Thứ Tư, 14 tháng 4, 2021

Nâng cao cảnh giác trước mọi âm mưu luận điệu xuyên tạc của địch trên các phương tiện thông tin đại chúng

 

Hiện nay thông tin đến với con người và các hoạt động khác bằng nhiều nguồn, nhiều phương tiện. Thông tin trở thành nhu cầu của đời sống xã hội, hằng ngày chúng ta tiếp xúc với nguồn thông tin chính thống có định hướng của Đảng, Nhà nước ta. Đồng thời chúng ta cũng chịu ảnh hưởng các nguồn thông tin khác của địch nhằm chống ta, trong đó có đài Châu Á tự do. Chống lại các nguồn thông tin của địch, cần tập trung làm tết một số việc:

- Luôn nâng cao kiến thức về mọi mặt để giữ vững bản lĩnh chính trị, có phương pháp xem xét tiếp cận thông tin một cách đúng đắn khoa học.

- Nâng cao cảnh giác, đấu tranh với những nhận thức không đúng, ngộ nhận, mơ hồ trước các nguồn thông tin ngược chiều với quan điểm, chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước.

Phương thức, thủ đoạn mới của “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam


           Mục tiêu chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam là không thay đổi. Nhằm tạo sự chuyển hóa từ bên trong nội bộ Đảng, Nhà nước ta, chúng tập trung chống phá cả về lý luận, quan điểm, đường lối, xóa bỏ nền tảng tư tưởng và đòi tước bỏ cơ sở pháp lý đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; khuyến khích những quan điểm lệch lạc và những khuynh hướng xã hội “dân chủ”. Thực hiện ý đồ trên, chúng dùng các thủ đoạn, như: móc nối kích động để nhiều người, nhiều đối tượng cùng tham gia viết bài, tuyên truyền đi trái với đường lối, quan điểm của Đảng theo phương châm “mỗi người chỉ là một giọt nước” nhưng nhiều giọt nước sẽ ngấm dần, nhằm phân hóa nội bộ, chuyển hóa dần từ trong Đảng ra ngoài xã hội. Đồng thời, chúng đẩy mạnh tuyên truyền gieo rắc chủ nghĩa thực dụng, văn hóa phương Tây, tạo tâm lý hưởng thụ, lối sống tư sản,… qua đó từng bước chuyển hóa tư duy, nếp nghĩ, quan điểm của cán bộ, đảng viên, quần chúng, nhất là thế hệ trẻ.

Cùng với các thủ đoạn trên, các thế lực thù địch còn lợi dụng lòng yêu nước cực đoan, hay một số sơ hở, hạn chế của chính quyền cơ sở để tạo “sự kiện”, kích động những người nhẹ dạ, cả tin tuần hành, biểu tình trái luật tạo “điểm nóng” để kêu gọi sự can thiệp từ bên ngoài. Nhìn lại các cuộc biểu tình, đập phá, phá hoại có biểu hiện bạo loạn gần đây như ở tỉnh Bình Dương năm 2014, tỉnh Hà Tĩnh năm 2016 và ở tỉnh Bình Thuận tháng 6-2018, có thể thấy rất rõ các thế lực thù địch đã và đang âm mưu áp dụng những phương thức “bạo loạn chính trị” tại Việt Nam. Đặc biệt, sau khi Chủ tịch nước ký Lệnh công bố ban hành Luật An ninh mạng, chúng tiếp tục thổi phồng đạo luật này nhằm “lừa bịp nhân dân”, đe dọa nghiêm trọng cuộc sống người dân và vi phạm chính bản Hiến pháp 2013. Từ đó, chúng kêu gọi người dân không chỉ dùng Facebook mà chuyển sang dùng nhiều mạng xã hội khác để “đấu tranh”. Chúng phát động cái gọi là phong trào “bất tuân dân sự” đối với Luật An ninh mạng và sự quản lý của Nhà nước, v.v. Những sự việc đó nếu không được kiểm soát và ngăn chặn thì các đợt biểu tình, gây rối này sẽ tiếp tục tái phát, thậm chí lây lan, tạo ra hiệu ứng đô-mi-nô trong xã hội. Động cơ, mục đích của các đối tượng gây ra các vụ việc trên là nhằm rối loạn an ninh chính trị để tiến tới lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Từ những vụ việc trên cho thấy rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng Việt Nam bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn chính trị của các thế lực thù địch; bộc lộ rõ lực lượng, phương tiện, phương thức, âm mưu thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm; có lúc công khai, trực diện, có sự hỗ trợ, tham gia của các đối tượng từ nước ngoài, v.v. Từ kích động tuần hành, biểu tình, tạo cớ đẩy lên thành bạo loạn; từ thăm dò phản ứng, hiệu quả ứng phó của cơ quan chức năng, chúng có thể tập dượt để đi tới tổng biểu tình đi kèm bạo loạn lật đổ chính quyền, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

          Thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội, chúng rêu rao: quân đội nên “trung lập hóa về chính trị”, “quân đội đứng ngoài chính trị”, quân đội phi giai cấp, do đó quân đội chỉ phục tùng Nhà nước chứ không chịu phục tùng bất cứ chính đảng nào. Thực chất chính là làm cho Quân đội ta đứng ngoài chính trị, mất phương hướng và mục tiêu chiến đấu; mưu đồ xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Thủ đoạn của chúng là lợi dụng tình hình chính trị, quân sự phức tạp trên thế giới và khu vực; những tiêu cực từ mặt trái của kinh tế thị trường, vấn đề tôn giáo, dân chủ, nhân quyền,… để tác động vào nhận thức, tư tưởng, đạo đức, lối sống của cán bộ, chiến sĩ. Chúng lợi dụng triệt để mặt trái của công nghệ truyền thông và mạng xã hội để viết bài, thông tin tiêu cực, tán phát tài liệu sai trái về Quân đội, từ đó tác động, thẩm thấu vào nhận thức, tình cảm, niềm tin của cán bộ, chiến sĩ, gây hoài nghi về chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng và sự quản lý, điều hành của Nhà nước, làm cho bộ đội dao động tư tưởng, giảm sút ý chí, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Cùng với đó, chúng ra sức tìm mọi cách bôi nhọ, làm xấu hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân, chia rẽ mối quan hệ quân - dân, kêu gọi thanh niên không nên nhập ngũ. Thủ đoạn của chúng là thường trá hình, mặc quân phục giả danh bộ đội để làm việc xấu; lợi dụng các cuộc tuần hành, biểu tình gây rối, đánh nhân dân để chụp ảnh, ghi hình tung lên mạng xã hội. Gần đây, lợi dụng sự bất cập trong quản lý đất quốc phòng ở một số đơn vị, chúng thổi phồng sự việc và quy chụp rằng: nguyên nhân sâu xa của vấn đề này là “do một đảng toàn trị, độc tài lãnh đạo quân đội nên quân đội được đặc quyền, đặc lợi mà không ai kiểm soát” (!). Việc làm của chúng không chỉ nhằm bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, mà còn làm cho người dân có cái nhìn thiếu thiện cảm về bộ đội, làm suy giảm uy tín, hình ảnh của Quân đội ta, từ đó tác động tiêu cực đến niềm tin của nhân dân đối với Quân đội.

