Thứ Sáu, 16 tháng 4, 2021

ÂM MƯU, HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG, CƠ HỘI CHÍNH TRỊ LỢI DỤNG VẤN ĐỀ "XÃ HỘI DÂN SỰ" ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA

Hiện nay, vấn đề “xã hội dân sự” (XHDS) đã và đang được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng nhằm thực hiện mưu đồ chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Sau thất bại trong hoạt động chống phá Việt Nam ở các giai đoạn trước, hiện nay, các thế lực thù địch xem việc củng cố, thúc đẩy “XHDS” theo mô hình phương Tây là một hướng đi mới, là một trong những phương thức tác động cơ bản của chiến lược “diễn biến hòa bình” với mưu đồ xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi thể chế chính trị tại Việt Nam. Mục tiêu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề “XHDS” là tìm cách thúc đẩy sự xuất hiện các lực lượng, tổ chức chính trị đối lập, làm suy yếu sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thế lực thù địch cho rằng, hình thành “XHDS độc lập về chính trị” là một “lối thoát” cho sự ra đời công khai, hợp pháp của các tổ chức, lực lượng chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, buộc Việt Nam phải chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Chúng ra sức cổ vũ cho hình thành ở Việt Nam một mô hình “XHDS độc lập về chính trị” kiểu phương Tây, nằm ngoài sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thoát ly khỏi sự quản lý của Nhà nước. Hòng thực hiện âm mưu đó, các thế lực thù địch đã và đang triệt để lợi dụng tính chất chính trị, xã hội phức tạp của “XHDS” để tác động vào hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân bằng nhiều phương thức khác nhau, từ tuyên truyền lừa bịp, thổi phồng, cường điệu hóa vai trò của XHDS, cung cấp tài chính, phương tiện hoạt động đến gây sức ép với Đảng, Nhà nước ta trong quan hệ đối ngoại. Các đối tượng chống đối nhân danh chiêu bài “XHDS”, “dân chủ”, “nhân quyền”... để tập hợp lực lượng, lập hội, nhóm với tên gọi, khẩu hiệu, tôn chỉ, mục đích dễ gây “ấn tượng” với thị hiếu của từng nhóm xã hội nhất định, như “Diễn đàn xã hội dân sự”, “Hội tù nhân lương tâm”, “Hội phụ nữ nhân quyền”, “Hội bầu bí tương thân”, “Hội nhà báo độc lập”, “Hội anh em dân chủ”,... Thủ đoạn mà các đối tượng chống đối sử dụng phổ biến hiện nay là thông qua các trang web, diễn đàn trực tuyến, nhất là mạng xã hội để công khai tổ chức, tuyên truyền, lừa bịp, lôi kéo quần chúng tham gia; sử dụng các phần mềm bảo mật để liên lạc, tổ chức huấn luyện, đào tạo trực tuyến cho thành viên; công khai viết “đơn kiến nghị” đòi thành lập đảng chính trị đối lập, tự do thành lập hội mà không tuân theo quy định pháp luật, đòi khởi kiện, vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta vi phạm các điều ước quốc tế về quyền dân sự... Ngoài ra, các đối tượng này còn tìm cách chia rẽ nội bộ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, lợi dụng các khuyết điểm trong quản lý đất đai, môi trường... để kích động khiếu kiện, tụ tập đông người, biểu tình, xuyên tạc tình hình, hạ uy tín cán bộ; thông qua các hoạt động này để tập hợp lực lượng, gây thanh thế, từng bước nhen nhóm và thành lập tổ chức chính trị đối lập... Tại các địa bàn chiến lược, các đối tượng chống đối đẩy mạnh xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo; kích động tư tưởng ly khai, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, khơi gợi, khoét sâu mâu thuẫn dân tộc, tuyên truyền phát triển các tổ chức tôn giáo phi pháp, tụ tập “xưng vua”... Bên cạnh đó, dưới danh nghĩa đại diện các tổ chức “XHDS”, một số đối tượng chống đối đã tham gia các buổi điều trần ở nước ngoài, vu cáo Việt Nam vi phạm “dân chủ”, “nhân quyền”, đề nghị can thiệp trả tự do cho các đối tượng chống đối trong nước bị bắt do vi phạm pháp luật... Đặc biệt, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống đang diễn ra trong một bộ phận đảng viên, tình trạng yếu kém, sai phạm của một số cán bộ để thổi phồng, cường điệu hóa khuyết điểm, “hạ bệ” uy tín chính trị của Đảng, lôi kéo người dân tham gia các tổ chức mang danh nghĩa “XHDS” để tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Thực tế những năm qua cho thấy, một số tổ chức phi chính phủ (NGO) nước ngoài rất quan tâm đến các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội ở nước ta và tìm cách xâm nhập, tác động, hướng lái hoạt động, chuyển hóa dần các tổ chức này khi chưa đủ điều kiện, thời cơ thành lập tổ chức đối lập. Thông qua các hoạt động, như triển khai dự án, tài trợ tài chính, tổ chức hội thảo với các NGO Việt Nam, một số tổ chức nước ngoài đã đi sâu xâm nhập, tìm hiểu nội bộ, xu hướng quan điểm của các NGO Việt Nam, kích động các tổ chức này thoát ly vai trò lãnh đạo của Ðảng và sự quản lý của Nhà nước, cổ vũ quyền “tự do lập hội” theo tiêu chí phương Tây. Ngoài ra, một số tổ chức nước ngoài còn hỗ trợ tài chính cho một số NGO Việt Nam để xuất bản, phát hành tài liệu nghiên cứu, văn bản luật nước ngoài nhằm tuyên truyền quan điểm, pháp luật phương Tây đến với công chúng Việt Nam một cách công khai. Các tổ chức phản động nước ngoài cũng tìm cách thúc đẩy hình thành “XHDS” tại Việt Nam với mục đích chống phá từ bên trong. Tổ chức “Bảo vệ người lao động” (tại Ba Lan) gia tăng hoạt động với ý đồ chuyển hướng xâm nhập vào trong nước, thúc đẩy hình thành các tổ chức “công đoàn tự do”. Tổ chức “Mạng lưới tuổi trẻ Việt Nam lên đường” đã tiến hành “Đại hội thanh niên sinh viên Việt Nam trên thế giới lần thứ V” vào tháng 1-2008 tại Ma-lai-xi-a. Tại “đại hội” này, các đối tượng tham gia cho rằng để tiến hành “cuộc cách mạng hòa bình” tại Việt Nam thì phải xây dựng được một “XHDS bền vững” và muốn thay đổi xã hội thì không chỉ trên phương diện chính trị, mà còn trên các phương diện kinh tế, luật pháp, trong mỗi cộng đồng dân cư. Qua đây cho thấy, các thế lực thù địch bên ngoài đặc biệt quan tâm đến việc lợi dụng “XHDS” để thực hiện âm mưu lật đổ Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Ðáng chú ý là, một số đối tượng cơ hội chính trị có quan điểm cực đoan đã lợi dụng một số tổ chức quần chúng hợp pháp để tổ chức các hội thảo, tọa đàm, diễn đàn có nội dung đòi “trưng cầu ý dân” về Ðiều 4 của Hiến pháp cũng như sửa đổi toàn bộ Hiến pháp, thúc đẩy hình thành “XHDS” và thực hiện các quyền tự do dân chủ, tự do ngôn luận, báo chí, lập hội theo tiêu chí phương Tây, tư hữu hóa đất đai... Ðây là phương thức chống đối công khai rất nguy hiểm, nếu thiếu cảnh giác có thể tạo môi trường để các thế lực thù địch lợi dụng các tổ chức “XHDS” đưa ra những kiến nghị thay đổi thể chế, chuyển đổi hệ thống luật pháp XHCN bằng luật pháp tư sản.

Đừng để tác phong “quan phụ mẫu” trỗi dậy khiến lòng dân ta thán .

