quốc hội thể hiện bản chất Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Ý kiến đòi ĐBQH không phải là đảng viên phải chiếm 50% Quốc hội là không phù hợp. Đó là vì, Đảng lãnh đạo Quốc hội thông qua Đảng Đoàn Quốc hội và thông qua các đảng viên tại Quốc hội. Trong Quốc hội, số lượng đảng viên chiếm đa số, thuộc nhiều giai cấp, tầng lớp, thành phần trong xã hội. Có thể nói, số lượng đảng viên trong Quốc hội cũng chính là một đặc trưng, thể hiện bản chất Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đảng viên được bầu làm ĐBQH nhìn chung đều có trình độ, có tri thức, có đạo đức, có vị trí, vai trò nhất định trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của đất nước cũng như thực hiện đường lối chính sách của Đảng. Thông qua hoạt động của mình, các đảng viên giữ các vị trí quan trọng trong xã hội tham gia giải quyết những vấn đề của Quốc hội và cũng chính là thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng thông qua các đảng viên. Muốn nâng cao chất lượng công tác lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, cần định hướng, xây dựng các ĐBQH, đội ngũ cán bộ hoạt động tại Quốc hội có nhận thức chính trị vững vàng, đạo đức tốt, có tri thức và chuyên môn sâu.
Đảng lãnh đạo công tác bầu cử là cơ sở quan trọng để bảo đảm sự thống nhất trong công tác bầu cử; góp phần lựa chọn, bầu ra những đại biểu tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ mới, bảo đảm đủ tiêu chuẩn, đủ số lượng, có cơ cấu hợp lý đối với đội ngũ đại biểu; tạo nền tảng cho việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Quan điểm cho rằng, chỉ có người ngoài đảng mới đại diện tốt cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, còn ĐBQH là đảng viên không đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân là hoàn toàn xằng bậy. Bởi vì, bản chất cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là cầm quyền vì lợi ích của nhân dân, đại diện cho lợi ích của nhân dân, cầm quyền theo pháp luật, cầm quyền một cách dân chủ và khoa học. Đảng cầm quyền không có mục đích nào khác vì sự phồn vinh của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời tới nay thì mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, mọi thành tựu của đất nước Việt Nam, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam đều có vai trò lãnh đạo của Đảng. Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” xác định là phương thức vận hành tổng thể của hệ thống chính trị Việt Nam. Cơ chế này là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của Đảng, Nhà nước và quần chúng nhân dân, đồng thời xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới. Vì thế, các đảng viên là ĐBQH không chỉ để giữ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước mà còn là đại diện chân chính cho tiếng nói, lợi ích chính đáng của nhân dân.
Có thể thấy, trong những năm qua, Quốc hội với đại đa số đại biểu là đảng viên đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, đóng góp tích cực về trí tuệ, công sức vào công cuộc phát triển đất nước, thực hiện tốt vai trò là đại diện, bảo vệ cho quyền, nguyện vọng và lợi ích hợp pháp của cử tri và nhân dân. Những thành tựu trong phát triển kinh tế-xã hội, văn hóa, giáo dục, quốc phòng, an ninh, đối ngoại..., trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; trong phòng, chống dịch bệnh; trong việc bảo đảm và từng bước nâng cao đời sống nhân dân đã thể hiện rõ hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, trong đó có Quốc hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Hoạt động của Quốc hội ngày càng dân chủ, với các hoạt động chất vấn, tranh luận rất sôi nổi, hiệu quả tại nghị trường, được cử tri và nhân dân cả nước quan tâm, đánh giá cao.
Bên cạnh đó, các ĐBQH không phải là đảng viên cũng đã tham gia tích cực, hiệu quả vào hoạt động của Quốc hội. Bởi vậy, việc những người ngoài Đảng tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp là hoàn toàn hợp pháp. Nếu hội đủ các tiêu chuẩn, được sự tín nhiệm của cử tri và nhân dân theo các quy định trong hiệp thương, bầu cử thì người không phải đảng viên đều có thể trở thành ĐBQH, đại biểu HĐND các cấp. Cánh cửa Quốc hội và HĐND các cấp luôn rộng mở đối với những người ngoài Đảng.
Cần một lần nữa nhấn mạnh rằng, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nói chung và Quốc hội nói riêng đã được Hiến định, được nhân dân đồng tình ủng hộ và đã mang lại những thành tựu cho đất nước trong những năm qua. Tất nhiên, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội vẫn cần phải được đổi mới cho phù hợp với tình hình thực tiễn. Hoạt động của Quốc hội luôn được đổi mới theo hướng ngày càng dân chủ hơn. Thế nhưng, dù cho đổi mới thế nào thì những thành tựu, hiệu quả cần được khẳng định, những vấn đề có tính nguyên tắc trong mối quan hệ giữa Đảng và Quốc hội, những vấn đề thuộc bản chất của chế độ chính trị vẫn cần được giữ vững. Những ý kiến, nhận xét thiếu tính xây dựng, mang động cơ chính trị đen tối, mưu đồ cá nhân không đàng hoàng cần phải được nhìn nhận rõ. Các luận điệu sai trái đòi đặt hoạt động của Quốc hội ra ngoài sự lãnh đạo của Đảng, đòi ĐBQH không phải là đảng viên phải chiếm đa số, rồi Quốc hội phải hoạt động theo mô hình của các nước tư bản... thực chất chính là muốn thúc đẩy sự chuyển hóa của Quốc hội nước ta, muốn cài cắm một lực lượng đối lập trong Quốc hội, để biến nghị trường Quốc hội thành diễn đàn để chống phá chế độ chính trị-xã hội ở nước ta. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên, cử tri và nhân dân cần nhận thức đúng, tránh mắc mưu của những đối tượng xấu.