 Nhận diện những chiêu trò mới về phương thức, thủ đoạn của chiến lược “Diễn biến hòa bình” nói chung, “phi chính trị hóa” Quân đội nói riêng, nhất là trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng của các thế lực thù địch là một nhiệm vụ hết sức quan trọng; từ đó, kịp thời có biện pháp đấu tranh phòng, chống hiệu quả. Đây vừa là yêu cầu cấp bách, vừa là nhiệm vụ, nội dung trọng tâm, thường xuyên của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân hiện nay.

 

ĐẤU TRANH VẠCH TRẦN NHỮNG CHIÊU TRÒ, THỦ ĐOẠN

PHÁ HOẠI BẦU CỬ CÁC CẤP


          Cuộc bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 là sự kiện chính trị trọng đại, diến ra vào thời điểm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng vừa thành công rất tốt đẹp. Thực hiện thành công cuộc bầu cử Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp sẽ góp phần thiết thực xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; đồng thời cũng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hộ chủ nghĩa ở nước ta. Vì thế, việc lựa chọn, bầu ra những người tiêu biểu có đủ đức, tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 là nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Là một bước quan trọng tiếp theo để Đại hội Đảng lần thứ XIII đã thành công còn thành công hơn nữa.

          Thế nhưng, đi ngược lại với những mong muốn đó, các thế lực thù địch, phản động và phẩn tử bất mãn, cơ hội chính trị lại tỏ thái độ hằn học, chống đối sự thành công tốt đẹp của Đại hội Đảng lần thứ XIII và xem cuộc bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 là cơ hội để chống phá. Chúng chủ yếu dùng kênh thông tin là các trang mạng để tung lên những thông tin bịa đặt, bóp méo, xuyên tạc về cuộc bầu cử sắp tới nhằm dụng ý xấu xa là xuyên tạc, phủ nhận bản chất tốt đẹp của chế độ ta, Đảng ta. Trên các website, trang mạng xã hội do các cá nhân tổ chức phản động, chống đối, cơ hội chính trị điều hành và một số trang bóa nước ngoài có cái nhìn thiếu thiện cảm đối với Việt Nam, chúng liên tục tung ra những bài viết chứa đựng nội dung xuyên tạc, bóp méo, bịa đặt về công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Chúng không ngớt đưa ra những luận điệu hết sức sai lệch và nham hiểm như: “Bầu cử chỉ là màn kịch dân chủ do Đảng đạo diễn, chỉ là hội nghị Đảng cộng sản mở rộng”, “Đảng cộng sản đang độc diễn trong bầu cử”, “Không thể có cuộc bầu cử dân chủ khi Đảng cộng sản lãnh đạo cuộc bầu cử”…Một chiêu trò cũ rích từ những cuộc bầu cử trước nhưng chúng vẫn tiếp tục “bổn cũ soạn lại”, đó là kích động một “làn sóng” tự ứng cử của những người gọi là “nhà dân chủ” song thực chất là những kẻ bất mãn hoặc cơ hội chính trị. Khi không đủ điều kiện và bị loại qua các vòng hiệp thương công khai và minh bạch, các đối tượng này lên mạng xã hội ‘lu loa” bằng những luận điều hết sức sai trái như: chỉ có những người theo phe Đảng cộng sản mới có cơ hội ứng cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân; những ứng cử viên không theo là không có cơ hội; Đảng cộng sản cố tình “cản trở” người ngoài đảng tự ứng cử vào đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân…

          Song không phải ai khác mà chính những thế lực thù địch, phản động và bất mãn, cơ hội chính trị đã tự lộ rõ âm mưu, toan tính thâm hiểm chống phá khi đưa ra yêu sách đòi Đảng cộng snar không được tham gia vào công tác bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, không được thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo công tác bầu cử; thậm chí còn đòi Đảng ta phải “tự rút lui” và từ bỏ quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội, chấp nhận đa nguyên, đa đảng, chấp nhận sự cạnh tranh với những đảng phái khác để thúc đẩy dân chủ. Quá rõ để thấy rằng, đằng sau đòi hỏi bầu cử tự do, dân chủ ấy chính là nhằm mục đích xấu xa, đen tối hòng phá hoại chế độ, phá hoại cuộc sống yên bình và phát triển của cả đất nước, phá hoại cuộc bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.

 

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CUỘC BẦU CỬ QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP TRÊN MẠNG XÃ HỘI

Trong thời gian gần đây, trên các trang mạng phản động cấu kết với một số phương tiện truyền thông nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam đã tung ra các bài viết thông tin sai lệch về bầu cử tại Việt Nam. Cùng với việc đưa ra những luận điệu sai trái về tính Dân chủ và vai trò của Đảng trong Bầu cử thì vấn đề về người tự ứng cử và ứng cử viên ngoài Đảng tiếp tục là chiêu bài mà các thế lực thù địch và những đối tượng phản động sử dụng nhằm đưa thông tin sai lệch với mục tiêu lợi dụng dân chủ để dẫn dắt dư luận xã hội, phá hoại cuộc bầu cử... Vẫn với những lập luận cũ rích rằng "Bầu cử chỉ là "màn kịch dân chủ", Đảng Cộng sản đang độc diễn", "Không có bầu cử dân chủ khi còn thể thức Đảng cử dân bầu"… "Đảng chỉ đạo cơ cấu tỷ lệ đại biểu trước khi bầu, nên sẽ không có một Quốc hội đại diện cho nhân dân" các đối tượng xấu quy kết cuộc bầu cử do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là không chính danh, không đúng pháp luật. Các đối tượng xấu còn tung loạt bài phủ nhận vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với luận điệu cho rằng sẽ không có bầu cử dân chủ khi hiệp thương chia ghế đại biểu trước khi bầu cử. Hiệp thương do Đảng lãnh đạo sắp xếp ai được thì người đó được. Đồng thời một số đối tượng tự nhận mình là các "nhà dân chủ" đã rêu rao thông tin mình tự ứng cử và kêu gọi hãy trao quyền cho họ, để họ thay mặt nhân dân quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước…

Những luận điệu này cho thấy những kẻ viết và nói lấy được này, không hề hiểu pháp luật Việt nam. Theo Hiến pháp 2013, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội và như vậy thì đương nhiên Đảng cần tập trung lãnh đạo cuộc bầu cử để xây dựng chính quyền nhân dân, và chính sự lãnh đạo ấy giúp cho quá trình bầu cử theo đúng Hiến pháp và pháp luật, phát huy được vai trò của toàn Đảng, toàn dân trong sự kiện quan trọng này. Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy, công tác bầu cử dưới sự lãnh đạo của Đảng đã được tổ chức khoa học, chặt chẽ, tuân thủ nguyên tắc dân chủ, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của cả xã hội, cũng như phát huy quyền làm chủ của mọi tầng lớp nhân dân. Luật bầu cử quy định rất rõ chỉ có MTTQ Việt Nam mới có quyền Hiệp thương lựa chọn người ra giới thiệu ứng cử làm sao để những đại biểu được bầu thực sự là những người của dân, sống vì dân và hoạt động Quốc hội do dân. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là nơi tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, bao gồm đại diện cho các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Trong quy trình bầu cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức các hội nghị hiệp thương nhằm lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đảm bảo dân chủ và đúng luật; đảm bảo chất lượng của đại biểu. Đây là một mô hình rất chặt chẽ mà không phải quốc gia nào cũng có.