Sống trong một xã hội cởi mở, trình độ dân trí ngày càng cao, tinh thần dân chủ được coi trọng, thì đương nhiên cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ có chức có quyền cần phải có tư duy hành xử nhân văn, tác phong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành khoa học, vì sự phát triển tiến bộ của tổ chức, cơ quan, đơn vị; vì cuộc sống yên lành, hạnh phúc của nhân dân. . Tuy nhiên, những năm qua, ở nhiều nơi vẫn để xảy ra tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên “độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành”-một biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống đã được Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII chỉ ra. Một tàn dư của chế độ quan lại thời phong kiến còn tồn tại dai dẳng Theo các nhà nghiên cứu văn hóa truyền thống, trong tư duy ứng xử của người Việt, cùng với “trọng tĩnh, trọng tình, trọng văn” (coi trọng sự yên ổn; trân trọng tình nghĩa; quý trọng văn chương, khoa bảng), chúng ta còn “trọng xỉ”, tức là trọng những người cao tuổi, người đi trước, người có kinh nghiệm hơn mình. Dân gian có câu “Triều đình trọng tước, hương ước trọng xỉ” với ý nghĩa, trong triều đình thì trọng những người có chức tước, còn ở làng xã thì trọng những người cao tuổi. Ưu điểm của truyền thống “trọng tước, trọng xỉ” là giáo dục con người sống có trước có sau, quý mến những bậc cao niên và những người có trình độ năng lực, vốn sống, kinh nghiệm hơn mình. Tuy nhiên, vì quá coi trọng tôn ti, thứ bậc trong quan hệ ứng xử cũng khiến nhiều quan chức nảy sinh tâm lý “đàn anh”, tư tưởng “bề trên”, từ đó dễ có thái độ quan cách, tác phong gia trưởng, thậm chí trịch thượng, độc đoán cả trong giao tiếp, ứng xử và sinh hoạt, công tác. Khi nói đến tác phong gia trưởng, chủ nghĩa gia trưởng, người ta liên tưởng đến những ông quan mũ cao áo dài của một thời phong kiến đầy oai phong lẫm liệt, dù ở chốn quan trường ăn lộc vua, hưởng lộc nước mà lại đi đứng nghênh ngang, coi mình như quan phụ mẫu, tức là cha mẹ của dân, nói gì cũng bắt dân chúng phải nhất nhất tuân lệnh! Tưởng như tác phong gia trưởng, độc đoán chỉ còn trong chế độ phong kiến chuyên quyền thời xưa, nhưng buồn thay, thói xấu này vẫn tồn tại trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Dù mức độ gia trưởng không hà khắc như thời phong kiến, nhưng những biểu hiện của thói gia trưởng trong một bộ phận cán bộ lãnh đạo thời nay cũng không thể xem thường. Biểu hiện khá phổ biến là không ít cán bộ nhận thức chưa thấu đáo, giải quyết không đúng mực mối quan hệ “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, mà thực chất là coi nhẹ, hạ thấp vai trò lãnh đạo của tập thể, trong khi lại đề quá cao vị trí của bản thân, lợi dụng chức vụ công tác để đưa cái tôi của mình lèo lái, chi phối, thậm chí lấn át cái ta của tập thể cấp ủy, tổ chức, cơ quan, đơn vị. Trong giải quyết các mối quan hệ ứng xử với nội bộ tập thể hay khi phát biểu đăng đàn thì có cán bộ lãnh đạo coi ý kiến của mình có sức nặng vượt trội, còn ý kiến tham gia của người khác chỉ là phụ, nhẹ tựa lông hồng, nghe rồi bỏ đấy. Nổi cộm của thói gia trưởng của một bộ phận cán bộ lãnh đạo là có thái độ, hành vi can thiệp không đúng nguyên tắc vào công việc của tập thể, nhất là công tác nhân sự (tuyển dụng, quy hoạch, phân công công tác, điều động cán bộ) và các vấn đề liên quan đến các chương trình, dự án đầu tư kinh tế-xã hội, tài chính… Cũng vì mắc bệnh gia trưởng, có người ngấm ngầm thành kiến đối với những người có ý kiến khác mình, thậm chí trù dập những người góp ý kiến phê bình trung thực, thẳng thắn. Lại có quan chức coi gì mình nói cũng cho là đúng, là nhất, bắt buộc mọi người phải tuân theo. Thế nên, ở một số tổ chức, cơ quan, đơn vị hiện nay xuất hiện câu cửa miệng như: “Với sếp có hai điều phải học thuộc lòng: Điều 1-Sếp luôn luôn đúng; Điều 2-Nếu sếp sai thì xem lại điều 1”. Cá biệt có nơi còn có câu “khẩu hiệu ngầm” của những nhân viên cấp dưới: “Ý sếp là ý trời!”; “Cãi lại ý sếp-dễ sớm kết thúc sự nghiệp!". Những câu nói đó cho thấy phần nào sự gia trưởng, độc đoán vẫn đang ngự trị trong một bộ phận quan chức khiến cấp dưới bày tỏ tâm lý lo ngại, sợ sệt không đáng có. Rèn luyện và thể hiện tác phong sâu sát quần chúng, tôn trọng tập thể và cấp dưới Tác phong gia trưởng là một thói tệ hại của người cách mạng. Ngay từ khi chính quyền cách mạng non trẻ vừa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng cảnh báo, những cán bộ, đảng viên có thái độ gia trưởng lúc nào cũng “Tưởng mình ở trong cơ quan Chính phủ là thần thánh rồi”, “cậy thế mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao được vậy”, từ đó “coi khinh dân gian, nói phô, cử chỉ lúc nào cũng vác mặt “quan cách mạng” lên. Không biết rằng thái độ kiêu ngạo đó sẽ làm mất lòng tin cậy của dân, sẽ hại đến oai tín của Chính phủ”. Cũng đề cập đến thói gia trưởng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng từng chỉ rõ: “Một số người có chức có quyền giữ tác phong quan cách, gia trưởng” và “có thái độ coi thường quần chúng, không lắng nghe ý kiến người lao động, chèn ép quần chúng”. “Ngang tàng phóng túng”, “vác mặt quan cách mạng”, “chèn ép quần chúng”… là những từ ngữ mạnh mà lãnh tụ, lãnh đạo của Đảng ta đã sử dụng như muốn cảnh tỉnh nghiêm khắc những cán bộ, đảng viên vẫn để cho tư duy, lề lối, cung cách hành xử hách dịch, cửa quyền vốn là tàn dư của chế độ quan lại phong kiến thời xưa ngự trị trong bản thân mình. Điều đó hoàn toàn xa lạ, trái ngược với tư tưởng tiến bộ, thái độ cầu thị, tác phong dân chủ, khoa học của người cộng sản. Đấu tranh, ngăn ngừa và từng bước loại khỏi thói gia trưởng trong tư tưởng và hành động, suy nghĩ và việc làm trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay là góp phần xây dựng nền tảng đạo đức, văn hóa lành mạnh trong bộ máy công quyền. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân. Vì vậy, mọi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chỉ là người thay mặt Nhà nước, chính quyền và được tổ chức, cơ quan, đơn vị ủy quyền để giải quyết, xử lý công việc cho người dân theo đúng tinh thần là “công bộc, đầy tớ” của nhân dân. Muốn làm tròn trách nhiệm, bổn phận với nhân dân, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải có quan điểm vì nhân dân phục vụ; thái độ tôn trọng, quý mến nhân dân; tác phong công tác gần gũi, sâu sát quần chúng; thể hiện phong cách ứng xử, lề lối làm việc chuẩn mực, góp phần vun đắp, thắt chặt mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Để phòng ngừa lề thói, tác phong gia trưởng, vấn đề mấu chốt là cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp cần nhận thức đúng đắn và thực hiện nghiêm túc nguyên tắc dân chủ, kiên quyết tránh xa biểu hiện tuyệt đối hóa yếu tố tập trung dẫn tới thái độ độc đoán; hoặc lợi dụng dân chủ của tập thể để làm tấm bình phong lấp liếm, che đậy những hành vi chuyên quyền của mình. Đối với người đứng đầu các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị, địa phương cần tự giác khép mình vào khuôn khổ tổ chức, thực hiện đúng quy chế lãnh đạo của ban thường vụ, cấp ủy; không lợi dụng vị thế công tác để can thiệp, chi phối tập thể hướng theo, làm theo ý định cá nhân không trong sáng của mình. Mặt khác, cán bộ lãnh đạo cần có ý thức tôn trọng, phát huy dân chủ, trí tuệ của tập thể, cơ quan, đơn vị; thật sự gần gũi, sâu sát, yêu thương quần chúng; thành tâm lắng nghe, thấu hiểu nguyện vọng chính đáng của cấp dưới để có cách ứng xử, giải quyết phù hợp, có lý, có tình. Vì thực tế cho thấy, khi cán bộ thực lòng cảm thông, chia sẻ với quần chúng, thì quần chúng mới quý trọng mình, hay nói như Bác Hồ: “Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”. Đó cũng là cơ sở để phòng tránh, ngăn ngừa lề thói, tác phong gia trưởng. Tuy vậy, cần hiểu rằng, khi cán bộ giữ chức vụ nào đó thì không thể có tác phong dễ dãi, theo đuôi quần chúng, mà phải có tư duy đột phá, phong cách quyết đoán của người lãnh đạo. Vì xuất phát từ nguyên tắc, cơ chế lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay, các tổ chức đảng, chính quyền các cấp ngoài việc phát huy vai trò của tập thể lãnh đạo vẫn phải đề cao, coi trọng tinh thần quyết đoán của cá nhân người đứng đầu. Kiên định, bản lĩnh, quyết đoán là những yếu tố rất cần thiết của người lãnh đạo, mà thiếu nó, vị thế người đứng đầu sẽ trở nên mờ nhạt trong tập thể. Vấn đề là ở chỗ, kiên định mà không cứng nhắc, bản lĩnh mà không liều lĩnh, quyết đoán mà không độc đoán-điều đó mới làm nên phẩm chất chân chính, tư cách chững chạc của cán bộ lãnh đạo, quản lý. Có kỹ năng quyết đoán mới có khả năng quyết định dứt khoát, mạnh mẽ để giải quyết, xử lý được những vấn đề mới, vấn đề cấp bách do cuộc sống, thực tiễn đặt ra. Nhưng tác phong quyết đoán đều phải vì lợi ích chung, vì nguyện vọng chung của tập thể, của số đông người lao động thì mới thể hiện được tài năng, đức độ của cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Chữa căn bệnh “né” trách nhiệm .

