Thứ Sáu, 2 tháng 7, 2021

Đừng bao giờ mất niềm tin vào quân đội!

 "Mất niềm tin vào Quân đội", "Không tham gia quân đội, không tham gia nghĩa vụ quân sự...", có lẽ đây là những câu xuất hiện trong 3 ngày hôm nay trên khắp mặt trận, khắp các diễn đàn trên mạng xã hội.

Chỉ hỏi ngược lại các bạn một câu. Nếu như đất nước Việt Nam không còn Quân đội nhân dân thì lấy ai bảo vệ Tổ quốc, lấy ai bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, biên giới, biển, đảo. Thiên tai lũ quét, sạt lở đất miền núi, lũ lụt miền biển lấy ai cứu hộ nhân dân, cứ hộ thiên tai, cứu hộ ngư dân gặp nạn, cứu hộ đê kè... Thiên tai qua đi vẫn là màu xanh đó hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai, sát vai cùng nhân dân từng phút. Vai trò của Quân đội nhân dân là không thể thay thế được. Dịch bệnh hoành hành Quân đội nhân dân vẫn là lực lượng xung kích cùng với ngành Y tế tham gia trên tuyến đầu công tác phòng chống dịch Sars-covi-2. Nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ thiêng liêng cao cả của mọi công dân trên bất kỳ quốc gia nào không riêng gì ở Việt Nam, các đồng chí có thể xa gia đình 2 năm nhưng cũng có nhiều đồng chí dành cả tuổi trẻ nhiệt huyết, dành cả cuộc đời cho Quân đội, cho Tổ quốc tới lúc đoàn tụ với gia đình có lẽ mái tóc đã điểm bạc.

Sự việc của đồng chí Đô, Chính phủ, Bộ quốc phòng vẫn đang trong quá trình điều tra xác minh, chưa có thông tin thông cáo báo chí chính thức, nhưng người đọc chỉ đọc qua các bài báo, các phát ngôn cá nhân mà đã quy chụp kết luận từ đó bài xích, gây dư luận xấu về hình ảnh Quân đội nhân Việt Nam. Sự việc còn chưa rõ ràng nên không vì thế mà vội vàng kết luận sự việc mà phải chờ vào kết quả điều tra rõ ràng, cụ thể và chính thức từ Bộ Quốc Phòng. Cha mẹ mất đi con cái đó là điều vô cùng đau xót, bản thân tôi cũng đã mất người thân nên rất hiểu cảm xúc này. Cũng rất mong các cơ quan chức năng sớm điều tra làm rõ nguyên nhân tử vong của đồng chí, cho gia đình, người thân cũng cho nhân dân 1 câu trả lời thỏa đáng nhất.

Nhưng... không phải thế mà chúng ta mất đi niềm tin vào Quân đội nhân dân Việt Nam. Ở bất kỳ đâu, bất kỳ lúc nào, ở bất kỳ thời điểm nào từ 2 cuộc trường kì kháng chiến chống Pháp, Mỹ, từ cuộc chiến tranh Biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc, từ xung đột biển đảo Trường Sa 1988 64 liệt sĩ anh dũng hi sinh, ở khắp biên cương, hải đảo xa xôi thời chiến cũng như thời bình lực lượng Quân đội nhân dân vẫn đang hằng ngày túc trực sẵn sàng chiến đấu, không để Tổ quốc bị bất ngờ và cũng có rất nhiều sự hi sinh vẫn diễn ra hằng ngày để xã hội có được cuộc sống bình yên, đất nước được hòa bình.

Phẫn nộ, bức xúc là tâm trạng của mọi người khi theo dõi tin này nhưng hãy là người tham gia sáng suốt, công tâm nhất đừng vì 1 sự việc chưa có kết luận mà đánh đồng cho toàn bộ lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Công bố quyết định về đặc xá năm 2021 của Chủ tịch nước

 


Sáng 2/7, Văn phòng Chủ tịch nước đã tổ chức Họp báo công bố quyết định về đặc xá năm 2021. Đây là lần đặc xá đầu tiên áp dụng Luật Đặc xá 2018.

Theo Quyết định, dịp Quốc khánh 2/9 tới đây, Chủ tịch nước sẽ đặc xá tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân. Thời gian đã chấp hành án phạt tù để xét đặc xá sẽ tính đến ngày 31/8 năm nay.

Một trong những điều kiện để xét đặc xá là người đang chấp hành án phạt tù phải có ý thức cải tạo tốt, đã chấp hành án phạt tù ít nhất một nửa thời gian đối với trường hợp bị phạt tù có thời hạn. Người bị phạt tù đã chấp hành ít nhất 1/3 thời gian, nếu mắc bệnh, ốm đau thường xuyên, trên 70 tuổi hoặc gia đình đặc biệt khó khăn cũng có thể được xét đặc xá.

Theo quyết định của Chủ tịch nước, những trường hợp bị phạt tù vì phản bội Tổ quốc, bạo loạn, khủng bố nhằm chống chính quyền, tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống phá Nhà nước sẽ không được xét đặc xá.

Đặc xá thể hiện sự khoan hồng của Đảng, Nhà nước do Chủ tịch nước quyết định cho những người đang chấp hành án phạt tù./.

“Điểm mặt” 3 chiêu trò lừa đảo trúng thưởng qua điện thoại, mạng xã hội

 Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng đã chỉ ra 3 chiêu thức lừa đảo phổ biến.

Chiêu thức lừa đảo phổ biến nhất là gọi điện thông báo trúng thưởng qua điện thoại và tự xưng là nhân viên của cơ quan chức năng có uy tín hoặc chương trình đã được Bộ Công Thương cấp phép, thậm chí cung cấp đầy đủ tên công ty, địa chỉ, số điện thoại hotline, số Zalo...

Với hình thức này, người tiêu dùng thường không tìm hiểu, kiểm chứng mà liên hệ ngay số điện thoại đã được đối tượng lạ cung cấp và làm theo hướng dẫn. Vì số tiền hoặc món hàng trúng thưởng có giá trị lớn nên khi đối tượng lạ yêu cầu phải đóng vài triệu tiền cọc để nhận thưởng, thậm chí còn hứa hẹn khi trả thưởng sẽ trả lại số tiền cọc đó nên không ít người đã mắc bẫy.

Ngoài ra, sau khi được thông báo trúng thưởng, đối tượng lừa đảo tiếp tục dụ dỗ người tiêu dùng mua thêm sản phẩm để nhận thêm mã quay thưởng với lời hứa hẹn càng mua nhiều mã, càng trúng thưởng nhiều, số tiền trúng thưởng càng lớn.

"Ở hình thức này, nhiều người có thể biết mình bị lừa nhưng vẫn cố theo đuổi hoặc chờ đợi, thậm chí vẫn tin và hy vọng mình sẽ nhận được phần thưởng giá trị lớn theo như hứa hẹn của đối tượng lạ, đến khi không còn niềm tin nữa thì cũng không có cách nào liên hệ lại", Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng cho biết.

Không chỉ vậy, nhiều người tiêu dùng còn "sập bẫy" thông báo trúng thưởng qua tin nhắn Messenger của Facebook với nội dung: "Xin chúc mừng tài khoản Messenger… đã may mắn nhận được giải nhất/giải đặc biệt từ sự kiện Tuần lễ tri ân khách hàng… Giải thưởng là 1 xe máy SHi, 100 - 200 triệu đồng tiền mặt và nhiều phần quà giá trị khác".

Muốn nhận được giải thưởng như thông báo, người nhận cần làm hồ sơ theo hướng dẫn; trong đó, bao gồm đầy đủ thông tin của người nhận. Tuy nhiên, sau khi chuyển tiền xong, người tiêu dùng không thể nào liên hệ được với số điện thoại này và tài khoản thông báo trúng thưởng kia cũng chặn luôn Facebook.

VIỆT NAM TÍCH CỰC ĐÓNG GÓP VÀO CÔNG VIỆC CỦA HỘI ĐỒNG BẢO AN

 

   Tại cuộc họp sơ kết sáu tháng đầu năm 2021 của Tổ công tác liên ngành về việc Việt Nam đảm nhiệm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an (HĐBA) Liên hợp quốc (LHQ), diễn ra ngày 1/7, đại diện các cơ quan cùng nhận định, trên cơ sở đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện và có hiệu quả của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Việt Nam phát huy hiệu quả vai trò, chủ động, tích cực tham gia đóng góp thực chất vào công việc của HĐBA và đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận.

   Nổi bật là việc Việt Nam đảm nhiệm thành công cương vị Chủ tịch HĐBA lần thứ 2 (tháng 4/2021) và thúc đẩy bốn sự kiện điểm nhấn, gồm phiên thảo luận cấp cao với chủ đề “Tăng cường hợp tác giữa LHQ và các tổ chức khu vực nhằm thúc đẩy xây dựng lòng tin và đối thoại trong ngăn ngừa và giải quyết xung đột” do Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc chủ trì, hai phiên thảo luận cấp Bộ trưởng và một phiên thảo luận mở hằng năm do Đại sứ, Trưởng Phái đoàn Việt Nam tại LHQ chủ trì.

   Tại cuộc họp, các đại biểu cũng nêu nhiều biện pháp, định hướng lớn trong triển khai nhiệm vụ tại HĐBA trong sáu tháng cuối năm 2021, hướng tới hoàn thành thành công cả nhiệm kỳ 2020-2021, thể hiện đóng góp trách nhiệm của Việt Nam vào công việc chung của cộng đồng quốc tế, nâng cao uy tín, vị thế đất nước và thúc đẩy hợp tác với các nước, các đối tác./.

"Sự kiện Vịnh Bắc Bộ" năm 1964 và bài học Chiến thắng trận đầu của quân, dân miền Bắc

 


Ngày 05-8-1964, với việc dựng lên “sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, đế quốc Mỹ đã phát động cuộc chiến tranh đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân, hòng đè bẹp ý chí chiến đấu của nhân dân Việt Nam. Song, chúng đã bị quân và dân miền Bắc giáng trả những đòn thích đáng, với những nét nghệ thuật đặc sắc.

Bước sang năm 1964, mặc dù ra sức chống đỡ, song tình thế của Mỹ - ngụy ở miền Nam ngày càng nguy ngập, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” về cơ bản bị thất bại, đứng trước nguy cơ phá sản hoàn toàn. Trước tình hình đó, Nhà Trắng cho rằng: cần phải tiến hành các hoạt động táo bạo hơn, trong đó có việc mở rộng chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc Việt Nam, hòng làm suy yếu miền Bắc và xác định là một phần của “Chiến tranh đặc biệt”. Để thực hiện mục đích đó, một mặt, Mỹ xúc tiến thực hiện “Kế hoạch hành quân 34A” nhằm do thám miền Bắc, bắt cóc công dân Bắc Việt Nam để khai thác tin tức tình báo và tổ chức, sử dụng biệt kích phá hoại. Mặt khác, đẩy mạnh các cuộc tuần tra trinh sát của tàu chiến Mỹ vào Vịnh Bắc Bộ để phô trương thanh thế và thu thập tình báo về phòng thủ bờ biển của Bắc Việt Nam. Từ đó để Mỹ thực hiện những bước đi tiếp theo tạo cớ theo một kịch bản được chuẩn bị sẵn, biện minh cho hành động đánh phá miền Bắc.