Thực tiễn hơn 90 năm qua đã chứng minh cho thấy vai trò lãnh đạo mang tính quyết định của Đảng trên mọi lĩnh vực đời sống chính trị, kinh tế, xã hội. Sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng trong cuộc bầu cử là yếu tố quan trọng hàng đầu bảo đảm cuộc bầu cử đạt kết quả cao nhất, từ đó lựa chọn ra những đại biểu xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân.

Có thể thấy, những luận điệu chụp mũ, xuyên tạc về người tự ứng cử, những luận điệu sai trái về người ngoài Đảng ra ứng cử được một số phương tiện truyền thông ở ngoài nước liên tục đăng tải hòng làm nhiễu loạn thông tin, gây dư luận tiêu cực, chia rẽ phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mỗi người Việt Nam có lương tri và có trách nhiệm đối với xây dựng đất nước đều nhận thấy, bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp là sự kiện chính trị - xã hội quan trọng của đất nước, cần nghiêm túc thể hiện trách nhiệm công dân, thực hiện tốt Hiến pháp và pháp luật.

Trong điều kiện bùng nổ thông tin hiện nay, mỗi cán bộ Đảng viên, người dân trong và ngoài nước đều nhận thức rõ trách nhiệm của mình, cần tỉnh táo tiếp nhận những thông tin đúng, chính thống để giữ vững niềm tin và hành động đúng đắn tránh rơi vào luận điệu xuyên tạc, sai trái của những tổ chức, cá nhân phản động, góp phần giữ vững ổn định, đóng góp vào thành công trong ngày hội lớn của đất nước.

Lật tẩy thủ đoạn “tự ứng cử” để phá rối bầu cử.

 

Một số người nhân danh “nhà dân chủ”, “đấu tranh cho dân chủ” đã tuyên bố tự ứng cử, hô hào phát động các chiến dịch truyền thông trên Internet, kêu gọi ký tên ảo, bỏ phiếu online. Họ tung hô, ủng hộ cho các đối tượng lợi dụng tự do dân chủ, chống phá Nhà nước, đăng ký tự ứng cử nhằm gây nhiễu loạn, phá hoại an ninh, trật tự. Chúng ta cần phân biệt việc tự ứng cử với mục đích, động cơ trong sáng, tinh thần xây dựng với việc lợi dụng quyền tự ứng cử để phá rối, gây hại. Thời gian qua, việc một số người tự xưng là các “nhà đấu tranh cho dân chủ” hô hào, phát động phong trào tự ứng cử, nộp hồ sơ tự ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp thực chất chỉ là chiêu trò phá rối, vì động cơ xấu.

Hải Đăng ST

ĐẠI TƯỚNG LÊ TRỌNG TẤN - NGƯỜI CHỈ HUY TÀI BA, NHÀ THAM MƯU CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ XUẤT SẮC CỦA QĐND VIỆT NAM

 

Binh vô thường thế, thuỷ vô thường hình, năng nhân địch biến hoá nhi thủ thắng giả, vị chi thần, tức là: Dụng binh tác chiến giống như nước chảy, không có hình mẫu và phương thức cố định. Có thể căn cứ vào sự biến đổi của tình hình quân địch mà giành thắng lợi thì đó là dụng binh như thần.
Trong các danh tướng Việt Nam thời chống Mỹ cứu nước thì có một vị Đại tướng xứng danh với câu nói trên của Tôn Tử. Đó chính là Đại tướng Lê Trọng Tấn, vị dũng tướng có thể xoay chuyển cục diện trận đánh trăm trận trăm thắng. Lê Trọng Tấn là con át chủ bài ở các trận đánh có tính chất quyết định để tạo thế thượng phong cho chính trị trên bàn đàm phán.
Tài năng chỉ huy của Lê Trọng Tấn thể hiện qua rất nhiều trận đánh, tên ông gắn liền với chiến trận như mở màn đánh điểm Him Lam bắt sống de Castries và tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, phó tư lệnh chiến dịch Mậu Thân, tư lệnh chiến dịch Trị Thiên, Tư lệnh chiến dịch Đường 9 Nam Lào, phó tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh kiêm tư lệnh cánh quân phía Đông....
Nhưng trận đánh mang tầm vóc chiến lược thì chính là trận Huế - Đà Nẵng. Trong 3 ngày ông đánh tan khu quân sự liên hiệp Đà Nẵng, thần tốc đưa binh từ Đà Nẵng vào La Ngà vừa đi vừa đánh mở đường đưa một đạo quân hơn bốn vạn người hàng ngàn xe các loại, vượt hơn nghìn km, đánh tan ba quân khu địch, tiến vào Dinh Độc Lập bắt sống toàn bộ quân Nguỵ trong vòng 18 ngày đêm.
Trận đánh thứ hai đưa tên tuổi của Lê Trọng Tấn lưu danh thiên cổ chính là trận Phản Công Biên Giới Tây Nam đánh thẳng vào sào huyệt của Pol-pot, dưới sự chỉ huy của ông, quân đội ta tiến vào Cao Miên không đến ba ngày. Các nước trong khu vực chưa kịp phản ứng gì thì không lưu sân bay Phnom - Penh đã phát đi thông báo giải phóng bằng tiếng Việt, khiến cho các nước trong khối Asean và thậm chí cả Trung Hoa đái ngập cả bỉm Bobby.
Tài năng đánh trận kiệt xuất của Lê Trọng Tấn có thể được ví ngang tầm với cả Hàn Tín của Trung Hoa và Zhukov của Liên Xô. Không dám xưng là thiên hạ vô địch, nhưng nói về đánh trận bách chiến bách thắng thì tướng Tấn chúng ta đến lúc này vẫn chưa hề có đối thủ.
Xin thành kính tưởng nhớ ông với lòng thành kính và biết ơn vô hạn trong những ngày tháng tư lịch sử. St

HÃY HỎI MÌNH LÀ AI

 

Bạn có đủ tư cách để tham gia ứng cử ĐBQH?!

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do dân chủ của nhân dân trong hoạt động bầu cử. Trong các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp trước đây, đã có một số người tự ứng cử và trên thực tế cũng đã có đại biểu đủ điều kiện, uy tín được cử tri tín nhiệm bầu và trúng cử.

Tuy nhiên bên cạnh đó cũng xuất hiện một số thành phần tuy không đủ điều kiện và phẩm chất, uy tín, đạo đức nhưng lợi dụng sự ưu việt của chế độ để tuyên bố tự ứng cử với âm mưu, mục đích gây rối, phá hoại cuộc bầu cử của chúng ta. Họ không đủ điều kiện, phẩm chất, uy tín, thậm chí là phần tử xấu trong xã hội, thường xuyên có những lời nói, việc làm mang tính chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, nhà nước và nhân dân, bị cử tri và nhân dân lên án, cơ quan chức năng, chính quyền địa phương xử phạt…nhưng vẫn tuyên bố ra ứng cử vào các cơ quan quyền lực của nhà nước.