Tư tưởng đoàn kết lương giáo, hoà hợp dân tộc của Hồ Chí Minh

 


- Tư tưởng đoàn kết lương giáo là một bộ phận có vị trí quan trọng trong tư tưởng của Người về chiến lược đại đoàn kết dân tộc; là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, bao trùm trong tư tưởng của Người đối với vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo trong cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng XHCN ở Việt Nam.

- Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng đoàn kết tôn giáo của Người nói riêng đã được hình thành, phát triển trên cơ sở kế thừa phát huy những giá trị vǎn hoá truyền thống của dân tộc qua hàng ngàn nǎm lịch sử dựng nước và giữ nước, cũng như tiếp thu những tinh hoa vǎn hoá của nhân loại (trước hết là những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin), đồng thời vận dụng nó một cách sáng tạo vào hoàn cảnh, điều kiện lịch sử nước ta. Vì vậy, tư tưởng đoàn kết lương giáo, hoà hợp dân tộc của Hồ Chí Minh đã đạt đến đỉnh cao truyền thống đoàn kết của nhân dân ta.

- Nội dung đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc

Hồ Chí Minh đã viết: "Đồng bào đều biết rằng: ngày bắt đầu kháng chiến, lực lượng quân sự của Pháp mạnh hơn ta, thế mà ta càng ngày càng thắng lợi. Đó là nhờ sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân và sự hǎng hái tham gia kháng chiến của mọi người giáo cũng như lương"; "Phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương và đồng bào các tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống ấm no, xây dựng tổ quốc, chấp hành đúng chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng của tất cả các tôn giáo".

+ Đoàn kết giữa đồng bào có tín ngưỡng tôn giáo với đồng bào không có tín ngưỡng tôn giáo.

+ Đoàn kết giữa đồng bào có các tín ngưỡng tôn giáo khác nhau.

+ Đoàn kết giữa đồng bào trong mỗi tôn giáo trong khối đại đoàn kết.

 Đối với bọn lợi dụng, mượn danh tôn giáo để chống phá cách mạng, chống phá sự nghiệp của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tìm mọi cách để đồng bào ta, nhất là đồng bào có đạo nhận rõ bộ mặt của chúng.

Sắc lệnh 234/SL ngày 14/6/1955 do Người ký đã chỉ rõ: "Pháp luật sẽ trừng trị kẻ nào mượn danh nghĩa tôn giáo để phá hoại hoà bình, thống nhất độc lập, dân chủ, tuyên truyền chiến tranh, phá hoại đoàn kết, ngǎn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân, xâm phạm tự do tín ngưỡng và tự do tư tưởng của người khác hoặc những việc làm trái pháp luật " (Điều 7 - Chương 1).