Một trong những căn bệnh trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tồn tại lâu nay là bệnh né tránh trách nhiệm, sợ trách nhiệm. Mặc dù đã được nhận diện và chỉ rõ là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị theo Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng, thế nhưng cho đến nay, căn bệnh này vẫn chưa được điều trị hiệu quả. Tác hại của căn bệnh này là rất lớn, đòi hỏi phải có phương thuốc đặc trị.. “Trách nhiệm” là gì mà người ta sợ và muốn né tránh đến vậy? Theo Từ điển tiếng Việt, từ “trách nhiệm” có nghĩa là “Điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình”; “là phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả”. Trong xã hội, bất kỳ ai cũng có trách nhiệm, bởi mỗi người đều có một vị trí nhất định trong các mối quan hệ xã hội, như gia đình, dòng họ, địa phương, tập thể, tổ chức chính trị-xã hội, công dân của một nước, thành viên của cộng đồng dân tộc và rộng nhất là của nhân loại… Trong đó, trách nhiệm công vụ có thể coi là hạt nhân tiêu biểu trong tập hợp các trách nhiệm. Đó là vì, suy cho cùng, trách nhiệm ấy là nhiệm vụ mà đất nước giao cho cá nhân cán bộ, công chức, viên chức theo chức trách được phân công. Trách nhiệm công vụ đòi hỏi cán bộ, công chức, viên chức phải thực hiện nhiệm vụ được giao đến cùng, không thể thoái thác hoặc trao lại cho ai khác, buộc người cán bộ, công chức, viên chức phải gắn mình với thực hiện công vụ cho đến khi có kết quả. Vì thế, khi đánh giá cán bộ, công chức, viên chức, cụm từ “làm tròn nhiệm vụ”, "hoàn thành nhiệm vụ", "hoàn thành tốt nhiệm vụ" thường được dùng để nói về việc đã thực hiện đúng, đủ, tốt nhiệm vụ theo chức trách được phân công. Trong Bộ luật Hình sự có quy định tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng". Vừa qua, có rất nhiều vụ án lớn, khiến Nhà nước bị thất thoát hàng nghìn tỷ đồng, mà trong đó rất nhiều người giữ các trọng trách đã bị kết án vì tội này. Ví dụ như, vụ án Phạm Công Danh và đồng phạm gây thất thoát hơn 15.000 tỷ đồng khiến ông Đặng Thanh Bình, nguyên Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cùng 4 cán bộ dưới quyền bị truy tố về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Tương tự, bản án dành cho hai vị từng giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Công an là Bùi Văn Thành và Trần Việt Tân cũng vì "Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng". Tội “thiếu trách nhiệm” ở những trường hợp này được hiểu là làm không hết trách nhiệm, quản lý kém, thiếu kiểm tra, không phát hiện để cấp dưới sai phạm pháp luật gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Tất nhiên là nguyên nhân sâu xa của việc thiếu trách nhiệm trong từng trường hợp cụ thể là rất khác nhau. Nhưng có thể thấy trong khi nền kinh tế đang mở rộng quy mô, vốn và tài sản ngày càng nhiều thì những cán bộ ở vị trí quản lý càng cao mà thiếu trách nhiệm thì hậu quả rất khủng khiếp. Thế nhưng, bệnh né tránh trách nhiệm, lẩn tránh nhiệm vụ cũng gây ra hậu quả, thiệt hại không kém. Đến mức tại Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương để đánh giá tình hình 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2019 vừa được tổ chức thì căn bệnh né tránh trách nhiệm được chỉ đích danh là một trong những trở lực của phát triển, gây lãng phí lớn, thậm chí gây mất niềm tin. Cách đây đúng một năm, tại hội nghị đánh giá tình hình 6 tháng đầu năm 2018, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng đã phê phán một bộ phận cán bộ mắc căn bệnh này, rằng: “Cứ ngại trách nhiệm, cứ sợ trách nhiệm, cứ né tránh trách nhiệm... thì làm sao xã hội phát triển, đất nước phát triển được? Trong khi quyền lực đó, trách nhiệm đó thuộc về các đồng chí-những người thực thi”. “Sợ trách nhiệm” và “né trách nhiệm” để chỉ những người được giao nhiệm vụ công nhưng đã không làm tròn nhiệm vụ, thậm chí thoái thác nhiệm vụ, lẩn tránh nhiệm vụ theo chức trách của mình. Tại sao người ta lại “né” quyền lực và trách nhiệm mà tổ chức đã trao cho mình? Đó có thể là vì người ta cho rằng việc thực thi những nhiệm vụ đó khá “xương”, không có lợi cho bản thân, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Điều này giải thích vì sao mà việc tiếp công dân đã được quy định rất cụ thể trong Luật Tiếp công dân, đó là người đứng đầu Thanh tra Chính phủ, Văn phòng Chính phủ, UBND cấp tỉnh, huyện, xã theo định kỳ hằng tháng, hằng tuần phải trực tiếp tiếp công dân. Thế nhưng, quy định này ở nhiều nơi vẫn chưa được thực hiện tốt. Có thể là vì việc ra mặt tiếp công dân buộc người đứng đầu các cơ quan phải phát ngôn trực tiếp, phải xử lý trực tiếp, mà trong đó có những việc khó, việc nhạy cảm. Do đó, việc tiếp công dân thường được đùn đẩy, giao cho các cấp dưới. Thế rồi quy định về phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí cũng đã có từ lâu, nhưng có lẽ vì sợ “vạ miệng” nên trong rất nhiều trường hợp, người được giao nhiệm vụ phát ngôn cáo bận, đi công tác, họp hành hoặc trong tình trạng điện thoại không liên lạc được.... Chính điều này góp phần làm cho nhiều vụ việc khiếu nại, tố cáo của công dân chậm được xử lý, không được xử lý dứt điểm, gây bức xúc. Những việc cần sớm được cung cấp thông tin để định hướng dư luận thì không có ai phát ngôn, gây ra nhiều lo lắng, rồi những tin đồn, những thông tin xuyên tạc có cơ hội xuất hiện. Biểu hiện "né" trách nhiệm cao độ là trong thời gian qua, rất nhiều việc đáng lẽ phải được giải quyết ở cấp dưới, ở cấp cơ sở, nhưng vì cấp dưới, cấp cơ sở không giải quyết, mà cứ dồn dần lên cấp trên, nên cuối cùng rất nhiều nhiệm vụ lên đến tận cấp quản lý hành chính cao nhất là Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Điều này rõ ràng làm giảm hiệu quả quản trị của cả hệ thống, gây dồn ứ nhiệm vụ. Nhiều cấp có thể ra quyết định quản lý theo đúng thẩm quyền thì lại có xu hướng trở thành cấp trung gian, trung chuyển trách nhiệm, và cả hệ thống phải chờ cấp cao nhất ra quyết định quản lý thì mới thực thi được. Nhiều việc vì thế chậm được giải quyết. Xu hướng “dồn việc lên trên” này xuất hiện cả trên bình diện quốc gia và trong mỗi cơ quan, bộ, ngành, địa phương. Đẩy lên cấp trên hoặc đẩy cho bộ phận khác là phương án rất dễ, nhiệm vụ coi như không liên quan gì nữa tới mình, nhưng việc thì vẫn còn nguyên. Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang bước vào cuộc cạnh tranh toàn cầu rất quyết liệt, mà trong đó hiệu quả quản trị công được coi là một trong những yếu tố quyết định thắng lợi trong cạnh tranh. Thời gian tạo ra chi phí rất lớn, đó chính là chi phí vốn, chi phí lãi suất, bởi với các khoản vay nước ngoài lên đến hàng triệu, hàng tỷ USD thì lãi suất lên tới hàng trăm, hàng nghìn tỷ đồng. Dự án bị đình trệ, chậm tiến độ là "lãi mẹ đẻ lãi con". Và còn lớn hơn nữa là mất cơ hội. Ví dụ như, hiện có 3 dự án nhiệt điện than của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đang gặp rất nhiều khó khăn gây ra chậm tiến độ, rất cần có các cơ chế đặc thù để xử lý, vì mỗi ngày trôi qua là rất nhiều tiền của bị lãng phí, cơ hội phát triển bị mất đi, rất xót xa. Thế nhưng, lãnh đạo bộ, ngành nào sẽ dũng cảm, sẽ vì cái chung, dám đứng ra tham mưu chính sách, quyết liệt hỗ trợ tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy tiến độ các dự án nhiệt điện than đó? Trong các nền quản trị tiên tiến trên thế giới, nhiệm vụ được phân công, được giao tương đối rõ ràng, có các bản mô tả công việc của từng vị trí trong hệ thống, có các quy trình làm việc chặt chẽ và cả hệ thống cứ vận hành trơn tru theo các quy trình đó. Trong đó, vai trò của từng chuyên viên rất được đề cao. Thậm chí, ở một số quốc gia có đặc điểm là chính phủ được thay đổi khá thường xuyên nhưng mọi thứ vẫn vận hành trơn tru, vì có hệ thống bên dưới rất tốt, với đội ngũ chuyên viên thạo việc, làm đúng chức trách của mình. Một hệ thống quản trị mà trong đó mọi quy định đều rõ ràng, trách nhiệm rõ ràng, quy trình nghiêm ngặt, ai cũng làm việc hết trách nhiệm thì đó sẽ là một hệ thống mạnh. Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, mọi thứ ở xung quanh chúng ta luôn luôn vận động, có những điều luật hôm nay là đúng nhưng ngày mai không còn phù hợp, có những quy trình trong quá khứ là được nhưng hiện tại cần phải thay đổi. Quá trình cải cách thể chế, cải cách hành chính quyết liệt của nước ta hiện nay cũng là để đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Vì thế, người cán bộ, công chức, viên chức luôn phải lắng nghe cuộc sống, nắm bắt cuộc sống, trên tinh thần phục vụ nhân dân tốt nhất, chứ không phải cứ việc mình mình làm, “nhắm mắt, bịt tai”, tuân thủ đúng quy trình, đúng nhiệm vụ được giao, không cần quan tâm đến hiệu quả và hậu quả của việc ấy. Nếu cứ làm đúng quy trình, quy định, bất chấp kết quả thì đúng là người cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức sẽ tránh được những rắc rối cho bản thân, để được yên thân, mặc dù kết quả chung có thể không tốt. Nhưng nếu như thế, hệ thống của chúng ta rất dễ rơi vào trạng thái vô cảm. Một người bác sĩ cần phải cảm nhận được nỗi đau của bệnh nhân và gia đình bệnh nhân, từ đó mới đưa ra được phương án điều trị đúng nhất. Chúng ta cần khuyến khích mỗi người trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, chúng ta cần phải luôn luôn mở rộng giác quan để vui khi nhiệm vụ, chức trách của mình được hoàn thành tốt, và phải đau khi nhiệm vụ giao cho mình không được làm tốt, hoặc những việc không hẳn được giao cho mình nhưng mình nhìn thấy chưa được giải quyết tốt. Nỗi đau này còn phải vượt lên sự lo lắng cho tồn tại của bản thân trong hệ thống, vì nó xuất phát từ lương tâm, là danh dự với công việc, là lý tưởng, là lẽ sống của mỗi cán bộ, đảng viên. Nếu xây dựng được tâm thế ấy thì với mỗi việc khó, mỗi con người trong hệ thống chúng ta sẽ không tìm cách "đá" sang cho người khác, cho cấp trên mà sẽ cùng suy nghĩ, tham mưu hướng giải quyết, xây dựng chính sách, các quy định, các điều luật mới cho phù hợp. Việc gì thuộc cấp nào quản lý thì cấp đó phải quyết định, không được đẩy lên cấp trên. Tinh thần “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” vì cái chung của đồng chí Kim Ngọc, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú, “cha đẻ” của “khoán mười” tháo gỡ nút thắt về cơ chế, chính sách, tạo sự phát triển cho nông nghiệp Việt Nam thời kỳ đổi mới cần phải là tấm gương cho các cán bộ, đảng viên hiện nay. Cùng với đó, để khuyến khích tinh thần tự giác, dám đương đầu với khó khăn, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm thì cách đánh giá cán bộ cũng cần được nghiên cứu phù hợp; xóa tư tưởng "an phận thủ thường" vì “làm nhiều sai nhiều, làm ít sai ít, không làm không sai” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức hiện nay. Cách đánh giá cần phải giúp cho cán bộ, đảng viên vững tâm rằng nếu mình hành động vì lợi ích chung, vì cái chung thì sẽ được nhìn nhận đúng, sẽ không gặp rắc rối. Còn nếu “làm ít” hoặc “không làm” cũng chẳng khác nào đang làm sai, bởi vì gây ra hậu quả rất tiêu cực, rất nghiêm trọng.

VIỆT TÂN NÚP BÓNG “CA NHẠC” ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẤT NƯỚC


Trong những ngày tháng Tư lịch sử, toàn Đảng, toàn quân, đồng bào và chiến sĩ cả nước lại tràn đầy niềm tự hào và khí thế kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975), đó là ngày đất nước được hoàn toàn giải phóng, thống nhất non sông, Bắc, Nam sum họp một nhà. 

Thế nhưng đám phản động, khủng bố Việt Tân và hội đoàn chống Cộng tại Mỹ lại cố tình xuyên tạc lịch sử, chúng luôn  tổ chức các sự kiện nhằm lôi kéo, cổ suý hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam. Trong số đó Việt Tân chính thức thuê số chống đối là ca, nhạc sĩ nhằm lừa phỉnh đồng bào Hải ngoại tham dự các chương trình “ Hát cho đồng bào tôi” để góp tiền chuyển cho số chống phá trong nước hoạt động.

Thời gian qua nhiều tổ chức hội nhóm và số chống đối tham gia Việt Tân, VOICE đã nhận nhiều nguồn tiền đó Việt Tân chuyển vào trong nước. Nhiều đối tượng nhận tiền và hoạt động chống phá đã bị bắt giữ, xử lý nghiêm trước pháp luật như Lê Đình Lượng, Hoàng Đức Bình, Nguyễn Văn Hoá, Nguyễn Thuý Hạnh, Phạm Thị Đoan Trang....

Lần này tham gia chương trình online từ 17/4 có đối tượng Võ Minh Trí tức nhạc sĩ Việt Khang.Trước đó Võ Minh Trí bị TAND TP.HCM kết án 4 năm tù, Trần Vũ Anh Bình 6 năm tù về tội “tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt Nam”. 

Ngoài ra, HĐXX còn tuyên quản thúc hai bị cáo tại địa phương (sau khi mãn hạn tù) mỗi người 2 năm.

Theo kết luận giám định cho thấy 14 tác phẩm âm nhạc thu giữ của Trần Vũ Anh Bình và Võ Minh Trí có nội dung tuyên truyền chống phá nhà nước ở các mức độ khác nhau. Trong hai bị cáo, Bình là người hoạt động đắc lực, đã sưu tầm, phát tán các bài viết có nội dung kích động hiềm thù, vận động chống đối, lật đổ chế độ, vu khống, nói xấu cán bộ. Bình đã 4 lần rải truyền đơn ở nhiều tỉnh thành, làm 4 tờ truyền đơn… 

Như vậy việc tổ chức các sự kiện ngoài nước để thu hút đồng bào không nằm ngoài sự chống phá của các tổ chức khủng bố, phản động lưu vong đối với đất nước, Nhân dân Việt Nam.

Việc Việt Tân lợi dụng tổ chức các đêm ca nhạc để chống phá Đảng, Nhà nước là một thủ đoạn hết sức tinh vi, cần tuyệt đối cảnh giác./.

Yêu nước ST.

TRƯƠNG VĨNH KẺ BÁN NƯỚC HẠI DÂN VẬY MÀ VẪN CÓ NHỮNG KẺ LẤY DANH NGHĨA LÀ NHÀ "SỬ HỌC" ĐỂ RỬA MẶT CHO KÝ! KÝ

 Nhà sử học Trần Văn Giàu đã nhận xét:

"Khi mà kẻ xâm lược và kháng chiến đang chọi nhau dữ dội, trên chiến trường Thắng - Bại chưa ngã ngũ hẳn, khi ấy mà ai đứng hẳn về phe kẻ địch (của dân tộc Việt Nam) thì nhà chép sử nào, dù có rộng xét mấy cũng không thể lấy bất kỳ số sách vở sáng tác hay phiên dịch nào để biện bạch và giảm nhẹ trách nhiệm tinh thần của một người dân nước, nhất là của một "Kẻ Sĩ" (chỉ Trương Vĩnh Ký)


Nhà sử học Trần Huy Liệu thì nhận xét:

Về phẩm cách cá nhân của một sỹ phu lúc ấy, không phải chỉ nhìn ở sinh hoạt thông thường mà chủ yếu là phải lấy thái độ đối với dân tộc, đối với giặc cướp nước làm tiêu chuẩn. Là người học rộng, Trương không làm tay sai như kiểu Trần Tử Ca, Trần Bá Lộc… mà đóng vai trò mưu sỹ bày cho giặc (Pháp) những thủ đoạn thâm trầm dùng người bản xứ trị người bản xứ, dùng danh nghĩa Nam triều (nhà Nguyễn) để đánh nghĩa quân. Cái học vấn của Trương càng uyên bác bao nhiêu thì tác hại của Trương càng lớn bấy nhiêu.