Sau nhiều lần xâm phạm lãnh hải miền Bắc, ngày 02-8-1964, tàu khu trục Ma-đốc của Mỹ vào sát bờ biển Thanh Hóa (cách bờ biển khoảng 06 hải lý) tổ chức bắn phá, nhằm khiêu khích, nhử mồi, tạo cớ. Song, Hải quân ta đã anh dũng đánh đuổi chúng ra khỏi hải phận, khiến mưu đồ của Mỹ chưa đạt được. Để tạo ra một tác động tâm lý mạnh mẽ cho Quốc hội và công chúng Mỹ đồng thời gây ra “một cuộc khủng hoảng quốc tế”, “một sự thách thức đối với danh dự của nước Mỹ”, đêm 04-8-1964, tàu Ma-đốc và Tơ-nơ Gioi của Mỹ chủ động nổ súng và phát tín hiệu bị tiến công, dựng lên “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” với sự ngụy tạo: khu trục hạm của chúng tiếp tục bị Hải quân Bắc Việt “vô cớ” tiến công lần thứ hai khi đang hoạt động bình thường trên vùng biển quốc tế. Vin vào màn kịch này, ngày 05-8-1964, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn đã bất chấp dư luận và lẽ phải, bất ngờ huy động 64 lần chiếc máy bay ồ ạt đánh phá Bắc Việt Nam, mở đầu cho cuộc chiến tranh phá hoại quy mô lớn vào miền Bắc.

Nhờ chuẩn bị từ trước và với tinh thần cảnh giác cao, các lực lượng vũ trang (LLVT) và nhân dân miền Bắc đã giáng trả địch những đòn thích đáng. Trong trận đọ sức đầu tiên với không quân Mỹ, quân và dân miền Bắc đã bắn rơi 08 máy bay phản lực, bắn bị thương 03 chiếc khác, bắt sống một phi công; tỉ lệ thiệt hại của địch lên tới 12%. Đây là chiến thắng đầu tiên quan trọng, tạo niềm tin và mở ra khả năng to lớn để quân, dân miền Bắc đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Thắng lợi này là kết tinh của phẩm chất, trí tuệ và sức mạnh truyền thống của dân tộc Việt Nam trước kẻ thù xâm lược với nhiều bài học kinh nghiệm về nghệ thuật tổ chức chiến tranh nhân dân và nghệ thuật tác chiến phòng không. Đó là:

1. Xây dựng ý chí quyết tâm, chủ động, kiên quyết đánh bại không quân Mỹ khi chúng xâm phạm vào vùng trời miền Bắc. Đây là nhân tố quan trọng nhất, quyết định đến thắng lợi trận đầu trên mặt trận đối không của quân và dân miền Bắc. Bởi, lần đầu tiên nhân dân ta phải đối phó với một kiểu chiến tranh mới, mà đối tượng tác chiến là không quân Mỹ - những máy bay phản lực siêu âm hiện đại - đã tác động không nhỏ đến tư tưởng và tâm lý của toàn dân. Hơn nữa, phạm vi bảo vệ rộng, mục tiêu trọng yếu nhiều, lại phải căng ra đối phó ngày, đêm với các hoạt động tiến công bất ngờ từ trên không nên không ít người tỏ ý băn khoăn, lo lắng. Trước tình hình đó, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã động viên toàn Đảng, toàn dân và toàn quân vượt mọi khó khăn, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, quyết tâm đánh thắng địch khi chúng liều lĩnh xâm phạm vùng trời miền Bắc.

Nắm được mưu đồ của Mỹ chuẩn bị leo thang gây chiến tranh ở miền Bắc, ngày 27-3-1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị Chính trị đặc biệt. Tại đây, Người kêu gọi toàn dân, toàn quân nêu cao chí khí chiến đấu, sẵn sàng đập tan mọi hành động khiêu khích và phá hoại của đế quốc Mỹ; sẵn sàng hy sinh vì lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân và sự nghiệp cách mạng nước nhà. Lời kêu gọi của Người biểu thị quyết tâm lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kiên quyết đấu tranh, đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn. Với tinh thần và quyết tâm cao độ của một dân tộc có truyền thống hào hùng chống giặc ngoại xâm, ngay sau lời động viên của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các cấp, các ngành, các lực lượng và địa phương, từ công trường, nhà máy đến nông thôn, đô thị đã dấy lên quyết tâm đánh thắng đế quốc Mỹ, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam. Khắp nơi trên miền Bắc, xuất hiện nhiều khẩu hiệu: nông dân “tay cày, tay súng”; công nhân “tay búa, tay súng”; các đơn vị bộ đội có phong trào thi đua chuẩn bị chiến đấu sôi nổi, như: “người sẵn sàng, súng sẵn sàng, địch vào là biết, địch đến là diệt”, hoặc “kiên quyết bắn rơi thật nhiều máy bay Mỹ”, “giáng trả chúng những đòn thật đau”. Trên tinh thần đó, mặc dù Mỹ bất ngờ mở chiến dịch “Mũi tên xuyên”, các cánh sóng ra-đa của ta đã kịp thời phát hiện các tốp máy bay địch trên từng hướng và thông báo cho các đơn vị phòng không, hải quân và dân quân tự vệ (DQTV) đánh trả quyết liệt và giành thắng lợi giòn giã. Điều đáng chú ý là, trong trận ngày 05-8-1964, chúng ta không chỉ thực hiện tốt nhiệm vụ chiến đấu bắn rơi nhiều máy bay địch mà các lực lượng còn bảo đảm giao thông vận tải, giúp nhân dân sơ tán, phòng tránh, tổ chức tốt sản xuất và đời sống sẵn sàng đọ sức lâu dài với Mỹ. Mỹ tin rằng, sử dụng đòn tiến công bằng không quân vào miền Bắc sẽ làm nhụt ý chí và quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc của nhân dân Việt Nam. Song, chính chúng đã phải ngỡ ngàng trước tinh thần bình tĩnh, quả cảm của dân tộc ta; bất ngờ trước trình độ tổ chức chỉ huy, khả năng sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ) và sức mạnh của chiến tranh nhân dân (CTND) Việt Nam.

2. Xây dựng thế trận CTND trên mặt trận đối không liên hoàn, vững chắc rộng khắp, có chiều sâu để đánh địch bằng mọi lực lượng và mọi thứ vũ khí. Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình cách mạng ở cả hai miền Nam, Bắc và với tầm nhìn chiến lược, ngay từ năm 1963, Quân ủy Trung ương đã xây dựng và thông qua Kế hoạch phòng thủ miền Bắc, Kế hoạch động viên thời chiến. Tiếp đó, khi nguy cơ về một cuộc đánh phá bằng không quân ra miền Bắc ngày càng hiện rõ, Bộ Tổng Tham mưu đã tổ chức Hội nghị Phòng không nhân dân lần thứ nhất (tháng 01-1964); thực hiện báo động SSCĐ cho lực lượng phòng không (tháng 3-1964) và báo động SSCĐ đối với toàn thể LLVT miền Bắc (tháng 6-1964). Đây là sự chỉ đạo sáng suốt của Quân ủy Trung ương; sự chuẩn bị cần thiết, kịp thời của LLVT và toàn dân, nhằm xây dựng thế trận phòng không nhân dân, thế trận CTND trên mặt trận đối không liên hoàn, vững chắc để đối phó với phương thức tác chiến mới của kẻ thù. Theo đó, hệ thống phòng không ba thứ quân được triển khai, xây dựng rộng khắp, tập trung trên các yếu địa ở các thành phố, khu công nghiệp, sân bay, bến cảng và các công trình lớn. Đồng thời, lực lượng phòng không nhân dân cũng được thành lập ở các địa phương; việc tuần tiễu, bố phòng vùng ven biển, khu vực giới tuyến và dọc biên giới phía Tây được tăng cường. Công tác diễn tập, báo động phòng không, cứu thương, cứu hỏa được tổ chức chặt chẽ, thường xuyên. Bộ đội phòng không quốc gia nâng cấp trực chiến, tăng cường huấn luyện. Đặc biệt, mạng lưới bắn máy bay tầm thấp được hình thành trên toàn miền Bắc với 2.500 tổ DQTV săn máy bay, bí mật mai phục sẵn trên các địa bàn trọng điểm và hướng địch dễ đột nhập. Nhờ thế trận phòng không nhân dân vững mạnh, rộng khắp, có chiều sâu và có trọng tâm, trọng điểm nên quân và dân miền Bắc đã đánh thắng cuộc tập kích bằng đường không ngay từ trận đầu tiên. Trong trận này, mặc dù địch chủ động tiến công bất ngờ vào nhiều mục tiêu, ở nhiều địa bàn cách xa nhau, nhưng ở bất cứ đâu chúng cũng bị quân và dân ta hình thành lưới lửa phòng không nhiều tầng, nhiều tầm đón đánh. Có thể nói, lưới lửa phòng không của ta được giăng ra ở khắp nơi cả trên bộ, trên sông, trên biển. Nét đặc sắc của nghệ thuật phòng không của ta trong trận đánh ngày 05-8-1964 là trong lúc ta chưa có những vũ khí, trang bị phòng không hiện đại, thậm chí chưa có sự tham gia của bộ đội Tên lửa và Không quân, nhưng với thế trận có một không hai này, ta luôn làm chủ được tình thế của trận đánh và đẩy địch vào thế bị động, bất ngờ. Mặc dù địch đã sử dụng mọi thủ đoạn đánh phá, nhưng khi bay ở tầm cao bị đánh trả quyết liệt, bay ở tầm thấp bị chặn đánh từ nhiều phía, luồn lách, vu hồi thì bị mạng lưới phòng không nhân dân phục kích, đón lõng tiêu diệt. Điển hình là chiều ngày 05-8-1964, tại trận địa Hòn Gai (Quảng Ninh), khẩu đội súng máy cao xạ 12,7mm của DQTV đã đón lõng và bắn rơi tại chỗ 01 máy bay phản lực, bắt sống phi công Mỹ. Đây là điều mà Mỹ không thể lường trước được.