Trong các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp trước đây, tình trạng này đã từng xảy ra. Một số đối tượng như Nguyễn Quang A, Nguyễn Thanh Giang, Nguyễn Xuân Diện… cũng từng tuyên bố tự ứng cử đại biểu Quốc hội, nhưng kết cục những phần tử “ bất hảo”, cơ hội, chống phá…này đều thất bại, bị dư luận bóc trần, lên án…

Trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026 hiện nay, vẫn có phần tử tiếp tục tuyên bố tự ứng cử để chống phá. Xin nêu hai trường hợp tuyên bố tự ứng cử đại biểu Quốc hội dưới đây:

Lê Văn Dũng (Dũng Vova) vừa tuyên bố trên Facebook cá nhân sẽ tham gia tự ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV và kêu gọi “ bà con ủng hộ nha!…”. Thực chất Lê Văn Dũng là đối tượng thường xuyên có các hành vi gây rối an ninh trật tự, chống phá Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Y cùng đồng bọn lập ra cái gọi là “ kênh truyền hình CHTV” để lừa bịp, trục lợi, chống đối; bản thân Lê Văn Dũng từng nhiều lần bị các cơ quan chức năng triệu tập làm việc, bị dư lận xã hội phản đối, lên án.

Lê Chí Thành, nguyên là đại úy cán bộ công an trại giam Thủ Đức đã bị kỷ luật buộc thôi việc. Thành vốn là một cán bộ công an có nhiều sai phạm, trong đó có đến hơn 50 lần bỏ vị trí công tác. Thành còn sử dụng mạng xã hội để xuyên tạc, nói xấu cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân, chống phá Nhà nước. Thành đã bị ngành Công an ra quyết định tước danh hiệu Công an nhân dân và bị tổ chức Đảng khai trừ ra khỏi Đảng. Gần đây, Thành càng quyết liệt chống phá, xuyên tạc, bôi nhọ chính quyền.

Sơ bộ mấy nét về nhân thân của hai đối tượng trên đây cho thấy thực chất phẩm chất, đạo đức, tư cách công dân của họ sai trái như thế nào. Rõ ràng dù có đủ tuổi và tuy vẫn là công dân, nhưng họ không đủ tư cách, phẩm chất, uy tín để tự ứng cử vào các cơ quan quyền lực, không có uy tín đại diện cho cử tri và nhân dân để đứng trong cơ quan quyền lực của Nhà nước ta. Chắc chắn với sự hiểu biết và tinh thần xây dựng, ý thức trách nhiệm của cử tri, nhân dân và cơ quan chức năng họ sẽ sớm bị loại. Đồng thời, chúng ta cũng cảnh báo cho những kẻ chống phá trên biết rằng: nếu cứ còn có các hành động chống phá sự nghiệp các mạng, gây rối trật tự, vi phạm pháp luật thì chắc chắn không sớm thì muộn sẽ có ngày họ bị luật pháp xử lý nghiêm khắc, đến quyền công dân cũng sẽ không còn chứ đừng có huênh hoang, vừa láo xược vừa như trò hề tuyên bố tự ứng cử đại biểu Quốc hội như vậy.

Chúng ta phải kiên quyết, kịp thời đấu tranh với những phần tử phá hoại, chống đối như Lê Dũng Vova, Lê Chí Thành, đồng thời, chủ động vạch mặt, kiên quyết đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, đã và đang tâng bốc, xúi giục, lợi dụng những kẻ chống đối, bất mãn, cơ hội chính trị như hai phần tử trên để chống phá. Sự lãnh đạo của Đảng, nỗ lực của cả hệ thống chính trị và sự đồng tình, ủng hộ của toàn dân, là cơ sở vững chắc cho thành công của cuộc bầu cử đã và đang được triển khai đúng luật với ý thức trách nhiệm và sự đoàn kết, tin tưởng, kỳ vọng cao nhất. St

 

Không hiểu rõ về Việt Nam thì ngừng xuyên tạc




Vừa qua, báo cáo nhân quyền  thường niên năm 2020 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lại tiếp tục có những nhận định thiếu khách quan, một số vấn đề mang tính phiến diện vô căn cứ cho rằng Việt Nam tiếp tục vi phạm nhân quyền.

Phát huy hơn nữa công tác dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở Việt nam hiện nay

 


Việt Nam là một quốc gia thống nhất đa dân tộc, đa tôn giáo. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, đồng bào các dân tộc không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đoàn kết một lòng trong cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm, giành độc lập, tự do cho dân tộc, từng bước giải phóng con người khỏi áp bức, bất công. Những thành tựu trong thời kỳ đổi mới đã tạo ra những tiền đề, điều kiện thuận lợi để Việt Nam thực hiện tốt công tác dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền. Những kết quả trong thực hiện các chính sách dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền đã góp phần thúc đẩy sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.

Việt Nam luôn khẳng định, con người là trung tâm của các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ quyền con người, thực hiện dân chủ rộng rãi  là nhân tố bảo đảm cho sự phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Những thành tựu của Việt Nam trong giải quyết các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá cách mạng Việt Nam; đó là những hành động vi phạm các Công ước quốc tế về nhân quyền và chủ quyền của một quốc gia độc lập. Nhân dân Việt Nam phản đối và quyết tâm chống lại những vấn đề đó.

 

 

Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền chống phá Việt Nam.

 


Các thế lực thù địch vẫn đang chống phá Việt Nam bằng chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm lật đổ chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; chủ trương từng bước diễn biến và tự diễn biến; chúng xác định mũi tiến công về dân tộc, tôn giáo là “ngòi nổ” của toàn bộ chiến lược; tiến công về dân chủ, nhân quyền để gây rối, kích động, bóp méo kết hợp với răn đe, uy hiếp về quân sự. Do đó, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch luôn gắn liền và thống nhất trong quá trình giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam hiện nay.

 

Nêu cao vai trò của lực lượng vũ trang cùng toàn dân giải quyết tốt vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền.

 

 


Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của lực lượng vũ trang là làm nòng cốt cho toàn dân giữ vững na ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nói chung và nhất là các điểm “nóng”, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Đây chính là thực hiện quyền thiêng liêng của con người, của nhân dân các dân tộc Việt Nam là được sống trong độc lập, tự do, tự mình quyết định vận mệnh của mình.

Cùng với việc phát huy vai trò của lực lượng vũ trang trong xây dựng các tiềm lực, thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân làm kế sách lâu dài để giữ nước. Lực lượng vũ trang cần làm tốt vai trò tiên phong cùng toàn dân giữ vững chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, đồng thời giải quyết tốt vấn đề dân tộc, tôn giáo trên các địa bàn trọng điểm như Tay Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ; nhất là đấu tranh phòng chống có hiệu quả âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá cách mạng, gây rối an ninh trật tự, tạo cớ can thiệp, xâm lược Việt Nam.

Phát huy vai trò tiên phong của lực lượng vũ trang trong tuyên truyền, giáo dục đồng bào các dân tộc về quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam; âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch. Giúp đỡ nhân dân xóa đói, giảm nghèo, xóa các hủ tục lạc hậu, tốn kém; phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, nâng cao dân trí. Giúp đỡ nhân dân xây dựng hệ thống chính trị, đội ngũ cán bộ con em các dân tộc; phát huy tốt vai trò của già làng, trưởng bản, những người có uy tín trongcộng đồng dân cư…Xây dựng thế trận lòng dân vững chắc.