Vậy tại sao ngày nay báo chí và nhiều tố chức muốn rửa mặt cho Ký với thái độ như vậy? Phải chăng họ muốn tẩy trắng cho Trương Vĩnh Ký thành một người mà họ gọi là "yêu nước" người đã cộng tác đắc lực với thực dân. Nghiên cứu về Ký đáng ra cần luận bàn tội công rõ ràng chứ ko phải chí cố tình che lấp đi tội danh làm chó săn cho tây đàn áp những phong trào yêu nước thời bấy giờ. Nếu người đời xem phong trào Cần Vương là cuộc khởi nghĩa chống ngoại xâm yêu nước, thì Trương Vĩnh Ký chính là kẻ bán nước hại dân thời đấy. Ngày nay nhiều kẻ mang danh sử học và một số tờ báo cố tình nhập nhèm đánh lận con đen nhằm rửa tội cho ký, mục đích là để người đời sau không nhận ra bản chất vấn đề và dần dần ai cũng suy nghĩ về Ký là người " yêu nước" nhưng rõ ràng ông ta yêu nước pháp chứ không phải Việt Nam. Với lối nghiên cứu hàm hồ như ngày nay thì tương lai không xa đám người như Lê Chiêu Thống, Ngô Đình Diệm cũng thành người yêu nước.

Đáng buồn thay câu chuyện một chiều về Trương Vĩnh Ký là nhà "yêu nước" lại được những kẻ xét lại xuyên tạc lịch sử tận dụng triệt để, trơ trẽn rửa mặt cho chúng đánh tráo bản chất lịch sử trên báo chí suốt thời gian qua. Ký có tài không ai phủ nhận, nhưng cái tài của Ký không phục vụ cho dân tộc đất nước chống ngoại xâm, mà Ký dùng tài của mình để phục vụ cho quân xâm lược.

Lê Đắc Thẩm ST.

Kế ly gián - chiêu trò đốn mạt của chủ nghĩa xét lại



Nhằm hạ bệ tượng đài, đặc biệt là những tượng đài vĩ đại – anh hùng dân tộc, đám lật sử có chiêu thức rất khốn nạn như thế này: đó là đem so sánh tượng đài đó với một tượng đài khác lừng lẫy không kém, và nói rằng hai người xung đột lý niệm với nhau. Chúng nói rằng chiến công của người này thực sự là của người kia, khuyết điểm của người kia là lỗi người này tác động. Hội fan cuồng của 2 bên sẽ bắt đầu nảy sinh hoài nghi, và nhằm để thần tượng của mình hoàn hảo vô khuyết sẽ quay sang công kích vĩ nhân khác. 

“BA CHIẾN SỸ QUÂN GIẢI PHÓNG TRONG BỨC ẢNH NÀY ĐÃ CÙNG HY SINH TRONG MỘT TRẬN ĐÁNH Ở TUỔI ĐÔI MƯƠI".

 


Bức ảnh tôi chụp trước lúc đơn vị làm lễ truy điệu và tuyên thệ của các anh. (Truy điệu những người trong mũi cảm tử đánh vào trung tâm).

Ba người lính ấy tên Uyển (giữa) – người Hà nội, sinh viên Bách Khoa, Tiến (bên phải) và Thư (bên trái) cùng quê Thái Bình. Họ đã hy sinh trong trận đánh vào cứ điểm pháo Pađu. Họ đều là lính đặc công tiểu đoàn 10, Quảng Trị.

Đêm hôm ấy tôi cùng hành quân vào trận với họ ( 29-5-1969) – Trận đánh không thành. Uyển hy sinh nằm vắt trên vòng dây thép gai. Hai người con lại hy sinh khi trận đánh bị lộ."

Khi đất nước vang tiếng bom đạn của kẻ thù các anh là như thế... xếp bút mực xanh rồi băng mình vào gian khó với lòng nhiệt thành và tình yêu Tổ quốc trong tim.

Những người lính tuổi 20 đi vào chiến trường như một lẽ tự nhiên, lặng lẽ chia tay mẹ, chia tay người thân với “nước mắt chỉ để dành cho ngày gặp mặt”. Máu lửa ở phía trước nhưng không mấy ai chùn lòng. Rất nhiều người đã nằm lại với những mảnh đất lành quê hương. Nằm lại trong lòng đất mẹ khi mới ở tuổi đôi mươi nhưng các anh là cả một thế hệ đi cùng đất nước hôm nay. Sự hy sinh của họ viết nên trang sử vẻ vang của dân tộc.

Theo lời kể của Nhà báo - Nhiếp ảnh Trọng Thanh

Bất tuân dân sự - một thủ đoạn nguy hiểm .

Những năm gần đây, để thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch thường sử dụng một thủ đoạn mới mang tên "bất tuân dân sự". "Bất tuân dân sự" thể hiện tư tưởng cực đoan, "vô chính phủ", đang được lợi dụng gắn với cái gọi là xã hội dân sự để chống phá Đảng, Nhà nước, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam. "BẤT TUÂN DÂN SỰ" - LỊCH SỬ VÀ SỰ BIẾN TƯỚNG Thuật ngữ "bất tuân dân sự" lần đầu tiên xuất hiện trong tập tiểu luận của Henry David Thoreau-nhà văn, nhà tư tưởng người Mỹ-với nhan đề "Dân sự bất hợp tác", vào tháng 5/1849. Nội dung cơ bản của tập tiểu luận bàn về mối quan hệ giữa cá nhân (hoặc thiểu số công dân) với nhà nước. Theo đó, cá nhân (hoặc thiểu số công dân) có thể không tuân thủ, không phục tùng nhà nước; thậm chí, có thể thực hành chống lại luật pháp của nhà nước nếu cảm thấy những điều luật đó không phù hợp với người dân, kể cả là với thiểu số, bằng phương pháp "cách mạng hòa bình". Thực chất đây là quan điểm cực đoan, "vô chính phủ" của một kẻ vốn là phạm nhân (H.D. Thoreau viết tập tiểu luận này nhằm biện minh cho việc ông ta phải ngồi tù ở bang Massachusetts vì tội không đóng thuế). Mặc dù ở thời điểm ra đời, tác phẩm của H.D. Thoreau không gây được sự ảnh hưởng nào, nhưng sang thế kỷ 20, tư tưởng về một cuộc "cách mạng hòa bình" của ông được một số nhà hoạt động chính trị lợi dụng phát triển thành phương pháp đấu tranh bất bạo động như phong trào "Satyagraha" của Mahatma Gandhi đấu tranh giành quyền lợi cho người Ấn Độ ở Nam Phi (năm 1914) và giành độc lập cho Ấn Độ từ thực dân Anh (năm 1947); phong trào đấu tranh dân quyền ở Mỹ của Martin Luther King (thập niên 60 thế kỷ 20); phong trào đấu tranh chống phân biệt chủng tộc (chủ nghĩa Apartheid) ở Nam Phi của Nelson Mandela... Đặc biệt, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chiến lược "diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc ra đời với tư tưởng chủ đạo là chuyển cuộc đấu tranh vào bên trong các nước XHCN. Từ đó, "bất tuân dân sự" từng bước trở thành một phương thức, thủ đoạn nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với các phương thức, thủ đoạn khác của chiến lược "diễn biến hòa bình". Trong các cuộc "cách mạng ca hát", "cách mạng màu", "cách mạng đường phố" ở các nước Đông Âu và Liên Xô vào những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21; "Mùa xuân Ả Rập" ở các nước Trung Đông và Bắc Phi đầu những năm 2010... đều có dấu ấn của phong trào "bất tuân dân sự". Gần đây nhất là phong trào biểu tình nhằm lật đổ Chính phủ Bolivar ở Venezuela (từ năm 2017 đến nay); phong trào “cách mạng dù” của sinh viên Hồng Công (năm 2014 và 2019) đều thể hiện rất rõ thủ đoạn "bất tuân dân sự". Như vậy, “bất tuân dân sự” khi được sử dụng trong tay chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế đã trở thành một thủ đoạn phản cách mạng nhằm chống phá, lật đổ chính quyền, thay đổi chế độ chính trị ở những nước tiến bộ, không cùng "quỹ đạo" với chúng. NHẬN DIỆN BẢN CHẤT Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về "bất tuân dân sự" nhưng thực chất “bất tuân dân sự” là các hoạt động công khai từ chối tuân theo, hoặc vi phạm một cách cố ý và có ý thức đối với một số đạo luật nhất định nhằm cản trở quá trình thực thi chính sách, luật pháp của nhà nước; là hình thức phản kháng bất bạo động, gây áp lực buộc nhà nước phải thay đổi chính sách, luật pháp, thậm chí lật đổ chính quyền; bản chất là hành vi vi phạm pháp luật. “Bất tuân dân sự" là các hoạt động công khai từ chối tuân theo, hoặc vi phạm một cách cố ý và có ý thức đối với một số quy định pháp luật nhất định của nhà nước. Điều này khác hẳn với nguyên tắc phổ biến mà hầu hết các nhà nước pháp quyền trên thế giới đều thực hiện, đó là: Tiểu số phục tùng đa số; lợi ích riêng phải nằm trong lợi ích chung; lợi ích cá nhân phải phục tùng lợi ích cộng đồng, xã hội, dân tộc. Vì vậy, "bất tuân dân sự" về cơ bản thể hiện tư tưởng cực đoan, "vô chính phủ", hầu như không được nhà nước pháp quyền nào chấp nhận (ngoại trừ những thế lực muốn lợi dụng nó để chống lại nhà nước pháp quyền). "Bất tuân dân sự" hình thức phản kháng, không tuân thủ, không phục tùng, không hợp tác cơ bản là ôn hòa, bất bạo động. Tuy nhiên, không phải tất cả hình thức đều là ôn hòa, bất bạo động. Thậm chí, theo những người chủ trương "bất tuân dân sự", hành động vũ trang của kẻ yếu chống lại kẻ mạnh hơn có vũ trang thì được coi là bất bạo động. Điều này thể hiện sự mập mờ về tính chất của các hình thức đấu tranh gọi là bất bạo động; hay nói cách khác, ranh giới giữa bất bạo động và bạo động là khá mong manh, có thể chuyển hóa cho nhau rất nhanh chóng. Thực chất, đây là cách ngụy tạo để biện giải, mở đường cho đấu tranh bạo động khi bất bạo động đã tích lũy đủ điều kiện hay "châm ngòi" thành công. Hành vi phản kháng, không tuân thủ, không phục tùng những điều luật đã được ban hành; được thực hiện thông qua hình thức bất bạo động thể hiện sự coi thường kỷ cương, pháp luật, trái với các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền trong một xã hội văn minh. Hơn nữa, khi hướng tới mục tiêu chính trị, "bất tuân dân sự" là bước khởi đầu của một cuộc "cách mạng mềm" nhằm thay đổi chế độ chính trị đang tồn tại hoặc lực lượng chính trị đang nắm quyền. Vì vậy, trong hầu hết các vụ việc, về bản chất, đây là hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa bản chất và hiện tượng. Đối với các hiện tượng cụ thể, có thể ở mức độ thấp, không ảnh hưởng xấu nhiều tới cộng đồng, nhưng ở mức độ cao, khi hướng tới mục tiêu chính trị bằng các hình thức đấu tranh trực tiếp gây tác động tiêu cực đến tình hình an ninh trật tự của đất nước, của địa bàn thì cần phải có giải pháp phù hợp.