Hồ Chí Minh chĩ rõ "Cái cần phải xóa? Mê tín hủ tục"; "Ra sức làm cho tốt, cho khéo để xóa bỏ những cái có hại như hủ tục, mê tín dị đoan"[1]

Biện pháp đấu tranh xóa mê tín dị đoan là "nghiên cứu cho hiểu rõ phong tục mọi nơi, trước là để gây tình cảm và sau để dần dần giải thích cho dân bớt mê tín"[2]

Hồ Chí Minh cho rằng, bộ đội và cán bộ làm cho nhân dân nhiều việc tốt, nhưng vẫn còn nhiều mặt chưa tốt, "chưa phải là đã hết cúng bái mê tín. Ví đó là phong tục tập quán lâu đời. Muốn cải tạo phong tục tập quán được tốt, thì tuyên huấn phải làm, mà phải làm bền bỉ liên tục, làm dần dần, chứ không thể chủ ngay một lúc"[3]



[1] Hồ Chí Minh, tt, t11, tr.133- 137

[2] Hồ Chí Minh, tt, t.5, tr.410

[3] Hồ Chí Minh, tt, t.11, tr.133

 

Tư tưởng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Hồ Chí Minh

 


- Hồ Chí Minh luôn khẳng định tư tưởng nhất quán, lâu dài trước sau như một của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân.

Ngay từ khi mới giành được độc lập, tại phiên họp đầu tiên của chính phủ Người đã khẳng định: "Thực dân phong kiến tìm cách chia rẽ đồng bào giáo và đồng bào lương để dễ thống trị. Tôi đề nghị chính phủ ra tuyên bố "tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết".

Ngày 09-11-1946, Quốc hội khóa I đã thông qua Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; trong đó ghi nhận: “Nhân dân có quyền tự do tín ngưỡng”.(6) 

Trong buổi ra mắt Đảng Lao động Việt Nam (nǎm 1957), Người khẳng định lại: "Chúng tôi xin nói thêm hai điều, nói rõ để tránh sự hiểu lầm: Một là vấn đề tôn giáo thì Đảng Lao động Việt Nam hoàn toàn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của mọi người".

- Tự do tôn giáo gắn liền với độc lập dân tộc

Hồ Chí Minh, nước có độc lập thì tôn giáo mới được tự do, phát triển, "Từ ngày nước ta trở nên dân chủ cộng hòa, Hiến pháp ta tôn trọng tự do tín ngưỡng thì Phật giáo cũng phát triển thuận lợi. Thế là: Nước có độc lập, thì Đạo Phật mới dễ mở mang"[1];

"Trong lịch sử Việt Nam, lần này là lần đầu (Nôen 1945) mà đồng bào công giáo ta làm lễn Nôen vui vẻ, sung sướng trong nước Việt Nam độc lập, tự do. Tôi tin chắc rằng, dưới sự lãnh đọa sáng suốt của các vị giám mục Việt Nam, đồng bào công giáo quyết một lòng với nhân dân toàn quốc để giữ vững nền tự do độc lập đó"[2]

- Khẳng định quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, Người luôn phê phán nghiêm khắc những thái độ, hành vi xâm phạm, hoặc làm phương hại đến quyền tự do chính đáng đó.

Sự tôn trọng đức tin của đồng bào có đạo và lòng thương yêu bà con có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau ở Hồ Chí Minh làm cho những người không cùng quan điểm với Người cũng phải kín phục. Chính ông J.Sainteny đã viết trong cuốn sách "Đối diện với Hồ Chí Minh": "Về phần tôi phải nói rằng chưa bao giờ tôi có cớ nơi các chương trình của cụ Hồ Chí Minh một dấu vết nào dù rất nhỏ của sự công kích, đa nghi hoặc chế diễu đối với bất kỳ một tôn giáo nào".

- Hồ Chí Minh không chỉ nêu ra những quan điểm của mình mà còn giáo dục cán bộ, Đảng viên cũng như đồng bào lương giáo phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng đó.



[1] Hồ Chí MInh, tt. t.5, Sđd, tr.197

[2] Hồ Chí MInh, tt. t.4, Sđd, tr.121-122

 

Quan niệm của Hồ Chí Minh về tôn giáo

 


Tôn giáo là một bộ bộ phận của văn hóa

Đây là cách tiếp cận mới từ góc độ hoạt động sinh tồn của con người trong quá trình tồn tại, phát triển. Hồ Chí Minh: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật... Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa."[1]

- Chủ tịch Hồ Chí Minh coi các giá trị nhân bản của các tôn giáo là những di sản vǎn hoá tinh thần quý báu của nhân loại.

Bằng tri thức cách mạng, vốn hiểu biết về vǎn hoá sâu sắc và cái nhìn duy vật biện chứng, Người đã phát hiện và tiếp nhận cái thiện, cái mỹ, cái cốt lõi nhân vǎn trong các tôn giáo. Người đã viết: "Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giê su có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giê su, Tôn Dật Tiên chẳng có những ưu điểm chung đó sao? Họ đều mưu cầu hạnh phúc cho loài người, cho xã hội. Nếu nay họ còn sống trên đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy ".