Đổi mới chính sách và phương thức giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền.

 


Phải có chính sách cụ thể gắn với từng dân tộc, tôn giáo, từng vùng miền, phù hợp với đặc điểm tâm lý, nét văn hóa; không nên rập khuôn máy móc. Việc di dời dân phục vụ cho các công trình của Nhà nước phải được tính toán kỹ lưỡng, không chỉ là việc chăl lo việc ăn, ở sinh hoạt mà quan trọng hơn là sản xuất, việc làm, điều kiện học hành, chăm sóc sức khỏe, tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào.

Phương thức giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa cũng cần phải phải có phương án tổng thể, cần phối hợp chặt chẽ với các chương trình, các dự án phát triển kinh tế - xã hội tạo nên sức mạnh tổng hợp và đỡ thất thoát, lãng phí.

Tỷ lệ hộ nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số rất cao so với bình quân chung của cả nước, khoảng cách chênh lệch giàu nghèo còn khá lớn và ngày càng gia tăng; trình độ phát triển giữa các vùng có cách biệt lớn và có xu hướng mở rộng, tỷ lệ tái nghèo cao. Cần phải thay đổi phương thức xóa đói, giảm nghèo ở miền núi, kết hợp sự nỗ lực của mỗi hộ dựa trên thế mạnh của đồi rừng là tự cung, tự cấp, tự trang trải với đầu tư của Nhà nước vào những việc như xóa nhà tạm, cấp nước sinh hoạt và các dịch vụ khác, quan trọng hơn là đường hướng sản xuất để ổn định lâu dài.

Củng cố và nâng cao chất lượng và hiệu lực hoạt động của hệ thống chính trị các cấp; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức; nhất là ở vùng miền núi, đồng bào dân tộc, tôn giáo.

 


Hệ thống tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể và đội ngũ cán bộ các cấp là đại biểu của dân về ý chí, nguyện vọng và lợi ích. Nâng cao chất lượng và hieẹu quả hoạt động của những yếu tố cấu thành hệ thống chính trị các cấp vừa là nhằm thực hiện dân chủ, quyền con người; quyền của dân tộc, tôn giáo vừa là công cụ hữu hiệu để giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền.

Đổi mới hệ thống chính trị các cấp thực chất là nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, không phải đổi mới bản chất chính trị. Đổi mới hệ thống chính trị phải nắm chắc mục đích và nguyên tắc của quá trình đổi mới; một tư tưởng bao trùm là thực hiện quyền lực của nhân dân và mang lại lợi ích cho nhân dân, cán bộ là công bộc của nhân dân.

Đọi ngũ cán bộ, đảng viên và công chức nhà nước là người đại diện cho nhân dân, thực thi quyền lực của nhân dân, mang lại lợi ích cho nhân dân. Đội ngũ này phải có phẩm chất và năng lực tốt, thực sự tận tụy phục vụ nhân dân. Trước hết đội ngũ này phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện khắc phục triệt để chủ nghĩa cá nhân, những biểu hiện quan liêu, của quyền, nhũng nhiễu quần chúng; đề cao phê bình và tự phê bình, chân thành tiếp thu ý kiến đóng góp của nhân dân, thực sự cầu tieén bộ.

Đội ngũ cán bộ, đảng viên ở các địa phương vùng núi, vùng đồmg bào dân tộc thiểu số vừa yếu, vừa thiếu. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thieẻu số, có tín ngưỡng tôn giáo là nhiệm vụ cấp bách hiện nay; vừa phải có kế hoạch bổ túc, bồi dưỡng để đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa phải đào tạo cơ bản để đáp ứng yêu cầu cơ bản, lâu dài. Chăm lo xây dựng cơ quan, đội ngũ cán bộ chuyên trách về công tác dân tộc, tôn giáo tinh thông về nghiệp vụ, có trách nhiệm cao, gắn bó với đồng bào để làm hạt nhân tham mưu đắc lực cho lãnh đạo, chính quyền giải quyết những vấn đề dân tộc, tôn giáo cụ thể.

Phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp chặt chẽ với quốc phòng, an ninh ở miền núi, vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo.

 


Phát triển kinh tế - xã hội kết hợp chặt chẽ với quốc phòng an ninh ở vùng núi, biên giới, hải đảo là một đòi hỏi khách quan vì đó là những địa bàn sung yếu, phên dậu của Tổ quốc. Phát triển kinh tế - xã hội là giải pháp cơ bản, quyết định nhất, nhưng cũng là một việc làm khó khăn, phức tạp đòi hỏi phải có sự tích cực vươn lên của chính đồng bào các dân tộc thiểu số và ưu tiên đặc biệt về vật chất, con người, khoa học công nghệ… của Nhà nước.

Hoàn thiện và củng cố cơ sở hạ tầng; tạo sự thông thương dễ dàng miền ngược và miền suôi, giữa các vùng núi với nhau, giữa Việt nam với các nước láng giềng tạo dựng hành lang cho sự phát triển. Phát huy thế mạnh của kinh tế vùng, đồi, rừng, chuyển đổi cơ cấu kinh té, sản xuất hướng ra thi trường, xuất khẩu; xóa bỏ các hủ tục lạc hậu như du canh, du cư, ổn định đời sống cho nhân dân; có chính sách ưu đãi để thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế Nhà nước, kinh tế tư nhân.

Đẩy mạnh phát triển giáo dục và đào tạo là vấn đề có ý nghĩa hàng đầu cho sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nguồn nhân lực con em các dân tộc thiểu số, xây dựng đội ngũ cán bộ tại chỗ; mở mang hệ thống các trường tiểu học, gắn với thôn bản, tăng số lượng các trường dân tộc nội trú, thêm các trường khu vực và cả Trung ương giành riền cho con em các dân tộc; xây dựng đội ngũ giáo viên, giảng viên là con em các dân tộc, có chính sách ưu đãi đặc biệt đối với đội ngũ này và học sinh, sinh viên.

Xây dựng các đồn biên phòng, các đoàn kinh tế quốc phòng vững mạnh, làm hạt nhân cho việc phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng ở vùng núi, biên giới, hải đảo; thu hút con em các dân tộc thiểu số vào các đơn vị này; tham gia có hiệu quả các hoạt động phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương; cùng với địa phương xây dựng khu vực phòng thủ, thế trận lòng dân vững chắc.

Đấu tranh có hiệu quả với những hiện tượng xâm phạm biên giới, buôn bán ma túy, phụ nữ, trẻ em, buôn lậu; các hủ tục lạc hậu như mê tín dị đoan. Ma tang, cưới xin tốn kém tốn không ít tiền bạc của đồng bào; phát triển mạnh các dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe của nhân dân; mở mang các điểm văn hóa xã, thôn. Bản, các lễ hội văn hóa…thu hút đồng bào nâng cao nhân thức, giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc.

Nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở Việt nam hiện nay.

 


Đây là giải pháp cơ bản vừa mang tính cấp bách, vừa phải kiên trì, bền bỉ, lâu dài. Cần phải tích cực tiến hành bằng nhiều nội dung, hình thức. phương pháp phong phú làm cho nhân dân hiểu những nội dung cốt lõi về quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền; hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn lợi dụng của các thế lực thù địch về vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền.