ĐẨY LÙI NHỮNG CHIÊU TRÒ "BẤT TUÂN DÂN SỰ" Ở VIỆT NAM

Ở Việt Nam, hoạt động "bất tuân dân sự" đã diễn ra từ nhiều năm trước, có nguy cơ trở thành "phong trào" nguy hại trực tiếp đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nếu không nhận diện và đấu tranh kịp thời... Những năm gần đây, có một số vụ việc mang bóng dáng "bất tuân dân sự", như: "Bất tuân cưỡng chế" của một số đối tượng khi giải phóng mặt bằng ở Bắc Giang, Hải Phòng, Hà Nội, Đắc Nông, Gia Lai...; "bất tuân" quy định về thành lập hội (nhóm), đòi lập các tổ chức xã hội dân sự (thực chất là phản động trá hình) như "Hội anh em dân chủ", "Hội phụ nữ nhân quyền Việt Nam", "Hội cựu tù nhân lương tâm Việt Nam", "Hội văn đoàn độc lập Việt Nam", "Hội nhà báo độc lập Việt Nam", "Mạng lưới Blogger Việt Nam"...; “bất tuân” để phản đối Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội (năm 2014), Luật An ninh mạng (năm 2018)… Các hình thức như kích động tài xế phản đối trả phí BOT giao thông; từ chối đóng các loại quỹ phúc lợi xã hội; tẩy chay hàng hóa nước ngoài... cũng có nhiều vụ việc bị lợi dụng, biến tướng. “Bất tuân dân sự" được tổ chức ngày càng chặt chẽ, được một số tổ chức phản động nước ngoài như Việt Tân, Voice công khai giật dây. Chúng lợi dụng các vấn đề dân sinh còn có hạn chế, khuyết điểm khiến người dân bức xúc để làm suy giảm niềm tin, tích tụ thêm mâu thuẫn của người dân đối với chính quyền, với Đảng, Nhà nước. Chúng lợi dụng thông qua đó để tập hợp, xây dựng, phát triển lực lượng, hợp thức hóa, công khai hóa việc chống đối chính quyền. Đồng thời, gắn kết chặt chẽ giữa "bất tuân dân sự" với "xã hội dân sự", sử dụng các tổ chức "xã hội dân sự" để chỉ đạo, điều hành "bất tuân dân sự". Thủ đoạn chủ yếu là tiếp tục sử dụng các chiêu bài "tự do", "dân chủ", "nhân quyền"; triệt để lợi dụng các vấn đề nhạy cảm về dân tộc, tôn giáo, các sự kiện, vụ việc, những sơ hở, bất cập của ta trong quá trình triển khai các quyết sách phát triển kinh tế-xã hội, đối ngoại... để đẩy mạnh tuyên truyền chống phá; lôi kéo, kích động nhân dân tụ tập, tuần hành, biểu tình, tạo dựng phong trào phản kháng trong quần chúng; phát triển lực lượng cốt cán, xây dựng "ngọn cờ"; tiến hành tập dượt các kịch bản đấu tranh chuẩn bị cho mục tiêu cao hơn... Để đấu tranh làm thất bại "bất tuân dân sự", cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau đây: Tích cực tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn hóa "thượng tôn pháp luật" cho mọi công dân. Trong đó, cần chú trọng nâng cao trình độ giác ngộ, niềm tin vào tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật đối với mọi tầng lớp nhân dân. Đồng thời, tích cực đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục; làm cho mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước đến được với người dân một cách cụ thể, gần gũi, dễ hiểu, dễ tuân thủ, chấp hành. Coi trọng tuyên truyền, hướng dẫn để người dân nắm vững các quy định về quy trình, thủ tục, phương pháp, cách thức tiến hành phản biện xã hội theo pháp luật; tránh để bị kẻ địch lợi dụng phát động "bất tuân dân sự". Tăng cường đấu tranh vạch rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn sử dụng "bất tuân dân sự" để chống phá Việt Nam của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; nâng cao chất lượng ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính của cơ quan hành chính các cấp, nhất là ở cơ sở. Đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu quả, trong sạch, vững mạnh; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là các lĩnh vực quản lý kinh tế, tài chính, tài nguyên, môi trường... Bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức; đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm của cán bộ các cấp, củng cố niềm tin của người dân đối với Đảng, Nhà nước. Chính quyền các cấp phải nêu cao vai trò, trách nhiệm phục vụ nhân dân, tăng cường đối thoại, giải quyết tốt các vấn đề bức xúc của nhân dân; giải quyết dứt điểm các vấn đề còn tồn đọng về tranh chấp, khiếu kiện, không để âm ỉ, kéo dài… Các cơ quan, đơn vị, địa phương tiến hành khảo sát kỹ lưỡng thực trạng "bất tuân dân sự" trên địa bàn quản lý; xây dựng kế hoạch phòng, chống chặt chẽ; bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng xử lý. Phối hợp chặt chẽ giữa công an, quân đội, các lực lượng chức năng và cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp trong việc bám nắm cơ sở, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của bọn phản động trong việc kích động, lôi kéo nhân dân thực hiện "bất tuân dân sự". Khi xảy ra các vụ việc "bất tuân dân sự", cần hết sức tỉnh táo; nhận định, đánh giá đúng tính chất, mức độ, xác định rõ nguyên nhân; kiên trì, khôn khéo, lấy biện pháp đối thoại, tuyên truyền, vận động, thuyết phục là chính; thực hiện phân hóa lực lượng cốt cán, cầm đầu với quần chúng bị dụ dỗ, lôi kéo… Xử lý nghiêm minh số đối tượng cốt cán, cầm đầu, những đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật; có biện pháp phù hợp quản lý, giáo dục, động viên, giúp đỡ những đối tượng bị dụ dỗ, lôi kéo.../.

Thể chế chính trị không phải là bản chất tạo ra tham nhũng

Hiện nay có ý kiến sai trái cho rằng, chế độ độc đảng lãnh đạo là căn nguyên tạo ra tham nhũng. Muốn hiểu về vấn đề này chúng ta phải nhìn nhận bản chất của tham nhũng là gì? Karl Marx cũng giống như nhiều nhà triết học phương Tây đã cho rằng, động lực sâu xa thúc đẩy con người hoạt động chính là lợi ích. Mà con người thường có xu hướng muốn tối ưu hóa lợi ích của cá nhân mình, từ đó có thể làm xâm hại đến lợi ích tập thể, lợi ích cộng đồng, lợi ích quốc gia, dân tộc. Từ đó phải có giải pháp để điều chỉnh lợi ích của cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Bản chất của tham ô là lấy của công làm của tư, là gian lận, là tham lam, là trộm cướp”. Như thế, hành vi tham ô, tham nhũng liên quan đến tư cách đạo đức của con người chứ không liên quan đến thể chế chính trị. Bởi vì, dù thể chế chính trị gì, nhưng nếu con người không được giáo dục tốt từ gia đình, nhà trường, xã hội; không có một hệ thống pháp luật tốt để ngăn chặn, răn đe, công tác quản lý nhà nước bị buông lỏng thì tham nhũng sẽ có cơ hội hoành hành. Nhìn rộng ra thế giới, không một quốc gia nào, thuộc chế độ chính trị nào có thể tự hào là miễn nhiễm đối với tham nhũng. Nước Mỹ cũng luôn đau đầu bởi vấn nạn tham nhũng. Theo thống kê của Đại học Illinois, thủ đô Washington D.C và các thành phố lớn, như: Chicago, Los Angeles, Manhattan, Miami có số công chức bị kết tội tham nhũng rất cao. Theo đó, giai đoạn từ năm 1976 tới năm 2016, Chicago có hơn 1.700 công chức bị xử lý, cao nhất tại Mỹ. Los Angeles đứng thứ hai với hơn 1.500 công chức bị xử lý. Manhattan đứng thứ ba với hơn 1.300 công chức. Đứng thứ tư và thứ năm lần lượt là Miami với 1.165 công chức và Washington D.C với gần 1.200 công chức. Nếu so sánh các bang trên bình quân đầu người (số người bị kết tội trong 10.000 dân), Columbia là bang có tình trạng tham nhũng tồi tệ nhất tại Mỹ vì cứ 10.000 dân lại có 17,24 công chức bị kết tội. Như thế, mặc dù Mỹ có rất nhiều đảng phái cạnh tranh với nhau, giám sát nhau, hệ thống pháp luật khá hoàn thiện, nhưng tình trạng tham nhũng vẫn nghiêm trọng. Hay tại châu Âu, nơi đại đa số các quốc gia theo chế độ đa đảng thì theo báo cáo về tham nhũng của Đảng Xanh châu Âu (European Green Party) công bố cuối năm 2018 cho biết một thực trạng tồi tệ, đó là các quốc gia thành viên của EU mất tới 900 tỷ euro (khoảng 1.000 tỷ USD) mỗi năm vì tham nhũng. Trước đó, báo cáo chống tham nhũng của Liên minh châu Âu (EU) năm 2014 cho hay, tham nhũng gây thiệt hại cho nền kinh tế khu vực này khoảng 120 tỷ euro mỗi năm. Như thế, chống tham nhũng là cuộc đấu tranh, là cuộc chiến mà mọi quốc gia đều phải tiến hành. Việt Nam hoàn toàn có thể thực hiện tốt cuộc đấu tranh PCTN nếu luôn giữ vững quyết tâm cao trong toàn Đảng, toàn dân. Cùng với nâng cao chất lượng công tác giáo dục công dân, hoàn thiện các quy định của Đảng và hệ thống pháp luật, bịt các kẽ hở của luật pháp, thì việc kiên quyết trừng phạt hành vi tham nhũng, tội phạm tham nhũng sẽ làm cho những người thực thi công vụ “không thể tham nhũng, không dám tham nhũng và không muốn tham nhũng”.

Hiệu quả thấy rõ của cuộc đấu tranh

Đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, có cảm nhận việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng (PCTN) ở cấp Trung ương cương quyết hơn, “nóng” hơn, còn các cấp dưới có vẻ như “lạnh” hơn, chủ yếu là thụ động chờ các hành động của trên thì nay, tổ chức đảng ở các địa phương cũng đã chủ động PCTN, tiêu cực trong hệ thống. Điều này cho thấy, công tác PCTN đã lan tỏa, trên đã quyết tâm thì dưới dứt khoát phải chuyển động. Cụ thể như, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội vừa kỷ luật một số cán bộ của huyện Phúc Thọ, trong đó cách chức tất cả chức vụ trong Đảng đối với ông Hoàng Mạnh Phú, Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch HĐND huyện Phúc Thọ do có sai phạm nghiêm trọng trong chỉ đạo, quản lý, để xảy ra vi phạm tại một số dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn huyện trong thời gian ông này là Chủ tịch UBND huyện. 6 tháng đầu năm 2019, các địa phương đã khởi tố 176 vụ án/425 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ (tăng 13,5% về vụ và 32,8% về số bị can so với cùng kỳ năm 2018). Một khí thế chống tham nhũng, tiêu cực đang dâng cao trên khắp cả nước. Theo báo cáo tại phiên họp thứ 16 Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, từ đầu năm 2019 đến nay, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 123 tổ chức đảng và 7.923 đảng viên; trong đó có 256 đảng viên bị kỷ luật do có hành vi tham nhũng, cố ý làm trái. Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật đối với 1 tổ chức đảng, 13 đảng viên thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, cả đương chức và đã nghỉ hưu. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, hơn 70 cán bộ, đảng viên thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý bị thi hành kỷ luật Đảng và xử lý hình sự. Cơ quan thanh tra, kiểm toán kiến nghị thu hồi, xử lý 61.392 tỷ đồng và 142ha đất; kiến nghị xử lý kỷ luật hành chính 692 tập thể và nhiều cá nhân; chuyển cơ quan điều tra xem xét xử lý 46 vụ, 73 đối tượng. Thanh tra Chính phủ tập trung thanh tra, ban hành kết luận thanh tra các dự án, vụ việc theo kế hoạch của Ban chỉ đạo. Thời gian qua, việc kê biên, thu giữ tài sản trong một số vụ án tham nhũng, kinh tế lớn đạt kết quả khá cao. Cụ thể, vụ Giang Kim Đạt thu hồi hơn 300 tỷ đồng; vụ Hứa Thị Phấn hơn 10.000 tỷ đồng; vụ Ngân hàng Đông Á hơn 2.000 tỷ đồng; vụ Phạm Công Danh (giai đoạn I) hơn 6.000 tỷ đồng; vụ AVG hơn 8.500 tỷ đồng… Theo báo cáo tại phiên họp thứ 16 Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, hiện nay, việc tạm giữ, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, ngăn chặn giao dịch, chuyển nhượng tài sản liên quan các vụ án thuộc diện Ban chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo có giá trị tài sản hơn 10.000 tỷ đồng. Sự quyết liệt đấu tranh khiến tham nhũng đang từng bước được đẩy lùi. Theo báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2018 được công bố vào tháng 3 vừa qua thì hiện tượng “tham nhũng vặt” (chi phí "bôi trơn" quy mô nhỏ mà doanh nghiệp phải chi trả để xin cấp các loại giấy phép) trong năm 2018 đã giảm so với thời kỳ trước, với chỉ 54,8% doanh nghiệp phải chi trả chi phí không chính thức, thấp nhất trong 5 năm trở lại đây. Quy mô chi trả chi phí không chính thức có xu hướng giảm, khi chỉ có 7,1% doanh nghiệp cho biết phải chi trả hơn 10% doanh thu cho các loại chi phí không chính thức (năm 2015 là 11,1% doanh nghiệp). Trong các cuộc tiếp xúc cử tri, ý kiến chung của cử tri và nhân dân đều tỏ ý tin tưởng rằng với sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự hoàn thiện các quy định của Đảng, của pháp luật (Quy định số 102-QĐ/TW của Bộ Chính trị; Luật PCTN đã được ban hành...) và kiên quyết xử lý sai phạm thì tham nhũng dứt khoát sẽ bị đẩy lùi.

Tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”

Cuộc đấu tranh hay cuộc chiến đấu chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay là cuộc chiến đấu sống còn của toàn Đảng, toàn dân đối với “giặc nội xâm” để củng cố niềm tin trong toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chính vì vậy, cuộc tiễu trừ “giặc nội xâm” đang được thực hiện từng bước chắc chắn, rất quyết liệt và không khoan nhượng. Từ nhiệm kỳ Đại hội Đảng XI đến nay, các vụ án kinh tế lớn, những sai phạm nghiêm trọng liên quan đến những vị “lãnh đạo to”, các “dây lợi ích” mà theo suy nghĩ trước đây thì dường như khó đụng tới, nay đã được đưa ra xét xử nghiêm minh với các mức án nghiêm khắc. Trong đó, Dương Chí Dũng, từng giữ chức Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam, từng là Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) bị tuyên án tử hình về tội tham ô, bị yêu cầu bồi thường 110 tỷ đồng. Đặc biệt, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng tới nay, cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực càng thể hiện rõ tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”. Ngay đầu nhiệm kỳ, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước), Trưởng ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã thể hiện rõ tinh thần này: “Từ nay trở đi, bất cứ trường hợp nào mà vi phạm kỷ luật, chúng ta phải xử lý nghiêm, làm nghiêm từ trên xuống dưới để giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng, để lấy lại và củng cố lòng tin và tình thương yêu, quý trọng của nhân dân”. Từ cựu Ủy viên Bộ Chính trị như ông Đinh La Thăng, đến hai cựu Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Bắc Son, Trương Minh Tuấn, rồi hai cựu Thứ trưởng Bộ Công an là Trần Việt Tân, Bùi Văn Thành đều bị xử lý nghiêm khắc vì tham nhũng, vi phạm pháp luật... Người nhà của một vài đồng chí nguyên Ủy viên Bộ Chính trị cũng đã bị bắt do vi phạm pháp luật. Như thế là cả cấp Ủy viên Bộ Chính trị, bộ trưởng, cán bộ cao cấp của lực lượng vũ trang cũng bị kỷ luật, bị xử tù nếu tham nhũng, vi phạm pháp luật. Không có vị trí an toàn, khu vực an toàn và cũng không còn khái niệm “hạ cánh an toàn”, hàng loạt cán bộ đã nghỉ hưu mà bị phát hiện có sai phạm trong thời gian đương chức vẫn bị đưa ra kỷ luật. Mới nhất là nguyên Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh bị Bộ Chính trị kỷ luật cảnh cáo; nguyên Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải Nguyễn Hồng Trường bị kỷ luật cách chức Ủy viên Ban cán sự đảng Bộ Giao thông vận tải (nhiệm kỳ 2011-2016, 2016-2021) về các sai phạm khi còn đương chức... Thậm chí, đảng viên vi phạm đặc biệt nghiêm trọng thì dù đã qua đời vẫn kiểm tra, kết luận và xử lý kỷ luật. Điều này được nêu rõ trong Văn bản số 04-HD/UBKTTW hướng dẫn thực hiện một số điều trong Quy định số 102-QĐ/TW của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm. Như thế là quy định của Đảng liên quan đến xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm đã nghiêm khắc hơn, mang tính răn đe cao hơn so với các quy định của pháp luật áp dụng cho các công dân. Điều này là hoàn toàn sáng suốt, thể hiện rõ tính tiên phong, tính gương mẫu của Đảng trong mọi vấn đề, trong đó có cả việc xử lý sai phạm.

Di huấn Hồ Chí Minh về "cần kiệm liêm chính, chí công vô tư" .

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn đề cao và thực hiện “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH”[1]; đồng thời, yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên cần phải thường xuyên rèn luyện những đức tính quý báu đó. Trước khi đi xa, Người căn dặn trong Di chúc: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư"[2]. . TỪ TÁC PHẨM “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH” ĐẾN LỜI DẶN "CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH, CHÍ CÔNG VÔ TƯ" TRONG DI CHÚC Nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh, nhất là trước tác Người để lại, có thể thấy rằng: Người không chỉ nhấn mạnh “trung với nước, hiếu với dân” là phẩm chất quan trọng nhất; chi phối các phẩm chất đạo đức khác của người cách mạng mà còn khẳng định “cần, kiệm, liêm, chính” là yêu cầu nhất thiết phải có, là “tứ đức” cơ bản làm nên “gốc” của người cách mạng. “Tứ đức” vốn là những khái niệm đạo đức truyền thống phương Đông được Người chọn lọc và tiếp biến với những yêu cầu, nội dung mới, thể hiện trong 23 yêu cầu về “Tư cách một người cách mệnh” (Đường Cách mệnh, 1927), (Đời sống mới, Sửa đổi lối làm việc, 1947); đề cập trong nhiều tác phẩm sau đó và cuối cùng là trong bản Di chúc lịch sử, 1969… Trong tác phẩm Đời sống mới (3/1947), Hồ Chí Minh nhấn mạnh phải thực hành “Cần, Kiệm, Liêm, Chính” nhưng đến tác phẩm “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH”, Người đã coi “tứ đức” là nền tảng của Đời sống mới, nền tảng của Thi đua ái quốc và luận giải “tứ đức” trong tổng thể của trời, đất, con người và mối quan hệ của mùa - trời; của phương - đất; của đức - người. Giản dị mà khúc chiết, Người khẳng định: “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính Thiếu một mùa, thì không thành trời Thiếu một phương, thì không thành đất Thiếu một đức, thì không thành người”[3]. Theo đó, lần lượt trong 4 bài báo đã nêu, Hồ Chí Minh chỉ rõ nội hàm của từng đức trong “tứ đức”, cụ thể như sau: CẦN “là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai”; “cần thì việc gì, dù khó khăn đến mấy, cũng làm được”, bởi “Cần chẳng những có nghĩa hẹp như: Tay siêng làm thì hàm siêng nhai” mà còn “có nghĩa rộng là mọi người đều phải Cần, cả nước đều phải Cần”. Hiểu đúng về Cần nghĩa là luôn chăm chỉ, cố gắng không phải một sớm một chiều mà thường xuyên và liên tục. Hiểu sâu sa hơn thì Cần cũng có nghĩa là làm để nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng của mình, để làm việc lâu dài, để đạt được mục đích đề ra, bởi: “Nếu mỗi người, mỗi ngày làm thêm một tiếng đồng hồ thì: Mỗi tháng sẽ thêm 300 triệu giờ. Mỗi năm thêm lên 3.600 triệu giờ… Cứ tính một giờ làm đáng giá một đồng bạc, thì mỗi năm nước ta đã có thêm được 3.600 triệu đồng. Đưa số tiền đó thêm vào kháng chiến, thì kháng chiến ắt mau thắng lợi, thêm vào kiến quốc, thì kiến quốc ắt mau thành công”[4]. KIỆM “là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi” và không phải là bủn xỉn. Trong đó, Cần phải đi đôi với Kiệm “như hai chân của con người”; vì “KIỆM mà không CẦN thì không tăng thêm, không phát triển”. Tiết kiệm về vật chất phải đi đôi với tiết kiệm về thời giờ, bởi “của cải nếu hết, còn có thể làm thêm. Khi thời giờ qua rồi, không bao giờ kéo nó trở lại được”[5]. Vì thế, thời giờ cần tiết kiệm và đó cũng là Cần; “tiết kiệm thời giờ của mình, lại phải tiết kiệm thời giờ của người”, cũng giống như “khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc lợi ích cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm”[6]. Đặc biệt, muốn tiết kiệm tốt thì phải khéo tổ chức, vì “không biết tổ chức thì không biết tiết kiệm” và phải “kiên quyết không xa xỉ”. Từ đó, “một mặt, chúng ta thi đua KIỆM. Một mặt, chúng ta thi đua CẦN” thì cộng lại là “nhân dân sẽ ấm no, kháng chiến sẽ mau thắng lợi, kiến quốc sẽ mau thành công”… LIÊM “là trong sạch, không tham lam” và “tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là BẤT LIÊM”[7]. Chữ LIÊM phải đi đôi với chữ KIỆM, cũng như chữ KIỆM phải đi đôi với chữ CẦN, vì “có KIỆM mới LIÊM được. Vì xa xỉ mà sinh tham lam”. Tham lam sẽ dẫn đến BẤT LIÊM, cho nên, cán bộ phải thực hành chữ LIÊM trước, để làm kiểu mẫu cho dân”. Cũng theo Hồ Chí Minh, “trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”1) và “Quan tham vì dân dại”. Nếu dân hiểu biết, không chịu đút lót, thì "quan" dù không liêm cũng phải hoá ra LIÊM. Vì vậy dân phải biết quyền hạn của mình, phải biết kiểm soát cán bộ, để giúp cán bộ thực hiện chữ LIÊM”[8]. Vì, “pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”, cho nên “cán bộ thi đua thực hành liêm khiết, thì sẽ gây nên tính liêm khiết trong nhân dân. Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh, tiến bộ”[9]… CHÍNH “nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà. “CẦN, KIỆM, LIÊM, là gốc của CHÍNH. Nhưng một cây cần phải có gốc rễ, lại cần có nhành, lá, hoa quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm nhưng còn phải CHÍNH mới là người hoàn toàn”[10]. Tiếp đó, Hồ Chí Minh viết tiếp “trên quả đất, có hàng muôn triệu người. Song số người ấy có thể chia làm hai hạng: người THIỆN và người ÁC. Trong xã hội, có trăm công, nghìn việc. Song những công việc ấy có thể chia làm hai thứ: việc CHÍNH và việc TÀ. Làm việc Chính là người Thiện. Làm việc Tà là người Ác. Siêng năng (cần), tần tiện (kiệm), trong sạch (liêm), CHÍNH là THIỆN. Lười biếng, xa xỉ, tham lam là tà, là ác”[11]… Để là CHÍNH, mỗi người, ĐỐI VỚI MÌNH, phải “chớ tự kiêu, tự đại; luôn luôn cầu tiến bộ; luôn luôn tự kiểm điêmmr, tự phê bình, những lời mình đã nói, những việc mình đã làm, để phát triển điều hay của mình, sửa đổi khuyết điểm của mình. Đồng thời phải hoan nghênh người khác phê bình mình”[12], vì “tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý”. ĐỐI VỚI NGƯỜI, “phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ. Chớ nịnh hót người trên. Chớ xem khinh người dưới. Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết. Phải học người và giúp người tiến tới. Phải thực hành chữ Bác - Ái”[13]. ĐỐI VỚI VIỆC, “phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà”, “đã phụ trách việc gì, thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm”; “việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh. Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước không? Nếu không có lợi, mà có hại cho nước thì quyết không làm. Mỗi ngày cố làm một việc lợi cho nước (lợi cho nước tức là lợi cho mình), dù là việc nhỏ, thì một năm ta làm được 365 việc. Nhiều lợi nhỏ cộng thành lợi to. Cả 20 triệu đồng bào đều làm như vậy, thì nước ta nhất định mau giàu, dân ta nhất định nhiều hạnh phúc. Ai chẳng muốn cho tự mình thành một người tốt”[14]. Những điều Hồ Chí Minh viết về “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH” hàm chứa yêu cầu và mong mỏi của Người về sự cần thiết phải rèn luyện đạo đức cách mạng nói chung, xây dựng và rèn “tứ đức” nói riêng đối với mỗi người cán bộ, đảng viên. Theo Người, uy tín của Đảng cầm quyền, của mỗi cán bộ, đảng viên và lòng tin của nhân dân gắn liền với sự tu dưỡng và gương mẫu thực hành đạo đức cách mạng, cho nên, nếu mỗi cán bộ, đảng viên chỉ biết nói lời hay, ý đẹp nhưng không gương mẫu thực hành “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH” thì cũng không thể hấp dẫn, quy tụ, lãnh đạo được quần chúng nhân dân. Vì thế, thực hành “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH” không chỉ là yêu cầu cần thiết trong tu dưỡng đạo đức của mỗi người cách mạng mà còn là biện pháp quan trọng để xây dựng Đảng về đạo đức. Theo Hồ Chí Minh, việc thực hành “tứ đức” sẽ không chỉ giúp người cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa, tự rèn mình mà còn tạo ra sức mạnh mềm và sức hấp dẫn của một tổ chức, của cả một dân tộc: “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh và tiến bộ”. Không chỉ làm rõ nội hàm của CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH, sau này, trong nhiều tác phẩm khác, Hồ Chí Minh còn khẳng định rõ “tứ đức” đối lập với tham ô, lãng phí, quan liêu, với ý nghĩa: cần, kiệm, liêm, chính như là ánh sáng của đạo đức con người; còn tham ô, lãng phí, quan liêu như là bóng tối của sự suy thoái. CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH có mối quan hệ chặt chẽ với “chí công vô tư” và người cán bộ, đảng viên trong nhận thức và hành động hướng lòng mình đến “chí công vô tư”, tận tâm vì dân, vì nước thì nhất định sẽ thực hiện được CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH. Hơn nữa, thực tế cho thấy rằng, một bộ phận cán bộ, đảng viên - những người “có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”[15], cho nên người cách mạng bên cạnh yêu cầu phải có "tú đức", còn rất cần phải xây dựng đức tính “chí công vô tư”, để mình trở thành người lãnh đạo - người đầy tớ trung thành của nhân dân luôn phụng sự và liêm chính. Tháng 10/1947, khi viết tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh rằng: Phải đòi hỏi mỗi đảng viên, trước hết là mỗi cán bộ, phải thật thà tự phê bình, tự sửa chữa những khuyết điểm của mình. Đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết. Kiên quyết chống bệnh tự mãn tự túc, tự tư tự lợi, kiêu ngạo, ba hoa. Phải thực hành khẩu hiệu: “Chí công vô tư; cần, kiệm, liêm, chính!". Vì thế, càng không phải ngẫu nhiên, Hồ Chí Minh lại ghi ở trang đầu quyển sổ vàng của trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương là: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự Đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại. Muốn đạt mục đích thì phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”[16]. Đặc biệt, điều mong mỏi, tâm huyết về yêu cầu cần phải có những đức tính quý báu này cũng được Người dặn lại trong Di chúc và coi đó là một trong những nội dung của công tác xây dựng và chỉnh đốn lại Đảng, để mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, để "xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”[17].