Cùng với đó, nét độc đáo của nghệ thuật đánh thắng trận đầu của quân và dân miền Bắc còn thể hiện ở sự phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng phòng không ba thứ quân với Hải quân nhân dân, Công an nhân dân vũ trang và các lực lượng khác; phối hợp giữa lực lượng tác chiến tại chỗ và lực lượng cơ động đánh địch. Điều đó được thể hiện rõ khi địch đánh vào các cảng biển, như: Gianh (Quảng Bình), Cửa Hội (Nghệ An), Lạch Trường (Thanh Hóa), lực lượng Hải quân ta chủ động cơ động trên sông, trên biển để đón đánh địch từ xa; phối hợp với bộ đội phòng không, DQTV trên bờ tạo thành lưới lửa dày đặc. Nhờ đó, tại Cửa Lạch Trường, chỉ sau 30 phút chiến đấu ta đã bắn rơi 02 máy bay Mỹ. Đây là một bất ngờ lớn đối với Mỹ về tinh thần và sức mạnh CTND Việt Nam./.

ĐỊNH HƯỚNG ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG VỀ BẢO VỆ CÁN BỘ DÁM NGHĨ, DÁM LÀM, DÁM ĐỘT PHÁ, DÁM CHỊU TRÁCH NHIỆM VÌ LỢI ÍCH CHUNG GẮN VỚI SÀNG LỌC CÁN BỘ KHÔNG HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ

 

      Việc bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung đi đôi với sàng lọc, đưa ra khỏi vị trí công tác đối với những người không đủ phẩm chất, năng lực, uy tín được đề cập qua nhiều kỳ Đại hội và được đặc biệt nhấn mạnh tại Đại hội XIII của Đảng. Đây là hai mặt của một vấn đề, được Đảng ta quan tâm từ rất sớm nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ đủ đức, đủ tài, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

   Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã nêu, một trong những giải pháp xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là cần có cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung; đồng thời, cần có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ,... không còn uy tín đối với nhân dân.

   Đây không phải là lần đầu tiên Đảng ta đề cập tới vấn đề khuyến khích và bảo vệ cán bộ đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung cũng như việc sàng lọc, thay thế những cán bộ không đủ năng lực, phẩm chất, uy tín, không hoàn thành nhiệm vụ. Trong các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, Đảng ta luôn quan tâm đến nội dung này nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ có tâm, có tầm để phục vụ đất nước, phụng sự nhân dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”.

     Chủ trương của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung

   Nghị quyết Đại hội IV của Đảng đặt ra yêu cầu thực hiện triệt để nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong cấp ủy, trong đó nêu rõ, cần tránh tâm lý “ỷ lại vào tập thể, sợ trách nhiệm, không dám quyết đoán”. Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm không chỉ là việc cán bộ quyết liệt trong thực hiện nhiệm vụ được giao, mà còn thể hiện ở tinh thần dám đấu tranh chống lại những biểu hiện tiêu cực, dám đứng lên phê phán, nhìn thẳng vào những khuyết điểm của bản thân, của tập thể, của đồng nghiệp và của cấp trên.

   Tại Đại hội V của Đảng, báo cáo về công tác xây dựng Đảng đã thẳng thắn nêu ra tình trạng mất dân chủ, dân chủ hình thức, thiếu phê bình từ dưới lên do hiện tượng gia trưởng, độc đoán, thành kiến, trù dập những cán bộ dám phê bình khuyết điểm, xem đó là biểu hiện “tiêu cực”, khiến cho cán bộ không dám thẳng thắn đấu tranh, phê phán những biểu hiện sai trái. Báo cáo cũng nhấn mạnh, cần phát hiện và kết nạp những người “trung thực đã dám vì sự nghiệp chung mà vạch trần khuyết điểm bảo vệ chân lý”; đồng thời, tập hợp những cán bộ có “tinh thần dám quyết định và dám chịu trách nhiệm để hoàn thành nhiệm vụ”. Những nội dung trên đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng trong việc bảo vệ những cán bộ có tinh thần dám nhìn thẳng vào sự thật, dám đấu tranh vì sự vững mạnh của Đảng.

   Đặc biệt, Đại hội VI của Đảng đã mở ra một bước ngoặt lịch sử đối với đất nước ta khi quyết định xóa bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, thay đổi trong phân phối, lưu thông, đổi mới trong cách nghĩ, cách làm, cách tiếp cận của Đảng ta về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Báo cáo chính trị trình Đại hội VI khẳng định, để công cuộc đổi mới thành công, cần phải “dám thừa nhận và thay đổi những quyết định sai lầm, dám xử lý kiên quyết những trường hợp phức tạp”. Báo cáo cũng chỉ rõ những khó khăn, thách thức khi dám thay đổi tư duy và cơ chế quản lý, đó là “cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, cái tiến bộ và cái lạc hậu”, không những sẽ chịu lực cản từ những lề thói cũ, mà còn “vấp phải những đặc quyền, đặc lợi của một số người gắn bó với cơ chế cũ”.

   Nghị quyết số 05-NQ/HNTW, ngày 20-6-1988, của Hội nghị Trung ương 5 khóa VI, về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng bảo đảm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI của Đảng”, lần đầu tiên đưa “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” trở thành một tiêu chuẩn đối với cán bộ lãnh đạo, là tuyên ngôn chính trị mạnh mẽ của Đảng ta về phẩm chất cần có của những con người cách mạng. Dám nghĩ, dám làm không chỉ là một phẩm chất cần được khuyến khích, mà còn thể hiện tinh thần trách nhiệm cần phải có và nhiệt tình cách mạng của người cán bộ lãnh đạo.

   Những thành quả to lớn của công cuộc đổi mới bắt nguồn từ chính tinh thần dám thay đổi, dám kiên quyết đấu tranh của những cán bộ lãnh đạo vì lợi ích của nhân dân, vì sự lớn mạnh của Đảng, dám chịu trách nhiệm về những quyết định của mình dù gặp phải không ít khó khăn, thử thách. Đó là những tấm gương mẫu mực về bản lĩnh, tinh thần đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, như đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế, khởi xướng công cuộc đổi mới đất nước của đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh; “xóa bỏ tem phiếu”, “cơ chế một giá theo thị trường” của đồng chí Nguyễn Văn Chính (Chín Cần) tại tỉnh Long An; “những việc cần làm ngay” và “cơ chế thị trường” của đồng chí Nguyễn Văn Linh; xóa bỏ tình trạng “ngăn sông cấm chợ”, thực hiện dự án khai thác vùng Đồng Tháp Mười, xây dựng kênh thoát lũ ra biển Tây, “ngọt hóa” vùng Tứ giác Long Xuyên, xây dựng đường dây tải điện 500 kV của đồng chí Võ Văn Kiệt; chuyển đổi hệ thống ngân hàng, chính sách tỷ giá phù hợp với cơ chế thị trường của đồng chí Đỗ Mười;...

   Nhờ đó, cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã đi vào cuộc sống, công cuộc đổi mới trở thành cuộc bứt phá ngoạn mục của kinh tế Việt Nam, đưa đất nước ta thoát khỏi tình trạng trì trệ, nghèo nàn, lạc hậu. Trong suốt thời kỳ này, đất nước ta đã chứng kiến những bước chuyển mình mạnh mẽ cả về kinh tế, chính trị, ngoại giao; đó chính là thành quả từ những quyết định táo bạo, đột phá vào những thời điểm quan trọng của lịch sử của những cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Tuy vậy, vẫn còn tình trạng một bộ phận cán bộ có những biểu hiện phai nhạt lý tưởng, làm việc tắc trách, trì trệ, dựa dẫm vào tập thể, nói không đi đôi với làm hoặc làm chiếu lệ; khi có sai sót, khuyết điểm không dám chịu trách nhiệm mà tìm cách đổ lỗi cho hoàn cảnh hoặc cho người khác.

   Ngày 16-1-2012, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TW, “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, trong đó chỉ ra nguy cơ của việc thiếu một cơ chế xác định trách nhiệm rõ ràng trong thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách dẫn đến tình trạng không khuyến khích được người đứng đầu có nhiệt tình, tâm huyết, dám nghĩ, dám làm; đồng thời, đặt ra yêu cầu cần có cơ chế, chính sách để giải quyết mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân, phát huy vai trò của người đứng đầu nhằm “khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng”.

   Tới nhiệm kỳ Đại hội XI của Đảng, nhiệm vụ ban hành, bổ sung, sửa đổi cơ chế, chính sách mới lần đầu tiên được đặt ra nhằm khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đề ra phương hướng, nhiệm vụ cần phải “đổi mới công tác bầu cử trong Đảng, phương thức tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ,... để lựa chọn những người có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, năng động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm giữ các vị trí lãnh đạo, đặc biệt là người đứng đầu”.

   Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, đã đặt ra nhiệm vụ phải bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; đồng thời, coi việc xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung là một nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Bên cạnh đó, để xác định rõ trách nhiệm trong triển khai nhiệm vụ, Bộ Chính trị đã ban hành Kế hoạch số 10-KH/TW, ngày 6-6-2018, “Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”; trong đó, giao cho Ban Tổ chức Trung ương tham mưu ban hành cơ chế tạo điều kiện, khuyến khích và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Nhiệm vụ này một lần nữa được nhấn mạnh trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng, cụ thể là đề ra nhiệm vụ, giải pháp cần “có cơ chế khuyến khích, bảo vệ những cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”.

   Như vậy, việc xây dựng cơ chế khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, đổi mới, sáng tạo vì lợi ích chung xuất phát từ đòi hỏi, yêu cầu của tình hình thực tế. Qua thực tiễn điều hành công việc tại các địa phương, cơ quan, đơn vị, không ít cán bộ lãnh đạo gặp phải khó khăn trong triển khai các nhiệm vụ do hệ thống các quy định của Đảng và Nhà nước còn chưa hoàn thiện, thậm chí còn những điểm chồng chéo, thiếu thống nhất hoặc không còn phù hợp với thực tiễn, dễ gây rủi ro về pháp lý cho cán bộ trong quá trình triển khai. Điều này khiến cho cán bộ, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý, rơi vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan”, bởi nếu không thực hiện thì không thể hoàn thành nhiệm vụ và trọng trách mà Đảng và Nhà nước giao phó; nhưng nếu quyết tâm thực hiện lại rất dễ bị quy chụp, gán cho là “làm sai” chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thậm chí còn bị xử lý kỷ luật.

   Nếu nhận định “dám nghĩ, dám làm” là quyết tâm, sự táo bạo, dám ra quyết định của cán bộ trong thực hiện nhiệm vụ được giao, thì trong nhiều trường hợp, đó chính là nhân tố quyết định việc cán bộ có hoàn thành nhiệm vụ hay không. Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt, thì việc “dám nghĩ, dám làm” lại có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của địa phương, cơ quan, đơn vị nói riêng và của cả đất nước nói chung, tác động tới nhiều người, nhiều đối tượng, ảnh hưởng tích cực đến phát triển kinh tế - xã hội, “quốc kế dân sinh”, bảo đảm quốc phòng - an ninh và quan hệ quốc tế... Nếu không có bản lĩnh, dám đương đầu với khó khăn, thách thức, không dám đưa ra những quyết định táo bạo, đột phá thì người cán bộ lãnh đạo không thể hoàn thành những nhiệm vụ, trọng trách nặng nề mà Đảng và nhân dân giao phó.