Tuyên truyền, giáo dục chung đồng thời, trú trọng đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng bào vùng núi, biên giới, hải đảo, đồng bào dân tộc thiểu số có tín ngưỡng, tôn giáo; những nhóm đối tượng đặc thù; những nội dung phức tạp, nhạy cảm; những thời điểm thu hút sự quan tâm của nhiều người.

Kết hợp nhiều kênh thông tin cả Trung ương, địa phương và cơ sở; xây dựng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, hạt nhân nòng cốt, người có uy tín trước cộng đồng, nhất là ở cơ sở, bám sát diễn biến nhận thức, tâm lý, tình cảm của nhân dân, tuyên truyền những nội dung thiết thực, hiệu quả định hướng tư tưởng và hành động của nhân dân.

Kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền giáo dục với đấu tranh chống những nhân thức tư tưởng lệch lạc; chống mọi biểu hiện vi phạm quyền con người, quyền lợi của nhân dân, quyền bình đẳng tự quyết dân tộc, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; chống mọi biểu hiện dân chủ hình thức, dân chủ cực đoan bất chấp kỷ cương, pháp luật; đấu tranh có hiệu quả với mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng những vấn đề trên để chống phá cách mạng, gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

 


 Quyền con người là giá trị chung của nhân loại. Quyền con người bắt nguồn từ phẩm giá con người. Mỗi quốc gia khi tham gia các công ước quốc tế về quyền con người đều phải có những cam kết nhất định về nghĩa vụ và trách nhiệm. Đảng và Nhà nước Việt Nam khẳng định quan điểm và trách nhiệm của mình khi giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền con người mang tính toàn cầu.

 Quyền con người và quyền dân tộc cơ bản là thống nhất. Đảng và Nhà nước Việt Nam cho rằng, sự nghiệp giải phóng con người gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội; quyền con người chỉ có được trong độc lập dân tộc. Vì vậy, không thể có cái gọi là "nhân quyền cao hơn chủ quyền", chỉ có sự thống nhất giữa nhân quyền và chủ quyền quốc gia.

Kết hợp tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người trong nhận thức và giải quyết các vấn đề cụ thể. Quyền con người là một giá trị phổ biến được áp dụng phổ biến ở mọi nơi, mọi đối tượng nhưng mang tính đặc thù với bản sắc riêng phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội, mang sắc thái văn hóa, lịch sử và truyền thống của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, dân tộc, tôn giáo và những đặc điểm riêng khác. Đảng và Nhà nước Việt Nam thừa nhận và tán thành quan điểm về tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người. Việt Nam là một nước đa tôn giáo, đa dân tộc; có trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn thấp. Những đặc điểm đó quy định những đặc thù riêng trong việc thực hiện và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam.

Trong xã hội có đối kháng giai cấp, việc bảo đảm thực hiện quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc. Con người sinh ra vốn dĩ đã có quyền, quyền đó tồn tại dưới dạng những nhu cầu bức thiết, những yêu sách hợp lý. Nhưng, để trở thành quyền thực sự cần đến yếu tố pháp luật thiết định. Mà pháp luật bao giờ cũng là pháp luật của các chế độ chính trị khác nhau, nội dung của nó được ghi nhận trong khuôn khổ bảo đảm trước hết lợi ích của giai cấp thống trị xã hội. Do vậy, quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc, trong thực tế không thể có một thứ quyền trừu tượng siêu giai cấp.

 Quyền con người thể hiện trong quyền công dân và được pháp luật bảo hộ. Đảm bảo bằng pháp luật là một trong những điều kiện quan trọng nhất để các quyền con người, quyền công dân được thực hiện.Quyền con người, quyền công dân khi được hiến pháp, pháp luật ghi nhận trở thành độc lập đối với bất kỳ quyền uy nào, kể cả các cơ quan, viên chức nhà nước cao nhất.

Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương sẵn sàng đón tiếp, đối thoại và hợp tác với các nước và các tổ chức quốc tế nhằm tìm hiểu tình hình thực tế và trao đổi ý kiến về các lĩnh vực liên quan đến các quyền con người trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.

QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, NHÀNƯỚC VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ DÂN CHỦ

 


 

 Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại dieẹn, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Thực hiện tốt có hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làmm dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”

Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để nhân dân làm chủ. Cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị, đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, nêu gương thực hành dân chủ, tuân thủ pháp luật, đề cao đạo đức xã hội. Đảng và Nhà nước ban hành đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật tạo nền tảng chính trị, pháp lý, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân. Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát trieẻn đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy tính tích cực chính trị - xã hội, trí tuệ, quyền và trách nhiệm của nhân dân tham gia xây dựng chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, xây dựng đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức; động viên nhân dân tham gia phát triển kinh tế; góp phần quản lý xã hội thông qua các tổ chức chính trị- xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các hoạt động tự quản cộng đồng; xây dựng quản lý thụ hưởng văn hóa; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhan dân, ngoại giao nhân dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân. Xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân lợi dụng dân chủ, gây rối nội bộ, làm mất ổn định chính trị - xã hội hoặc vi phạm dân chủ, làm phương hại dến quyền làm chủ của nhân dân.

QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY VỀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO


Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ khi mới thành lập đã xác định đường lối tự do tín ngưỡng, đoàn kết lương giáo để giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Trong cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, chính sách “Tín ngưỡng, tự do, lương giáo đoàn kết” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đã góp phần to lớn vào thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Đế quốc Mỹ, đường lối đại đoàn kết toàn dân, tự do tín ngưỡng đã động viên hàng chục vạn tín đồ các tôn giáo tham gia cuộc đấu tranh giành và bảo vệ đất nước, đã có hàng vạn bộ đội thanh niên xung phong; hàng ngàn liệt sỹ, thương binh, hàng trăm bà mẹ Việt Nam anh hùng là tín đồ các tôn giáo. Trong sự nghiệp xây dựng đất nước sau chiến tranh, Đảng ta đã quan tâm đến công tác tôn giáo. Năm 1990 Bộ Chính trị khóa VI đã ra nghị quyết 24 về công tác tôn giáo. Các Đại hội Đảng VII, VIII tiếp tục khẳng định quan điểm đó. Năm 1998, Bộ Chính trị ban hành chỉ thị 37 - CT/TW về “Công tác tôn giáo trong tình hình mới” . Trong thời kỳ đổi mới, Đảng tiếp tục thực hiện quan điểm đó bằng Nghị quyết trung ương 7, khóa IX, với 5 quan điểm cơ bản. Từ quan điểm của Đảng, Nhà nước đã thể chế hóa bằng pháp luật đối với các hoạt động tôn giáo. Hướng dẫn giúp đỡ các tôn giáo xây dựng đường hướng hành đạo tiến bộ, gắn bó với dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa, sống “tốt đời, đẹp đạo”. Điều đó, được ghi nhận trong hiến pháp đầu tiên năm 1946. Trong Điều 10 quy định “Công dân Việt Nam có quyền…tự do tín ngưỡng”; Hiến pháp năm 1959, Điều 26 quy định “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”; Hiến pháp 1980, Điều 68 quy định “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”; Hiến pháp năm 1992, Điều 70 “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật…không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”; Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo năm 2004, Điều 1 quy định “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Công dân có tín ngưỡng tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng tôn giáo cũng như công dân có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn nhau”; hiến pháp năm 2013, xác định “tôn giáo là quyền con người”