Vì vậy, không ngạc nhiên khi Hồ Chí Minh - Người cộng sản, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam không dưới một lần ca ngợi những người sáng lập ra các tôn giáo một cách thành kính: Chúa Giê su dạy đạo đức và bác ái. Phật thích ca dạy đạo đức và từ bi. Khổng Tử dạy đạo đức và nhân nghĩa.

- Điểm chung giữa lý tưởng của chủ nghĩa Mác với tôn giáo và các học thuyết có tính tiến bộ là mưu cầu hạnh phúc cho loài người.

Người đã nhấn mạnh điểm chung giữa lý tưởng của chủ nghĩa Mác với tôn giáo và các học thuyết có tính tiến bộ, đó là mưu cầu hạnh phúc cho loài người. Đây là một đặc điểm lớn được Hồ Chí Minh khai thác một cách triệt để và tài tình trong giải quyết các vấn đề có liên quan đến tôn giáo.



[1] Hồ Chí Minh, tt, t.3, Nxb CTQG,  H.2002, tr.458

Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo dưới chủ nghĩa xã hội

 


Tôn trọng tự do, tín ngưỡng bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân.

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một khái niệm dùng để chỉ quyền của con người được thực hiện các hành vi tôn giáo, theo đuổi một tín ngưỡng của cá nhân một cách tự do, con người được theo hoặc không theo một tín ngưỡng tôn giáo nào, những quyền tự do đó phải nằm trong khuôn khổ pháp luật mà Nhà nước hiện hành quy định. 

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền được các quốc gia trên thế giới thừa nhận và bảo đảm. Điều 18 trong Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền năm 1948 viết: “Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo, quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự dạy, hành đạo, thờ phụng, nghi lễ, hoặc riêng mình hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng”[1]

Trong tác phẩm “Chủ nghĩa xã hội và tôn giáo”,V.I.Lênin viết “Bất kỳ ai cũng được hoàn toàn tự do theo tôn giáo mình thích hoặc không thừa nhận một tôn giáo nào, nghĩa là được làm người vô thần, như bất cứ người xã hội chủ nghĩa nào cũng thường là người vô thần. Mọi sự phân biệt quyền lợi giữa những công dân có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau đều hoàn toàn không thể dung thứ được”.

Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là xuất phát từ việc tôn trọng tự do tư tưởng - một trong những quyền cơ bản của công dân, chính là tôn trọng niềm tin của tín đồ vào một loại hình tôn giáo nào đó mà họ cần đến, vào một loại hình tín ngưỡng mà họ coi là nhu cầu không thể thiếu. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng cũng chính là tôn trọng quyền con người, thể hiện bản chất ưu việt của chế độ XHCN.

Công dân có tôn giáo hay không có tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau. Cần phát huy những giá trị tích cực của tôn giáo, nghiêm cấm mọi hành vi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của công dân. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân là cơ sở để đoàn kết các lực lượng quần chúng có tín ngưỡng và không có tín ngưỡng. Qua đó để tiến hành vận động quần chúng các tôn giáo và hàng ngũ giáo sĩ, chức sắc tôn giáo tham gia vào các hoạt động tiến bộ, yêu nước do Đảng lãnh đạo, tiến hành các hoạt hoạt động tuyên truyền, giáo dục, văn hóa, khoa học kỹ thuật, thế giới quan duy vật khoa học quần chúng… Đồng thời đây là cơ sở để đấu tranh chống lại các luận điệu vu cáo, các hoạt động lợi dụng tôn giáo chống Nhà nước XHCN.

Khắc phục và đẩy lùi, tiến tới xoá bỏ hoàn toàn những mặt tiêu cực của tôn giáo

Đây là một nguyên tắc nhưng cũng là yêu cầu quan trọng nhất cần phải quán triệt trong công tác giải quyết vấn đề tôn giáo của những người cộng sản. Chỉ có thế tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin - tư tưởng khoa học chân chính, chủ đạo trong chủ nghĩa xã hội mới có thể đi sâu vào quần chúng nhân dân, mới tạo được nền tảng cơ sở vững chắc cho công cuộc xây dựng xã hội mới.