   Sự nghiệp cách mạng của nước ta hiện nay được tiến hành trong bối cảnh thế giới và khu vực biến đổi rất nhanh chóng, khó lường; đất nước đứng trước nhiều cơ hội và thách thức đan xen, đòi hỏi phải có đột phá trong tư duy và hành động của đội ngũ cán bộ, nhất là cấp chiến lược thì mới có thể hiện thực hóa được khát vọng phát triển đất nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng vào năm 2045. Một lần nữa, vấn đề đổi mới, sáng tạo lại được Đại hội XIII của Đảng đặt ra như một yêu cầu cấp thiết của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

   Qua các kỳ đại hội, tinh thần dám nghĩ, dám làm của cán bộ luôn được Đảng ta coi trọng. “Dám nghĩ, dám làm” qua mỗi thời kỳ được biểu hiện một cách khác nhau tùy vào đặc điểm tình hình và những nhiệm vụ trọng tâm của cách mạng thời kỳ đó. Thực tiễn cho thấy, dù ở bất kỳ giai đoạn nào, những cán bộ dám nghĩ, dám làm, không quản ngại khó khăn, thử thách để hoàn thành nhiệm vụ chính là những thành tố đặc biệt quan trọng đóng góp vào thành công của cách mạng Việt Nam. Nhất là từ khi bước vào con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã nhìn thấy trước những nguy cơ, những biểu hiện sai lầm mà cán bộ ta dễ mắc phải nếu hiểu sai, vận dụng sai các nguyên tắc tổ chức hoạt động của Đảng. Vì thế, cơ chế khuyến khích và bảo vệ khi được ban hành sẽ trở thành cơ sở quan trọng để thúc đẩy cán bộ dám hành động, dám đổi mới, sáng tạo vì sự nghiệp chung.

     Gắn cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung với sàng lọc những cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ

   Cùng với việc xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, Đảng ta cũng đặt ra yêu cầu phải thay thế, sàng lọc những cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ. Điều này thể hiện quan điểm rất rõ ràng rằng, Đảng luôn khuyến khích và sẵn sàng bảo vệ những cán bộ nhiệt tình, vì công việc chung mà dám quyết liệt, dám xả thân vì đất nước, vì dân tộc; đồng thời, kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy những cán bộ thiếu tâm huyết, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, không đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, không đủ sức gánh vác những nhiệm vụ được giao phó. Điều này thể hiện sự thống nhất trong quan điểm của Đảng ta, vừa tạo cơ chế cởi mở để cán bộ thể hiện hết năng lực của mình, vừa có biện pháp để xử lý, thay thế kịp thời những cán bộ không đáp ứng được yêu cầu, cản trở sự phát triển.

   Nghị quyết Đại hội IV của Đảng đã nhấn mạnh, đối với những cán bộ mà “năng lực công tác không tương xứng với trách nhiệm cần được sắp xếp lại cho hợp lý”. Có thể nói, đây là bước tiến mới trong tư duy của Đảng ta về công tác cán bộ. Sau Đại hội, việc triển khai công tác đánh giá, sàng lọc cán bộ đã được tiến hành ở nhiều nơi, nhưng kết quả vẫn chưa đạt được như mong muốn. Nguyên nhân chính là do sự thiếu quyết tâm, dứt khoát của các cấp, các ngành, các địa phương, cơ quan, đơn vị. Chính vì thế, Báo cáo về công tác xây dựng Đảng của Ban Chấp hành Trung ương khóa IV tại Đại hội V của Đảng đặt ra yêu cầu phải kiên quyết, nhanh chóng đưa xuống hoặc bố trí công tác khác đối với những cán bộ không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; cần coi “có lên, có xuống” là việc bình thường trong bố trí cán bộ. Quan điểm này cũng được Đảng ta nhắc lại trong nhiệm kỳ Đại hội X, Đại hội XI và Đại hội XII.

   Tiếp đến, Nghị quyết số 05-NQ/HNTW, ngày 20-6-1988, của Hội nghị Trung ương 5 khóa VI, về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng bảo đảm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI của Đảng”, yêu cầu kiên quyết đưa xuống, không cất nhắc những cán bộ không đủ sức hoàn thành nhiệm vụ; chấm dứt tình trạng bố trí lại cán bộ yếu kém, không hoàn thành nhiệm vụ ở vị trí này vào vị trí khác tương đương hoặc cao hơn.

   Báo cáo chính trị trình Đại hội VI nêu rõ, việc bố trí cán bộ phải căn cứ vào kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị và yêu cầu công việc. Báo cáo đã khẳng định, để có thể thay thế, sàng lọc, bố trí đúng cán bộ, cần thực hiện 3 giải pháp sau: 1- Cần phải có một cơ chế quản lý cán bộ đúng đắn, phương pháp đánh giá phù hợp để loại trừ những yếu tố may rủi, ngẫu nhiên và động cơ không lành mạnh của cán bộ; 2- Cần hài hòa giữa tính tập thể và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong các quyết định về cán bộ, để tránh trường hợp người sử dụng cán bộ không có quyền hay trách nhiệm trong việc lựa chọn cán bộ mà mình sử dụng; 3- Đối với việc quản lý cán bộ chủ chốt ở các cấp, các ngành, cần xác định rõ trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng bởi đây là chức năng quan trọng, không thể thiếu của các cơ quan lãnh đạo của Đảng.

   Nghị quyết số 17-NQ/TW, ngày 1-8-2007, của Hội nghị Trung ương 5 khóa X, “Về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước”, đã bổ sung giải pháp đưa những người không đủ tiêu chuẩn ra khỏi bộ máy thông qua đánh giá, phân loại cán bộ, công chức để phân biệt rõ người đủ tiêu chuẩn và không đủ tiêu chuẩn. Tuy nhiên, cho đến nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, về cơ bản vẫn chưa có cơ chế cụ thể, rõ ràng để xử lý, thay thế kịp thời những cán bộ lãnh đạo, quản lý yếu về năng lực, giảm sút uy tín, trì trệ trong công tác. Nguyên nhân chính là do đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, chưa phản ánh đúng thực chất, chưa gắn với kết quả, sản phẩm cụ thể... Vì vậy, Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, đã kịp thời bổ sung một số giải pháp, như đổi mới công tác đánh giá cán bộ theo hướng xuyên suốt, liên tục, đa chiều, theo tiêu chí cụ thể và bằng sản phẩm, so sánh với các chức vụ tương đương, thông qua khảo sát,...; hoàn thiện các quy định về cách chức, bãi nhiệm, miễn nhiệm; hoàn thiện các quy định, quy chế để kiểm soát chặt chẽ, sàng lọc kỹ càng, thay thế kịp thời những người năng lực hạn chế, uy tín thấp, không đủ sức khỏe, có sai phạm, không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm; người đứng đầu chịu trách nhiệm chính về quản lý cán bộ theo phân cấp;...

   Có thể nói, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm gắn với sàng lọc, thay thế những cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ là những nhiệm vụ trọng tâm về công tác cán bộ để bảo đảm lựa chọn đúng và phát huy hết khả năng của những cán bộ đủ đức, đủ tài, đủ sức gánh vác trọng trách được giao phó. Nhiệm vụ trước mắt là cần phải cụ thể hóa những chủ trương này của Đảng thành cơ chế, quy định cụ thể để thực hiện; đồng thời, có phương án tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả ở tất cả các cấp; có như vậy, mới đáp ứng được yêu cầu về xây dựng đội ngũ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung, như Đại hội XIII của Đảng đặc biệt nhấn mạnh. Vấn đề quan trọng nhất là khâu cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng để triển khai trong thực tế, như lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Thành công của Đại hội không phải ở chỗ thông qua được nghị quyết, bầu ra được Ban Chấp hành Trung ương mới, mà quan trọng hơn là thời gian tới, chúng ta phải tổ chức đưa nghị quyết vào cuộc sống thế nào, biến nó thành hiện thực thế nào...”. Kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII phụ thuộc vào quyết tâm và năng lực của tổ chức đảng các cấp và đội ngũ cán bộ, đảng viên./.

Đã đủ nỗi đau, đừng ngoan cố


Vụ việc chiến sĩ nghĩa vụ Đô hi sinh đã làm cho dư luận dậy sóng trong thời gian gần đây. Theo quan điểm của cá nhân tôi, có một số điểm trong vụ án này có những điểm cộng đồng mạng rất đáng trách.

Học giả Nga đanh thép bác bỏ lập luận phi lý của Trung Quốc về Biển Đông

Nhân kỷ niệm ngày Tòa trọng tài quốc tế ra phán quyết về vụ kiện của Philippines với Trung Quốc, hai học giả Nga có bài viết đăng trên internet trong đó họ bác bỏ các lập luận sai trái của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông.

 Ngày 1/7, trang tin của Hội đồng các vấn đề đối ngoại (russiancouncil.ru) đăng bài viết với nhan đề “Kỷ niệm phán quyết Toà trọng tài về Biển Đông: Nơi giao thoa của địa chính trị và luật pháp quốc tế” của Tiến sĩ Alexandr Karalov và Tiến sĩ Irina Strelnikova, trường Kinh tế cao cấp.

Bài viết điểm lại cuộc chiến pháp lý của Philippines trong vụ kiện Trung Quốc về các yêu sách của nước này ở Biển Đông, việc thực thi và triển vọng giải quyết tranh chấp ở Biển Đông bằng luật pháp quốc tế.

Bài viết nêu kết quả trong vụ kiện của Philippines với Trung Quốc về các yêu sách của nước này ở Biển Đông, theo đó Tòa trọng tài phán quyết rằng các yêu sách của Trung Quốc đối với "quyền lịch sử" và quyền tài phán của nước này đối với các khu vực biển ở Biển Đông là trái với Công ước Luật Biển 1982, là bất hợp pháp và vượt quá ranh giới địa lý và thực chất các quyền của Trung Quốc.

Theo đó, các "quyền lịch sử" được Trung Quốc sử dụng như một công cụ pháp lý trong tranh chấp về quyền sở hữu các vùng lãnh thổ của Biển Đông chỉ được coi là tập quán pháp lý. Tuy nhiên, tập quán này chưa được coi là một nguồn luật bởi Trung Quốc đã không thể cung cấp bất kỳ bằng chứng nào về việc áp dụng lâu dài và có hệ thống của tập quán này.

Sự thật đằng sau chiêu bài lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí

Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, bất mãn trong và ngoài nước lấy danh nghĩa “dân chủ, nhân quyền” ra sức nguỵ biện để đổi trắng thay đen, nói không thành có, có thành không về thực tế tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam hiện nay. Đồng thời, họ triệt để lợi dụng sự đánh giá không khách quan, trung thực, thiếu thiện chí của một số hãng thông tấn, báo chí nước ngoài về tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam để vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền nhằm hạ thấp vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế.