Quan điểm chính sách đối với tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt nam tập trung trên 5 quan điểm cơ bản sau:

Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân các dân tộc, còn tồn tại lâu dài trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá”. Vì vậy, những giá trị của tín ngưỡng, tôn giáo, nổi lên là giá trị đạo đức chính là di sản để coi trọng kế thừa, phát huy để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Phải tôn trọng nhu cầu tinh thần, quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân các dân tộc nhằm phát huy nhân tố tinh thần trong sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc. Luật Tôn giáo Việt Nam khẳng định:

Thứ nhất, công dân có quyền tự do theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Công dân được quyền thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nhưng không cản trở việc thực hiện nghĩa vụ công dân với Tổ quốc. Tự do tín ngưỡng, tôn giáo không có nghĩa là hoạt động tôn giáo nằm ngoài khuôn khổ pháp luật, đi ngược lại lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân; không có nghĩa là lợi dụng tôn giáo để phá hoại cách mạng.

Thứ hai, người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không có tín ngưỡng, tôn giáo phải tôn trọng lẫn nhau; không ai được xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân... Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước không phân biệt đối xử với một tôn giáo nào. Người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không tín ngưỡng, tôn giáo đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 Thứ ba, Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân bằng pháp luật. Vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là vi phạm pháp luật, phải bị xử lý bằng pháp luật. Lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để gây rối, làm mất an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, chống đối Đảng, Nhà nước cũng là vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, phải bị pháp luật xử lý.

Đảng, Nhà nước Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách đoàn kết các dân tộc và các tôn giáo

Đồng bào dân tộc theo tôn giáo trước hết là người Việt nam, sau đó mới là tín đồ tôn giáo, là người Việt Nam theo tôn giáo chứ không phải là người theo tôn giáo nhập quốc tịch Việt Nam. Vì vậy, ở đồng bào dân tộc theo tôn giáo có tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào và ý thức dân tộc sâu sắc. Họ đều mong muốn xoá bỏ áp bức, bóc lột, bất công xã hội, khao khát có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc. Điều đó phù hợp với mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, là sự nghiệp do nhân dân và vì nhân dân. Đây chính là cơ sở để tập hợp lực lượng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp cách mạng.

Trong quá trình cách mạng, đồng bào các tôn giáo ngày càng nhận thức sâu sắc lợi ích của bản thân và của dân tộc mình, tôn giáo mình gắn bó với lợi ích của toàn dân tộc và của cách mạng; tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải gắn liền và phụ thuộc vào độc lập, tự do của Tổ quốc; Tổ quốc có độc lập, thống nhất thì tôn giáo mới có tự do. Sự thống nhất lợi ích đó là “điểm tương đồng” căn bản, tạo động lực để đồng bào các dân tộc, các tôn giáo một lòng, một dạ theo Đảng làm cách mạng trong đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay.

  Đoàn kết đồng bào dân tộc theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào dân tộc  theo tôn giáo và đồng bào dân tộc không theo tôn giáo. Cơ sở của đoàn kết là lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; xoá bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội. Đây là lập trường có tính nguyên tắc trong Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chính sách còn chỉ rõ trong mọi trường hợp, cần phân biệt rõ đâu là vấn đề thuộc dân tộc, tôn giáo, đâu là vấn đề các thế lực thù địch lợi dụng chống phá để có biện pháp xử lý đúng đắn.

Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng

Sở dĩ Việt Nam khẳng định nội dung cốt lõi của chính sách dân tộc, tôn giáo là công tác vận động quần chúng là bởi: Việt Nam có 54 dân tộc, với khoảng 23 triệu tín đồ các tôn giáo. Đó là lực lượng to lớn, vì vậy nếu làm tốt công tác vận động quần chúng trong đồng các dân tộc và trong các tín đồ tôn giáo sẽ tạo nên sức mạnh to lớn để thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

 Đảng luôn có chủ trương, chính sách đúng đắn về dân tộc, tôn giáo; Nhà nước trên cơ sở chủ trương, chính sách của Đảng ban hành pháp luật, chính sách cụ thể và tổ chức thực hiện. Trong đó chú trọng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội đối với đồng bào các dân tộc, tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa, các vùng đặc biệt khó khăn.

Nhà nước luôn có những giải pháp thích hợp đáp ứng nhu cầu tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào các dân tộc. Đồng thời việc giải quyết các vấn đề về hoạt động hợp pháp của các tổ chức tôn giáo, Nhà nước kiên quyết xử lý đối với mọi hành vi truyền đạo trái phép, lợi dụng tôn giáo làm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, làm mất trật tự, an toàn xã hội, gây tổn hại đến đạo đức, lối sống, văn hoá, thuần phong mỹ tục của các dân tộc; xử lý nghiêm những hành vi ngăn cản tín đồ, chức sắc các tôn giáo trong thực hiện nghĩa vụ công dân, những hành vi làm phương hại đến độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân, chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Các tổ chức chính trị - xã hội như: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng Liên đoàn lao động Viêt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Nông dân Việt nam, Hội Phụ nữ Việt Nam... là những tổ chức có vị trí, vai trò quan trọng, trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện  chính sách của Đảng và nhà nước về dân tộc và tôn giáo. Đó là lực lượng trực tiếp giáo dục đồng bào dân tộc, các tín đồ tôn giáo chấp hành tốt chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong thực hiện Chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đây là lực lượng đi đầu và là lực lượng chủ yếu thực hiện tuyên truyền, giáo dục cho mọi người dân hiểu rõ và chấp hành tốt chủ trương, chính sách, pháp luật về dân tộc, tôn giáo; đồng thời là lực lượng chủ yếu nắm bắt tình hình dân tộc, tôn giáo để  tham mưu với Đảng và Nhà nước về Chính sách dân tộc, tôn giáo và trực tiếp chịu trách nhiệm xử lý các vấn đề phức tạp của dân tộc và tôn giáo, xử lý các hành động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng của các thế lực thù địch với Việt Nam.

Vấn đề theo đạo và truyền đạo trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam  phải tuân thủ pháp luật của Nhà nước Việt Nam

Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được hoạt động tôn giáo, mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sách, giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo theo đúng quy định của pháp luật.

Việc theo đạo, truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ theo hiến pháp và pháp luật; không được lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, không ép buộc người dân theo đạo. Nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo, người truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái phép, vi phạm các quy định của hiến pháp và pháp luật 

QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ DÂN TỘC HIỆN NAY

 


Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam.

Quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là: vấn đề dân tộc là vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, Đảng Cộng sản Việt Nam ta khẳng định: Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ, tập quán tín ngưỡng của các dân tộc. Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị và chia rẽ dân tộc”. Mục tiêu cuối cùng của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là: các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc.

Qua các giai đoạn lịch sử, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán chủ trương, nguyên tắc trong đường lối, chính sách dân tộc, đó là xây dựng khối đoàn kết, bình đẳng giữa cộng đồng các tộc người, phát triển toàn diện về kinh tế- chính trị- xã hội, bảo đảm các quyền và tiếp cận các quyền của đồng bào dân tộc thiểu số trên các lĩnh vực.

Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”

Phát triển toàn diện chính trị,  kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh- quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, quốc phòng- an ninh

Về chính trị, mở rộng, phát huy dân chủ, nâng cao chất lượng tham kiến về chính trị đối với đồng bào các dân tộc thiểu số.

Về kinh tế, quy hoạch lại các điểm dân cư phân tán tại địa bàn Miền núi, đồng bào dân tộc. Nghiên cứu cơ chế quản lý liên kết hợp tác phát triển vùng phù hợp, tạo điều kiện phát triển các khu vực, địa bàn còn nhiều khó khăn, nhất là miền núi, biên giới hải đảo, Tây bắc, Tây nguyên, Tây Nam bộ và  phía tây các tỉnh miền trung.

Về văn hoá - xã hội, quan tâm phát triển giáo dục dạy nghề trong đồng bào dân tộc thiểu số và các vùng khó khăn. Đẩy mạnh giảm nghèo bền vững, nhất là các vùng đặc biệt khó khăn và có chính sách đặc thù để giảm nghèo nhanh hơn trong đồng bào dân tộc thiểu số. Hoàn thiện mạng lưới cơ sở y tế, nhất là miền núi, biên giới, hải đảo. Tăng cường nhân lực y tế cho khu vực nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo. Phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, giữ gìn bản sắc tốt đẹp của các dân tộc. Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Kịp thời di dời đồng bào ra khỏi khu vực sạt lở, lũ lụt. Tăng cường bảo vệ và phát triển rừng bền vững, nhất là rừng phòng hộ, ven biển, rừng đầu nguồn, rừng đặc dụng; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thuỷ sản. Xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Giữ gìn và phát huy truyền thống, tập quán tốt đẹp của làng quê Việt Nam.

Về quốc phòng - An ninh, kết hợp tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội trong các khu vực phòng thủ, phải bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh nhất là ở những vị trí trọng yếu, chiến lược. Xây dựng đường tuần tra biên giới. Nâng cao hiệu quả hoạt động các khu kinh tế- quốc phòng và phát triển bền vững kinh tế- xã hội khu vực dọc biên giới và biển đảo.

Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế, xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo.

Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế, xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo. Ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước, tín dụng ưu đãi và huy động các nguồn lực ngoài nhà nước để đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế- xã hội. Đẩy mạnh tạo nghề với các hình thức đa dạng, phù hợp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn, miền núi. Tập trung giải quyết tình trạng du canh, du cư, di dân tự do. Khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái. Phát huy nội lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước.Phát huy nội lực, tự lực, tự cường của đồng bào:

Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Đảng ra chủ trương, Nhà nước xác định chính sách và tổ chức thực hiện,các tổ chức đoàn thể tham mưu tổ chức thực hiện.

Thực hiện quan điểm trên, quân đội tham gia thực hiện chính sách dân tộc. Quân đội quán triệt sâu sắc quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động nhân dân…Tích cực tham gia xây dựng, phát triển vùng dân tộc, miền núi vững mạnh về mọi mặt. Xây dựng thế trận QP,AN vững mạnh vùng dân tộc thiểu số. Giáo dục cán bộ, chiến sỹ hiểu và tôn trọng phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa các dân tộc.

VẤN ĐỀ QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 


Quyền con người là các đặc quyền tự nhiên, bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người được cộng đồng quốc tế và quốc gia thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm bằng hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế

 Quyền con người đồng nghĩa với tự do của con người. Quyền con người bao gồm quyền tự nhiên và quyền xã hội. Quyền con người được biểu hiện ở nhiều mối quan hệ. Đó là các mối quan hệ: Quan hệ giữa cá nhân với nhà nước; con người với quyền lực xã hội. Quyền con người mang tính nhân loại, tính lịch sử và tính giai cấp sâu sắc. Quyền con người là công cụ để tự bảo vệ quyền của mình trước bạo lực, cường quyền.

Về mặt nhận thức

Nhận thức về nhân quyền của Đảng, Nhà nước và nhân dân ngày càng phát triển.Trong các cương lĩnh chính trị, các văn kiện các kỳ đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định quyền con người, quyền công dân và luôn đổi mới để tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân tốt hơn, phù hợp hơn với các điều ước quốc tế.Trên cơ sở quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã thể chế hóa quyền con người trong hiến pháp và pháp luật và các thể chế.  Đặc biệt là đã tăng cường kiểm soát yêu cầu bảo đảm tính hợp hiến của các dự thảo luật, bộ luật trước và trong quá trình soạn thảo và thông qua luật theo đúng trình tự, thủ tục.

Quyền con người được bảo đảm trên thực tế

Chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn kết, trú trọng quan tâm đến đồng bào dân tộc ít người, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, nghiêm cấm các hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Hiện nay, ở các tỉnh miền núi, mức sống của nhân dân không ngừng được cải thiện, đã hạn chế gia tăng khoảng cách giàu nghèo, chênh lệch phát triển giữa các dân tộc, các vùng dân tộc. Tỷ lệ hộ nghèo trong vùng dân tộc giảm bình quân từ 3% đến 4% năm. Quyền tham gia và quản lý công việc Nhà nước và xã hội được tăng cường, (được thể hiện rõ ở các cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, bảo đảm khóa sau chất lượng hơn khóa trước).

Quyền khiếu nại tố cáo được thực hiện chất lượng. Ban hành và hướng dẫn tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, yêu cầu thủ trưởng cơ quan phải công khai chương trình kế hoạch công tác và kinh phí hoạt động; kê khai tài sản của cán bộ phải được niêm yết ở nơi công cộng của cơ quan, đơn vị…

Các quyền tự do dân chủ được thực hiện tốt. Đến nay, Việt Nam đã có hơn 50 cơ quan báo chí với hơn 650 ấn phẩm báo chí các loại, 47 nhà xuất bản, mỗi năm xuất bản hàng vạn đầu sách, in và phát hành trên 600 triệu bản báo.  Trên lĩnh vực kinh tế, quyền con người được bảo đảm, Nhà nước tôn trọng, bảo vệ, tạo điều kiện thuận lợi để mọi người, mọi thành phần kinh tế phát triển bình đẳng với nhau.

Trên lĩnh vực xã hội, bằng những chính sách xã hội thỏa đáng, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối dưới nhiều hình thức, như: xây nhà chung cư cho những người có mức sống còn thấp, xây hàng vạn ngôi nhà tình nghĩa cho những người có công với cách mạng, khám chữa bệnh cho người nghèo, giáo dục tiểu học bắt buộc, bảo đảm an sinh xã hội, chăm sóc những người yếu thế, rủi ro, thiệt thòi; thực hiện chế độ trợ cấp đầy tính nhân đạo đối với con người: trợ cấp ốm đau thai sản, trợ cấp cho người cao tuổi, trợ cấp cho người tàn tật, trợ cấp tai nạn nghề nghiệp...

Trên lĩnh vực văn hóa, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Hiến pháp và các văn bản luật quy định rõ quyền con người trong lĩnh vực văn hóa: Quyền được tiếp cận với văn hóa thông tin; quyền được sáng tạo và  thưởng thức văn hóa, nghệ thuật; quyền được giữ gìn bảo tồn các di sản văn hóa dân tộc.