Trong Chống Đuy-rinh, Ăngghen đã cực lực phê phán thái độ bài tôn giáo cực đoan của Đuy-rinh: "Trong xã hội tự do, không thể có sự thờ cúng; bởi vì mỗi thành viên của xã hội đều khắc phục được cái quan niệm ấu trĩ nguyên thuỷ cho rằng ở đằng sau thiên nhiên hay bên trên thiên nhiên, có những đấng mà người ta có thể dùng những vật hy sinh hay những lời cầu nguyện để tác động đến". "Vì thế, hệ thống xã hội xã hội chủ nghĩa, được hiểu một cách đúng đắn, phải ... phế bỏ mọi trang bị của sự mê hoặc tinh thần, và do đó, phế bỏ tất cả những yếu tố cơ bản của sự thờ cúng"

Người cho rằng tôn giáo chỉ thực sự mất đi khi xã hội đã được cải tạo hoàn toàn: việc nắm giữ cũng như việc sử dụng các tư liệu sản xuất đã được lên kế hoạch, giúp xã hội tự giải phóng mình và giải phóng mọi thành viên trong xã hội khỏi tình trạng nô dịch và áp bức bất công; khi không còn mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên nữa, mà cả mưu sự và thành sự đều từ con người mà ra cả... khi đó tôn giáo - sự phản ánh thế giới tự nhiên một cách sai lạc trong bộ não con người, sẽ tự mất đi, bởi nó sẽ chẳng còn gì để phản ánh nữa.

 Tuyệt đối không sử dụng các biện pháp bạo lực để xoá bỏ tôn giáo.

Mác, Ăngghen đã nhận định rất đúng về hậu quả của chính sách đàn áp tôn giáo theo chủ trương của Đuy-rinh: "giúp cho tôn giáo đạt tới chỗ thực hiện tinh thần tử vì đạo và kéo dài thêm sự tồn tại của nó";

V.I.Lênin: "Ăngghen đã coi lời tuyên chiến ầm ĩ của họ (phái Blăng ky) với tôn giáo là dại dột. Tuyên chiến như thế là phương pháp tốt nhất làm khích động thêm sự quan tâm cảu người ta đối với tôn giáo, và làm cho tôn giáo đi đến chỗ tiêu vong thực sự một cách khó khăn hơn"[2]

Vi phạm nguyên tắc này là cố tình đẩy xã hội tới chỗ phân chia, đẩy những người theo đạo vào chỗ buộc phải chống lại chính quyền nhân dân. Vi phạm nguyên tắc này cũng là đi ngược lại nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, vi phạm nghiêm trọng tới quyền thiết yếu nhất của con người: quyền được tự do; và trong đó có quyền được tự do theo hay không theo một tôn giáo. Chính quyền nhân dân nào vi phạm nguyên tắc này thì không còn là chính quyền của nhân dân nữa, tổ chức đảng nào vi phạm nguyên tắc này thì không còn là đảng cộng sản nữa. Bên cạnh đó, cần phải không ngừng phát huy những giá trị tốt đẹp, tích cực của tín ngưỡng tôn giáo trong xã hội xã hội chủ nghĩa; cần phải nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm tự do tín ngưỡng tôn giáo của công dân.

Không ngừng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, trong đó có cả những người theo đạo và người không theo đạo.

Đó là yêu cầu hàng đầu để xây dựng đất nước và xã hội, nhưng cũng là một cách thức quan trọng để những người theo đạo hoà nhập vào với cuộc sống tích cực của xã hội, để họ dần nhận ra rằng cuộc sống hiện tại là quan trọng nhất, để giúp họ chủ động tham gia vào các hoạt động xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc; chứ không phải luôn trong trạng thái thụ động, tiêu cực vì chỉ quan tâm tới việc sống sao bây giờ cho mai sau đến được với " nước Thiên Đường " hay " cõi Niết bàn ".

d. Không ngừng thực hiện công tác giáo dục tuyên truyền, giúp quần chúng nhân dân hiểu nắm được những lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhận rõ những tư tưởng duy tâm là hoàn toàn không có căn cứ.

Việc giáo dục chủ nghĩa vô thần khoa học cũng như thế giới quan duy vật không chỉ đẩy lui những sai lầm trong nhận thức của tư duy tôn giáo, mà chủ yếu là góp phần nâng cao trình độ kiến thức cho toàn dân.

e. Kết hợp nâng cao đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân theo đạo với nhiệm vụ đấu tranh, phòng chống những thế lực phản động lợi dụng tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, để tuyên truyền chống phá cách mạng. Cuộc đấu tranh này vừa phải khẩn trương, kiên quyết vừa phải thận trọng và có sách lược đúng, nếu không sẽ dễ dàng bị nhìn nhận là chính sách đàn áp tôn giáo.

+     Phân biệt rõ hai mặt chính trị và tư tưởng trong vấn đề tôn giáo.