Để đạt được mục đích, họ thành lập một số tổ chức nhân danh báo chí như: “Phóng viên không biên giới”, “The project 88”… để đấu tranh cho cái gọi là “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị”, đưa ra bảng xếp hạng sai lệch về tự do báo chí ở Việt Nam và một số quốc gia, vu khống Việt Nam bóp nghẹt tự do ngôn luận, tự do báo chí. Gây sức ép đòi thả tự do cho các đối tượng bị cơ quan chức năng bắt giữ do vi phạm pháp luật Việt Nam như: Trần Thị Tuyết Diệu, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Lê Hữu Minh Tuấn, Phạm Đoan Trang, Lê Trọng Hùng, Trần Quốc Khánh, Trương Châu Hữu Danh, Nguyễn Thanh Nhã, Đoàn Kiên Giang, Nguyễn Phước Trung Bảo… Sâu xa hơn là lợi dụng danh nghĩa đấu tranh “tự do báo chí” để tập hợp lực lượng, hình thành các tổ chức chống đối lật đổ chính quyền.

Cần khẳng định Việt Nam là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, chúng ta tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và biểu đạt; bao gồm tự do giữ ý kiến mà không bị can thiệp, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận và truyền bá thông tin và tư tưởng bằng bất cứ phương tiện truyền thông nào và không giới hạn về biên giới”.

Tuyên ngôn còn nguyên giá trị, có ý nghĩa nhân văn cao cả, luôn được Nhà nước Việt Nam tuân thủ, kế thừa, phát triển phù hợp trong từng điều kiện hoàn cảnh. Ngược dòng lịch sử, ngày 9/11/1946, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp gồm 7 chương, 70 điều, trong đó, quyền tự do ngôn luận được hiến định ở Điều thứ 10: “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”.

Kế thừa quy định về quyền tự do ngôn luận từ bản Hiến pháp đầu tiên, các văn kiện của Đảng, các bản Hiến pháp các năm 1959, 1980, 1992 và 2013 đều khẳng định và hiện thực hóa quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân. Điều 25 Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Để quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ngày càng được bảo đảm, thực thi trong thực tế đời sống, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật Tiếp cận thông tin và Luật Báo chí sửa đổi năm 2016. Trong đó, Điều 3 Luật Tiếp cận thông tin quy định: “Mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; thông tin được cung cấp phải chính xác, đầy đủ; việc cung cấp thông tin phải kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân; Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin”. Điều 10 của luật này cũng quy định công dân có quyền tự do tiếp cận thông tin được cơ quan nhà nước công khai, đồng thời được yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin.

Đối với quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân được quy định tại Điều 11, Luật Báo chí sửa đổi: “Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức và cá nhân”.

Điều 13 chỉ rõ: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình; báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân; báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng”.

Như vậy, từ khi Nhà nước ta ra đời đến nay, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí luôn được tôn trọng, bảo đảm và ngày càng được thực thi trong cuộc sống, tạo điều kiện cho công dân được nói lên tiếng nói của mình, đóng góp tài năng, trí tuệ công sức của mình vào công cuộc dựng nước và giữ nước. Đồng thời với việc bảo vệ, tôn trọng, bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật; không để các tổ chức, cá nhân lợi dụng để thực hiện sự tự do vượt quá luật định, với những mưu lợi bất chính, đi ngược lại giá trị của quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.

Từng nguy kịch, 2 bệnh nhân Covid-19 được xuất viện

Theo thông tin từ Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TW chiều 2/7, trường hợp đầu tiên được xuất viện trong hôm nay là H.T.L., nữ, 53 tuổi, có địa chỉ tại Hữu Lũng, Lạng Sơn.

Người này có tiền sử khỏe mạnh và được phát hiện mắc Covid-19 ngày 28/5 với mã hiệu 6404. Thời điểm đó, bệnh nhân sốt cao liên tục, ho khan và khó thở tăng dần.

Sau 4 ngày điều trị ở bệnh viện tuyến dưới, bệnh nhân có diễn biến nặng và được chuyển tới khoa Cấp cứu, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cơ sở Kim Chung (Đông Anh, Hà Nội) ngày 1/6.

Tại đây, bệnh nhân được thở oxy lưu lượng cao nhưng vẫn dần yếu hơn. Đến 21h ngày 3/6, bệnh nhân mệt nhiều, co kéo toàn bộ cơ hô hấp, phải được can thiệp đặt ống nội khí quản và chuyển về khoa Hồi sức tích cực.

Các bác sĩ tại đây thăm khám và đánh giá chi tiết cho bệnh nhân với chẩn đoán suy hô hấp cấp, viêm phổi ARDS và Covid-19. Bà L. sau đó được can thiệp thở máy thông số kỹ thuật cao ARDS, đặt catheter tĩnh mạch trung tâm và động mạch, theo dõi huyết động kết hợp lọc máu, sử dụng thuốc vận mạch nâng huyết áp, thuốc bổ trợ.

Trong thời gian sau đó, bệnh nhân tiếp tục được lọc máu thêm tổng cộng 4 lần kết hợp chăm sóc tích cực, thở máy thông số kỹ thuật cao, dẫn lưu tư thế. Nhờ vậy, bệnh nhân có dấu hiện tiến triển tốt hơn, được giảm nồng độ oxy máu.

Nhân viên y tế tiếp tục chăm sóc, theo dõi sát bệnh nhân, điều trị các dấu hiệu loạn thần kết hợp thuốc bổ trợ, vitamin, vỗ rung, dẫn lưu tư thế giải phóng đờm ứ đọng sâu.

Đến ngày 12/6, sau 12 ngày thở máy và chăm sóc tích cực, 5 lần lọc máu, bệnh nhân tiến triển rõ, có khả năng ho khạc, thể trạng tốt. Do đó, các bác sĩ quyết định cho bà L. dừng thở máy, rút ống nội khí quản thành công và chuyển sang thở oxy kính.

Đêm 15/6, bệnh nhân bất ngờ xuất hiện tình trạng mất máu tối cấp, chảy máu nhiều tại âm đạo và bàng quang. Các bác sĩ đã chỉ định truyền máu 500 ml khối hồng cầu cấp cho bệnh nhân, đồng thời áp dụng thuốc, nội soi bàng quang lấy máu cục, rửa bàng quang liên tục trong nhiều ngày.

Sau 3 ngày cấp cứu, tình trạng chảy máu của bệnh nhân tạm thời được kiểm soát. Tuy nhiên, bệnh nhân còn mệt nhiều, da niêm mạc nhợt.

Tới ngày 25/6, bệnh nhân thoát hoàn toàn tình trạng nguy hiểm do mất máu, siêu âm ổ bụng bình thường. Bệnh nhân lúc này được chỉ định bỏ oxy kính.

Hôm nay (2/7), sau 31 ngày điều trị, bà L. có sức khỏe tốt, tự đi lại bình thường, kết quả xét nghiệm RT-PCR 3 lần cho thấy bà âm tính với nCoV. Bệnh nhân được xuất viện và trở về tuyến cơ sở nhằm tiếp tục dưỡng sức.

Trường hợp thứ 2 là ông T.V.Đ., 74 tuổi, trú tại Lý Nhân, Hà Nam. Bệnh nhân được ghi nhận mắc Covid-19 với mã số 4141.

Ông Đ. là trường hợp cao tuổi, nhiều bệnh lý nền và được chuyển tuyến lên Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương theo dõi, điều trị.

Sau 45 ngày điều trị hồi sức tích cực, bệnh nhân này nhiều lần cho kết quả xét nghiệm âm tính với SARS-CoV-2. Đến ngày 2/7, ông được các bác sĩ tuyên bố khỏi Covid-19 và có thể xuất viện.

Việt Nam sản xuất thành công máy trợ thở giúp điều trị Covid-19

Máy oxy dòng cao với tên gọi là BKVM-HF1 được thiết kế và sản xuất hoàn toàn trong nước đã được Bộ Y tế cấp phép lưu hành, giá thành sản xuất tiết kiệm tới 50% so với các máy trợ thở ngoại nhập.

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội (HUST) và Tập đoàn VMED vừa hợp tác triển khai dự án nghiên cứu sản xuất máy oxy dòng cao dùng cho các bệnh nhân bị suy hô hấp. Ngày 2-7, nhóm nghiên cứu đã công bố chế tạo và sản xuất thành công thiết bị này.

Máy oxy dòng cao (HFNC-High Flow Nasal Cannula) được nghiên cứu sản xuất từ nhu cầu cao trong điều trị Covid-19 tại các cơ sở y tế và sự quan tâm tăng cường các trang thiết bị y tế từ các bộ, ngành.

Máy có chức năng cung cấp liên tục khí thở lưu lượng cao (60 l/phút) với nồng độ oxy điều chỉnh được (từ oxy không khí đến nguyên chất). Dòng khí thở được ổn định ở 37 độ C với độ ẩm bão hòa và cấp qua gọng mũi để giúp điều trị bệnh nhân suy hô hấp.

Máy được đo lường tại phòng thử nghiệm của VMED Group, xây dựng tiêu chuẩn cơ sở bởi HUST, giám định kỹ thuật từ Vinacontrol, thử nghiệm tại Trung tâm cấp cứu A9 Bệnh viện Bạch Mai, và được Bộ Y tế quyết định lưu hành vào giữa tháng 6-2021.

"Theo các báo cáo nghiên cứu lâm sàng, nếu được sử dụng máy oxy dòng cao này, 60-70 % bệnh nhân bị mắc Covid-19 sẽ được hồi phục, không bị nặng thêm và không phải sử dụng máy thở. Máy oxy dòng cao là thiết bị cần thiết để hỗ trợ điều trị cho bệnh nhân viêm phổi, suy hô hấp giai đoạn đầu do Covid-19" - PGS Nguyễn Văn Chi, Phụ trách Trung tâm Cấp cứu A9, Bệnh viện Bạch Mai, đánh giá.