THỰC HIỆN “CẦN KIÊM LIÊM CHÍNH, CHÍ CÔNG VÔ TƯ” GẮN VỚI HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

Hồ Chí Minh là người cộng sản mẫu mực, luôn thống nhất giữa nói và làm. Người không chỉ nêu ra và yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải xây dựng và rèn luyện những phẩm chất “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH”, hướng lòng mình đến “chí công vô tư” để phụng sự Tổ quốc và nhân dân mà Người còn chính là hiện thân của những phẩm chất cao quý đó. Với Người, từ những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước đến khi trở thành Chủ tịch nước, Chủ tịch Đảng thì cũng vẫn là một Hồ Chí Minh luôn nỗ lực làm việc và chi tiêu thật tiết kiệm; luôn thích các món ăn dân gian như dưa cà, mắm tép, cá kho và thường tránh các nghi thức đón tiếp linh đình, lãng phí; thường mặc bộ kaki, đi dép lốp cao su, dùng túi vải, mũ cát khi đi thăm đồng chí, đồng bào, kể cả khi đi công tác ngoài nước; thường chọn thăm bếp ăn của công nhân, nơi ở của người dân nghèo; không thích ở nhà của Phủ toàn quyền Đông Dương hay dinh thự cao cấp, đủ tiện nghi mà chọn căn phòng vốn là nơi ở của người thợ điện và sau đó là ngôi nhà sàn kiểu đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc thường sinh sống… Hồ Chí Minh luôn “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH” từ trong suy nghĩ đến hành động; từ cuộc sống đời thường đến vị thế một nguyên thủ quốc gia và cho đến lúc đi xa. Lựa chọn cuộc sống cần kiệm, giản dị, chan chứa tình yêu thiên nhiên, không màng danh vọng, không ham của cải, chẳng ưa sự xa hoa và những nghi thức sang trọng, Hồ Chí Minh từng nói, người ta ai cũng muốn ăn ngon, mặc đẹp, nhưng điều quan trọng là phải thiết thực và phù hợp, đúng thời, đúng hoàn cảnh. Người ăn mặc đều giản dị và tiết kiệm và đó là lối sống của Người…và Người đã từng nói với một đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng chân tình rằng: “Này chú! Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mặc áo vá vai thế này là cái phúc của dân đấy. Đừng bỏ cái phúc ấy đi”[18]… Để góp phần chống nạn đói năm 1945, Người đã kêu gọi đồng bào cả nước nêu cao tinh thần tương thân, tương ái, nhường cơm, sẻ áo: “Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo. Như vậy, thì những người nghèo sẽ có bữa rau, bữa cháo để chờ mùa lúa năm sau, khỏi đến nỗi chết đói”[19]. Không chỉ gương mẫu nhịn ăn, để dành gạo cho vào hũ gạo cứu đói, Người còn bán chiếc áo lụa đồng bào tặng lấy tiền mua áo ấm tặng cho chiến sỹ trong mùa đông giá rét và đem số tiền tiết kiệm ít ỏi vốn là tiền nhuận bút của mình để mua nước ngọt tặng cho các chiến sỹ trực phòng không trong những ngày hè nóng bức năm 1967. Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam hiện lưu giữ một hiện vật đặc biệt (đăng ký 4875-Gi-1026) - Đó chính là thư chuyển số tiền 16.000 đồng của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Tổng cục Chính trị để mua thêm nước uống cho bộ đội phòng không trực chiến bên mâm pháo, làm nhiệm vụ bảo vệ bầu trời của Tổ quốc. Món quà của Người tuy nhỏ nhưng đã kịp thời động viên tinh thần, tiếp thêm sức mạnh cho các chiến sỹ phòng không, giúp họ vượt qua mùa hè nóng nực và lập nhiều chiến công xuất sắc, bắn rơi nhiều máy bay Mỹ… Tấm lòng, tình yêu thương bao la của Hồ Chí Minh với đồng bào, chiến sỹ không chỉ thể hiện sâu sắc những giá trị đạo đức cách mạng mỗi cán bộ, đảng viên phải xây dựng và tu dưỡng mà còn thể hiện đậm nét cuộc sống “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH” của Người. Những điều Người nói, những việc Người làm và tấm gương đạo đức cách mạng “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” của Người không chỉ được khẳng định trong thực tiễn mà còn mang ý nghĩa, giá trị đạo đức cao đẹp của thời đại, dù thế giới đã đi qua bao thăng trầm, thay đổi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng những gì Người nói, những việc Người đã làm với tâm hồn thanh cao là biểu hiện sự dung hợp hài hòa những phẩm chất tuyệt vời của một vị lãnh tụ của nhân dân, thuộc về nhân dân trong thời đại mới. Và trong thực tế, rất hiếm người “đạt tới sự thống nhất hài hoà giữa chủ nghĩa nhân đạo và tầm cao chính trị, giữa đức tính giản dị, khiêm tốn và sự hiểu biết sâu rộng, giữa tình cảm ấm áp và nghị lực phi thường đến mức tuyệt vời như Bác Hồ. Được gặp Người, quả thật là một điều sung sướng, vinh dự, một diễm phúc trong đời”[20]. Vẹn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn lớn lao, thực hành “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH” theo chỉ dẫn của Hồ Chí Minh là yêu cầu tất yếu mà mỗi cán bộ, đảng viên phải xây dựng và thường xuyên rèn luyện để xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân. Đồng thời, đó cũng là một trong những tiêu chuẩn để phân loại, đánh giá quá trình phấn đấu của mỗi người trong công tác và sinh hoạt đời thường. Với ý nghĩa đó, việc triển khai Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” (Chỉ thị 05) trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân gắn với rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hành “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH” những năm qua đã góp phần tạo sự chuyển biến trong nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Ngày 12/11/2013, Tổng thống Liên Bang Nga V. Putin đã đến Hà Nội thăm chính thức Việt Nam. Ông đã đến thăm nơi ở của Chủ tịch Hồ Chí Minh và viết trong sổ lưu niệm: "Nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI, thế kỷ hòa bình tiến bộ và phồn vinh. Nhưng giá trị tư tưởng, đạo đức của Hồ Chí Minh vẫn là ngọn đuốc, là biểu tượng cho một nền văn hóa tương lai… Và vì thế lịch sử mãi mãi nhắc tới Người như một bậc thánh nhân”. Thực tế cho thấy, tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị, trong từng lĩnh vực công tác, đội ngũ cán bộ, đảng viên đã gắn việc rèn “tứ đức” với nghiêm túc thực hiện tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” (Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII); đặc biệt là tự soi mình và nhận diện 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị; đạo đức, lối sống; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Từ trong quá trình rèn luyện đạo đức cách mạng gắn với thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của mỗi cán bộ, đảng viên tại địa phương, cơ quan, đơn vị đã xuất hiện nhiều tấm gương tập thể và cá nhân điển hình, được biểu dương trên các phương tiện truyền thông... Mỗi con người, mỗi tập thể mẫu mực về rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hành “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH” đã góp phần xây dựng những giá trị đạo đức tốt đẹp trong xã hội, thúc đẩy các phong trào thi đua yêu nước, lao động sáng tạo, tạo động lực đưa sự nghiệp đổi mới vượt qua mọi khó khăn thách thức, tiếp tục giành được những thành tựu mới. Tuy nhiên bên cạnh đó, vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức, viên chức suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" sa vào quan liêu, tham nhũng, lãng phí, bè phái, chạy chức chạy quyền, độc đoán, vi phạm kỷ luật,... Trong số đó, có cả cán bộ lãnh đạo cấp cao vì thiếu rèn luyện đạo đức cách mạng, không thực hành "cần kiệm liêm chính, chí công vô tư" mà phạm tội dẫn đến bị khai trừ khỏi Đảng, truy tố trước pháp luật. Sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của những "con sâu mọt" ấy đã làm giảm lòng tin của nhân dân với Đảng, làm suy yếu tổ chức và năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng... Vì vậy, tiếp tục thực hiện Chỉ thị 05 theo chương trình toàn khóa và theo chủ đề hằng năm gắn với thực hiện di huấn của Người trong Di chúc về “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” là một việc làm vô cùng quan trọng và cần thiết đối với mỗi cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân ta; trong đó, cần tập trung thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm sau: Một là, nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền, ban, ngành chức năng về vai trò, ý nghĩa của việc thấm nhầm yêu cầu phải thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng trong cả hệ thống chính trị; đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục ý thức thực hành “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” cho đội ngũ cán bộ, đảng viên như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn trong Di chúc. Gắn thực hiện Chỉ thị 05 với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, coi đây là giải pháp đột phá để việc tự soi, tự sửa, tự rèn luyện đạo đức cách mạng nói chung, “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH” nói riêng trở thành việc là thường xuyên, liên tục của mỗi cán bộ, đảng viên. Hai là, tiếp tục thực hiện “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và sinh hoạt thường kỳ của chi bộ; trong đó, có những chuyên đề cụ thể về ““cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” với những nội dung thiết thực, để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể. Thông qua đó, xây dựng tác phong, lề lối làm việc “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH”, tận tụy phụng sự nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức tại các cơ quan công quyền phù hợp với đặc điểm, tình hình, yêu cầu nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị và theo đúng chức năng, nhiệm vụ của từng cán bộ, đảng viên. Ba là, nâng cao trách nhiệm và phát huy vai trò gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị nói riêng theo nguyên tắc “trên trước, dưới sau”, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hành “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” trong công việc lẫn đời tư, tại nơi công tác cũng như địa bàn cư trú. Đồng thời, thực hiện nghiêm kỷ luật Đảng, Điều lệ Đảng, quy định về những điều đảng viên không được làm và các quy định về nêu gương… Thông qua đó, nâng cao tinh thần, ý thức chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước trong mỗi cán bộ, đảng viên và kiên quyết đưa ra khỏi Đảng, miễn nhiệm, thay thế, buộc từ chức và đưa ra khỏi Đảng đối với những cán bộ, đảng viên suy thoái, bất liêm, bất chính, tham ô, tham nhũng,v.v.., đã mất uy tín trong Đảng và trong nhân dân. Bốn là, phát huy vai trò của nhân dân, dựa vào nhân dân để “sửa chữa cán bộ và tổ chức ta”[21] trong giám sát các cơ quan, tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên. Tạo cơ chế pháp lý để nhân dân giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên có chức, có quyền các cấp thực hiện Điều lệ Đảng, kỷ luật Đảng, các quy định về nêu gương trong rèn luyện đạo đức cách mạng gắn với yêu cầu phải “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” trong thi hành công vụ, chấp hành chủ trương, chính sách, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước tại cơ quan công tác và địa bàn cư trú mà không sợ bị đe dọa, trả thù, trù úm... Thông qua đó, làm cho việc học tập và làm theo Bác, tự giác rèn luyện “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” trở thành việc làm hằng ngày, tự giác của mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức cơ sở Đảng, thiết thực xây dựng và chỉnh đốn Đảng./.