Khi xã hội đã xuất hiện giai cấp thì chính trị ít nhiều đều in rõ trong các tôn giáo. Và từ đó hai mặt chính trị và tư tưởng thường thể hiện và có một quan hệ với nhau trong vấn đề tôn giáo và bản thân mỗi tôn giáo.

+ Mặt chính trị phản ánh mối quan hệ, mâu thuẫn giữa cách mạng với phản cách mạng, giữa tiến bộ với phản động, phán ánh mâu thuẫn đối kháng về lợi ích kinh tế, chính trị giữa các giai cấp và mâu thuẫn giữa những thế lực lợi dụng tôn giáo chống lại sự nghiệp cách mạng với lợi ích của nhân dân lao động.

+ Mặt tư tưởng phản ánh sự khác nhau về niềm tin, mức độ tin, phản ánh mâu thuẫn không mang tính đối kháng giữa những người có tín ngưỡng và những người không có tín ngưỡng, tôn giáo cũng như những người có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau.

+ Phân biệt hai mặt chính trị và tư tưởng trong tôn giáo thực chất là phân biệt tính chất khác nhau của hai loại mâu thuẫn luôn tồn tại trong bản thân tôn giáo và trong vấn đề tôn giáo. Sự phân biệt này, trong thực tế không đơn giản, trong đời sống xã hội, hiện tượng nhiều khi phản ánh sai lệch bản chất, mà vấn đề chính trị và tư tưởng trong tôn giáo thường đan xen vào nhau. Có những hoạt động liên quan đến tôn giáo, chúng ta không thể phân biệt được đâu là mặt tư tưởng, đâu là mặt chính trị. Mặt khác, trong xã hội có đối kháng giai cấp, vấn đề tôn giáo thường bị yếu tố chính trị chi phối rất sâu sắc, nên khó nhận biết vấn đề chính trị hay tư tưởng thuần túy trong tôn giáo. Việc phân biệt hai mặt này là cần thiết nhằm tránh khuynh hướng “tả” hoặc “hữu” trong quá trình quản lý, ứng xử những vấn đề nảy sinh từ tín ngưỡng, tôn giáo. Phân biệt hai mặt này để có chủ trương, phương pháp giải quyết đúng đắn, phù hợp những vấn đề liên quan đến tôn giáo.

+ Xuất phát từ lợi ích giai cấp, dân tộc và an ninh quốc gia, nhà nước XHCN phải thường xuyên đấu tranh loại bỏ yếu tố chính trị phản động trong tôn giáo. Ngày nay, các thế lực phản động đang lợi dụng tôn giáo để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ CNXH ở các nước XHCN còn lại. Điều đó nhắc nhở Đảng của giai cấp công nhân cần nêu cao cảnh giác, giải quyết kịp thời, cương quyết đối với những hoạt động lợi dụng tôn giáo chống CNXH, nhưng cũng phải hết sức khách quan, chính xác, tránh nôn nóng, vội vàng, chủ quan, định kiến.

Giải quyết vấn đề tôn giáo trên quan điểm lịch sử,

Tức là phải nhìn nhận vai trò, tác động của tôn giáo tới đời sống xã hội trong từng thời kỳ lịch sử khác nhau là có thể rất khác nhau.

Tôn giáo không phải là một hiện tượng xã hội bất biến, mà nó luôn vận động và biến đổi không ngừng tùy thuộc vào những điều kiện kinh tế xã hội – lịch sử cụ thể. Mỗi tôn giáo đều có lịch sử hình thành, có quá trình tồn tại và phát triển nhất định. Ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau, vai trò, tác động của từng tôn giáo đối với đối với xã hội không giống nhau. Quan điểm, thái độ của các giáo hội, giáo sĩ, giáo dân về các lĩnh vực của đời sống xã hội luôn có sự khác biệt. Vì vậy, cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét, đánh giá và ứng xử đối với những vấn đề có liên quan đến tôn giáo và đối với từng tôn giáo cụ thể.

Bởi vậy mối quan hệ với tôn giáo cũng cần phải rất linh hoạt và mềm dẻo: có những thời điểm phải biết đoàn kết các tôn giáo để chống lại những kẻ thù chung của cả dân tộc; nhưng trong thời điểm khác phải đẩy mạnh công cuộc tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa vô thần khoa học.