Chú trọng giáo dục chính trị, tư tưởng để phòng ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

Có nhiều nguyên nhân, nhóm nguyên nhân dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tuy nhiên, Đảng ta xác định nguyên nhân chủ yếu của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là do cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất chính trị, dẫn tới lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài, làm giảm sút ý chí phấu đấu. Do vậy, để phòng ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, trước hết cấp ủy, chỉ huy các cấp phải tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, lấy xây dựng bản lĩnh chính trị, lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc, Nhà nước và nhân dân là mục tiêu giáo dục, rèn luyện cho cán bộ, chiến sĩ trước nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

 Những năm qua, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong Quân chủng luôn chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho bộ đội, không ngừng bồi đắp, nâng cao phẩm chất chính trị cho cán bộ, chiến sĩ, góp phần hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác giáo dục chính trị ở một vài đơn vị chưa thật hiệu quả. Cá biệt, có tập thể, cá nhân vẫn coi giáo dục chính trị tư tưởng là nhiệm vụ của cơ quan chính trị, cán bộ chính trị nên thờ ơ, thậm trí phó mặc, dẫn tới hiệu quả của mặt công tác này chưa cao…

Giáo dục chính trị tư tưởng là công việc của mọi cấp, mọi ngành. Bởi công tác giáo dục chính trị tư tưởng góp phần bồi đắp lý tưởng cách mạng trong sáng, bản lĩnh chính trị vững vàng, để khi đối mặt với khó khăn, thử thách; đứng trước những cám dỗ vật chất, tác động từ những tiêu cực, mặt trái của kinh tế thị trường hay đòn tấn công hiểm độc của các thế lực thù địch, cán bộ, chiến sĩ vẫn kiên định, vững vàng, không hoang mang, dao động, phai nhạt lý tưởng, giảm ý chí chiến đấu. Nếu mọi cán bộ, chiến sĩ đều có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, lối sống lành mạnh, thì sự “xâm nhập” của các tác nhân làm nảy sinh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sẽ bị triệt tiêu từ khi có “mầm”.

Để làm được điều đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần coi trọng triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ. Một trong những giải pháp hàng đầu là tổ chức thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”; thực hiện tốt tự phê bình và phê bình, công tác bảo vệ chính trị nội bộ, công tác quản lý cán bộ, chiến sĩ; kịp thời phát hiện, ngăn chặn những biểu hiện suy thoái ngay từ khi mới xuất hiện; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng. Chú trọng đúng mức công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng thành lũy tư tưởng vững chắc cho mọi cán bộ, chiến sĩ phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Đi đôi với đó, người chủ trì các cơ quan, đơn vị cần gương mẫu trong rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, đi đầu trong đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Sự nêu gương của đội ngũ cán bộ chủ trì sẽ có tác dụng thúc đẩy sự tự giác của cán bộ, chiến sĩ trong phấn đấu, rèn luyện và đấu tranh với các biểu hiện suy thoái, tiêu cực, mầm mống của “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”.

Điều quan trọng, mấu chốt đó là bản thân mỗi cán bộ, chiến sĩ phải tự giác rèn luyện, nâng cao khả năng “tự bảo vệ”, tăng cường “sức đề kháng” và “độ miễn dịch” trước mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của các thế lực thù địch và sự tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường; không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng, xem xét đối chiếu mình với tiêu chuẩn đạo đức cách mạng, từ đó điều chỉnh hành vi của chính mình, tránh cám dỗ của lối sống hưởng thụ xa hoa, lãng phí, sách nhiễu, quan liêu, tham nhũng. Từng bước đẩy lùi cái xấu, làm cho đạo đức cách mạng trong mỗi cá nhân ngày càng phát triển, góp phần xây dựng các tổ chức đảng TSVM, đơn vị VMTD, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Đảng nghiêm minh - Đảng mạnh, dân tin

Thời gian qua, nhân việc Đảng và Nhà nước ta kịp thời phát hiện và xử lý kỷ luật những cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ cao cấp, cán bộ, đảng viên diện do Trung ương quản lý vi phạm kỷ luật của Đảng; các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong nước và nước ngoài lại ráo riết tìm mọi cách để chống phá. Vẫn chiêu bài sử dụng triệt để Internet, chúng lập các tài khoản ảo, tài khoản mạo danh trên mạng xã hội để tập trung viết các bài vu khống, lôi kéo những phần tử xấu tham gia phỏng vấn rồi dàn dựng, cắt ghép tạo các clip với nội dung sai trái tung tràn ngập trên Youtube phục vụ ý đồ gây loạn nhiễu nguồn tin chính thống, đánh lừa những người nhẹ dạ, cả tin cho rằng việc xử lý những cán bộ vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước là cuộc đấu đá nội bộ giữa các phe phái trong Đảng…

Chúng ta phải biết rằng, kỷ luật là thể hiện sự nghiêm minh của Đảng. Mọi đảng viên đều tự nguyện, tự giác tuân thủ từ khi được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Không chỉ bây giờ mà 88 năm qua, nhờ có kỷ luật nghiêm minh mà Đảng Cộng sản Việt Nam mạnh hơn, nhân nhân đặt lòng tin vào Đảng vững chãi hơn. Việc thi hành kỷ luật trong Đảng là công việc quan trọng và cần thiết nhằm giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng, bảo đảm sự thống nhất về ý chí và hành động, tăng cường sức chiến đấu của Đảng; là cơ sở để giáo dục tổ chức đảng và đảng viên; là điều kiện để xây dựng, phát triển đất nước. Việc xử lý kỷ luật là biện pháp cuối cùng, đồng thời cũng là nỗi đau xót không chỉ cho mỗi tổ chức Đảng, đảng viên mà là nỗi đau chung của nhân dân. Tuy nhiên, nếu Đảng không nghiêm minh, nếu Đảng không áp dụng biện pháp cuối cùng ấy, Đảng không chỉ mắc tội với chính Đảng, với nhân dân, với sự tồn vong của sự nghiệp cách mạng mà vô hình chung, Đảng lại chính là nơi đẩy đồng chí của mình sa ngã sâu hơn vào con đường lầm lỗi.

Đảng ta khẳng định, kỷ luật Đảng là thể hiện sức mạnh của Đảng. Tuy nhiên, đồng hành với pháp luật, ở bất cứ hoàn cảnh, tình huống nào, Đảng ta luôn coi trọng tính nhân văn, đặt tình người và lẽ sống song hành khăng khít trong kỷ luật. Kỷ luật của Đảng là kỷ luật dựa trên tình đồng chí, kỷ luật của những người cùng chung một lý tưởng, tự nguyện đứng trong hàng ngũ Đảng, sẵn sàng hi sinh vì lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc. Mọi đảng viên và tổ chức đảng liên kết với nhau theo một kỷ luật chung dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ, sự thống nhất chặt chẽ về chính trị, tư tưởng và tổ chức, được thể hiện tập trung trong các điều khoản của Điều lệ Đảng. Kỷ luật đó xuất phát từ ý chí của toàn Đảng nhằm bảo đảm cho sự thống nhất, tập trung cao trong Đảng, đồng thời để phát huy dân chủ, phát huy tính tích cực và sáng tạo của toàn thể đảng viên và các tổ chức đảng.

Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền. Sức mạnh của Đảng được thể hiện ở tinh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm minh của mỗi cán bộ, đảng viên. Kỷ luật là điều kiện tiên quyết bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, làm cho mọi cán bộ, đảng viên tuyệt đối phục tùng và chấp hành nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Một đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng. Một đảng mà có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. Thấm nhuần lời dạy của Người, mọi cán bộ, đảng viên và toàn Đảng đều coi đây là nhiệm vụ then chốt, nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với Đảng, đối với chế độ xã hội chủ nghĩa và sự tồn vong của dân tộc Việt Nam để từ đó tận tâm, tận lực, tự nguyện, tự giác ra sức thực hiện.

Lợi dụng sự nghiêm minh của Đảng để “thọc gậy bánh xe”, bêu riếu, xuyên tạc chỉ có ở kẻ xấu. Không coi cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng để tăng cường sức mạnh của Đảng, lòng tin của nhân dân với Đảng chỉ có ở những kẻ cơ hội chính trị thấp hèn. Không muốn Đảng ta mạnh hơn, chân chính hơn để đủ sức lãnh đạo cách mạng đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức chỉ có ở kẻ thù. Vậy nên, những kẻ đi ngược lại con đường cách mạng chân chính của Đảng, đi ngược lại với tâm nguyện và thành quả cách mạng mà Đảng ta, nhân dân và toàn dân tộc ta đã đổ bao máu xương để giành, giữ và dựng xây đều đáng phải lên án, vạch mặt.

Xem, đọc trên mạng xã hội bằng lý trí

Phải khẳng định rằng, khi tham gia mạng xã hội, chúng ta có điều kiện giao lưu, kết bạn, chia sẻ nhanh và rộng rãi hơn quan điểm của mình tới các vấn đề xã hội mình quan tâm. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực mà mạng xã hội mang lại, vẫn còn những hạn chế, rủi ro, nguy cơ tiềm ẩn đe dọa đến lợi ích của người dùng, đặc biệt là tình trạng nhiễu loạn thông tin, gây mất định hướng tư tưởng, nhận thức và hành động của mỗi cá nhân, tổ chức.

 Phân loại những thông tin xấu, độc trên mạng xã hội, chúng ta rất dễ nhận thấy có hai loại chính. Loại thứ nhất, do các phần tử phản động trong nước và nước ngoài cùng những người cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất, triệt để lợi dụng mạng xã hội đăng tải những thông tin sai trái, bịa đặt, nhằm nói xấu, bôi nhọ thanh danh của Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang... để chống phá cách mạng nước ta. Loại thứ hai, nhiều kẻ xấu lợi dụng mạng xã hội lập ra nhiều tài khoản facebook để thu thập, nhào nặn, trộn lẫn thông tin thật, giả, cắt ghép hình ảnh, tán phát, nhằm thu hút, lợi dụng sự hiếu kỳ của người đọc, nhất là thanh, thiếu niên để lừa đảo, trục lợi, và đôi khi để thỏa mãn những mong muốn ảo tưởng tầm thường như gây sự chú ý để nổi tiếng... gây ra nhiều hậu quả khó lường.

Loại thứ nhất là phổ biến và cũng là một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất hiện nay, đó là tình trạng nhiễu loạn thông tin xuất phát từ hoạt động tuyên truyền phá hoại tư tưởng, tán phát quan điểm, tư tưởng sai trái nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang thông qua mạng xã hội của các thế lực thù địch, phản động, chống đối trong và ngoài nước. Đáng lo ngại là những tin, bài viết tuyên truyền chống phá trên mạng xã hội có số lượng và tần suất đăng tải lớn, nội dung đa dạng, phong phú trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; thủ đoạn tuyên truyền, xuyên tạc tinh vi, xảo quyệt, khó nhận biết, khó phân biệt thật, giả, đã tác động tiêu cực đến tư tưởng, hành vi của một bộ phận quần chúng nhân dân, nhất là các tầng lớp trí thức, học sinh, sinh viên, văn nghệ sĩ, thậm chí cả người dân bình thường nhưng có lập trường tư tưởng không kiên định, vững vàng. Điều này dễ kiểm chứng nhất khi vừa qua, thông qua mạng xã hội, chúng tổ chức lôi kéo nhiều người tụ tập rồi kích động bạo lực ở một số địa phương. Hậu quả là nhiều người chỉ thấy được bộ mặt của kẻ xấu khi các cơ quan chức năng đấu tranh, làm rõ thì đã muộn.