"MŨI TIẾN CÔNG THỨ 6" TRONG CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH

 

ĐÓ CHÍNH LÀ "MŨI TIẾN CÔNG" BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG

 Một buổi chiều đẹp trời ngày 28-4-1975, sân bay Tân Sơn Nhất rơi vào hoảng loạn vì bị 5 chiếc may bay "phe mình" ném bom. Trong lúc đài sân bay liên tục hốt hoảng la hét "A-37 của không đoàn nào?", thì 5 chiếc máy bay kia đã tiêu diệt xong 24 chiếc đang đỗ, tiêu diệt hàng trăm bính lính VNCH đang ngơ ngác vì không biết chuyện gì xảy ra.Vậy chuyện gì đã xảy ra? 5 chiếc A-37 này chính là hàng "made in USA" ở sân bay Đà Nẵng.

Sau khi giải phóng Đà Nẵng, quân giải phóng ngay lập tức được điều động để học lái máy bay A-37 trong 3 ngày để kịp đánh vào Sài Gòn. Nhưng mà làm sao có thể học trong 3 ngày? Hoàn toàn có thể. Bằng việc thu phục lính VNCH, họ đã có người dạy cách lái. Bảng điều khiển tiếng Anh thì họ ghi đè tiếng Việt lên. Nhưng làm sao họ có thể bay từ Đà Nẵng tới tận Sài Gòn mà không bị phát hiện? Đơn giản, các phi công đã tắt luôn các máy thông tin liên lạc. Mặc dù 5 chiếc không hề liên lạc với nhau, nhưng họ vẫn có thể thực hiện đúng theo chiến thuật mà không có sơ hở nào. Hơn nữa, lúc này Sài Gòn đang loạn như cào cào, dù có phát hiện ra cũng không có thời gian tìm hiểu là phe địch hay phe ta.

Kết quả của trận đánh là gì?

Phi đội không quân đã tiêu diệt được hỏa lực trên không của địch tại Sài Gòn mà không có thương vong nào, giúp các Sư đoàn Bộ binh và xe tăng tiến vào dễ dàng hơn, giúp các mũi tiến công chủ lực đánh thẳng vào Dinh Độc Lập.

                                                                                                                                                    St

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC HÙNG CƯỜNG, PHỒN THỊNH, HẠNH PHÚC

 Ở thời khắc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khẳng định làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập để đi tới xã hội cộng sản, đảm bảo tốt đẹp các phương diện xã hội, chính trị, kinh tế và liên kết quốc tế. Trong “đêm trước” của Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh vạch chiều hướng phát triển của nước Việt Nam mới, lập một chính phủ nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tức là một nhà nước của dân, do dân, vì dân, trong đó hạt ngọc lung linh tỏa sáng là dân là chủ, dân làm chủ. Người dân từ thân phận nô lệ bước lên địa vị công dân, trở thành “ông chủ” của đất nước. Đây là giá trị lớn nhất, quý giá nhất từ thắng lợi của cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo, mục tiêu, động lực của phát triển.

Ngay sau thành công của Cách mạng Tháng Tám 1945, Hồ Chí Minh khẳng định mục tiêu - triết lý phát triển Việt Nam là Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. Đó chính là mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội xuất phát từ thực tiễn Việt Nam. Trong hoàn cảnh một nước thuộc địa, mục tiêu hàng đầu là phải giành cho kỳ được độc lập dân tộc. Nước không độc lập, dân nô lệ sẽ không có gì hết. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của độc lập khi được ăn no, mặc đủ. Vì vậy, phải đi tới tự do, hạnh phúc, tức là gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc là cơ sở, tiền đề, nền tảng của chủ nghĩa xã hội; chủ nghĩa xã hội là thước đo giá trị sống, tạo động lực tinh thần để nhân dân xả thân bảo vệ thành quả độc lập dân tộc.

Giữa ác liệt, mất mát đau thương do cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ gây ra, Hồ Chí Minh khẳng định: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập, tự do! Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”.

Hồ Chí Minh là người nuôi dưỡng và truyền cảm hứng về khát vọng phát triển đất nước. Khi cách mạng vừa thành công, đất nước trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Người đã nêu khát vọng đưa dân tộc Việt Nam bước tới đài vinh quang, sánh vai với các cường quốc năm châu bằng nhiệm vụ “trồng người”. Viết Di chúc (5/1965), Người khẳng định: “Còn non, còn nước, còn người / Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!”. Di chúc bổ sung năm 1968, suy nghĩ về việc chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi, Hồ Chí Minh viết về kế hoạch xây dựng lại thành phố và làng mạc đẹp đẽ, đàng hoàng hơn trước chiến tranh. Khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế. Phát triển công tác vệ sinh, y tế. Sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân. Trồng cây thành rừng tốt cho phong cảnh, lợi cho nông nghiệp… Người mong muốn toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng với sự nghiệp cách mạng thế giới. 

Bước vào thập niên thứ ba của thế kỷ XXI cho tới khi đất nước kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, và 100 năm nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) thành lập, tình hình thế giới còn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; tình hình đất nước còn nhiều đổi thay, nhưng giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh không thay đổi. Những bài học kinh nghiệm quý giá từ tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được kế thừa, vận dụng và phát triển tốt, sẽ là một trong những nhân tố quan trọng bậc nhất làm cho đất nước Việt Nam trở thành một nước hùng cường, phồn thịnh, hạnh phúc.

MAI NĂM MỚI

BẢN ÁN NGHIÊM KHẮC DÀNH CHO QUÁCH DUY VỀ VIỆC LỢI DỤNG "CÁC QUYỀN TỰ DO DÂN CHỦ"

 

Sáng 15/4/2021, TAND quận Tân Phú, TPHCM mở phiên tòa sơ thẩm xét xử bị cáo Quách Duy (sinh năm 1982, trú tại quận Tân Phú, từng là chuyên viên Văn phòng UBND TPHCM), tuyên phạt bị cáo này 4 năm 6 tháng tù về tội "Lợi dụng các quyền dự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân" theo quy định tại khoản 2 điều 331 Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Theo cáo trạng, năm 2019, qua thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực thông tin - truyền thông và hoạt động kiểm tra thông tin được cung cấp trên mạng Internet, Sở Thông tin và Truyền thông TPHCM phát hiện trên Facebook Quách Duy đã đăng tải một số bài viết có nội dung xúc phạm nghiêm trọng danh dự, uy tín, nhân phẩm của một số nguyên lãnh đạo Đảng và nhà nước, TPHCM.

Sở Thông tin và Truyền thông TPHCM giám định và kết luận 3 bài viết có nội dung vi phạm Luật An ninh mạng và Nghị định 72/2013 của Chính phủ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Ngày 18-9-2020, Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Tân Phú khám xét chỗ ở, nơi làm việc của ông Quách Duy, trích xuất dữ liệu từ điện thoại di động, máy tính, thu giữ một số tài liệu liên quan.

Cũng theo cáo trạng, khi khám xét, cơ quan điều tra thu giữ một bản chụp gồm 43 trang thể hiện nội dung tin nhắn giữa tài khoản Facebook Quách Duy với tài khoản facebook T.C.H.D, một tập tài liệu gồm 24 trang thể hiện nội dung nhắn tin giữa tài khoản Facebook Duy Quách và tài khoản facebook V.Đ.P. Những tài liệu này cơ quan điều tra Công an quận Tân Phú đã chuyển đến Cơ quan An ninh điều tra Công an TPHCM để tiếp tục điều tra theo thẩm quyền. Tại tòa, bị cáo Quách Duy khai nhận các hành vi như cáo trạng đã nêu.

HĐXX đã xem xét các tình tiết tăng nặng như phạm tội nhiều lần, tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, tuyên phạt bị cáo Quách Duy 4 năm 6 tháng tù về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”./.

Cơ đồ đất nước, vinh quang Tổ quốc đời đời thuộc về cộng đồng các dân tộc Việt Nam

 

Đồng bào các dân tộc thiểu số là máu thịt của dân tộc Việt Nam, một bộ phận không thể tách rời của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; các thế lực thù địch dù xảo quyệt đến đâu cũng không thể chia rẽ được khối đại đoàn kết của chúng ta. Bác Hồ khẳng định: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt… Chúng ta phải thương yêu nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta”.

Thực tế những năm qua, Đảng và Nhà nước đã và đang luôn ưu tiên bố trí nguồn lực để thực hiện hỗ trợ về giáo dục, y tế, phát triển hạ tầng, kinh tế xã hội cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Vì thế, nhìn một cách tổng quát, đời sống vật chất và tinh thần của đồng báo các dân tộc thiểu số chưa bao giờ được khởi sắc như ngày nay.

Với vị trí, vai trò rất quan trọng, do đó các thế lực thù địch luôn lợi dụng vấn đề dân tộc để xuyên tạc, chống phá. Gần đây chúng tiếp tục kích động: Đồng bào thiểu số bị đàn áp một cách tàn bạo, người dân tiếp tục bị tước đoạt quyền làm người…nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam.

Không, cộng đồng các dân tộc Việt Nam nguyện đoàn kết một lòng chung tay xây dựng một nước Việt Nam hùng cường.

MAI NĂM MỚI

Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới

 Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nội dung cơ bản, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Trong giai đoạn hiện nay, để tăng cường và không ngừng nâng cao hiệu quả công tác này, cần nhận diện rõ bối cảnh mới, những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, từ đó đề ra định hướng, giải pháp phù hợp.

“Cách mạng màu online” và thủ đoạn dựng hình mẫu ngược!

 Thời gian qua, lợi dụng tình hình bất ổn diễn ra tại Myanmar, các thế lực thù địch, phản động đã đánh võng, bẻ lái thông tin, xuyên tạc bản chất vụ việc để tạo cớ chống phá Việt Nam. Các đối tượng này ra sức kích động, cổ suý, hô hào tiến hành các hoạt động chống phá hòng gây mất ổn định chính trị, an ninh, trật tự an toàn xã hội trong nước, hiện thực hóa mưu đồ tiến hành bạo loạn lật đổ theo hướng “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”.