[1] Bộ Công An, Tổng cục an ninh, 05/2009: Kỷ yếu Hội thảo Nhân quyền với vấn đề tôn giáo ở Việt Nam, Hà Nội,tr.54

 

[2] V.I. Lênin, tt, t.17, Nxb TB, M.1981, tr.511

 

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG HIỆN NAY

 

     Trước tình hình trong nước và quốc tế có những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những biến động khó lường như hiện nay, không gian mạng trở thành công cụ nền tảng mới để giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ và nhân dân; đồng thời, đó cũng là một không gian mới để đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu lý luận - phương thức mới để định hướng dư luận xã hội về mặt tư tưởng. Do không gian mạng có tính mở với đặc trưng tự do, đa dạng, bình đẳng, nhiều khi bị xoá nhoà ranh giới giữa thực và ảo, giữa vật lý và hiện thực, vì vậy không gian mạng mang đến những thách thức to lớn đối với nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây thực sự là một mặt trận quan trọng và không thể buông lỏng.

     Lợi dụng “tính năng mở” của không gian mạng, các hệ tư tưởng, các luận điểm, học thuyết ngoài mácxít và các loại chủ nghĩa khác nhau như chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa vô chính phủ, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa khủng bố mạng, đến chủ nghĩa vị kỷ, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa hưởng lạc, cũng như vô số các tôn giáo, tín ngưỡng, thậm chí là mê tín dị đoan, đang xuất hiện một cách tràn lan trên không gian mạng. Cùng với đó, các thế lực thù địch và các học giả ngoài mácxít lợi dụng triệt để những ưu thế của không gian mạng, một cách trực tiếp hay gián tiếp, đã và đang liên tục công khai hay ngấm ngầm chĩa mũi nhọn vào lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhiều luận điểm, quan điểm trong các ý thức hệ đó đi ngược lại với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời, chứa đựng tính chất độc hại, phản động, dần bóp méo thế giới quan và xuyên tạc nhân sinh quan, cố tình định hướng giá trị một cách sai lầm cho những người dùng mạng internet nói riêng và cho người dân Việt Nam nói chung. Đặc biệt thời gian gần đây, khi chúng ta chuẩn bị tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII,  các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã đẩy mạnh tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam, bằng mọi âm mưu, thủ đoạn, chúng tăng cường xuất bản, tán phát các loại ấn phẩm, tài liệu như: báo cáo, dự luật của nghị viện, quốc hội một số nước phương Tây; các văn bản pháp lý của các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ như: Tổ chức Ân xá Quốc tế (AI), Tổ chức theo dõi nhân quyền quốc tế (HRW)…; các ấn phẩm xuất bản, như: sách báo, tạp chí, tập san, tờ rơi… của các cá nhân, tổ chức phản động lưu vong, số đối tượng cơ hội chính trị trong và ngoài nước; các trang web, các chương trình phát thanh, phát hình bằng tiếng Việt, … để xuyên tạc nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng ta. Qua đó, chúng phủ nhận đường lối lãnh đạo của Đảng, phủ nhận những thành tựu đã đạt được trong các cuộc chiến tranh đã qua và trong công cuộc đổi mới, bóp méo thực tế những hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội, những sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật hoặc những vụ việc phức tạp nảy sinh trong dân tộc, tôn giáo nhằm kích động, lôi kéo các tầng lớp nhân dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xuyên tạc đường lối lãnh đạo của Đảng, hiến pháp, pháp luật của Nhà nước.

      Như vậy có thể thấy, đấu tranh trên không gian mạng hiện nay thực sự là cuộc “đọ súng” trên mặt trận tư tưởng lý luận. Giữ vững trận địa tư tưởng, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng hiện nay quan trọng và hết sức cấp thiết. Trong cuộc đấu tranh này, vũ khí quan trọng nhất là vũ khí lý luận, song lý luận phải thật sự khoa học chứ không phải lý thuyết suông, lý luận phải xuất phát từ thực tiễn và mang hơi thở của cuộc sống, phải bao quát được những vấn đề nền tảng, có tính quy luật và đưa ra hướng giải quyết những vấn đề then chốt. Bất kể sự phát triển của không gian mạng và các phương tiện truyền thông như thế nào, thì suy nghĩ và quan điểm vẫn là thành tố quan trọng nhất của nội dung tư tưởng lý luận. Nếu không có nội dung, không có chiều sâu thì lý luận dù hay đến đâu cũng chỉ là hô khẩu hiệu, trống rỗng, không có bất kỳ ảnh hưởng tích cực nào. Chúng ta phải sử dụng lý luận làm nền tảng vững chắc cho định hướng chính trị và dẫn dắt dư luận. Trong trận địa tư tưởng trên không gian mạng, việc chúng ta có đứng vững và chiến thắng hay không đều liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ.