 Loại thứ hai cũng rất đáng quan ngại, đó là kẻ xấu lợi dụng mạng xã hội lập những tài khoản ảo để lừa đảo tiền bạc, mượn gió bẻ măng, hoặc chia sẻ những thông tin thất thiệt, bịa đặt, thậm chí cắt ghép không đúng bản chất vấn đề đã gây hoang mang trong đời sống nhân dân, gây thiệt hại cho không ít tổ chức, cá nhân. Đó là chưa kể đến mặt tiêu cực, là có số đông người sử dụng mạng xã hội, tuy không có nhiều thông tin nhưng lại thừa quan điểm và thường xuyên quan tâm đến việc bày tỏ quan điểm đó, chính kiến đó, mặc dù chưa tìm hiểu sự việc, thậm chí chưa hiểu vấn đề đang diễn ra là gì.

Từ hai loại thông tin trên, chúng ta cần nhận thức rằng, xét về bản chất, những tài khoản, trang mạng xã hội không có chức năng thông tin như các cơ quan báo chí chính thống của Đảng, Nhà nước. Mà đã là thông tin không chính thống thì khoảng cách giữa sự thật và giả dối là rất mong manh. Do vậy, hơn ai hết, mỗi người sử dụng mạng xã hội cần phải có bản lĩnh vững vàng, hết sức tỉnh táo khi xem, đọc những thông tin trên mạng xã hội để tự bảo vệ mình trước những thông tin sai trái, tiêu cực; đồng thời, cần nâng cao ý thức cảnh giác, sàng lọc thông tin trước khi tiếp cận, nghiên cứu, sử dụng. Nói cách khác, chúng ta hãy xem, đọc thông tin trên mạng bằng lý trí.

 Bên cạnh vấn đề tự thân, vấn đề quản lý và hạn chế những tác động tiêu cực của mạng xã hội, trong đó có việc phải ngăn chặn, loại bỏ những thông tin xấu độc, tin giả, tin thất thiệt, tin xúc phạm danh dự tổ chức cá nhân, vi phạm các quy định khác của pháp luật của các cơ quan chức năng cũng cần được đẩy mạnh. Do vậy, để định hướng kịp thời dư luận xã hội bằng những thông tin chính thống, cấp ủy, chỉ huy các cấp, các tổ chức đoàn thể phải luôn chủ động, nhanh nhạy, linh hoạt trong công tác quản lý con người; thường xuyên tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao bản lĩnh chính trị, để mỗi cá nhân biết cách lựa chọn và tiếp nhận thông tin phù hợp, đặc biệt là thông tin trên mạng xã hội.

 

Từ những lời cảnh báo thói đời siểm nịnh của người xưa

Nhìn lại lịch sử cho thấy, xu nịnh là cách sống “vào luồn, ra cúi” của một bộ phận quan nịnh thần trong các triều đại phong kiến thuở trước. Những kẻ nịnh thần này thường tài hèn đức mọn, nhưng lại khéo ăn khéo nói, biết vuốt ve, “vỗ về” vua chúa đúng lúc, đúng chỗ bằng những lời nói mỹ miều, ngọt ngào, cốt là để lấy lòng bề trên. Nếu bề trên (ông vua, bà chúa, ông quan) nào tỉnh táo, sáng suốt và kiên quyết lánh xa, loại trừ thói xu nịnh vờ vĩnh, giả tạo thì giữ được tư thế, tác phong, nhân cách chân chính của bậc quang minh chính đại, góp phần bảo đảm cho triều chính được uy nghiêm, sơn hà xã tắc được bình an. Ngược lại, những người ở ngôi cao chức trọng và nắm giữ nhiều quyền bính mà dễ ngả lòng, a dua, thậm chí “đắm chìm” trong những lời bợ đỡ, ton hót của những kẻ “ngồi lê đôi mách” thì dễ làm cho các mối quan hệ trong triều chính trở nên rối ren, mọi người sống nghi kỵ, oán thán lẫn nhau và khiến lòng dân thêm bất an, ly tán.

Danh nho Chu Văn An (1292-1370), một vị quan thanh liêm đời Trần, tận mắt chứng kiến cảnh nhiễu nhương, suy đồi từ trong triều chính có nguyên nhân sâu xa là do những quan nịnh thần gây ra. Vì vậy, Chu Văn An đã dâng “Thất trảm sớ”, đề nghị vua Trần Dụ Tông (1336-1369) xử chém 7 tên nịnh thần để góp phần lấy lại sự nghiêm minh trong vương triều và củng cố niềm tin cho thần dân. “Thất trảm sớ” của Chu Văn An dù không được nhà vua chấp thuận, nhưng mãi là lời cảnh báo, cảnh tỉnh muôn đời đối với hậu họa khôn lường của thói gian thần, nịnh bợ.

Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889-1954) là một đại thần triều Nguyễn. Khi thi đỗ đại khoa, ông được cùng các vị tiến sĩ đồng khoa triều kiến vua Thành Thái (1879-1954). Khi nhà vua đề nghị mỗi vị đề xuất góp ý kế sách để phục hưng quốc gia, Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm đã đọc 4 câu: “Tôn tộc đại quy/ Tôn lộc đại nguy/ Tôn tài đại thịnh/ Tôn nịnh đại suy”. Bốn câu này được hiểu là: “Tôn trọng nòi giống ắt đại hòa hợp/ Tôn trọng bổng lộc ắt đại nguy nan/ Tôn trọng tài năng ắt đại phồn thịnh/ Tôn trọng siểm nịnh ắt đại suy vong”.

“Tôn nịnh đại suy” hiểu rộng ra là bất cứ chỗ nào, thể chế nào, xã hội nào, nếu không loại bỏ mà lại coi trọng thói siểm nịnh thì sớm muộn chỗ đó, thể chế đó, xã hội đó cũng sẽ mục ruỗng, thối nát và đi đến bờ vực suy vong thảm hại.

Những lời thương vay khóc mướn

Trang BBC tiếng Việt thời gian gần đây có một số bài viết với thông tin cho rằng ông Chu Hảo là “trí thức chân chính”, bị kỷ luật Đảng thì sẽ “trở về với nhân dân”, đóng góp cho sự phát triển đất nước tốt hơn “với tư cách là người tự do”. Trang này lượm lặt thông tin về một số nhân vật bất mãn để “thổi” lên thành sự kiện: “Rộ trào lưu bỏ Đảng sau vụ TS Chu Hảo bị đề nghị kỷ luật”.

Trên trang cá nhân, một số nhân vật tự cho mình là những nhà dân chủ, cấp tiến thay vì nhìn thẳng vào sự thật lại lấp liếm, đổi trắng thay đen, biến những việc làm vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Đảng của ông Chu Hảo thành những công lao, như: Đã dũng cảm cho in những cuốn sách có giá trị, thúc đẩy tự do, dân chủ; bỏ nhiều công sức cho việc chấn hưng dân trí... Họ nêu, kỷ luật ông Chu Hảo “với những lý do đầy tính chất vu khống là “đánh vào những người trí thức yêu nước, có tài và có tâm”, sẽ dẫn đến tình trạng “sĩ phu ngoảnh mặt”. Đài Á Châu tự do vẫn với giọng điệu cực đoan vốn có còn dựng chuyện: “Kỷ luật Giáo sư Chu Hảo là tuyên chiến chống giới trí thức Việt Nam”.

Một số người với cái nhìn cảm tính, phiến diện vội quy kết cho rằng Đảng, Nhà nước Việt Nam hành xử thô bạo với đội ngũ trí thức. Họ cố tình gạt bỏ, không đếm xỉa đến những sai phạm về pháp luật và kỷ luật Đảng của ông Chu Hảo mà quay sang đả phá Đảng, Nhà nước, cho rằng đây là một “nỗi đau”, một sự “lạc hậu”… 

Trước những lời xuyên tạc đó chúng ta phải hết sức cảnh giác, tăng cường đấu tranh chống lại các quan điểm xuyên tạc đó nhằm củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng. 

Lợi dụng dịch bệnh để bịa đặt, xuyên tạc là tội ác

Thời gian qua, bất chấp khó khăn đang “bủa vây” đe dọa sức khỏe, cướp đi bao mạng sống của nhân dân trên toàn cầu khi đại dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona gây ra, các thế lực thù địch, phản động và một số đối tượng chống đối trong và ngoài nước đã dã tâm đăng tải, phát tán lên không gian mạng các thông tin không đúng sự thật.

Bên cạnh thổi phồng nguy cơ, tự gán ghép những con số người nhiễm bệnh, số ca tử vong, gây hoang mang trong dư luận, tiềm ẩn nguy cơ gây mất an ninh, trật tự, chúng còn đang tâm, trắng trợn phủ nhận chính sách của chính đảng, sự nỗ lực chung của chính quyền mỗi nước trong xử lý các tình huống cấp bách mang tính toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Đây là những hành động tội ác, là loại virus độc hại, nguy hiểm hơn bất cứ loại virus độc hại nào mà chúng ta phải nhận diện, trừ khử đầu tiên.

Ngày 01-02, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã chính thức công bố dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona gây ra tại nước ta. Cụ thể, thời gian xảy ra dịch từ 23-1-2020, thời điểm xác định bệnh nhân đầu tiên nhiễm bệnh. Thời điểm công bố dịch, nước ta ghi nhận 6 ca dương tính với virus Corona tại 4 tỉnh là TP.HCM, Thanh Hóa, Vĩnh Phúc và Nha Trang. Tuy nhiên trước đó, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã  có Công văn số 79-CV/TW ngày 29-01-2020 của Ban Bí thư về việc phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do virus corona gây ra; Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 2-1-2020, số 06/CT-TTg ngày 3.1.2020 và Công điện số 121/CĐ-TTg ngày 23-1-2020 về việc phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona gây ra...  Ngay sau đó, toàn hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, lực lượng vũ trang và nhân dân cả nước đã đồng sức, đồng lòng, đoàn kết chống chọi với dịch bệnh trên quan điểm chống dịch như chống giặc, bằng những chủ trương, biện pháp quyết liệt, cụ thể, nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả, trên tinh thần sức khỏe, tính mạng của người dân là quan trọng nhất.

Từ những chủ trương, chính sách kịp thời, đúng đắn, biện pháp quyết liệt của Đảng, Nhà nước, toàn hệ thống chính trị, lực lượng vũ trang và nhân dân cả nước, chúng ta không những kiểm soát tốt dịch bệnh, bước đầu nỗ lực chữa trị khỏi bệnh cho người dân trong nước cũng như nước ngoài đang có mặt tại Việt Nam không may mắc dịch bệnh, đi đôi với kiểm soát tốt tình hình dịch bệnh, chúng ta còn lập tức triển khai những phương án, kịch bản để đối phó với dịch bệnh như: Ban Tuyên giáo Trung ương, các cơ quan thông tấn báo chí thường xuyên đăng tải, cập nhật  đầy đủ, chính xác, kịp thời về tình hình dịch bệnh và các biện pháp phòng chống; Quân đội tổ chức nơi ăn, chốn ở để đón tiếp người dân từ đất nước có dịch muốn trở về nước; các trường học cho học sinh nghỉ học để ngăn ngừa bệnh dịch lây lan; Bộ Văn hóa - Thể Thao - Du lịch cho  ngừng tổ chức mọi lễ hội; Bộ Y tế, Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với các bộ, ngành có liên quan xử lý kịp thời những tổ chức, cá nhân đầu cơ dịch bệnh để trục lợi; nhất là các tổ chức, cá nhân đưa thông tin sai sự thật về tình hình dịch bệnh..v..v.. Điều đó, đã tạo được niềm tin tuyệt đối của mọi tầng lớp nhân dân và trở thành sức mạnh toàn dân tộc trước diễn biến vô cùng phức tạp, mau lẹ, khó lường của dịch bệnh trong sự sẻ chia, nhân văn quốc tế sâu sắc.

Tuy nhiên, giữa tâm bão dịch bệnh, các thế lực thù địch và kẻ xấu lại dã  tâm lợi dụng mạng xã hội để tung những thông tin sai sự thật về tình hình dịch bệnh ở nước ta. Một mặt, chúng cấu kết với những phần tử cơ hội trong nước thổi phồng số ca mắc bệnh, số người tử vong để gây hoang mang cho người dân; mặt khác, chúng trắng trợn vu khống, xuyên tạc chủ trương, chính sách chống dịch bệnh như chống giặc của Đảng và Nhà nước ta khi cho rằng, Đảng, Nhà nước ta không những không có động thái rõ ràng nào để bảo vệ sức khỏe, tính mạng của người dân mà còn bưng bít thông tin... Đây là những hành động không những đi ngược lại với lẽ sống tương thân, tương ái ngàn đời sẵn có trong con người Việt Nam là “thương người như thể thương thân”; phủ nhận truyền thống chống giặc ngàn đời của dân tộc “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”; chia rẽ sự gắn bó máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân mà còn thể hiện rõ sự hiểm độc, vô nhân đạo, tội ác không thể dung thứ của các thế lực thù địch, phản động khi lợi dụng những tai ương của nhân loại để xuyên tạc, bịa đặt, vu khống, thổi phồng, bóp méo sự thật, phục vụ cho ý đồ xấu sa, thâm độc của họ.

Để không mắc mưu kẻ xấu, trước tiên, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần nhận định rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Song song với đó, cần tuyên truyền sâu rộng, kịp thời, chính xác, thiết thực, phù hợp với từng đối tượng, từng thời điểm và tình hình cụ thể; bám sát diễn biến tình hình dịch bệnh và sự chỉ đạo, định hướng của cấp ủy, chính quyền các cấp, làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ và nhân dân nhận thức đúng về tình hình, tính chất nguy hiểm và tác hại của dịch bệnh và cách phòng chống hữu hiệu. Bên cạnh đó, cần khẳng định quyết tâm của các cấp, các ngành trong công tác phòng, chống dịch; qua đó nâng cao ý thức, trách nhiệm của mỗi cá nhân, tập thể để chủ động, tích cực phòng, chống và kiểm soát dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe bản thân và cộng đồng. Thông qua tuyên truyền, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch; quyết tâm kiểm soát dịch, không để lây lan, góp phần giữ vững phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, ổn định đời sống nhân dân.

Đại dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona gây ra rất nguy hiểm cho sức khỏe, đời sống của nhân loại. Tuy nhiên, có một loại siêu virus còn nguy hiểm hơn rất nhiều, đó là sự lợi dụng dịch bệnh để thổi phồng, bóp méo, xuyên tạc, bịa đặt, vu khống của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị với ý đồ xấu, đi ngược lại với xu thế chung của toàn nhân loại mà chúng ta phải nhận diện, lên án, loại bỏ. Mọi hành động cổ súy, đồng lõa, tiếp tay đều là tội ác không thể dung thứ.

TP Vinh dừng giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 từ 0 giờ ngày 3-7

Do dịch bệnh Covid-19 có chiều hướng giảm, ít xuất hiện các ca nhiễm trong cộng đồng, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An Nguyễn Đức Trung quyết định dừng thực hiện giãn cách xã hội TP Vinh theo Chỉ thị 16 từ ngày 3-7.

Ngày 2-7, ông Nguyễn Đức Trung, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An, đã quyết định về việc dừng thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ chuyển sang trạng thái mới là giãn cách xã hội theo Chỉ thị 15 của Thủ tướng Chính phủ tại TP Vinh, cộng thêm các biện pháp khác.

  Tại cuộc họp Ban Chỉ đạo Phòng chống dịch Covid-19 tỉnh Nghệ An sáng 2-7, Giám đốc sở Y tế Nghệ An Dương Đình Chỉnh cho biết tính đến 11 giờ ngày 2-7, tỉnh Nghệ An ghi nhận 111 ca Covid-19 tại 11 huyện, thành, thị. Trong đó, TP Vinh ghi nhận nhiều nhất với 72 ca bệnh. Trong thời gian qua, số ca bệnh tăng nhưng chủ yếu trong khu cách ly, đặc biệt 3 ngày qua không ghi nhận ca bệnh trong cộng đồng.

Theo Giám đốc sở Y tế Nghệ An, dựa trên diễn biến dịch của những ngày gần đây, có thể dừng áp dụng Chỉ thị 16 tại TP Vinh từ 0 giờ ngày 3-7 và chuyển sang áp dụng giãn cách xã hội theo Chỉ thị 15. Nếu dừng áp dụng Chỉ thị 16 thì công tác phòng, chống dịch phải theo phương châm khoanh vùng lớn, phong tỏa, cách ly theo diện hẹp với nguyên tắc không bỏ sót.

Chủ tịch UBND TP Vinh Trần Ngọc Tú cho biết hiên nay thành phố cơ bản đã xác định được các nguồn lây, kiểm soát được tình hình dịch. Vì thế, thành phố đề xuất dừng áp dụng giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 và áp dụng giãn cách xã hội theo Chỉ thị 15 nhằm đảm bảo phòng, chống dịch và phát triển kinh tế - xã hội.

Sau khi nghe báo cáo, phân tích, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Đức Trung cho phép nới lỏng từ thực hiện Chỉ thị 16 xuống Chỉ thị 15 đối với địa bàn TP Vinh, theo quan điểm siết chặt ngay nhưng nới lỏng từ từ. Thời gian áp dụng là từ 0 giờ ngày 3-7.

Trước đó từ 0 giờ ngày 19-6, TP Vinh đã thực hiện Cách ly xã hội theo Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ về phòng chống dịch Covid-19. Trong 14 ngày qua, Ban chỉ đạo phòng chống dịch Covid-19 tỉnh Nghệ An đã ngày đêm truy vết, khoanh vùng, lấy mẫu xét nghiệm để khống chế các ổ dịch.

Tính đến thời điểm hiện tại, Nghệ An đã phát hiện 111 ca bệnh Covid-19, trong đó: TP Vinh: 72 ca, Diễn Châu: 15 ca, Tân Kỳ: 1 ca, Quỳ Hợp: 5 ca, Nam Đàn: 4 ca, Đô Lương: 1 ca, thị xã Hoàng Mai: 2 ca, Nghĩa Đàn: 1 ca, Nghi Lộc: 4 ca, Quỳnh Lưu: 4 ca. Ngoài ra, phát hiện 2 trường hợp tái dương tính sau điều trị tại huyện Nghĩa Đàn và Quế Phong.

CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

 


Ra đời và phát triển gắn với thực tiễn cách mạng Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và Nhà nước xã hội chủ nghĩa tổ chức nuôi dưỡng, Quân đội nhân dân Việt Nam có các chức năng và nhiệm vụ riêng. Tuy nhiên, chức năng và nhiệm vụ của quân đội ta không phải thoát ly khỏi chức năng, nhiệm vụ của quân đội xã hội chủ nghĩa; vẫn là biểu hiện bản chất giai cấp công nhân, phản ánh sự phát triển phong phú các chức năng của quân đội xã hội chủ nghĩa, đồng thời, còn gắn với đặc thù của cách mạng Việt Nam.

Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội có chức năng chiến đấu. Là công cụ bạo lực vũ trang chủ yếu của nhà nước xã hội chủ nghĩa, quân đội ta có chức năng dùng sức mạnh bạo lực vũ trang để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, sẵn sàng đập tan các âm mưu xâm lược của các thế lực thù địch từ bên ngoài; bảo vệ các thành quả cách mạng và công cuộc lao động hoà bình của nhân dân và thực hiện các nghĩa vụ quốc tế trên lập trường của giai cấp công nhân. Bên cạnh đó, quân đội ta còn phải dùng sức mạnh bạo lực vũ trang để răn đe và sẵn sàng đập tan các cuộc vũ trang phản cách mạng của các thế lực phản động trong nước; bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động và góp phần bảo vệ trật tự, an toàn xã hội. Trong tình hình mới hiện nay, quân đội ta còn phải tham gia tiến công địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, văn hóa... làm thất bại âm mưu "diễn biến hoà bình" của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam.

Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội có chức năng công tác. Là  quân đội của dân, do dân, vì dân; công cụ bạo lực chủ yếu của Đảng Cộng sản Việt Nam và nhà nước xã hội chủ nghĩa, quân đội ta có chức năng công tác, vận động quần chúng nhân dân thực hiện thắng lợi đường lối chính trị của Đảng, chính sách của nhà nước; tham gia xây dựng chính quyền cơ sở vững mạnh. Chức năng công tác của quân đội ta góp phần tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân; giữa quân đội với nhân dân. Quân đội giúp đỡ nhân dân trong phòng chống thiên tai, giải quyết các khó khăn trong đời sống và sản xuất; cùng với nhân dân đấu tranh làm thất bại các âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội có chức năng sản xuất. Là  quân đội kiểu mới, một tổ chức của nhà nước và kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa, quân đội ta còn tham gia tăng gia sản xuất để nâng cao đời sống cho bộ đội và tham gia xây dựng, phát triển kinh tế đất nước. Từ khi ra đời đến nay, quân đội ta luôn tích cực tăng gia sản xuất ở mọi lúc, mọi nơi và tham gia có hiệu quả vào xây dựng, phát triển kinh tế đất nước. Trong giai đoạn hiện nay, quân đội ta tiếp tục đi đầu phát triển các khu kinh tế - quốc phòng ở các địa bàn trọng điểm chiến lược với mục tiêu tăng cường quốc phòng - an ninh là chủ yếu.

Trên cơ sở các chức năng cơ bản, nhiệm vụ của quân đội ta có sự vận động, phát triển để đáp ứng với từng giai đoạn cụ thể của sự nghiệp cách mạng. Trong giai đoạn mới của sự nghiệp cách mạng nhiệm vụ của quân đội ta có sự phát triển mới. Đảng ta xác định, Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị của đất nước, đẩy lùi và kiên quyết  làm thất bại mọi âm mưu và thủ đoạn "diễn biến hoà bình", bạo loạt lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam hiện nay.