     Để giữ vững định hướng tư tưởng trên không gian mạng hiện nay, cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:

     Một là, mỗi chúng ta cần phải tuân thủ nguyên tắc tôn trọng sự thực khách quan, đối mặt với các vấn đề đang nảy sinh từ thực tiễn của xã hội; dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức đúng và đưa ra các ý tưởng, phương án giải quyết các vấn đề trên không gian mạng liên quan đến hiện thực Việt Nam một cách đúng đắn, hiệu quả. Đây là biện pháp quan trọng hàng đầu của công tác đấu tranh tư tưởng trên không gian mạng hiện nay. Bởi vì, lý luận luôn được bắt nguồn từ thực tiễn. Việc nắm bắt các vấn đề đang nảy sinh từ thực tiễn của xã hội, luôn là cơ sở khách quan để xem xét, phân tích sự thật, đánh giá đúng sự thật, đề ra phương châm, phương hướng và giải pháp đấu tranh hiệu quả. Yêu cầu quan trọng đối với biện pháp này, phải đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, có phương pháp luận duy vật biện chứng để tránh chủ quan, giáo điều, hoặc rơi vào chủ nghĩa thực dụng khi đấu tranh với hệ tư tưởng thù địch.

     Hai là, đội ngũ cán bộ, đảng viên và thành viên đảm nhiệm đấu tranh tư tưởng trên không gian mạng cần phát huy cao độ vai trò tiên phong, gương mẫu, xứng đáng là những chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng lý luận; trong bất luận hoàn cảnh nào luôn thể hiện rõ vai trò người gieo niềm tin của Nhân dân đối với Đảng. Muốn vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và thành viên phải tự làm công tác tư tưởng cho chính mình, đến gia đình, người thân, xây dựng vững chắc bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng; kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với mọi biểu hiện thoái hóa, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

     Ba là, cơ quan chính trị và các cấp ủy thường xuyên tổ chức bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới cả về lý luận và thực tiễn cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt và lực lượng 47 của các cơ quan, đơn vị nhằm nâng cao nhận thức lý luận, trau dồi bản lĩnh chính trị, năng lực thực tiễn, đạo đức, phong cách và trách nhiệm, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng trên không gian mạng hiện nay.

     Đấu tranh tư tưởng trên không gian mạng hiện nay là vấn đề khách quan, nhiệm vụ trọng yếu, đòi hỏi mọi con người, lực lượng thực thi nhiệm vụ này trên không gian mạng phải luôn nhận thức đầy đủ những thách thức và yêu cầu của nhiệm vụ, xây dựng bản lĩnh, trách nhiệm và quyết tâm cao trong đấu tranh, góp phần giữ vững nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng trước tình hình mới./.


Các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương tổ chức công việc như thế nào?

        

         Căn cứ điều kiện cụ thể, cơ quan có thẩm quyền thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử có quyền trưng tập cán bộ, công chức, viên chức của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội giúp việc cho tổ chức phụ trách bầu cử theo quyết định của người đứng đầu tổ chức phụ trách bầu cử.


Các tổ chức phụ trách bầu cử tổ chức quán triệt những nhiệm vụ, quyền hạn của từng tổ chức phụ trách bầu cử đã được Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân quy định; các thành viên của các tổ chức phụ trách bầu cử phải được tập huấn đầy đủ các kỹ năng, nghiệp vụ thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, trong đó đặc biệt chú trọng công tác tập huấn đối với thành viên Tổ bầu cử.

Các tổ chức phụ trách bầu cử thực hiện các công việc theo quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân và thực hiện chế độ báo cáo định kỳ theo tiến độ về tình hình chuẩn bị, triển khai, thực hiện công tác bầu cử với tổ chức phụ trách bầu cử cấp trên trực tiếp và cơ quan có thẩm quyền.

Các tổ chức phụ trách bầu cử hoạt động theo nguyên tắc nào?

Hội đồng bầu cử quốc gia hoạt động theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số. Các cuộc họp được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên của Hội đồng bầu cử quốc gia tham dự; các quyết định được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành. Hội đồng bầu cử quốc gia chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo về hoạt động của mình trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương (bao gồm các Ủy ban bầu cử, các Ban bầu cử, các Tổ bầu cử) hoạt động theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số. Các cuộc họp được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham dự; các quyết định được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành.

Các quyết định của Hội đồng bầu cử quốc gia, của các Ủy ban bầu cử ở các đơn vị hành chính được thông qua và thể hiện dưới hình thức nghị quyết./.